LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân
thành tới các giảng viên trong Khoa Lý luận chính trị và các giảng viên bộ môn ở
Trường Đại học Quảng Bình đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt quá trình tôi tham gia
học tập và làm khóa luận.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn đến ThS. Nguyễn Thị Hương Liên, người đã giúp
đỡ, hướng dẫn cho tôi trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu và các thầy cô Trường THPT Trần
Phú cũng như các em học sinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa luận
một cách tốt đẹp.
Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình thân yêu
đã động viên, cổ vũ tinh thần cho tôi để bước tiếp trên con đường mà tôi đã chọn. Tôi
xin cảm ơn đến sự quan tâm, chia sẻ của các bạn lớp Đại học Giáo dục chính trị k56 Khoa Lý luận chính trị đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè để khóa luận ngày càng
được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết
quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một
công trình nào khác.
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018
Tác giả
Đinh Thị Thu Hiền
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
MỞ ĐẦU......................................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................ 4
3.1. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................................... 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................................. 4
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu................................................................................ 4
4.1. Cơ sở lý luận .............................................................................................................4
4.2. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................................... 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................................. 5
5.1. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................................................. 5
5.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................................. 5
6. Đóng góp của đề tài .................................................................................................................... 5
6.1. Ý nghĩa lý luận ......................................................................................................................... 5
6.2. Ý nghĩa thực tiễn...................................................................................................................... 5
7. Bố cục của đề tài ......................................................................................................................... 5
NỘI DUNG ..................................................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC
SINH THPT THÔNG QUA DẠY HỌC ..................................................................................... 6
1.1. Lý luận chung về tự học .......................................................................................................... 6
1.1.1. Các quan niệm về tự học ...................................................................................................... 6
1.1.2. Bản chất và đặc điểm của tự học ......................................................................................... 7
1.1.3. Các hình thức tự học............................................................................................................. 8
1.1.4. Năng lực tự học của học sinh THPT ................................................................................... 9
1.1.5. Vai trò phát triển năng lực tự học cho học sinh. ............................................................... 10
1.2. Cấu trúc chương trình môn GDCD lớp 12 .......................................................................... 14
Tiểu kết chương 1 ......................................................................................................................... 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GDCD
LỚP 12........................................................................................................................................... 16
2.1. Khái quát về Trường THPT Trần Phú ................................................................................. 16
2.2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực trạng ................................................................. 17
2.2.1. Cách thức tiến hành ............................................................................................................ 17
2.2.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể ................................................................................. 17
2.3. Thực trạng dạy học nhằm phát triển năng lực tự học cho HS trường THPT Trần Phú
thông qua giảng dạy môn GDCD lớp 12 .................................................................................... 20
2.4. Mối quan hệ giữa hoạt động dạy học và vấn đề phát triển năng lực tự học cho học sinh
THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 ............................................................................ 11
2.4.1. Dạy học và vấn đề phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học
môn GDCD lớp 12 ..................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.4.2. Mối quan hệ giữa hoạt động dạy học và vấn đề phát triển năng lực tự học cho học sinh
THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 ............................................................................ 12
2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển năng lực tự học cho học sinh trường
THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12. .......................................................... 27
2.5.1. Ý thức học tập và động cơ nhận thức của bản thân HS ................................................... 27
2.5.2. Vốn tri thức hiện có của bản thân HS................................................................................ 28
2.5.3. Năng lực trí tuệ và tư duy................................................................................................... 28
2.5.4. Phương pháp học tập của HS............................................................................................. 28
2.5.5. Phương pháp dạy học của GV ........................................................................................... 29
2.5.6. Nội dung, chương trình đào tạo ......................................................................................... 30
2.5.7. Giáo trình, tài liệu học tập và các điều kiện khác về cơ sở vật chất, gia đình và xã hội 30
2.6. Những thuận lợi và khó khăn để phát triển năng lực tự học cho học sinh Trường THPT
Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 ....................................................................... 30
Tiểu kết chương 2 ......................................................................................................................... 33
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO
HỌC SINH TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP
12.................................................................................................................................................... 34
3.1. Những căn cứ đề xuất các giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh Trường
THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 ........................................................... 34
3.1.1. Nhiệm vụ, yêu cầu dạy học môn GDCD cho học sinh lớp 12 ........................................ 35
3.1.2. Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên Trường THPT Trần Phú............................................. 35
3.1.3. Đặc điểm của HS THPT .................................................................................................... 34
3.2. Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh Trường THPT Trần Phú
thông qua dạy học môn GDCD lớp 12........................................................................................ 36
3.2.1. Nhóm giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh ...................................... 44
3.2.2. Nhóm giải pháp rèn luyện những kỹ năng học tập .......................................................... 39
Tiểu kết chương 3 ......................................................................................................................... 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..................................................................................................... 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 55
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
1
CNTT
Công nghệ thông tin
2
CĐSP
Cao đẳng Sư phạm
3
ĐHSP
Đại học Sư phạm
4
GDCD
Giáo dục công dân
5
GS. TSKH
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học
6
GV
Giáo viên
7
HS
Học sinh
8
Nxb
Nhà xuất bản
9
PGS.TS
Phó Giáo sư, Tiến sĩ
10
SGK
Sách giáo khoa
11
SL
Số lượng
12
TB
Trung bình
13
THPT
Trung học phổ thông
14
TL
Tỉ lệ
15
TP
Thành phố
16
TS
Tổng số
17
TT
Thứ tự
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1: Mục đích của HS Trường THPT Trần Phú về vấn đề tự học môn GDCD ............ 21
Bảng 2.2: Thực trạng tự học môn GDCD lớp 12 nhằm phát triển năng lực tự học của HS
Trường THPT Trần Phú ............................................................................................................... 21
Bảng 2.3: Nhận thức của HS về vai trò của môn GDCD .......................................................... 23
Bảng 2.4: Thái độ học tập môn GDCD của HS THPT Trần Phú ............................................. 23
Bảng 2.5: Thực trạng giảng dạy môn GDCD nhằm phát triển năng lực tự học của HS ở
Trường THPT Trần Phú ............................................................................................................... 24
Bảng 2.6: Thực trạng việc rèn luyện cho HS các kỹ năng tự học nhằm phát triển năng lực tự
học của HS ở trường THPT Trần Phú thông qua giảng dạy môn GDCD lớp 12 .................... 25
Bảng 2.7: Nhận thức của GV về dạy học nhằm phát triển năng lực tự học cho HS THPT .... 26
Bảng 2.8: Thái độ của GV khi dạy môn GDCD cho HS THPT Trần Phú............................... 27
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mới với sự phát triển vượt bậc của
khoa học công nghệ, kỹ thuật thông tin, sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh
toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra
những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một
trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục
mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành
năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan
trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo
của người học. Việc dạy học không còn giới hạn trong phạm vi truyền đạt kiến thức
mà thông qua hoạt động dạy học nhằm tăng cường rèn luyện phương pháp, thái độ và
nhận thức để tự định hướng, tự cập nhật làm giàu tri thức của mình, đáp ứng yêu cầu
của xã hội. Phương pháp tự học là vấn đề cốt lõi trong các phương pháp học tập của
HS, đây là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học, rèn luyện cho học sinh có
được kỹ năng, phương pháp, thói quen, biết vận dụng các kiến thức đã học, biết tự lực
phát hiện và giải quyết vấn đề trong cuộc sống thực tiễn.
