Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

báo cáo tổng kết nghị quyết 26 về tam nông (tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết tw7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (171.59 KB, 15 trang )

ĐẢNG BỘ HUYỆN U MINH
ĐẢNG ỦY XÃ KHÁNH LÂM
*
Số -BC/ĐU

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Khánh Lâm, ngày

tháng

năm 2018

BÁO CÁO
Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (Khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Thực hiện Kế hoạch số 01-KH/BCĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Ban Chỉ
đạo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X. Đảng ủy xã báo
cáo kết quả thực hiện như sau:
Phần thứ nhất
KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Cùng với những thành tựu quan trọng đã đạt được trong những năm qua, nhất
là từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về Nông nghiệp,
nông dân, nông thôn đã tác động tích cực làm cho kinh tế - xã hội xã nhà có bước
phát triển. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng, đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, quốc phòng, an ninh cơ bản đảm
bảo. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được xã Khánh Lâm còn có những
khó khăn như tỷ lệ hộ nghèo còn cao, việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào
sản xuất còn chậm, tình hình thời tiết, thiên tai, dịch bệnh còn diễn biến phức tạp
ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của nhân dân.
Phần thứ hai
TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT


I. CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT, KẾ
HOẠCH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA CẤP ỦY, ĐỊA PHƯƠNG, CƠ
QUAN, ĐƠN VỊ
Sau khi tiếp thu Nghị quyết số 26-NQ/TW (khóa X), Đảng ủy đã tổ chức hội
nghị quán triệt đến đội ngũ cán bộ chủ chốt, các ban ngành đoàn thể xã và đảng viên
của Đảng bộ ngoài ra còn chỉ đạo Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể thường xuyên
tuyên truyên, quán triệt đến đoàn viên, hội viên và nhân dân Qua đó đã làm chuyển
biến mạnh mẽ nhận thức và hành động của các tầng lớp nhân dân về lĩnh vực nông
nghiệp, nông dân, nông thôn.


2
Căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị TW 7 khóa X và chương trình hành động số
29-CTr/HU ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, Đảng
ủy xã đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết và giao cho
UBND xã chủ trì phối hợp với Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể căn cứ vào chương
trình hành động tổ chức thực hiện. Nhìn chung công tác triển khai học tập quán triệt
Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) được tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc, kịp thời và
đạt kết quả khá cao.
II. CÔNG TÁC CỤ THỂ HÓA CÁC CHỦ TRƯƠNG CỦA NGHỊ
QUYẾT
Sau khi tiếp thu Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) và Thực hiện nghị quyết
số 24/2008/NQ-CP, ngày 28 tháng 10 năm 2008 của chính phủ về ban hành Chương
trình hành động của chính phủ thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đảng ủy đã
chỉ đạo UBND xã tham mưu UBND huyện ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ
đạo các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn xã. Ban Chỉ đạo đã tham mưu
Đảng ủy xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới của xã đến năm 2020, và xây
dựng kế hoạch những công việc thực hiện hàng năm.
Ngoài ra còn cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) bằng việc đẩy

mạnh phát triển kinh tế, quan tâm chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu sản xuất Nông, Lâm,
Ngư nghiệp theo hướng đa cây đa con mang lại hiệu quả kinh tế cao; tận dụng tối đa
đất vườn để trồng rau màu, cây ăn trái tăng thêm thu nhập; tập trung nhân rộng mô
hình sản xuất có hiệu quả gắn với phát triển các ngành nghề truyền thống nhằm tạo
thêm việc làm qua đó nâng cao đời sống của nhân dân.
Phần thứ ba
KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT
1. Về thực hiện tái cơ cấu xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo
hướng hiện đại; phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ nông thôn
Trên cơ sở quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, xã đã tranh thủ các
nguồn vốn của cấp trên từng bước đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi, giao thông
phục vụ tốt cho việc cải tạo đất sản xuất, đầu tư vốn cho nông dân, tạo điều kiện
thuận lợi thay đổi cơ cấu giống, cây trồng, vật nuôi theo mùa vụ đảm bảo năng suất
chất lượng cao, đồng thời tăng cường công tác khuyến nông, khuyến ngư và ứng
dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, vận động khuyến khích nhân dân
xây dựng nhiều mô hình đa cây đa con trên cùng diện tích đạt hiệu quả khá cao. Đến


