Mục lục
I.THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM...................................................................................2
1.Khaí niệm và ý nghĩa của giám đốc thẩm dân sư....................................................2
1.1.Khái niệm.........................................................................................................2
1.2. Ý nghĩa............................................................................................................ 3
2.Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm..................................................................3
2.1. Khái niệm........................................................................................................3
2.2.Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm...........................................3
2.3.Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị..................................................................4
2.4.Hình thức kháng nghị.......................................................................................5
2.4.1.Phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật cần xem
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.....................................................................5
2.4.2.Quyết định kháng nghị..............................................................................5
2.4.3.Gửi quyết định kháng nghị (Điều 336.......................................................6
2.5.Thời hạn kháng nghị........................................................................................6
3.Xét xử giám đốc thẩm.............................................................................................7
3.1.Thẩm quyền giám đốc thẩm.............................................................................7
3.2.Hội đồng giám đốc thẩm..................................................................................9
3.3.Những người tham gia phiên tòa GĐT (Điều 388 BLTTDSHH)......................9
3.4.PHIÊN TÒA GIÁM ĐỐC THẨM..................................................................10
3.4.1.Thời hạn mở phiên tòa và chuẩn bị phiên tòa giám đốc thẩm.................10
3.4.2.Thủ tục tiến hành phiên toà giám đốc thẩm.............................................10
3.4.3.Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm..............................................12
3.4.4. Ra quyết định giám đốc thẩm.................................................................13
II THỰC TRẠNG GIÁM ĐỐC THẨM.......................................................................14
III GIẢI PHÁP GIÁM ĐỐC THẨM............................................................................15
1.Về nhận thức.........................................................................................................15
2.Về công tác cán bộ................................................................................................15
3.Về quản lý, chỉ đạo, điều hành..............................................................................15
4.Nâng cao kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án để kháng nghị giám đốc thẩm............16
5.Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn pháp luật........................................................17
6.Công tác phối hợp trong việc chuyển hồ sơ vụ án.................................................17
7.Tăng cường sơ kết, tổng kết, hội thảo...................................................................18
IV KẾT LUẬN
19
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, Bộ luật tố tụng dân sư với những
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng như: trình tư, thủ tục khởi kiện, xét xử, sư
tham gia tố tụng dân sư của các chủ thể....được quy định đều nhằm mục đích giải
quyết các vụ việc dân sư được chính xác, công bằng và đúng pháp luật. Tuy nhiên
trong thưc tiễn , hoạt động xét xử có thể không tránh khỏi những sai sót khiến cho
những phán quyết của Tòa án không đúng với sư thật khách quan hoặc trái pháp
luật.Những sai sót này có thể xuất phát từ yếu tố chủ quan hoặc yếu tố khách quan nên
dẫn đến việc có những bản án, quyết định của Tòa án đã trải qua hai cấp xét xử sơ
thẩm, phúc thẩm, thậm chí qua nhiều vòng xét xử lặp đi lặp lại mà vẫn không đúng
pháp luật. Do đó để khắc phục và sửa chữa những sai lầm, thiếu sót nhằm đảm bảo
tính pháp chế XHCN trong công tác xét xử của tòa án cũng như bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của các đương sư thì cần có một thủ tục để xét lại bản án, quyết định giải
quyết vụ án dân sư của Tòa án đã có hiệc lưc pháp luật.
1
NỘI DUNG
I.THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
1.Khaí niệm và ý nghĩa của giám đốc thẩm dân sư
1.1.Khái niệm
Giám đốc thẩm dân sư là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật
của Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải
quyết vụ án.
Thủ tục giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt được tiến hành trên cơ sở kháng nghị của
người có thẩm quyền khi phát hiện có sư sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng
trong quá trình giải quyết vụ án dân sư. Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lưc
pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm do Tòa án có thẩm quyền thưc hiện.
+ Nội dung: Tòa án kiểm tra tính hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lưc
pháp luật kháng nghị
+Tính chất: Điều 325 Bộ luật tố tụng dân sư hiện hành(BLTTDSHH) quy định:
“Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải
quyết vụ án”.
Tòa án thưc hiện chế độ hai cấp xét xử: xét xử ở cấp sơ thẩm và xét xử ở cấp
phúc thẩm. Vì vậy, giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là một thủ tục
tố tụng đặc biệt có nhiệm vụ xét lại nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các
bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật bị kháng nghị do phát hiện có vi phạm
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sư nhằm đảm bảo việc xử lý vụ án được
chính xác.
- Khác với phúc thẩm, thì thủ tục giám đốc thẩm chỉ được thưc hiện khi bản án,
quyết định đã có hiệu lưc pháp luật có vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp
luật mới được xem xét trong khi phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, bản án sơ thẩm chưa
có hiệu lưc pháp luật có kháng cáo của đương sư, kháng nghị của Viện kiểm sát thì dù
việc xét xử sơ thẩm có vi phạm pháp luật hay không vi phạm pháp luật, bản án sơ
thẩm đúng hay sai, vụ án vẫn được xét xử lại. Do đó không phải trường hợp nào đương
sư khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật cũng được kháng
nghị để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm.