Trong hệ thống giáo dục và đào tạo bậc THPT, môn GDCD giữ một vị trí, vai trò
quan trọng trong việc trang bị các giá trị chuẩn mực đạo đức, bước đầu xây dựng nền
tảng hệ thống quy định pháp luật cơ bản. Thông qua nội dung bài học trong chương
trình, nhằm xây dựng lối sống, giáo dục nhân cách, rèn luyện kỹ năng sống cho học
sinh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tại các trường THPT nói chung và trường THPT
Trần Phú nói riêng, môn GDCD chưa được quan tâm đúng mức. Từ người quản lý,
giáo viên bộ môn, học sinh đến phụ huynh chưa thấy được tầm quan trọng, vai trò và
vị trí của môn GDCD thậm chí cho rằng đây là môn học phụ, môn học bổ trợ. Thêm
vào đó, môn GDCD bậc THPT lượng kiến thức cần truyền tải cho HS rất nhiều, nội
dung kiến thức tổng hợp mang tính khái quát và tính trừu tượng cao nhưng với thời
gian 1 tiết/tuần nên việc giảng dạy chỉ mới đảm bảo truyền thụ cho học sinh những
kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa. Vì vậy, muốn phát huy được tính tích cực, chủ
động của học sinh cần phải hình thành và xây dựng thói quen tự học để tự lĩnh hội tri
thức.
Trước tình hình thực tế nêu trên, việc phát triển năng lực tự học cho học sinh
THPT rất thiết thực và có ý nghĩa. Đây cũng chính là lý do tác giả chọn đề tài “Phát
1
triển năng lực tự học cho học sinh trường THPT Trần Phú thông qua dạy học môn
GDCD lớp 12” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT không phải là một vấn đề
mới, từ trước đến nay có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các chuyên gia và nhiều
GV đề cập ở những góc độ khác nhau:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những năm 1950 của thập kỷ XX, khi nói về
công tác huấn luyện và học tập đã nhấn mạnh “Phải nâng cao và hướng dẫn tự học”.
Người khuyên “ Không phải có thầy thì học, không thầy thì đùa, phải biết tự động học
tập”.
- Năm 1997 trong cuộc hội thảo về công tác huấn luyện mang tên “Nghiên cứu và
phát triển tự học, tự đào tạo” đã thu hút được được sự quan tâm của nhiều giáo sư và
những nhà nghiên cứu đầu ngành. Nhiều tham luận có giá trị về lý luận và thực tiễn.
Tiêu biểu như tham luận “Các giải pháp nâng cao tính tích cực của việc tự học, tự
nghiên cứu, tự rèn luyện thông qua mô hình nhóm học tập” của GS. TSKH. Lâm
Quang Thiệp - Nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tham luận “Các hình thức tổ chức nhóm học tập và phương pháp, kỹ năng làm việc
nhóm giúp cho việc tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện tay nghề đạt hiệu quả cao” của
GS. Phan Trọng Luận - một trong những giáo sư đầu ngành về phương pháp dạy học.
Ngay sau đó tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 2-1998 ra riêng một số báo đặc biệt đăng
tải một số bài tiêu biểu trong hội thảo.
- Nguyễn Đình Côi (1992), “Tự học như thế nào?”, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Công trình này chủ yếu giúp chúng ta tự học tập, nâng cao kiến thức tự học của mình.
Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Như Ý (1998), Tự học - tự đào tạo, tư tưởng chiến lược
phát triển của Giáo dục Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Nguyễn Hiến Lê (1992), Tự
học một nhu cầu của thời đại, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Duy Cần (1975), Tôi tự học, Nxb Nhà sách Khai Trí Sài Gòn, Sài Gòn.
Nguyễn Cảnh Toàn (1999), Luận bàn kinh nghiệm về tự học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Những cuốn sách là tài liệu quý, đã đúc kết nhiều kinh nghiệm quý báu trong quá trình
học hỏi vươn lên của các tác giả. Nguyễn Cảnh Toàn (2001), “Học và dạy cách học”,
Nxb Giáo dục, Hà Nội. Nguyễn Cảnh Toàn (2001), “Tự giáo dục, tự học tập”, Nxb
Đại học Sư phạm Hà Nội I, Hà Nội. Nguyễn Cảnh Toàn là một người thầy vô cùng
2
tâm đắc và luôn trăn trở với vấn đề tự học đã cho ra đời 2 cuốn sách quý giá, cuốn
sách là những lời tâm sự, đúc kết các phương pháp tự học có hiệu quả và những thành
công của Giáo sư về vấn đề tự học. Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi
Tường (1988), “Quá trình dạy - tự học”, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Các tác giả Nguyễn
Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường trong cuốn sách “Quá trình dạy - tự
học” đã khẳng định năng lực tự học của HS dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết
định của bản thân người học, GV là tác nhân hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo cho HS.