3
nay, diện tích sản xuất nông nghiệp trong toàn xã là 6.340ha, năng suất lúa ước đạt
4,5 tấn/ha.
Trong lĩnh vực thủy sản thực hiện đề án chuyển dịch cơ cấu sản xuất, xã được
phép chuyển dịch 112 ha đất sản xuất lúa kém hiệu quả sang sản xuất một vụ lúa
một vụ tôm trong đó có 44ha áp dụng mô hình nuôi tôm quản canh cải tiến, đến nay
hiệu quả sản xuất lúa tôm kết hợp đạt kết quả kinh tế khá cao. Mô hình cấy lúa trên
đất nuôi tôm là mô hình sản xuất bền vững, tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Ngoài ra nhân dân còn tận dụng diện tích mặt nước có điều kiện nuôi cá nước ngọt
như nuôi cá đồng dưới tán rừng, mô hình lúa cá đồng kết hợp…. qua đó tổng sản
lượng khai thác và nuôi trồng thủy hải sản trong năm 2017 ước đạt 16.200tấn đạt
101% chỉ tiêu đề ra.

Lĩnh vực chăn nuôi tiếp tục phát triển và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng
trong sản xuất nông nghiệp của xã, đã góp phần nâng cao đời sống của người dân
nông thôn. Tập trung triển khai một số mô hình chăn nuôi gia súc gia cầm có giá trị
kinh tế cao. Tổ chức, quản lý tốt công tác tiêm phòng, phát hiện bệnh sớm nên tình
hình dịch bệnh ở gia súc, gia cầm được kiểm soát trong năm 2017 tổng đàn gia súc
có 6.166 con đạt 102% kế hoạch, gia cầm 51.100 con đạt 102,2% kế hoạch.
Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có sự chuyển biến tích cực. Thực
hiện Nghị định 181 của chính phủ (nay là nghị định 42) xã được giao 267 ha rừng,
công tác quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng và tích cực trồng rừng được thực
hiện tốt, trong 10 năm qua không xảy ra vụ cháy rừng nào nghiêm trọng.
2. Kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với xây
dựng kết cấu hạ tầng nông thôn và đô thị hóa
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, xã đã tận
dụng các nguồn vốn của nhà nước kết hợp với đóng góp nhân dân thực hiện việc xây
dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư phát triển sản xuất và tăng cường công tác
vận động nhân dân tích cực hưởng ứng xây dựng nông thôn mới như bảo vệ môi
trường, xây dựng hàng rào xanh, xây dựng cột cờ kiểu mẫu, xây dựng tổ nhân dân tự
quản, xây dựng công an ninh trật tự trên địa bàn xã…, đến nay xã cơ bản đạt được
11/18 tiêu chí nông thôn mới (không thực hiện tiêu chí chợ) bao gồm Bưu điện;
Hình thức tổ chức sản xuất; Y tế; An ninh trật tự xã hội được giữ vững; Quy hoạch
và thực hiện quy hoạch; Thủy lợi; Cơ cấu lao động; Giáo dục; Hệ thống tổ chức
chính trị xã hội vững mạnh và điện, qua đó làm cho bộ mặt nông thôn ngày thêm đổi
mới, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện tốt hơn, các chỉ tiêu phát triển kinh
tế - văn hóa - xã hội ở các địa phương thực hiện đạt theo kế hoạch, quốc phòng, an
ninh được đảm bảo. Tính đến cuối năm 2017 xã đã xây dựng 67 Km lộ giao thông
nông thôn, xây dựng được 85 Cầu giao thông, xây dựng được 01 trạm cấp nước
phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho trên 1300 hộ dân nâng tổng số hộ dân được sử dụng