1.2. Ý nghĩa
Việc xét lại bản án hay quyết định của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật theo thủ
tục giám đốc thẩm có ý nghĩa to lớn. Trước hết, nó làm cho kỷ cương pháp luật được
tôn trọng, sau đó nó giúp cho Tòa án cấp trên thấy được những sai lầm, thiếu sót của
Tòa án cấp dưới đối với những vụ án cụ thể và sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm
đó, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Mặt khác, thông qua hoạt động giám đốc thẩm, Tòa án cấp trên có thể tổng kết,
rút kinh nghiệm công tác xét xử. Trên cơ sở đó, họ hướng dẫn Tòa án cấp dưới hiểu và
áp dụng đúng pháp luật. Vì vậy, kết quả của hoạt động giám đốc thẩm được coi như là
những kinh nghiệm; đồng thời là những định hướng hướng dẫn hoạt động xét xử của
Tòa án cấp dưới.
2.Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
2.1. Khái niệm
Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là hoạt động tố tụng của người có thẩm
quyền của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc phản đối bản án, quyết định đã có hiệu lưc
pháp luật và yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đó khi phát hiện
được sai lầm, vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sư.
2.2.Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Để tiến hành kháng nghị, người có thẩm quyền kháng nghị phải dưa trên những
căn cứ nhất định do pháp luật quy định. Theo Điều 326 BLTTDSHH, bản án quyết
định của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi
có một trong các căn cứ sau đây:
3
- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách
quan của vụ án.
Các tình tiết khách quan của vụ án là những tình tiết tồn tại ngoài ý muốn của con
người. Tùy thuộc mỗi vụ án cụ thể, các tình tiết có thể nhiều ít khác nhau và tồn tại ở
những dạng khác nhau. Trên thưc tế, những nguyên nhân khiến cho kết luận của Tòa
án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án cũng khá nhiều. Thông
thường những nguyên nhân này có thể thể hiện dưới dạng Tòa án chưa thu thập đầy đủ
các chứng cứ, tài liệu để giải quyết vụ án nhưng Tòa án vẫn giải quyết dẫn đến quyết
định của Tòa án thiếu cơ sở ; Hoặc là Tòa án có thể đánh giá sai chứng cứ, tài liệu của
vụ án nên quyết định giải quyết vụ án sai.
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Thủ tục tố tụng là những quy định của pháp luật về những hoạt động của cơ quan,
người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, nhằm bảo đảm cho việc giải quyết
vụ án đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sư. Vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng là những vi phạm trong quá trình điều tra hoặc xét xử vụ
án mà chúng có thể tước bỏ hoặc hạn chế quyền của những người tham gia tố tụng
hoặc làm cho Tòa án xét xử không khách quan, không đúng pháp luật hoặc thiếu căn
cứ.Trong thưc tế, việc vi phạm nghiêm trọng thủ tục được tiến hành trong quá trình
Tòa án giải quyết vụ án thường thể hiện dưới dạng như : Tòa án giải quyết vụ án sai
thẩm quyền, thành phần Hội đồng xét xử không đúng quy định của pháp luật, Tòa án
xác định sai tư cách tố tụng của đương sư….
- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
Các sai lầm trong việc áp dụng pháp luật thường thể hiện dưới dạng Tòa án đã áp
dụng văn bản pháp luật không đúng, không còn hiệu lưc hoặc áp dụng không đúng
điều luật, không đúng nội dung quy định của điều luật. Trong đó, phổ biến nhất là việc
Tòa án áp dụng sai điều luật hoặc không đúng nội dung quy định của điều luật vào
việc giải quyết vụ án dân sư.
4
2.3.Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị
Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại
Điều 331 BLTTDSHH.
Theo quy định này thì chỉ có Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
tỉnh mới có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. (Việc kháng nghị có sư
phân cấp rõ ràng).
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lưc
pháp luật của tòa án nhân dân các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản
án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật của tòa án nhân dân cấp huyện.
2.4.Hình thức kháng nghị
Hình thức kháng nghị là phương diện để các chủ thể có thẩm quyền thể hiện
quyền kháng nghị của mình.
2.4.1.Phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
Đơn đề nghị
Theo khoản 1 điều 327: “Trong thời hạn 1 năm, kể từ ngày bản án, quyết định
của Tòa án có hiệu lưc pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án,
quyết định đó thì đương sư có quyền đề nghị bằng văn bản với những người có quyền
kháng nghị quy định tại Điều 331 BLTTDSHH để xem xét kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm”.
Văn bản thông báo
5
Theo khoản 2 điều 327 BLTTDSHH: “Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cá
nhân, cơ quan tổ chức khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có
quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 BLTTDS”.