- Một số công trình khác có liên quan đến đề tài, đó là: Nguyễn Thị Thanh
Hương (2008) “Vận dụng phương pháp tổ chức hoạt động tự học để nâng cao năng
lực học tập phần CNXHKH của sinh viên các trường cao đẳng”, Luận văn Thạc sĩ,
Trường Đại học Vinh. Đặng Thị Ngần (2008), Biện pháp tăng cường hoạt động tự học
của học sinh Trường Trung học Sư phạm Thanh Hóa, Luận án tiến sĩ Giáo dục,
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội. Trần thị Thu Hằng (2008), Bồi dưỡng năng lực tự
học của học sinh THPT khối chuyên hóa thông qua bài tập hóa, Luận án tiến sĩ Giáo
dục, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội. Đáng chú ý là Lê Thị Long (2009), Hướng dẫn
học sinh tự học chương trình GDCD lớp 12 ở Trường THPT chuyên Phan Bội Châu Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục, Trường Đại học Vinh. Đề tài này đã hệ thống
những vấn đề lí luận về việc hướng dẫn HS tự học chương trình GDCD lớp 12: Khái
niệm tự học, đặc điểm, vai trò của việc tự học môn GDCD, đưa ra những phân tích và
đánh giá những kết quả đạt được, những khó khăn tồn tại trong vấn đề tự học của HS,
đề xuất phương hướng, giải pháp phù hợp hướng dẫn học sinh tự học chương trình
GDCD lớp 12.
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định tự học có ý nghĩa và vai trò
quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người, là nhân tố
quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản để người học lĩnh hội
tri thức, kỹ năng và hình thành thái độ. Những giáo trình, tài liệu, công trình nghiên
cứu về lý luận tự học nói chung khá phong phú và đã định hướng mục tiêu tầm quan
trọng và những kinh nghiệm về tự học. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình
đi sâu nghiên cứu phát triển năng lực tự học của học sinh THPT Trần Phú thông qua
dạy học môn GDCD lớp 12. Do vậy, trong đề tài này một mặt kế thừa những vấn đề lý
luận về tự học nói chung của các tác giả, mặt khác cố gắng phân tích, triển khai áp
dụng vào một vấn đề mới hơn, có ý nghĩa thực tế hơn, liên quan trực tiếp đến chuyên
3
môn và nghiệp vụ của mình. Chính vì vậy, đề tài mà tôi lựa chọn là cần thiết, vừa có ý
nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cũng không trùng với các công trình
trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học
cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12, đề tài tập trung khảo sát,
thực nghiệm khoa học và đề ra một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho
học sinh THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 trong giai đoạn hiện
nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm phát triển năng lực tự học cho học
sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
của quá trình dạy học.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm những giải pháp nhằm phát triển năng lực tự
học cho học sinh trường THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh trường
THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới nội
dung và phương pháp dạy học. Ngoài ra, tác giả còn kế thừa những vấn đề lý luận nói
chung về tự học và phát triển năng lực của các nhà khoa học có uy tín khác.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như các ngành khoa học
xã hội, ngoài ra tác giả đặc biệt sử dụng kết hợp một số phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra xã hội học.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích và thống kê.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm…
4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tổ chức dạy học của người GV.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Do địa bàn Trường THPT Trần Phú rộng, nhiều lớp nên tác giả chọn 4 lớp khối
12 (145 HS) và 3 GV trong tổ Sử - Địa - GDCD để tiến hành điều tra, khảo sát, thực
nghiệm và vận dụng các giải pháp.
Thời gian khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học nhằm phát triển năng lực tự học
cho HS trường THPT Trần Phú thông qua giảng dạy môn GDCD lớp 12 trong thời
gian từ tháng 02 đến tháng 04 năm 2018. Giải pháp phát triển năng lực tự học cho học
sinh trường THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 từ năm 2018 đến
năm 2020.
6. Đóng góp của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Hình thành phương pháp tự học tích cực và góp phần nâng cao năng lực tự học
cho học sinh THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.
- Làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và giảng viên trong quá trình tham gia
giảng dạy.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Thông qua các hoạt động nghiên cứu đề tài như điều tra số liệu, phỏng vấn,
quan sát... góp phần truyền thông về tầm quan trọng của việc tự học cho học sinh
THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12. Từ đó, nêu cao tinh thần, trách nhiệm
của học sinh THPT trong vấn đề tự học.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài có bố
cục gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển năng lực tự học cho sinh THPT thông qua
dạy học.
Chương 2. Thực trạng dạy học nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
trường THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
trường THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA DẠY HỌC
1.1. Lý luận chung về tự học
1.1.1. Các quan niệm về tự học
Tự học là một vần đề quan trọng và then chốt vừa có tính truyền thống vừa có
tính thời sự không chỉ ở Việt Nam mà còn là vấn đề của nhiều nước bởi “những điều ta
biết chỉ là giọt nước, còn những điều ta chưa biết là cả một đại dương”. Đặc biệt, đối
với lĩnh vực giáo dục, thì điều này càng có ý nghĩa.
Bác Hồ là tấm gương lớn của tự học, Người cho rằng: tự học chính là sự nỗ lực
của bản thân người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên
tinh thần tự động học tập.
Theo GS – TSKH Thái Duy Tuyên: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến
thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan
sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm
lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của
nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”.
Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 cũng bàn về khái
niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh
nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình
huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử
nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.
Giáo sư Toán học Nguyễn Cảnh Toàn, nguyên Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo,
Phó chủ tịch Hội Toán học Việt Nam, Tổng biên tập tạp chí Toán học và Tuổi trẻ,
người đã giành nhiều tâm huyết vào vấn đề tự học, đã đưa ra một quan niệm về tự học
có thể xem là hoàn chỉnh: “Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu thập thông tin
rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng
hợp) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi
cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh cho được một
lĩnh vực hiểu biết nào đó, một kỹ năng nào đó, một số phẩm chất nào đó của nhân loại
6
hay cộng đồng rồi biến chúng thành sở hữu của mình. Phát minh ra cái mới cũng có
thể coi là hình thức tự học cao cấp” [15; tr407].
Nhìn chung, tự học là tự thân vận động, nổ lực thường xuyên, cố gắng liên tục để
đạt bằng được mục đích, yêu cầu học tập đã đề ra, là quá trình mà trong đó chủ thể
người học tự biến đổi mình, tự biến đổi các giá trị của mình, tự làm phong phú giá trị
của mình bằng các thao tác tư duy và ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân.