4

nước hợp vệ sinh lên 98%, tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện an toàn là 3.489/3.553 hộ
chiếm 98,18% .
3. Về giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục, văn hóa xã hội nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân
- Về công tác giảm nghèo: Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm
nghèo bền vững, Đảng ủy thường xuyên quan tâm chỉ đạo thực hiện nghiêm túc và
đầy đủ các chế độ, chính sách củng như các nguồn vốn phát triển kinh tế dành cho
hộ nghèo, cận nghèo và tranh thủ sự hỗ trợ của các nhà mạnh thường quân, các nhà
hảo tâm giúp đỡ nhân dân trên địa bàn xã.
Để thực hiện tốt công tác giảm nghèo Đảng ủy đã ban hành quyết định thành
lập Ban Chỉ đạo giảm nghèo bền vững trên địa bàn xã, Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ
tham mưu Đảng ủy xây dựng kế hoạch chỉ đạo công tác giảm nghèo đạt hiệu quả cao
hơn ngoài ra MTTQVN và các đoàn thể thường xuyền vận động, tuyên truyền trong
đoàn viên, hội viên hướng dẫn, giúp đỡ nhau kinh doanh, sản xuất phát triển kinh tế,
vươn lên thoát nghèo bền vững, qua đó có nhiều mô hình có hiệu quả trong đoàn
viên, hội viên như “quỹ nhà đồng đội” của Hội Cựu chiến binh xã, “Quỹ tương trợ”
của Công đoàn cơ quan xã, “Hũ gạo tình thương” của Hội Phụ nữ .... Tuy nhiên tỉ lệ
hộ nghèo của xã còn khá cao. toàn xã hiện có 986/3.561 hộ nghèo chiếm 22,72%
giảm 10% so với năm 2016 (theo tiêu chí mới giai đoạn 2016 - 2020) ; hộ cận nghèo
157/3.561 hộ chiếm 4,41% giảm 0,67% so với năm 2016(theo tiêu chí mới giai đoạn
2016 - 2020). Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của xã, đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện thu nhập bình quân đầu người
năm 2017 là 41 triệu đồng/người/năm.
- Về Y tế: Công tác khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh, các
chương trình y tế quốc gia được triển khai thực hiện khá tốt; hiện xã có 01 trạm y tế
đạt chuẩn quốc gia về bộ tiêu chí y tế xã, cơ bản đáp ứng được yêu cầu khám chữa
bệnh ban đầu cho nhân dân.
- Về giáo dục: Sự nghiệp giáo dục - đào tạo trên địa bàn xã đã có chuyển biến
tích cực; mạng lưới trường học, cơ sở vật chất, trang thiết bị từng bước được đầu tư xây
dựng, cơ bản đáp ứng với yêu cầu dạy và học. Đạt và giữ vững kết quả phổ cập giáo dục

Mầm non cho trẻ 5 tuổi, Phổ cập tiểu học xóa mù chữ và phổ cập trung học cơ sở. Chất
lượng giáo dục từng bước được nâng cao, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm dần qua các năm
học; công tác phối hợp xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được chú trọng, đến nay đã
có 02/6 trường đạt chuẩn quốc gia.
- Về văn hóa, thể dục thể thao: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, truyền thanh
nội dung luôn bám sát nhiệm vụ chính trị địa phương, kịp thời tuyên truyền phổ biến
chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với mọi tầng lớp nhân


5
dân. Phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đạt kết quả khá tốt, hiện nay toàn
xã có 2.212 hộ chiếm 62,18% hộ gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa và 6/14 ấp
khóm đạt chuẩn ấp văn hóa, đạt 42,85%. Toàn xã hiện có 18 câu lạc bộ đờn ca tài tử
với 185 thành viên tham gia sinh hoạt văn nghệ và 14 câu lạc bộ bóng đá, bóng
chuyền thường xuyên tham gia giao lưu thể dục thể thao và tham gia các hội thao do
địa phương tổ chức.
4. Về đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu
quả ở nông thôn
Công tác đổi mới hình thức sản xuất, dịch vụ ở vùng nông thôn được quan
tâm thực hiện, Đảng ủy thường xuyên quan tâm phối hợp với các cấp các ngành
hướng dẫn hỗ trợ nhân nhân thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác phù hợp với quy
hoạch, phát huy thế mạnh ở địa phương và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh và tạo công ăn việc làm cho lao động ở địa phương, tính đến cuối năm
2017 toàn xã hiện có 3 hợp tác xã và 4 tổ hợp tác chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp là ngành nghề thế mạnh của địa phương.
5. Kết quả nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ,
đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hoá nông nghiệp
Bằng nhiều hình thức đã tuyên truyền sâu rộng nên nhân dân mạnh dạn đầu tư
việc đưa cơ khí hóa vào đồng ruộng thay thế dần lao động thủ công, nâng cao năng
suất lao động, giảm thất thoát sau thu hoạch Ngoài ra còn thường xuyên phối hợp