2.4.2.Quyết định kháng nghị
Theo quy định tại Điều 333 BLTTDSHH thì quyết định kháng nghị phải có các nội
dung như:
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;
2. Chức vụ của người ra quyết định kháng nghị;
3. Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật bị kháng nghị;
4. Quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật bị kháng nghị;
5. Nhận xét, phân tích những vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lưc
pháp luật bị kháng nghị;
6. Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;
7. Kháng nghị toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật;
8. Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án;
9. Đề nghị của người kháng nghị.
Trong trường hợp để tránh việc giải quyết yêu cầu kháng nghị một cách không
cần thiết, pháp luật quy định việc thay đổi, bổ sung, rút lại kháng nghị. Thì Điều 335
BLTTDSHH quy định là người đã kháng nghị giám đốc thẩm có quyền thay đổi, bổ
sung quyết định kháng nghị, nếu chưa hết thời hạn kháng nghị. Và họ cũng có quyền
6
rút một phần hoặc toàn bộ quyết định kháng nghị trước khi mở phiên toà hoặc tại
phiên toà giám đốc thẩm.
2.4.3.Gửi quyết định kháng nghị (Điều 336
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải được gửi ngay cho Tòa án ra bản án,
quyết định đã có hiệu lưc pháp luật bị kháng nghị, các đương sư, cơ quan thi hành án
dân sư có thẩm quyền và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội
dung kháng nghị.
Trong trường hợp, Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Toà án nhân
dân cấp tỉnh kháng nghị thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi
ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi Chánh án tòa án ra quyết định kháng
nghị. Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận
được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án
có thẩm quyền giám đốc thẩm.”
Trong trường hợp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị thì quyết định kháng nghị phải được gửi
ngay cho Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 332 BLTTDSHH thì người có thẩm quyền kháng
nghị bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật của Tòa án (Chánh án TANDTC, Viện
trưởng VKSNDTC, Chánh án TAND cấp tỉnh và Viện trưởng VKSND cấp tỉnh) có
quyền yêu cầu hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành (toàn bộ hoặc một phần) bản án,
quyết định để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc thi hành án
được thưc hiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân sư. Việc tạm đình chỉ thi
hành bản án hoặc quyết định đã có hiệu lưc pháp luật của Tòa án có thể được quyết
định cùng với việc kháng nghị (ngay trong kháng nghị đó) hoặc sau khi đã kháng nghị
bằng văn bản riêng. Thời hạn tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lưc
pháp luật tính từ ngày ra quyết định cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.
7
2.5.Thời hạn kháng nghị
Theo khoản 1 điều 334 BLTTDSHH thì:
Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quyền kháng nghị
trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lưc pháp luật.
Thưc tiễn giải quyết các vụ án dân sư cho thấy, có nhiều trường hợp gần hết thời
hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, Tòa án, Viện kiểm sát mới nhận được đơn
khiếu nại của đương sư nên không có đủ thời gian để xem xét; có trường hợp đương sư
gửi đơn trong thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng không được
người có thẩm quyền xem xét hoặc không kịp thời phát hiện các sai sót, do đó, khi
phát hiện thì đã hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, làm ảnh hưởng
xấu đến quyền và lợi ích chính đáng của đương sư.
Chính vì vậy, Khoản 2 Điều 334 BLTTDSHH quy định trường hợp đã hết thời
hạn kháng nghị ba năm, được kéo dài thời hạn kháng nghị thêm hai năm, kể từ ngày
hết thời hạn kháng nghị khi có các điều kiện sau đây:
- Thứ nhất, đương sư đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của
BLTTDSHH là trong thời hạn một năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lưc pháp
luật và sau khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 điều này đương sư vẫn tiếp tục có đơn
đề nghị.
- Thứ hai, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật có vi phạm
pháp luật theo quy định tại điều 326 của BLTTDSHH, xâm phạm nghiêm trọng đến
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sư, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của Nhà
nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lưc
pháp luật đó.
3.Xét xử giám đốc thẩm
Quá trình xét xử giám đốc thẩm gồm những nội dung sau:
8
3.1.Thẩm quyền giám đốc thẩm
Thẩm quyền giám đốc thẩm được xác định bởi tính chất giám đốc thẩm và căn cứ
vào cơ cấu hệ thống tổ chức của tòa án. Theo quy định tại Điều 337 BLTTDSHH, Tòa
án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mới có thẩm quyền giám đốc thẩm các
bản án, quyết định giải quyết vụ án đã có hiệu lưc pháp luật bị kháng nghị, cụ thể:
1. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bản án, quyết
định đã có hiệu lưc pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp
huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị như sau:
a ) Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội
đồng xét xử gồm ba Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện có hiệu lưc pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm;
b) Toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm
đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật quy định tại điểm a
khoản này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Ủy ban thẩm
phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba
Thẩm phán nhưng không đạt được sư thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định
về việc giải quyết vụ án.
2. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết
định đã có hiệu lưc pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị như sau:
a ) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội
đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp
cao bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;
b) Toàn thể Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm
đối với bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật quy định tại điểm a khoản này
9
nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán
nhưng không đạt được sư thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải
quyết vụ án.
3. Những vụ án có tính chất phức tạp quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b
khoản 2 Điều này là những vụ án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Quy định của pháp luật về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án chưa rõ
ràng, chưa được hướng dẫn áp dụng thống nhất;
b) Việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật có nhiều ý kiến khác nhau;
c) Việc giải quyết vụ án liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước,
bảo vệ quyền con người, quyền công dân được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.
4. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử
giám đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm trong các
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
5. Trường hợp những bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật về cùng một vụ
án dân sư cùng thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa
án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ
vụ án.
Ví dụ: Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án, phần bản án sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh
H về chia tài sản bị kháng cáo và đã được Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội xét xử.
Sau khi phát hiện bản án phúc thẩm của Tòa phúc thẩm TANDTC và bản án sơ thẩm
(phần không bị kháng cáo) của Tòa án cấp tỉnh H đều có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng nên Chánh án TANDTC đã kháng nghị đối với cả hai bản án này. Trong trường
10
hợp này, Hội đồng thẩm phán TANDTC sẽ xét xử giám đốc thẩm đối với toàn bộ vụ
án.
3.2.Hội đồng giám đốc thẩm
Khi xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật theo thủ tục giám đốc
thẩm, vì đây là thủ tục đặc biệt, được giao cho các Tòa án khác nhau giải quyết nên
thành phần Hội đồng giám đốc thẩm là những Thẩm phán xét xử chuyên nghiệp, được
quy định phù hợp với Tòa án có thẩm quyền và phù hợp với Luật tổ chức Tòa án nhân
dân (gồm các Thẩm phán, không có sư tham gia của Hội thẩm nhân dân tham gia).
Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm được quy định tại Điều 66 BLTTDSHH cụ thể
như sau:
1. Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng
Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán hoặc toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân
cấp cao.
2. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng
Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán hoặc toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.
3.3.Những người tham gia phiên tòa GĐT (Điều 388 BLTTDSHH)
Để đảm bảo thủ tục giám đốc thẩm tiến hành đúng pháp luật, thì Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia tất cả các phiên tòa giám đốc thẩm để
thưc hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét lại bản án, quyết định
đã có hiệu lưc pháp luật. Nếu đại diện Viện kiểm sát vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa.
Ngoài ra, việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật theo thủ tục
giám đốc thẩm được tiến hành dưa vào hồ sơ vụ án nên những người tham gia tố tụng
cũng không buộc phải tham gia phiên tòa. Tòa án chỉ triệu tập những người tham gia
tố tụng và những người khác liên quan khi cần thiết cho việc xét lại bản án, quyết định
đã có hiệu lưc pháp luật. Nếu người được triệu tập vắng mặt, thì Tòa án vẫn có thể tiến
hành xét xử.
11
Tùy từng trường hợp cụ thể, tòa án xác định những người cần triệu tập đến tham
gia phiên tòa. Trong trường hợp triệu tập ai đến tham gia phiên tòa thì Tòa án phải gửi
giấy triệu tập cho họ và trong giấy triệu tập phải ghi rõ ngày, giờ, địa điểm mở phiên
tòa.
3.4.PHIÊN TÒA GIÁM ĐỐC THẨM
3.4.1.Thời hạn mở phiên tòa và chuẩn bị phiên tòa giám đốc thẩm
Để sớm sửa chữa những sai lầm trong các bản án, quyết định bị kháng nghị, tòa
án mở phiên tòa giám đốc thẩm càng sớm càng tốt. Điều 399 BLTTDSHH quy định
phiên tòa giám đốc thẩm phải được tiến hành trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày
nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án. Trong thời hạn này, tòa án tiến hành tất
cả các công việc cần thiết cho việc mở phiên toà giám đốc thẩm.
Việc chuẩn bị phiên tòa được tiến hành như sau:
Sau khi nhận được kháng nghị, tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm yêu cầu tòa
án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị chuyển hồ sơ vụ án cho tòa án mình nghiên
cứu chuẩn bị xét xử. Chánh án Tòa án hoặc Chánh án Tòa chuyên trách của TANDTC
phân công một thẩm phán là thành viên của Hội đồng xét xử chịu trách nhiệm chính
trong việc chuẩn bị xét xử. Thành viên này có nhiệm vụ nghiên cứu lại trước hồ sơ vụ
án, bản án, quyết định bị kháng nghị, bản kháng nghị, kết luận viết của Viện kiểm sát
(nếu có) và làm bản thuyết trình về vụ án. Các thành viên khác của hội đồng xét xử
cũng tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án, nắm vững nội dung vụ án để tham gia xét xử.