1.1.2. Bản chất và đặc điểm của tự học
Thực chất tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức không trực
tiếp có thầy giáo. Đây là hoạt động vất vả hơn nhiều so với quá trình học có thầy bởi vì
người học phải tự xây dựng cho mình cách học và sử dụng hợp lý các điều kiện, hình
thức, phương tiện học tập để đạt được kết quả mong muốn. Có thể nói bản chất của
công việc tự học của HS là quá trình nhận thức một cách tự giác, tích cực, tự lực
không có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giáo viên nhằm đạt được mục đích,
nhiệm vụ dạy học. Tự học vừa mang ý nghĩa củng cố trau dồi tri thức và có ý nghĩa
mở rộng hiểu biết. Tự học có nghĩa là HS phải độc lập, tự xây dựng kế hoạch, phương
pháp học tập cho mình, tự năng động tìm tòi, phân tích những sách vở, tài liệu tiến tới
làm chủ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Bản chất của quá trình tự học là không có sự hướng
dẫn của giáo viên nên tất yếu đòi hỏi nỗ lực, tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS.
Sự tự kiềm chế đối với những ảnh hưởng ngoại cảnh hay những ước muốn không hợp
lẽ trong tư tưởng là điều kiện cần thiết đối với quá trình tự học. Nếu thiếu tự kiềm chế,
kiên trì, những yêu cầu cao, sự nghiêm túc đối với bản thân thì HS không bao giờ thực
hiện được kế hoạch học tập do chính mình đặt ra. Đây cũng là điều kiện giúp HS từng
bước nâng cao chất lượng học tập của bản thân.
Tự học là người học tự thân vận động, nỗ lực thường xuyên, cố gắng liên tục để
đạt bằng được mục đích, yêu cầu học tập đã đề ra. Tự học là cách học tự giác, cần
mẫn, siêng năng, kiên trì bền bỉ và phải biết vượt qua hoàn cảnh và vượt qua chính
mình, biết tự vận dụng tất cả từ ý chí nghị lực, tư duy, nhân cách, tâm hồn, mục đích
sống đến khát vọng của bản thân nhằm chiếm lĩnh tri thức của nhân loại. Người tự học
là người biết biến những kiến thức có trong sách vở, tài liệu, trong thực tiễn đời sống
thành kiến thức của mình một cách vững chắc qua quá trình sàng lọc, lựa chọn. Hoạt
động tự học được diễn ra trong mọi thời điểm từ tự học ở nhà, tự học ở trường và tự
học cả bên ngoài xã hội. Trong nhà trường, GV chỉ là người hướng dẫn, là “ ngoại
7
lực”, còn kết quả học tập phụ thuộc hoàn toàn vào bản thân người học, gọi là “chủ thể
nội lực”. HS biết tự học mới thực là học, GV biết hướng dẫn HS tự học, tự nghiên cứu
mới là thực dạy. Tự học là gốc của học tập và xây dựng xã hội học tập.
1.1.3. Các hình thức tự học
Thứ nhất, tự học của HS diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của GV với sự hỗ
trợ của các phương tiện kỹ thuật ở trên lớp. Với hình thức này, việc tự học của HS
chịu sự định hướng và điều khiển của GV nhằm đạt được mục tiêu của giờ dạy đã xác
định từ trước. Lúc này, việc tự học của HS có đầy đủ các yếu tố: GV, bạn, SGK, tài
liệu… Trong môi trường lớp học truyền thống hiệu quả tự học lúc này phụ thuộc rất
nhiều vào nghệ thuật điều khiển của GV, tuy nhiên, với từng HS vẫn có các hoạt động
riêng, sự sáng tạo riêng và do đó hiệu quả học tập cũng rất khác nhau. Kết quả của quá
trình tự học này là sự thống nhất biện chứng giữa sự hướng dẫn của GV và sự tự giác
học tập của HS.
Thứ hai, tự học của HS diễn ra ngoài phạm vi lớp học nhằm đáp ứng yêu cầu của
môn học đã được học trong nhà trường. Với hình thức này, HS chỉ có tài liệu liên quan
đến các môn học dưới sự hướng dẫn trước của GV. Tuy nhiên, HS phải tự tổ chức việc
học tập của mình ở nhà nhằm ôn tập, hệ thống hóa, làm các bài tập, rèn luyện các kỹ
năng, kỹ xảo …theo yêu cầu của GV, đáp ứng chính các yêu cầu của bản thân người
học để lĩnh hội tri thức các môn học.
Thứ ba, tự học nhằm đáp ứng yêu cầu hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng, nâng
cao các kiến thức trong chương trình đào tạo ở nhà trường, thậm chí HS có thể tìm
hiểu về những tri thức không quy định nhằm mở mang hiểu biết của mình. Với hình
thức này người học hoàn toàn chủ động lựa chọn kiến thức cần bổ sung, lựa chọn tài
liệu cần đọc, tự mình sắp xếp các tri thức học được vào hệ thống tri thức mà mình
đang có. Đây là mức độ tự học rất cao, vì HS tự mình tổ chức toàn bộ các hoạt động
của quá trình tự nhận thức.Từ đó cho thấy năng lực tự học của HS THPT có những đặc
trưng sau:
Người học phải tự đề ra cho mình phương pháp học từ đầu cho đến kết thúc quá
trình học và đóng vai trò mấu chốt bằng sự hứng thú, tham gia tích cực và có trách
nhiệm trong suốt quá trình học. Trong tự học tính độc lập, chủ động càng có vai trò
quan trọng và được coi là công cụ đắc lực không có gì thay thế giúp cá nhân tích lũy
kinh nghiệm, tri thức khoa học, hoàn thiện nhân cách.
8
Học sinh luôn phải rèn luyện cho bản thân sự tự giác trong học tập và hứng thú
đối với các kiến thức mà mình đang tiếp thu. Điều này sẽ giúp người học tham gia tích
cực và tiếp tục quá trình học bằng cách tạo ra một hình thức phù hợp với tính cách của
mình. Như vậy, khi thực sự trở thành chủ thể học cũng có nghĩa là người học đã tự
giác xác định được động cơ, mục đích học tập. Người học tiến hành việc học dựa trên
trách nhiệm cá nhân và sự điều khiển của ý chí thì hoạt động học trở thành quá trình tự
học, tự giác chủ động, có phong cách và phương pháp cá nhân.
Tự học mang tính cá nhân rất cao, tự học phải dựa trên chính tiềm năng của
người học và dựa trên ý thức trách nhiệm của người học. Mỗi người có một phương
pháp học tập khác nhau, cách tổ chức học tập khác nhau và ý chí cá nhân khác nhau
nên hiệu quả tự học cũng khác nhau.