với các ngành chuyên môn các cấp hàng năm tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng trọt,
chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản trong 10 năm đã mở 45 lớp, có hơn 1.642 lượt
nông dân tham dự qua đó giúp nông dân tiếp cận kịp thời những tiến bộ của khoa
học, kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất mang lại hiệu quả cao.
Trong những năm qua, người lao động trên địa bàn xã ngày càng có ý thức
trong việc học tập nâng cao tay nghề nhằm tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp
phù hợp và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động. Thực hiện
Quyết định số 1956 của Chính phủ, xã phối hợp với Trung tâm giáo dục nghề nghiệp
của huyện mở các lớp đào tạo nghề ở nông thôn như cắt, may, điện gia dụng, điện
lạnh.... qua đó nâng cao tay nghề cho lao động, tạo được việc làm tại chỗ và có cơ
hội được nhận vào làm việc tại các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp trong và ngoài
tỉnh nhằm ổn định cuộc sống, nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình, góp phần
xóa đói, giảm nghèo. Tính đến cuối năm 2017 tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào
tạo đạt 25%.
6. Công tác tổ chức thực hiện và đề ra cơ chế, chính sách để huy động cao
nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất tinh
thần ở nông thôn


6
Trong những năm qua xã đã tranh thủ huy động các nguồn vốn đầu tư sản xuất
thông qua các phương án sản xuất nuôi trồng đạt hiệu quả kinh tế cao như : mô hình
nuôi gà nòi lai, mô hình nuôi cá đồng…. qua đó đã nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần cho người dân đặt biệt là các đối tượng thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo,
trong 10 năm qua đã huy động các nguồn vốn đầu tư sản xuất trên 8 tỷ đồng.
Tạo điều kiện để nhân dân xã nhà được tiếp cận các nguồn vốn từ ngân hàng
chính sách xã hội thông qua ủy thác các đoàn thể của xã để phát triển kinh tế, phục
vụ các nhu cầu cấp thiết trong sinh hoạt để nâng cao đời sống của nhân dân, đến nay
tổng số vốn đã giải ngân được …… tỷ đồng. Ngoài ra còn vận động các mạnh
thường quân, các nhà hảo tâm xây dựng được ….. căn nhà vì người nghèo, nhà tình

thương …..
7. Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy
sức mạnh của các đoàn thể chính trị-xã hội ở nông thôn
Hệ thống chính trị tiếp tục được kiện toàn, sắp xếp cơ bản ổn định, công tác
lãnh đạo điều hành của các cấp ủy Đảng từng bước được đổi mới, thực hiện nghiêm
các nguyên tắc của Đảng trong sinh hoạt. Các quy trình, quy định về đánh giá, quy
hoạch, phân công, bổ nhiệm, đào tạo, luân chuyển cán bộ được thực hiện đồng bộ,
đúng quy định của Đảng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ
cán bộ được chú trọng hơn. Nhìn chung trình độ cán bộ, công chức về trình độ chính
trị, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành cơ bản được nâng
lên đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Hoạt động của HĐND, UBND tiếp tục được đổi mới, chất lượng, hiệu quả
hoạt động từng bước được nâng lên, chức năng quản lý, điều hành của chính quyền
ngày càng tốt hơn; quyền làm chủ của nhân dân đảm bảo. Quy chế phối hợp giữa
chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội được thực hiện tốt
hơn.
Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân đã chủ động phối hợp và thường
xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, hướng dẫn nhân dân tăng cường phát triển sản xuất
nâng cao mọi mặt đời sống; giảm nghèo bền vững, trong đó vai trò của nông dân các
cấp giữ vị trí rất quan trọng trong thực hiện mục tiêu phát triển sản xuất, đẩy nhanh
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
II- ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Những thành tựu cơ bản (so với mục tiêu của Nghị quyết, các văn bản
cụ thể hóa)


7
Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X), nhìn chung các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa xã hội có sự chuyển biến tích cực, nổi bật nhất là kết cấu hạ