Nội dung bản thuyết trình phải tóm tắt được nội dung vụ án và các bản án, quyết
định của các cấp tòa án, nội dung của kháng nghị. Bản thuyết trình phải được gửi trước
cho thành viên hội đồng giám đốc thẩm chậm nhất là bảy ngày trước ngày mở phiên
tòa giám đốc thẩm. (Điều 340 BLTTDSHH).
3.4.2.Thủ tục tiến hành phiên toà giám đốc thẩm
Thủ tục giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt nhằm xét lại bản án, quyết đã có
hiệu lưc pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm nghiêm trọng, gây thiệt hại đến quyền và
12
lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước nên phải được
xem xét theo một trình tư chặt chẽ và có nhiều điểm khác biệt với phiên tòa sơ thẩm,
phúc thẩm vì nó được tiến hành trên cơ sở xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là
chủ yếu.
Bên cạnh đó, do giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử nên phiên tòa giám
đốc thẩm không phải là một phiên tòa công khai mà giống như một phiên họp và được
tiến hành trong phòng họp của Tòa án dưới sư điều hành của Chủ tọa phiên tòa.
Cụ thể, theo Điều 341 BLTTDSHH phiên tòa giám đốc thẩm diễn ra theo thủ tục
cụ thể như sau:
- Chủ tọa khai mạc phiên toà.
- Một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án,
quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lưc
pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của người
kháng nghị.
- Trong trường hợp có người tham gia tố tụng hoặc người khác được Toà án triệu
tập tham gia phiên toà giám đốc thẩm thì họ được trình bày ý kiến của mình về quyết
định kháng nghị.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về quyết định kháng
nghị.
- Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm thảo luận và phát biểu ý kiến của
mình về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ
án.
- Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án theo trình tư tán
thành, không tán thành và ý kiến khác.
Quyết định giám đốc thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên
của Uỷ ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành.
Trong trường hợp không được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban Thẩm phán
Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu
13
quyết tán thành thì phải hoãn phiên toà. Và trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày
ra quyết định hoãn phiên toà, Uỷ ban Thẩm phán, Hội đồng Thẩm phán phải tiến hành
xét xử lại với sư tham gia của toàn thể các thành viên.
3.4.3.Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
-
Phạm vi giám đốc thẩm (Điều 342 BLDSHH)
Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật theo thủ tục giám đốc
thẩm nhằm khắc phục, sủa chữa những sai lầm trọng các bản án, quyết định đã có hiệu
lưc pháp luật. Về nguyên tắc, để khắc phục, sửa chữa những sai lầm trong các bản án,
quyết định đã có hiệu lưc pháp luật thì Hội đồng giám đốc thẩm phải được xét lại toàn
bộ nội dung bản án, quyết định bị kháng nghị. Tuy vậy, để tránh làm mất tính ổn định
của bản án, quyết định, kéo dài việc giải quyết vụ án thì Hội đồng giám đốc thẩm chỉ
xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật bị kháng
nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị. Ngoài ra, Hội đồng
thẩm phán có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lưc
pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung
kháng nghị, nếu phần quyết định đó liên quan đến lợi ích nhà nước, lợi ích của người
thứ ba không phải là đương sư trong vụ án.
-
Quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm
Để phù hợp với thưc tiễn Việt Nam, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế,
Bộ luật tố tụng dân sư không quy định cho Hội đồng giám đốc thẩm có quyền sửa bản
án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lưc pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm mà chỉ quy định Hội đồng giám đốc thẩm có các quyền sau đây(Điều
337 BLTTDSHH)
Theo điều 344 BLTTDSHH thì:
Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lưc
pháp luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp dưới xét xử
đúng pháp luật, nhưng đã bị bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật bị kháng nghị
huỷ bỏ hoặc sửa đổi một phần hay toàn bộ.
14
Ví dụ: Khi xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm của
Tòa kinh tế TANDTC có thể hủy bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và
giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện đã bị Tòa án nhân dân
cấp tỉnh sửa hoặc bị hủy.
1.Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lưc pháp
luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại;
(Điều 345 BLTTDSHH)
2.Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án.
Hội đồng giám đốc thẩm quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp
luật và đình chỉ giải quyết vụ án, nếu vụ án đó thuộc một trong các trường hợp quy
định tại Điều 217 của Bộ luật này.
Trường hợp quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với vụ trường hợp sư việc
không thuộc thẩm quyền của tòa án thì tòa án cần hướng dẫn đương sư yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền để giải quyết.
3.4.4. Ra quyết định giám đốc thẩm
Khi xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tòa án ra quyết định
giám đốc thẩm. Quyết định giám đốc thẩm phải có các nội dung theo quy định tại
khoản 2 Điều 348 BLTTDSHH. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lưc thi hành ngày
kể từ lúc Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định (Điều 348 BLDSHH).
Như vậy, Quyết định giám đốc thẩm phải được thi hành và phải được mọi công
dân , cơ quan, tổ chức tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành. Tuy nhiên, Quyết định
giám đốc thẩm ( trừ Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC) có
thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm khi có các căn cứ quy
định tại Điều 326 và 352 BLTTDSHH.