1.1.4. Năng lực tự học của học sinh THPT
Năng lực là một vấn đề khá trừu tượng, cho đến nay vẫn có nhiều cách tiếp cận
và diễn đạt khác nhau:
PGS.TS. Đặng Thành Hưng - Viện khoa học giáo dục Việt Nam khẳng định:
“Năng lực được cấu thành từ các bộ phận như: tri thức về hoạt động hay quan hệ đó;
kỹ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến ứng xử với quan hệ đó; những điều kiện tâm
lý để tổ chức và thực hiện tri thức và kỹ năng nào đó trong một cơ cấu thống nhất và
theo một định hướng rõ ràng. Tương ứng là ba dạng năng lực chuyên biệt: năng lực
biết, năng lực làm, năng lực biểu cảm” [8; tr25 - 27].
Cấu trúc của năng lực là tổng hợp nhiều kỹ năng thực hiện những hoạt động
thành phần có liên hệ chặt chẽ với nhau. Năng lực của HS chỉ nảy sinh và quan sát
được trong hoạt động giải quyết những yêu cầu học tập và gắn liền với tính sáng tạo.
Năng lực của mỗi người là có sự khác nhau về mức độ.
Như vậy, năng lực tự học là một năng lực cụ thể của người học, là một hình thức
của năng lực thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập.
Trong xu thế xã hội ngày càng phát triển, vấn đề tự học trong nhà trường lại càng
được quan tâm hơn bao giờ hết. Tự học cần phải trở thành một trong những kỹ năng
quan trọng số một của giáo dục, năng lực trong mỗi cá nhân HS. Bản thân người học
cần phải làm quen với vấn đề tự học, hình thành năng lực tự học để có thể tự học hỏi,
trau dồi tri thức và thích nghi với thời đại. Chính vì thế, vấn đề tự học của HS THPT là
một vấn đề cần thiết mang tính chiến lược.
9
Tự học của HS THPT cũng như tự học của HS nói chung là tổng hợp của nhiều
năng lực. Mục đích tự học của HS là hoàn thành tốt những phần nào đó trong nhiệm
vụ học tập của mình mà không có thầy bên cạnh. Như vậy, tự học của HS THPT luôn
gắn với năng lực chủ động, tích cực, HS phải tự nghiên cứu tài liệu, tự mình phát hiện
kiến thức, tự mình nắm bắt một phần kiến thức. HS phải thường xuyên tự tìm tòi
những tài liệu liên quan đến bài học để có sự so sánh, đối chiếu, tự biết vận dụng,
chuyển hóa kiến thức bài học dưới sự định hướng và dẫn dắt của GV. Năng lực tự học
của HS THPT mới chỉ dừng lại ở mức độ thấp, nhưng đây lại là cơ sở vô cùng quan
trọng cho việc hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu ở mức độ cao sau này. Nhà
trường sẽ là nơi tạo dựng một nền móng vững chắc cho kinh nghiệm tự học, tự nghiên
cứu thuần thục của một nhà khoa học sau này.
Trong quá trình tự học, HS luôn tự chủ, năng động và sáng tạo, biết học hỏi và
đánh giá, biết so sánh và đối chiếu, biết kiểm nghiệm và xử lý tình huống. Quan trọng
hơn là HS phải biết tự tìm cho mình một cách tự chiếm lĩnh tài liệu. Song song với
việc phát huy tối đa nội lực của học sinh trong quá trình tự học, vai trò của GV vô
cùng quan trọng. Nếu như việc tự học ngoài xã hội, người học có quyền chọn kiến
thức để tự học và tự học một cách tự do. Thì tự học trong nhà trường có tính chất định
hướng, GV có trách nhiệm hướng dẫn các em từ cách tự mình nghiên cứu SGK đến
việc điều chỉnh kiến thức mà các em thu nhận được để có được lượng kiến thức chính
xác nhất. Qua đó, GV hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS với những cách
suy nghĩ, tìm tòi để có thể tự đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề và tự nghiên cứu. Những
định hướng của GV còn có tác dụng phát huy tính năng động, tự giác và lòng say mê
học hỏi trong quá trình học tập của HS.
Như vậy, tự học của HS THPT không đòi hỏi mức độ cao như tự học của các nhà
nghiên cứu, mà chủ yếu dựa vào bài học cụ thể trong SGK, những tài liệu có liên quan
đến bài học để đối chiếu, so sánh, mở rộng làm cho quá trình nhận thức của HS mang
tính chủ động và có tính chất nghiên cứu. Mục đích tự học của HS THPT giúp các em
hiểu sâu sắc, trọn vẹn bài học bằng chính năng lực của mình và biết vận dụng kiến
thức thành kinh nghiệm của bản thân.
1.1.4. Vai trò phát triển năng lực tự học cho học sinh.
Phát triển năng lực tự học cho HS có vai trò hình thành cho HS lòng say mê học
hỏi, năng lực độc lập suy nghĩ, tư duy sáng tạo. GV dạy không chỉ thực hiện việc
cung cấp kiến thức cho HS trong giờ học, mà GV luôn cố gắng tạo cho HS một ý
10
thức tự giác học tập, một phương pháp tự học, tự cũng cố, phát triển kiến thức trước
và sau giờ học. Bằng cách này, qua bài học, GV có thể hình thành cho HS một số kỹ
năng tự học như kỹ năng thu thập tư liệu, hình ảnh minh họa, kỹ năng ứng dụng kiến
thức đã học vào thực tiễn… Đây chính là nền móng vững chắc giúp các em học tập
tốt hơn trong trường Đại học hoặc các em vẫn có thể tự mình học hỏi, nghiên cứu,
cập nhật kiến thức khi không có điều kiện học tiếp. Có như vậy thế hệ trẻ mới có đủ
bản lĩnh để vững tin bước vào đời đối mặt với sự thay đổi của cuộc sống.
1.2. Mối quan hệ giữa hoạt động dạy học và vấn đề phát triển năng lực tự
học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12
Bản chất của dạy học chính là gây ảnh hưởng có chủ định đến hành vi học tập và
quá trình học tập của HS, tạo môi trường và những điều kiện để người học duy trì việc
học, cải thiện hiệu quả, chất lượng học tập, kiểm soát quá trình và kết quả học tập của
mình. Trong đó, dạy học phải đạt các yêu cầu chủ yếu: Tập cho HS có nhu cầu học
tập, động cơ học tập đúng đắn; Rèn luyện cho HS ý chí học tập, tinh thần vượt khó
trong học tập; Dạy học để cho HS có kỹ năng và biện pháp học, biết chủ động và độc
lập trong học tập nhằm đạt kết quả cao hơn.