tầng tiếp tục được đầu tư xây dựng từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và
đời sống nhân dân. Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, các hoạt động văn hóa, giáo
dục, y tế, công tác giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa tiếp tục được đẩy mạnh, đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Quốc phòng an ninh được giữ
vững. Hệ thống chính trị không ngừng được kiện toàn, chất lượng, hiệu quả hoạt
động tiếp tục được nâng lên, từ đó đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn.
2. Những tồn tại, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân
- Tồn tại, hạn chế, yếu kém
+Về phát triển nông nghiệp
Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp còn
chậm; chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư chế biến các sản phẩm nông
nghiệp chủ lực ở địa phương.
Sản xuất của nhân dân còn lệ thuộc nhiều vào thời tiết, trong khi đó khả năng
ứng phó, phòng chống thiên tai còn hạn chế.
Một bộ phận nông dân sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự phát, hiệu quả
kinh tế không cao gây khó khăn trong công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch.
Nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả chưa kịp thời nêu gương để nhân dân học
hỏi và áp dụng.
+ Về xây dựng nông thôn
Công tác xây dựng nông thôn mới của xã tuy có nhiều chuyển biến nhưng tiến
độ còn chậm (đạt 11/18 tiêu chí).
Một bộ phận người dân, chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi và trách nhiệm
của mình trong xây dựng nông thôn mới, nên việc tham gia còn rất hạn chế.
+ Về nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn
Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao
Một bộ phận nhân dân còn trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước chưa có
ý chí tự vươn lên.
- Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại, yếu kém
+ Nguyên nhân khách quan.
Thời tiết khí hậu, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp; giá cả

vật tư đầu vào cho sản xuất liên tục tăng cao, trong khi giá nông sản thường xuyên
biến động, thị trường tiêu thụ không ổn định.


8
Địa bàn của xã rộng lớn, việc sản xuất nông nghiệp trong lâm phần gặp khó
khăn do vừa sản sản xuất vừa phải tham gia bảo vệ rừng.
+ Nguyên nhân chủ quan:
Phương thức vận động, tuyên truyền chậm được đổi mới; một số cán bộ và
nhân dân hiểu về công tác xây dựng nông thôn mới còn qua loa, đại khái dẫn đến
quá trình thực hiện hiệu quả không cao.
Vai trò vận động, tuyên truyền của các đoàn thể trong xây dựng nông thôn
mới hoạt động còn chậm và lúng túng chưa tập hợp, tổ chức cho nông dân tham gia
có hiệu quả vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn.
Việc thực hiện các mô hình sản xuất có hiệu quả còn chậm nhân rộng; việc
quy hoạch và thực hiện quy hoạch còn lúng túng.
3. Một số kinh nghiệm
Cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phải
quán triệt sâu sắc nội dung của nghị quyết, làm rõ trách nhiệm cụ thể của các tổ chức
trong triển khai thực hiện; thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động, làm cho cán
bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ ý nghĩa của Nghị quyết về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, từ đó
phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong triển khai thực hiện.
Tập trung cao cho phát triển sản xuất, khai thác tốt tiềm năng, lợi thế về sự
phát triển đa dạng trong các lĩnh vực Nông - Ngư - lâm nghiệp của xã gắn với phát
triển các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.
Phần thứ tư
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU VỀ
NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN TỚI
I. NHẬN ĐỊNH TÌNH HÌNH

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 (khóa X) của Ban Chấp
hành Trung ương đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nền nông nghiệp của
xã nhà tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng nâng cao năng suất, chất
lượng và hiệu quả; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới. Kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội được tăng cường; bộ mặt vùng nông thôn có nhiều thay đổi. Đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Hệ thống chính trị được củng
cố và tăng cường. Dân chủ cơ sở được phát huy. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội được giữ vững.


9
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được nêu trên vẫn còn đó những
hạn chế như việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong
nông nghiệp còn chậm chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao
động ở nông thôn. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch còn nhiều bất cập, kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu trong tình hình mới. Tỉ lệ hộ nghèo
cao, nhất là trong đồng bào người dân tộc, trong lâm phần rừng tràm.
II. QUAN ĐIỂM
- Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí quan trọng trong nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh ở địa phương và nâng cao đời
sống vật chất tinh thần của nhân dân.
- Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông
dân là chủ thể của quá trình phát triển. Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội; chủ động
ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn,
- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân
chủ tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao
đời sống nông dân.

III. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
- Về nông nghiệp
Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, có năng suất,
chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao.
- Về nông dân.
Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. nâng cao
trình độ sản xuất của nông dân đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa trong xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế.
- Về nông thôn.
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn hiện đại, cơ cấu kinh tế
và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn chặt phát triển nông nghiệp với công
nghiệp, dịch vụ theo quy hoạch.
2. Mục tiêu cụ thể tới năm 2025 và 2030
- Về nông nghiệp:


10
+ Phấn đấu tốc độ tăng trưởng trong sản xuất nông - ngư - lâm nghiệp bình
quân tăng từ 5% - 7%.
- Về nông dân:
+ Thu nhập bình quân đầu người đạt 80 triệu đồng/người/năm.
+ Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 4%.
+ 100% các tuyến lộ liên ấp trên địa bàn được bê tông hóa.
+ Tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 45% trở lên.
+ 100% dân cư được sử dụng nước hợp vệ sinh.
+ 100% dân cư được sử dụng điện an toàn.
- Về nông thôn:
+ Xây dựng xã đạt và giữ vững chuẩn nông thôn mới.
IV. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Nhận thức về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên
và quần chúng nhân dân tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động về vai trò, vị
trí của nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tổ chức tuyên truyền phải đa dạng về hình
thức như thông qua trạm truyền thanh, thông qua sinh hoạt của chi bộ, của các chi, tổ,
hội…; nội dung tuyên truyền phải phong phú, cập nhật những chủ trương, chính sách
mới của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; kịp thời nêu gương
điển hình tiên tiến, những gương người tốt, việc tốt trong việc tham gia xây dựng
nông thôn mới để phổ biến, vận động nhân dân tự giác tham gia, tạo sự thống nhất
trong nhận thức và hành động.
2. Đẩy mạnh tái cơ cấu, phát triển nông nghiệp toàn diện, theo hướng hiện
đại.
Phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng, tài nguyên thiên nhiên và lực lượng lao
động nông thôn để phát triển tổng hợp nông - ngư - lâm nghiệp. Thực hiện chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phát triển
đa dạng ngành nghề nông thôn kể cả làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới ;
cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.
Chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, gắn với giải quyết việc làm,
tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo và đề xuất cấp trên có biện pháp tạo điều kiện
về đất sản xuất cho hộ nông dân nghèo, có khả năng lao động thiếu đất, không đất
sản xuất.


11
- Về nông nghiệp: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu giống, cây trồng, vật nuôi và
công tác khuyến ngư, khuyến nông, khuyến lâm gắn với mô hình sản xuất có hiệu
quả kinh tế là khâu đột phá trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả
cạnh tranh của hàng hoá nông nghiệp.
Phát triển ngành chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp,
an toàn dịch bệnh; tập trung cải tạo và nâng cao chất lượng giống, áp dụng quy trình

chăn nuôi tiên tiến để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả; tăng cường công tác
thú y, phòng chống dịch bệnh.
- Về ngư nghiệp:Phát triển ngành nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản theo
hướng đa dạng với nhiều hình thức như chuyên canh, đa canh, luân canh, nuôi kết
hợp, trong đó quan tâm phát triển nguồn lợi cá đồng.
- Về lâm nghiệp: Phát triển lâm nghiệp toàn diện từ quản lý, bảo vệ, trồng, cải
tạo, làm giàu rừng đến khai thác, chế biến lâm sản, bảo vệ môi trường cho du lịch
sinh thái. Có cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện, khuyến khích các tổ chức, cá
nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia bảo vệ, phát triển rừng
3. Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ theo quy hoạch. Khuyến khích các
thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp ở địa phương có lợi thế về nguyên
liệu và thị trường, đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, triển khai chương trình
bảo tồn và phát triển làng nghề. Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng các loại
dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống của dân cư nông thôn.
4. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hóa, xây dựng nông
thôn mới văn minh, hiện đại
Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. xác định đây là
Chương trình có tính chiến lược, lâu dài.
Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt những công trình trực tiếp phục vụ
sản xuất và phục vụ sinh hoạt thiết yếu, theo hướng hiện đại và đảm bảo phòng, chống
thiên tai, biến đổi khí hậu; sử dụng và lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn; tăng
cường công tác theo dõi, giám sát cộng đồng đối với các công trình hạ tầng nông
thôn; quan tâm chú trọng đến công tác duy tu, bảo dưỡng công trình.
Tiếp tục huy động các nguồn lực, nhất là nguồn lực trong nhân dân như đóng
góp tiền, ngày công để thực hiện các tiêu chí do nhân dân tự làm như: giữ gìn vệ
sinh môi trường, tham gia xây dựng cột cờ kiểu mẫu, hàng rào xanh…