Đối với quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao có
thể bị yêu cầu, kiến nghị hoặc đề nghị xem xét lại theo thủ tục đặc biệt trong các
trường hợp quy định tại điều 357 BLTTDSHH.
Sau khi ra quyết định giám đốc thẩm, theo quy định tại Điều 303 BLTTDSHH
thì trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Hội đồng giám đốc
thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm cho đương sư và những người khác có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan theo quyết định giám đốc thẩm; Tòa án ra bản án, quyết định đã
15
có hiệu lưc pháp luật bị kháng nghị; Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thị hành án
dân sư có thẩm quyền.
(Việc gửi quyết định giám đốc thẩm được thưc hiện theo quy định theo thủ tục cấp,
tống đạt, thông báo bằng văn bản tố tụng quy định tại các điều 170 đến 181
BLTTDSHH).
II THỰC TRẠNG GIÁM ĐỐC THẨM
Qua 02 năm thưc hiện công tác kháng nghị GĐT thuộc thẩm quyền của VKSND
đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Hai cấp kiểm sát, bằng nhiều giải pháp đã giải
quyết hầu hết số lượng đơn đề nghị kháng nghị GĐT đảm bảo kịp thời hạn, kháng nghị
theo thủ tục GĐT đối với nhiều bản án, quyết định dân sư đã có hiệu lưc pháp luật của
Tòa án theo quy định của pháp luật.
Các VKSND cấp cao, sau một thời gian đi vào hoạt động, số lượng đơn đề nghị
kháng nghị GĐT được giải quyết và số lượng kháng nghị GĐT năm sau cao hơn năm
trước. Tại VKSND tối cao, sau khi các Viện kiểm sát cấp cao đi vào hoạt động ổn
định, số lượng đơn đề nghị kháng nghị GĐT được giải quyết cũng gia tăng theo từng
năm.
Tuy nhiên, sau 02 năm thưc hiện thẩm quyền kháng nghị GĐT tại VKSND hai
cấp còn có một số tồn tại, hạn chế như: Số vụ việc ban hành kháng nghị thấp hơn so
với trước khi thưc hiện Luật tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTDS năm 2015. Vậy,
đâu là nguyên nhân?
16
Thứ nhất, VKSND có thẩm quyền kháng nghị GĐT, TT gặp khó khăn trong việc
yêu cầu rút hồ sơ. Quá trình giải quyết đơn, Viện kiểm sát có thẩm quyền đã ban hành
nhiều văn bản yêu cầu TA đang quản lý chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát xem
xét, giải quyết, nhưng số lượng yêu cầu được Tòa án đáp ứng không cao. Một số
trường hợp gần hết thời hạn kháng nghị mới nhận được hồ sơ do TA chuyển đến, nên
không đủ thời gian xem xét, giải quyết, trong đó có những bản án, quyết định có vi
phạm pháp luật, cần được xem xét kháng nghị.
Thứ hai, công tác phối hợp trong việc kháng nghị GĐT giữa Vụ nghiệp vụ thuộc
VKSND tối cao với các VKSND cấp cao, giữa các VKSND cấp cao với một số tổ biệt
phái chưa được chặt chẽ, hiệu quả chưa cao, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết đơn
cũng như công tác kháng nghị. Một số VKSND cấp tỉnh cử công chức biệt phái chưa
có kinh nghiệm nghiên cứu hồ sơ kháng nghị GĐT dẫn đến việc nghiên cứu, đề xuất
còn gặp nhiều lúng túng, chưa đúng quy trình.
Thứ ba, VKSND tối cao chưa quy định cụ thể thẩm quyền ban hành một số văn
bản nghiệp vụ của Vụ trưởng Vụ nghiệp vụ (khi Vụ trưởng Vụ nghiệp vụ không phải
là Kiểm sát viên VKSND tối cao), chưa có hướng dẫn trường hợp VKSND cấp tỉnh đã
báo cáo thỉnh thị, cơ quan, tổ chức đã kiến nghị kháng nghị GĐT không đồng ý với
trả lời của VKSND cấp cao, thì báo cáo lên cơ quan nào? VKSND cấp cao hay
VKSND tối cao.
Thứ tư, pháp luật hiện hành chưa quy định giới hạn giải quyết đơn đề nghị kháng
nghị GĐT; nhiều trường hợp đã được giải quyết đúng pháp luật, nhưng đương sư
không chấp nhận, vẫn tiếp tục đề nghị xem xét, gửi đơn đến nhiều cơ quan khác nhau
gây nên tình trạng khiếu kiện kéo dài.