Năng lực tự học của HS, trước hết được quyết định bởi chính bản thân HS với tư
cách là chủ thể của hoạt động học tập, đó chính là yếu tố từ phía người học. Tuy nhiên,
sự tích cực nỗ lực của chủ thể không thể đem lại kết quả tốt nếu tách rời các điều kiện
khác đó là GV dạy và môi trường học tập. Các yếu tố tác động của GV và môi trường
học tập trong những trường hợp cụ thể có ảnh hưởng mạnh mẽ đến kết quả học tập của
HS, những yếu tố này không thể thiếu trong việc hình thành và phát triển năng lực tự
học cho HS.
Khi nói đến năng lực tự học của HS thì yếu tố đầu tiên là tính tích cực nhận thức
và tính độc lập trong tư duy và trong hành động của HS. Bên cạnh đó, dạy học của GV
không có nghĩa là truyền thụ tri thức, những sản phẩm có sẵn mà cần phải tổ chức,
điều khiển hoạt động tự nhận thức của HS nhằm hình thành cho HS thái độ, năng lực
và phương pháp học tập và ý chí học tập để HS tự khám phá những tri thức. Việc HS
giải quyết độc lập những tình huống pháp luật có tính vấn đề sẽ thúc đẩy sự phát triển
năng lực sáng tạo. Tính sáng tạo của tư duy chỉ có thể được nảy sinh trên cơ sở của tư
duy độc lập. Tính độc lập của tư duy và tính sáng tạo không khác nhau về bản chất. Tư
duy sáng tạo là một dạng của tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng mới, độc đáo và có hiệu
11
quả cao trong giải quyết vấn đề. Tư duy sáng tạo trong giải quyết vấn đề đồng nghĩa
với khả năng tự lực trong nhận thức của HS ở mức độ rất cao. Trong dạy học, rèn
luyện và phát triển được tư duy sáng tạo chính là đã phát triển năng lực tự học, tự
nghiên cứu ở trình độ cao nhất.
Việc học tập tự giác, tích cực chủ động và sáng tạo đòi hỏi HS phải có ý thức về
những mục đích đặt ra và tạo được động lực bên trong thúc đẩy bản thân họ hoạt động
để đạt được mục đích đó. Điều này thực hiện trong dạy học không chỉ đơn giản bằng
việc nêu rõ mục đích mà quan trọng hơn là gợi được động cơ. Đây là yếu tố có ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động tự học của HS, đặc biệt là khi HS tự học ở nhà. Trong
giờ học các nhiệm vụ học tập là rất rõ ràng, nếu GV tạo được hứng thú học tập, tạo
được không khí học tập thuận lợi trong lớp thì sẽ lôi kéo HS tham gia vào quá trình
dạy học. Trong khi đó, ở bên ngoài nhà trường các điều kiện này không còn nữa, nên
giáo dục để HS tự xác định động cơ, mục đích học tập để từ đó HS hình thành ý chí
học tập là rất quan trọng và có tính chất quyết định đến chất lượng tự học của HS.
Phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, chi phối sự hình thành
hứng thú học tập của HS. Bởi vì, chỉ khi có hứng thú học tập thì mới kích thích được
tư duy của HS, các em mới tự tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề, tự mình nắm
lấy các tri thức. Trong một giờ học, để HS nắm được một đơn vị kiến thức nào đó
trong một thời gian hạn chế thì các thủ pháp dạy học của GV là rất quan trọng.
Chính vì vậy, trình độ dạy học của GV ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tiếp thu tri
thức cũng như năng lực tự học của HS. Phương pháp dạy học, trình độ tổ chức dạy học
của GV không những ảnh hưởng đến phương pháp học và tự học của HS mà còn ảnh
hưởng đến việc phát triển năng lực tự học của HS.
Hiện nay, các xu hướng dạy học hiện đại đã khẳng định rằng để phát huy được
năng lực tự học của HS cần áp dụng mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung
tâm. Bởi vì, theo mô hình này, “Mối quan hệ giữa dạy và tự học là mối quan hệ giữa
ngoại lực và nội lực. Trong mối quan hệ đó thì năng lực tự học của HS là nhân tố
quyết định sự phát triển của bản thân người học” [16; tr13].
Như vậy, các phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học có ảnh
hưởng quyết định đến hoạt động tự nhận thức của HS nhằm tiếp thu tri thức. Trong
học tập cũng như trong cuộc sống, phương pháp học tập của cá nhân, năng lực tự học
được hình thành chủ yếu qua con đường nhà trường mà cụ thể là qua các tiết học của
12
các bộ môn. Vì vậy, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học là các nhân tố
ảnh hưởng có tính chất quyết định đến sự phát triển năng lực tự học của HS.
Sự phát triển tính độc lập tư duy của HS là cơ sở của toàn bộ những hoạt động tự
học, do vậy dạy học phải dạy cho HS những biện pháp để phát triển tư duy độc lập.
Bởi vì, trong quá trình học tập tính tự giác của HS bắt đầu từ việc ý thức được nhiệm
vụ nhận thức, hứng thú đối với công việc đó và nhu cầu giải quyết nhiệm vụ nhận
thức. Bên cạnh đó, trong quá trình dạy học GV phải dạy cho HS cả biện pháp hoạt
động sáng tạo và tính tích cực chủ động, vì đây là biểu hiện cao nhất của năng lực tự
học. Tư duy sáng tạo và tính tích cực chủ động không thể tự nhiên được hình thành mà
nó phải được hình thành và phát triển một cách từ từ bằng các hoạt động tự học của
HS trong suốt quá trình học tập.
Bên cạnh đó, hoạt động kiểm tra, đánh giá của GV cũng ảnh hưởng đến hoạt
động tự kiểm tra, tự đánh giá của HS. Trong quá trình tự mình tìm ra kiến thức, người
học có thể tìm hiểu được một lượng kiến thức nhất định nào đó, lúc đầu có thể chưa
chính xác, chưa đầy đủ nhưng căn cứ vào sự kiểm tra, kết luận của GV, HS tự kiểm tra
sản phẩm của mình để sửa sai hoặc tự điều chỉnh, bổ sung để có được những kiến thức
chính xác và hoàn thiện nhất. Quá trình này sẽ làm cho khả năng tự học, tự nghiên cứu
của HS ngày càng phát triển. Cũng qua quá trình kiểm tra, đánh giá, GV biết được khả
năng học tập, suy nghĩ, tìm tòi, và động cơ của người học, để có thể giúp đỡ người học
điều chỉnh hoặc phát huy khả năng của mình, từ đó rèn luyện và phát triển năng lực tự
học của HS.