12
Chú trọng nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, tiếp tục đề xuất cấp trên đẩy
nhanh tiến độ triển khai xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Đẩy mạnh thực hiện
các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với
xây dựng nông thôn mới”, xây dựng ấp văn hoá, gia đình văn hóa; Đảm bảo quốc
phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội, tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội ở nông thôn. Giải quyết kịp thời, dứt điểm
các vụ việc, khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, mâu thuẫn nội bộ, không để xảy ra các
điểm nóng.
Tăng cường kêu gọi các nhà đầu tư, tranh thủ các Chương trình dự án, hỗ trợ
cho hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn.
Thường xuyên kiện toàn Ban chỉ đạo, Ban quản lý các chương trình mục tiêu
quốc gia để tiếp tục triển khai thực hiện tốt chương trình xây dựng nông thôn mới
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tổ chức tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn
viên về nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới để quần chúng nhân dân hiểu
rõ về mục đích, ý nghĩa, hiệu quả của chương trình, quyền lợi và trách nhiệm của
nhân dân nhằm tập trung cả hệ thống chính trị vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông
thôn mới.
5. Đẩy mạnh giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội nông thôn, nhất là ở các
vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Tập trung rà soát phân loại hộ nghèo, có kế hoạch phối hợp cấp trên, phân
công cụ thể cán bộ, ngành giúp đỡ hộ nghèo, cận nghèo. Tranh thủ các sự hỗ trợ của
cấp trên, các nhà hảo tâm và phát huy sự tự lực vươn lên của hộ nghèo, cận nghèo.
Phấn đấu hàng năm giảm nghèo từ 4% trở lên đến năm 2030 tỷ lệ hộ nghèo còn dưới
4%.
Tăng cường thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội trong đó tập trung đối
tượng người có công, bảo trợ xã hội; bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền
vững cho nông dân thông qua thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ
trợ tín dụng, hướng dẫn lao động..., hỗ trợ đối với người có hoàn cảnh đặc thù và

hỗ trợ đột xuất cho người dân khi gặp các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá
khả năng kiểm soát.
6. Bảo vệ tài nguyên, môi trường, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi
khí hậu, phòng, chống thiên tai
Tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng tiêu chí môi trường trong xây dựng nông
thôn mới. Tăng cường công tác phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể và Ủy ban
nhân dân xã trong công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công
cộng nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong nhân dân.


13
Chủ động phối hợp với các ngành, các cấp hướng dẫn nhân dân chủ động
phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn để giảm thiểu thiệt hại về người và tài
sản do thiên tai gây ra. Thường xuyên kiểm tra, gia cố các cống đập trên địa bàn để
chủ động trong phòng chống xâm nhập mặn, phục vụ phòng, chống cháy rừng
7. Tổ chức thực hiện các cơ chế chính sách và tổ chức sản xuất ở nông thôn
thúc đẩy phát triển nông thôn
a. Chính sách đất đai
Thực hiện rà soát quy hoạch và thực hiện tốt quy hoạch các vùng sản xuất trên
địa bàn, kiên quyết ngăn chặn tình trạng phá vỡ quy hoạch vùng ngọt hóa phục vụ sản
xuất nông nghiệp và công tác trồng, bảo vệ rừng tràm. Tiếp tục vận động nhân dân tận
dụng đất sân, vườn, bờ líp, bờ vuông tôm, bờ sáng trong lâm phần để trồng rau màu,
cây ăn trái và các loại cây có giá trị kinh tế.
b. Chính sách tài chính, tín dụng
Phối hợp tốt với NHCSXH huyện trong việc nâng cao khả tiếp cận nguồn vốn
sản xuất, nguồn vốn an sinh xã hội và đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn vay đúng mục
đích, hiệu quả, quan tâm thực hiện kịp thời các chính sách hỗ trợ ưu đãi cho nông dân.
Chỉ đạo các hợp tác xã, tổ hợp tác tập trung nâng cao khả năng quản lý, phát triển sản
xuất kinh doanh theo đúng quy định,
8. Đổi mới và phát triển các hình thức sản xuất

Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến kích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực trên
địa bàn xã tạo việc làm cho lao động địa phương và tiêu thụ các nguyên vật liệu có
sẳn tại chổ.
Xây dựng các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác đảm bảo đúng tính chất là một tổ
chức kinh tế cộng đồng theo các nguyên tắc tự chủ, tự quản và tự chịu trách nhiệm.
Từng bước phát triển các hợp tác xã với qui mô lớn hơn, hiệu quả kinh doanh cao
hơn và tăng cường tích tụ các nguồn vốn sở hữu tập thể trong hợp tác xã. Xây dựng
kế hoạch cụ thể, hướng dẫn hỗ trợ các hợp tác xã mở rộng và phát triển sản xuất
kinh doanh. Chỉ đạo phát triển các tổ hợp tác đa dạng, gắn với phát triển các ngành
nghề, làng nghề truyền thống.
9. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn
Tập trung công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn; thực hiện tốt công tác
điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của người lao động; tập trung chỉ đạo, định hướng
cho nhân dân địa phương đi đào tạo nghề phải gắn với yêu cầu sản xuất và thị trường sử
dụng lao động, gắn đào tạo nghề với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của
địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức quản lý và dạy nghề tại
các trung tâm, cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn.


14
Xây dựng nhiều biện pháp thu hút lực lượng lao động có tay nghề, có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ về làm việc tại xã đặt biệt trong các lĩnh vực nông, lâm, thủy
sản để phát triển thế mạnh của địa phương.
10. Phát triển khoa học và công nghệ
Tăng cường, tuyên truyền, khuyến khích nhân dân ứng dụng các tiến bộ khoa
học, công nghệ vào quá trình sản xuât từ khâu làm đất, chăm sóc, quản lý dịch hại,
đến thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm nhằm giảm công lao động, giảm chi phí tăng lợi
nhuận cho nông dân. Khuyến cáo ứng dụng các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất
chất lượng cao, các kỹ thuật hiện đại trong bảo quản, chế biến sản phẩm, ứng dụng
quy trình kỹ thuật sản xuất an toàn thân thiện với môi trường từng bước tiến đến xây

dựng nền nông nghiệp hiện đại.
11. Hợp tác, liên kết sản xuất
Thường xuyên tuyên truyền, quảng bá nội dung các hiệp định, cam kết quốc tế
của Việt Nam có nội dung liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến cán
bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân trong xã được biết để chủ động thực
hiện các giải pháp sản xuất kinh doanh phù hợp với tình hình trong nước và của thế
giới.

12. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực bộ máy quản
lý nhà nước; đổi mới phương thức quản lý, đẩy mạnh cải cách hành chính,
nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với nông nghiệp, nông dân, nông
thôn; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã
hội, xã hội nghề nghiệp
Thực hiện tuyên truyền, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị
quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về sắp xếp và tổ chức
hoạt động của hệ thống bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở.
Thực hiện mối quan hệ phối hợp giữa lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể để tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết của
Đảng và nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp và thực hiện nhiệm vụ được
giao.
Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể; tăng cường công tác vận động,
tuyên truyền hội viên, đoàn viên làm nòng cốt trong phong trào xây dựng và phát
triển nông nghiệp, nông thôn và chăm lo đời sống nông dân. Vận động nông dân
phát triển sản xuất làm giàu chính đáng, hỗ trợ giúp đỡ hộ nghèo và tạo điều kiện
cho họ có việc làm, tạo thu nhập từng bước vươn lên thoát nghèo; phối hợp với các
ngành có liên quan xây dựng các mô hình sản xuất, mô hình giảm nghèo bền vững giải quyết việc làm có hiệu quả và tổ chức triển khai nhân rộng.


15
Ðổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng để

thực sự là hạt nhân lãnh đạo toàn diện trên địa bàn ; Thực hiện nâng cao năng lực
cho cán bộ của hệ thống chính trị để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, cải cách thủ tục hành chính theo hướng khoa
học và hiệu quả, tạo điều kiện cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
Chăm lo xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam, củng cố liên minh giai cấp
công nhân - nông dân - trí thức trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Chỉ đạo củng cố, kiện toàn tổ chức Hội Nông dân, đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động, phát huy vai trò của Hội trong việc giải quyết các vấn đề có liên
quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho
Hội nông dân trong việc trực tiếp thực hiện một số chương trình, dự án phục vụ sản
xuất và nâng cao đời sống của nông dân, hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế
tập thể trong nông nghiệp.

IV. ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Trên đây là báo cáo của Đảng ủy xã Khánh Lâm về Tổng kết 10 năm thực
hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Nơi nhận:
- BCĐ huyện (b/c),
- Các Đ/c Ủy viên BCH Đảng bộ,
- Các chi bộ trực thuộc,
- Lưu VP.

T/M BAN THƯỜNG VỤ
PHÓ BÍ THƯ

Nguyễn Minh Thông




×