17
III GIẢI PHÁP GIÁM ĐỐC THẨM
1.Về nhận thức
Các cấp kiểm sát cần nhận thức đúng và đầy đủ yêu cầu của công tác kháng nghị
GĐT. Mỗi Kiểm sát viên (KSV), Kiểm tra viên (KTV) cần nâng cao nhận thức về
công tác này. Muốn chuyển biến, thay đổi tình hình thì việc trước tiên là làm chuyển
biến nhận thức của KSV, KTV về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc xem
xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lưc pháp luật theo quy định của BLTTDS là vấn
đề quan trọng.
Để tham mưu cho Lãnh đạo Viện ban hành quyết định kháng nghị GĐT, TT có
chất lượng, đúng pháp luật, mỗi KSV, KTV phải nắm vững quy định về thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục GĐT, của VKSND được quy định trong Luật tổ chức VKSND
năm 2014, BLTTDS năm 2015, bên cạnh đó nắm vững và vận dụng pháp luật về nội
dung như Bộ luật Dân sư, Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình… cũng vô cùng cần
thiết.
2.Về công tác cán bộ
Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp cần quan tâm, tạo điều kiện, bố trí đủ số lượng,
chất lượng KSV, KTV làm công tác thưc hiện quyền kháng nghị GĐT. Vụ tổ chức cán
bộ phối hợp với Vụ nghiệp vụ thuộc VKSND tối cao và các VKSND cấp cao rà soát
lại chỉ tiêu biên chế, xây dưng cơ cấu cán bộ hợp lý cho từng đơn vị để có sư điều
chỉnh phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, tham mưu cho Lãnh
đạo VKSND tối cao trong việc tuyển dụng, điều động công chức đến công tác tại các
VKSND cấp cao, ưu tiên điều động KSV, KTV có kinh nghiệm trong công tác kiểm
sát việc giải quyết các vụ việc dân sư, hôn nhân và gia đình.
3.Về quản lý, chỉ đạo, điều hành
Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp có thẩm quyền thưc hiện nghiêm Thông tư liên
tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của VKSND tối cao và
TAND tối cao (TTLT số 06/2016), quy định việc phối hợp giữa VKSND và TAND
trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS, trong đó có hướng dẫn thưc hiện
18
một số nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát, Tòa án trong kiểm sát
việc giải quyết vụ, việc dân sư; Quyết định số 364/QĐ-VKSTC ngày 02/10/2017 của
Viện trưởng VKSND tối cao về việc ban hành Quy chế công tác kiểm sát các vụ, việc
dân sư và Quyết định số 279/QĐ-VKSTC ngày 01/8/2017 của Viện trưởng VKSND
tối cao về quy chế thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành KSND. Toàn
ngành tăng cường công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sư để phát hiện vi
phạm của TA từ cấp sơ thẩm, khắc phục ngay tại cấp phúc thẩm để hạn chế việc kháng
nghị GĐT.
Thủ trưởng các đơn vị trưc thuộc VKSND tối cao cần quan tâm nhiều hơn đối với
công tác quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra nghiệp vụ và phối hợp công tác với các
VKSND cấp cao trong công tác kháng nghị GĐT. Trả lời, hướng dẫn kịp thời các vụ
án mà VKSND cấp cao xin đường lối giải quyết. Thường xuyên thông báo những vụ
án, những đơn vị làm tốt, cũng như những vụ án, những đơn vị chưa làm tốt để cùng
học tập, rút kinh nghiệm.
4.Nâng cao kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án để kháng nghị giám đốc thẩm
Để làm tốt công tác kháng nghị GĐT, yêu cầu KSV, KTV phải nắm vững chuyên
môn nghiệp vụ, trình tư, thủ tục giải quyết đơn, trình tư kháng nghị. Khi được phân
công giải quyết đơn, hồ sơ vụ án, các KSV, KTV phải đề cao trách nhiệm cá nhân, làm
rõ các vấn đề sau đây:
- Làm rõ và nắm chắc được nội dung vụ án
- Làm rõ việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
- Làm rõ các vấn đề về chứng cứ
- Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án phải chú ý các tình tiết để trả lời các câu hỏi như: Khi
tham gia quan hệ pháp luật có tranh chấp thì các bên có quyền và nghĩa vụ gì? các
quyền và nghĩa vụ đó có được pháp luật bảo vệ hay không? các bên đã thưc hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình như thế nào? có bên nào vi phạm không? việc vi phạm đó
19
ảnh hưởng như thế nào đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm không…
Trên cơ sở đó, KSV, KTV mới nhận định được đường lối giải quyết vụ án của TA có
đúng không? những văn bản pháp luật mà TA áp dụng có phù hợp không?
- Khi nghiên cứu đơn đề nghị, kiến nghị kháng nghị GĐT phải chú ý các vấn đề như:
Đương sư khiếu nại những vần đề gì? kèm theo đơn khiếu nại là những tài liệu, chứng
cứ gì? tài liệu, chứng cứ này đã có trong hồ sơ vụ án hay chưa… Từ đó, đối chiếu
những vấn đề đương sư khiếu nại, tài liệu đương sư cung cấp với tài liệu, chứng cứ
trong hồ sơ vụ án và nhận định của bản án, quyết định.