Khả năng tự đọc, tự nghiên cứu tài liệu học tập của HS là kết quả của sự rèn
luyện và hướng dẫn của GV. Tự học ở nhà là đọc lại bài giảng của GV, đọc SGK và
tài liệu tham khảo để bổ sung cho kiến thức đã học trên lớp. Bằng cách riêng của mình
HS hệ thống, sắp xếp lại kiến thức mà GV đã trình bày ở trên lớp và tìm cách hòa nhập
các tri thức ấy vào vốn tri thức đã có của bản thân mình. Với môn GDCD lớp 12, HS
tự đọc nhằm hiểu được những nội dung về pháp luật một cách cụ thể, tự mình đặt ra
các tình huống và giải quyết các tình huống liên quan đến nội dung kiến thức đã học
trên lớp. Khả năng đọc và nghiên cứu tài liệu của HS không thể tự hình thành mà phải
thông qua sự hướng dẫn của GV và quá trình luyện tập của từng cá nhân. Nếu không
có kỹ năng này HS không thể tự học thành công.
13
1.3. Cấu trúc chương trình môn GDCD lớp 12
Trong nhà trường THPT, bộ môn GDCD cùng với tất cả các bộ môn học khác
góp phần hình thành và phát triển dần dần nhân cách, năng lực và phẩm chất người
công dân. Đặc biệt, môn GDCD góp phần đào tạo nên những người lao động mới, vừa
có tri thức khoa học, vừa có đạo đức, năng lực thực tiễn và phẩm chất chính trị, tư
tưởng vững vàng, ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, với gia đình luôn gắn liền với
đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nội dung chương trình môn GDCD ở bậc THPT được chia làm 5 nội dung chính
với thời lượng phân phối như sau:
Phần thứ nhất, công dân với việc hình thành thế giới quan và phương pháp luận
khoa học (16 tiết)
Phần thứ hai, công dân với đạo đức (11 tiết)
Phần thứ ba, công dân với kinh tế (13 tiết)
Phần thứ tư, công dân với các vấn đề chính trị - xã hội (14 tiết)
Phần thứ năm, công dân với pháp luật (35 tiết)
Riêng chương trình GDCD lớp 12 gồm 10 bài và được phân phối như sau:
Bài 1: Pháp luật và đời sống (3 tiết)
Bài 2: Thực hiện pháp luật (3 tiết)
Bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật (1 tiết)
Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội
(3 tiết)
Bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo (2 tiết)
Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản (4 tiết)
Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ (3 tiết)
Bài 8: Pháp luật và sự phát triển của công dân (2 tiết)
Bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước (4 tiết)
Bài 10: Pháp luật với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại (2 tiết)
(Theo chương trình giảm tải của Bộ Giáo Dục, năm 2011, bài 10 được cắt giảm.)
Ngoài ra, theo phân phối chương trình GDCD lớp 12, mỗi học kỳ có một giờ
kiểm tra 1 tiết, có 2 tiết hoạt động ngoại khóa, 3 tiết ôn tập và 2 tiết kiểm tra học kỳ.
Nội dung chương trình GDCD lớp 12 rất phong phú, nhiều nội dung khó, liên
quan đến việc thực hiện và ứng xử pháp luật của HS trong đời sống hàng ngày. Căn cứ
vào nội dung của từng bài, có thể cụ thể hóa thành 3 chủ đề kiến thức lớn:
14
Chủ đề thứ nhất, đề cập về nội dung, bản chất và vai trò của pháp luật đối với đời
sống xã hội, được cụ thể hóa ở bài 1 và bài 2. Với chủ đề kiến thức này, GV có thể cho
HS tự học, tự nghiên cứu về vai trò của pháp luật đối với xã hội và với công dân.
Chủ đề thứ hai, nói lên quyền và nghĩa vụ công dân trong một số lĩnh vực của
đời sống xã hội được cụ thể hóa ở bài 3, 4, 5, 6, 7. Chủ đề này bao gồm những kiến
thức gần gũi và cần thiết với HS như: Công dân với một số quyền tự do cơ bản (bài 6)
hay công với một số quyền dân chủ cơ bản (bài 7).
Chủ đề thứ ba, gồm bài 8, 9, 10, đề cập đến vai trò của pháp luật đối với sự phát
triển toàn diện của đất nước và công dân.
Như vậy, với lượng kiến thức về pháp luật rất khó và khô khan được dạy trong
một thời gian có hạn. Để HS có thể nắm được và thực hiện được trong cuộc sống thực
tế thì ngoài việc dạy và học ở trên lớp thì GV phải khuyến khích để HS có thể tự học
thêm ở nhà qua các kênh khác nhau tùy vào khả năng của mỗi HS.
Tiểu kết chương 1
Bản chất của tự học là quá trình người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa mãn
các nhu cầu tự học, tự nghiên cứu, tự giác tiến hành các hoạt động học tập để thực hiện
có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập.
Trên cơ sở tìm hiểu một số vấn đề lý luận cơ bản, tác giả đã làm rõ tầm quan
trọng về vấn đề phát triển năng lực tự học cho HS THPT thông qua dạy học môn
GDCD lớp 12, để từ đó tạo tiền đề khai thác thực trạng và đề xuất một số giải pháp
nhằm phát triển năng lực tự học cho HS THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.
15
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ THÔNG QUA DẠY HỌC
MÔN GDCD LỚP 12
2.1. Khái quát về Trường THPT Trần Phú
Trường THPT Trần Phú được thành lập từ năm 1992, nằm ở một vị trí khá thuận
lợi về giao thông cũng như tình hình an ninh trật tự. Trường có cơ sở vật chất và trang
thiết bị khá đầy đủ, khuôn viên nhà trường có diện tích 25.000 m2.
Cơ cấu các khối công trình trong trường gồm: Khu phòng học (28 phòng), phòng
thực hành bộ môn; khu phục vụ học tập: Thư viện theo đúng tiêu chuẩn hiện hành, một
nhà truyền thống, sân bóng chuyền, bóng đá mini, bóng rổ,…. khu sân chơi và khu vệ
sinh.
HS Trường THPT Trần Phú đại đa số là HS giỏi được tuyển chọn từ các xã của
huyện Bố Trạch rất chăm ngoan và ham học hỏi. HS của trường luôn đứng Top đầu
của toàn tỉnh về thành tích học tập cũng như hạnh kiểm. Trong năm học 2017 - 2018
Trường THPT Trần Phú có 26 lớp với 1077 HS, duy trì sĩ số đạt 100%. Trường có 08
tổ chuyên môn: Toán, Tin, Lý – Kỷ công nghiệp, Hóa – Sinh – Kỷ nông nghiệp, Văn,
Sử - Địa - GDCD, Ngoại ngữ, Thể dục. Trường THPT Trần Phú là một đơn vị có số
GV tham gia học nâng cao trình độ cao nhất trong toàn tỉnh, hiện có 62 người trình độ
đạt chuẩn 100%, trên chuẩn (Thạc sỹ) là 7 người và 5 người đang học Cao học (chiếm
tỷ lệ 14,1%/ tổng số cán bộ giáo viên), 41 đảng viên chiếm tỷ lệ 66,1%, các cán bộ,
giáo viên và nhân viên luôn nhiệt tình, năng động, sáng tạo. Hầu hết các thầy, cô giáo
đều thực hiện nghiêm túc nề nếp, kỷ cương, mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương về
đạo đức và tự học.
Chất lượng giáo dục đại trà của trường đạt kết quả cao, đến năm 2016 – 2017 có
10,37% giỏi; 46,89% khá; tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông 98,12 %, tỷ lệ học sinh
thi đỗ vào đại học cao đẳng, du học nước ngoài trên 35%. Chất lượng giáo dục mũi
nhọn trong năm học 2016 – 2017 HS của trường đạt 41 giải HS giỏi cấp tỉnh, trong đó
có 5 giải nhì, 17 giải ba, 19 giải khuyến khích.
Hoạt động giáo dục của trường luôn được quan tâm và tạo điều kiện phát triển,
Đoàn trường thường xuyên tổ chức cho HS tham gia các hoạt động ngoại khóa như:
Hội trại xuân, hội khỏe phù đổng, đặc biệt là hoạt động thường xuyên của các câu lạc
bộ trong nhà trường [4; tr6].
16
2.2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực trạng
2.2.1. Cách thức tiến hành
Để nghiên cứu thực trạng dạy học nhằm phát triển năng lực tự học sinh trường
THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12, tác giả tiến hành các công việc
cụ thể như sau:
* Thứ nhất, xây dựng cơ sở lý luận
- Đọc các tài liệu, sách giáo dục học… có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để khái quát những vấn đề lý luận
liên quan đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu.
*Thứ hai, nghiên cứu thực trạng về việc dạy học nhằm phát triển năng lực tự học
sinh trường THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12
Sử dụng những phương pháp nghiên cứu thực tiễn cho phù hợp với khách thể và
đối tượng nghiên cứu gồm:
- Điều tra bằng phiếu điều tra: Trước tiên điều tra thăm dò để lấy cơ sở soạn thảo
phiếu điều tra thực trạng sau đó tiến hành điều tra thực trạng.
- Xử lý kết quả thu được.
Mục đích của việc điều tra thực trạng nhằm:
- Chỉ ra được thực trạng dạy học nhằm phát triển năng lực tự học sinh trường
THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.
- Chỉ ra vai trò và ý nghĩa của dạy học nhằm phát triển năng lực tự học sinh
trường THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.
- Những thuận lợi và khó khăn khi dạy học môn GDCD lớp 12.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực tự học sinh trường THPT Trần Phú
thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.
2.2.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.2.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đây là nhóm phương pháp thu thập thông tin khoa học dựa trên cơ sở nghiên cứu
các văn bản, tài liệu, các kinh nghiệm đã có bằng các thao tác tư duy logic để rút ra các
kết luận cần thiết.
Mục đích của nhóm phương pháp này là nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề
nghiên cứu, tích lũy và hệ thống hóa những tư duy lý luận về thực trạng dạy học nhằm
phát triển năng lực tự học cho HS THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12. Từ đó
xây dựng các khái niệm công cụ làm cơ sở cho việc nghiên cứu những vấn đề thực
tiễn.
17
2.2.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến
Tiến hành điều tra 136 HS và 3 GV về thực trạng dạy học nhằm phát triển năng
lực tự học sinh trường THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12
Mục đích: Thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu một cách khách quan,
chính xác, khoa học.
Nội dung tìm hiểu:
Tìm hiểu mục đích của HS Trường THPT Trần Phú về vấn đề tự học.
Tìm hiểu chung về thực trạng tự học môn GDCD lớp 12 theo hướng phát triển
năng lực tự học của HS Trường THPT Trần Phú.
Tìm hiểu chung về thực trạng giảng dạy môn GDCD gắn với yêu cầu phát triển
năng lực tự học của HS ở Trường THPT Trần Phú.
Tìm hiểu một số giải pháp pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
trường THPT Trần Phú thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.
Quá trình thực hiện:
Kế hoạch điều tra được tổ chức chặt chẽ, có trình tự và được chuẩn bị chu đáo về
các điều kiện, phương tiện, thời gian cho việc điều tra. Trước khi tiến hành mỗi bước,
điều tra viên đều thông báo đầy đủ, rõ ràng về mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra,
hướng dẫn giáo viên trả lời và nêu yêu cầu cần thiết.
Bước 1: Điều tra sơ bộ và xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra
Để có thể xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra, đầu tiên phải xây dựng phiếu trưng
cầu ý kiến gồm các câu hỏi mở nhằm thu thập những thông tin có liên quan đến thực
trạng dạy học nhằm phát triển năng lực tự học sinh trường THPT Trần Phú thông qua
dạy học môn GDCD lớp 12.
Sử dụng kết quả thu được từ lần điều tra thăm dò này làm căn cứ để xây dựng
phiếu trưng cầu ý kiến điều tra chính xác. Thông tin thu được từ điều tra thăm dò được
phân tích, tổng hợp. Kết hợp kết quả điều tra sơ bộ với những nghiên cứu về mặt lý
luận để xây dựng hệ thống câu hỏi đóng và mở để tạo điều kiện cho người trả lời vừa
có thể lựa chọn đáp án đã có sẵn vừa nêu ra ý kiến, nhận định riêng của bản thân về
vấn đề nghiên cứu. Nội dung câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu. Phiếu điều tra được đánh máy
trên khổ giấy A4, được trình bày sạch sẽ, rõ ràng. Đảm bảo cho người trả lời có đủ
thời gian để trả lời và khống chế việc nhìn nhau khi trả lời câu hỏi.
18