Trường hợp có vi phạm thì cần báo cáo kịp thời người có thẩm quyền kháng nghị,
phân tích, đánh giá làm rõ vi phạm của bản án, quyết định, đặc biệt là các vi phạm về
luật nội dung. Mỗi loại vi phạm đều có đặc thù riêng, vì vậy, cần lưu ý để đánh giá
chính xác mức độ vi phạm (có trích dẫn điều luật) của bản án, quyết định. Trên cơ sở
đó, đề xuất kháng nghị GĐT. Trước khi ban hành Quyết định kháng nghị cần phải
kiểm tra kỹ cả về hình thức, nội dung và thẩm quyền.
5.Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn pháp luật
Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dưng và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành
BLTTDS năm 2015 nói chung và công tác thưc hiện quyền kháng nghị GĐT của
VKSND nói riêng; về lâu dài, tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của
BLTTDS và các quy định pháp luật khác có liên quan nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ
cho việc thưc hiện quyền kháng nghị GĐT của VKSND. Trước mắt, cần quy định rõ
thẩm quyền ban hành các văn bản nghiệp vụ trong công tác kiểm sát việc giải quyết
các vụ án dân sư theo thủ tục GĐT giữa Vụ trưởng Vụ nghiệp vụ (trong trường hợp Vụ
trưởng Vụ nghiệp vụ không phải là Kiểm sát viên VKSND tối cao) với Kiểm sát viên
VKSND tối cao theo hướng Vụ trưởng Vụ nghiệp vụ được ký “Thừa lệnh” Viện
trưởng ban hành các văn bản nghiệp vụ như: Yêu cầu xác minh thu thập chứng cứ;
yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ; yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án dân sư.
Cần hướng dẫn rõ trường hợp VKSND cấp tỉnh đã báo cáo thỉnh thị; cơ quan, tổ
chức đã kiến nghị kháng nghị GĐT không đồng ý với trả lời của Viện kiểm sát nhân
20
dân cấp cao mà tiếp tục có báo cáo đề nghị, kiến nghị kháng nghị GĐT thì thuộc thẩm
quyền xem xét, giải quyết của VKSND tối cao (Vụ nghiệp vụ).
6.Công tác phối hợp trong việc chuyển hồ sơ vụ án
Viện kiểm sát cấp có thẩm quyền cần chủ động phối hợp với TAND cùng cấp trong
việc thưc hiện TTLT số 06/2016, trong đó, tại Chương II đã quy định việc phối hợp
thưc hiện chuyển hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, gửi văn bản tố tụng. Trường hợp đã yêu cầu
nhiều lần, nhưng vẫn không nhận được hồ sơ vụ án thì cần tập hợp kiến nghị với
Chánh án TAND cùng cấp hoặc báo cáo về Vụ nghiệp vụ đề xuất Lãnh đạo Viện kiến
nghị với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Các VKSND cấp cao có thể chủ động ký
quy chế phối hợp với Tòa án nhân dân cấp cao trong việc chuyển hồ sơ vụ án để xem
xét theo thủ tục GĐT.
Trong trường hợp cần thiết, khi có yêu cầu của Viện trưởng VKSND tối cao,
VKSND cấp cao phải chuyển ngay hồ sơ cho Vụ nghiệp vụ để báo cáo Lãnh đạo
VKSND tối cao xem xét kháng nghị GĐT theo thẩm quyền.
7.Tăng cường sơ kết, tổng kết, hội thảo
Để đánh giá những mặt đã làm được, những tồn tại, hạn chế, trên cơ sở đó đề ra
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thưc hiện quyền kháng nghị GĐT,
cần tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo; tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, xây
dưng chuyên đề nghiệp vụ, đồng thời tổ chức hội thảo khoa học, tập huấn nghiệp vụ,
nhất là đối với những đạo luật, văn bản mới ban hành; thường xuyên rút kinh nghiệm
cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thưc hiện quyền kháng nghị GĐT.
21
KẾT LUẬN
Nói chung điều gì sẽ xảy ra khi có quyết định giám đốc thẩm được ghi rõ
ngay được trong quyết định này. Phụ thuộc vào các tình huống thuộc thẩm
quyền của Hội đồng giám đốc thẩm.
Theo đó sẽ có các khả năng sau:
_ Nếu quyết định giám đốc thẩm nêu: không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật - xem như kết quả giải quyết vụ
việc sẽ như cũ tiếp tục thi hành án.
_ Nếu quyết định giám đốc thẩm nêu: hủy bản án phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ
thẩm - khi đó bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lưc pháp luật.
_ Nếu quyết định giám đốc thẩm nêu: hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại lúc này xem như vụ án sẽ được xét xử lại một lần nữa.
19
DANH MỤC THAM KHẢO
Bộ luật tố tụng dân sư 2015
Luatminhkhue.vn
Luatduonggia.vn
/>Thuvienphapluat.vn