Tải bản đầy đủ (.pdf) (68 trang)

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN CÙ LAO TÂN QUI THUỘC XÃ AN PHÚ TÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (599.31 KB, 68 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
****************

TRẦN THANH XUÂN

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH
THÁI ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN CÙ LAO TÂN QUI
THUỘC XÃ AN PHÚ TÂN HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NÔNG LÂM KẾT HỢP

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6/2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
****************

TRẦN THANH XUÂN

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH
THÁI ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN CÙ LAO TÂN QUI
THUỘC XÃ AN PHÚ TÂN HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

Ngành: Nông Lâm Kết Hợp


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn
Th.S. NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6/2012


LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, xin kính dâng ba mẹ và anh trai của tôi lòng biết ơn vô tận về công
lao sinh thành, nuôi dưỡng, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất và luôn động viên tôi để
đạt được kết quả như ngày hôm nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
 Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM.
 Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM.
 Quý thầy cô trong bộ môn Nông lâm kết hợp và Lâm nghiệp xã hội cùng tất
cả các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy, đào tạo, trang bị cho tôi vốn kiến
thức trong suốt những năm học vừa qua.
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Lan Phương đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn các cô, chú cán bộ trong UBND xã An Phú Tân. Đặc
biệt, anh Phan Hồng Ka công chức văn phòng UBND xã, chú Trần Văn Hoàng
trưởng BND ấp Tân Qui 1 đã giúp đỡ, cung cấp các thông tin số liệu cần thiết trong
thời gian đi thực tế.
Cảm ơn bà con tại hai ấp của cù lao Tân Qui đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện
ăn ở, đi lại, cung cấp thông tin để tôi hoàn thành đề tài.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6/2012
Sinh viên thực hiện
Trần Thanh Xuân


ii


TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của việc phát triển du lịch sinh thái đến đời
sống của người dân cù lao Tân Qui thuộc xã An Phú Tân huyện Cầu Kè tỉnh Trà
Vinh” được tiến hành tại hai ấp Tân Qui 1 và Tân Qui 2 của cù lao Tân Qui thuộc
xã An Phú Tân huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh, thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm
2012.
Kết quả thu được:
- Cù lao Tân Qui với phong cảnh tự nhiên thoáng mát, có nhiều chủng loại
cây ăn trái đặc sản, thực sự có tiềm năng phát triển DLST.
- DLST có ảnh hưởng đến sinh kế của người dân địa phương.
- Nhóm thuần sản xuất nông nghiệp là những hộ sống bằng nghề làm vườn,
ngư nghiệp, chăn nuôi, CNVC, làm thuê… Nhóm này có thu nhập ổn định, phụ
thuộc nhiều vào sản lượng thu hoạch và giá cả thị trường. Thu nhập của những hộ
gia đình có làm vườn vừa kết hợp làm các dịch vụ DLST thường ổn định và cao hơn
rất nhiều so với những hộ chỉ hoạt động sản xuất đơn thuần.
- DLST đóng góp một phần thu nhập trong tổng thu nhập chính của 17,2%
hộ dân. DLST được xem là một sinh kế tại cù lao Tân Qui .
- Thu nhập thực của nhóm bán phụ thuộc DLST cao hơn nhóm sản xuất nông
nghiệp đơn thuần 1,3 lần (tương đương khoảng 12,3 triệu đồng/hộ/năm).
- Không có hộ gia nào sống phụ thuộc hoàn toàn vào DLST.

iii


MỤC LỤC


Trang
Trang tựa

i

Lời cảm ơn

ii

Tóm tắt

iii

Mục lục

iv

Danh mục các từ viết tắt

vii

Danh sách các bảng

viii

Danh sách các hình

ix

Chương 1 MỞ ĐẦU


1

1.1. Đặt vấn đề

1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

2.1. Sinh kế

3

2.2. Tổng quan về DLST

3

2.2.1. Khái niệm

3

2.2.2. Những bước phát triển của DLST trên thế giới

5


2.2.3. Những điểm DLST nổi tiếng ở Việt Nam

6

Chương 3 NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

9

3.1. Nội dung nghiên cứu

9

3.2. Phương pháp nghiên cứu

9

3.2.1. Thu thập thông tin thứ cấp

9

3.2.2. Thu thập thông tin sơ cấp

10

3.2.3. Nội nghiệp

11

iv



3.3. Giới thiệu sơ lượt về xã An Phú Tân

12

3.4. Giới thiệu về cù lao Tân Qui

13

3.4.1. Điều kiện tự nhiên

13

3.4.1.1. Vị trí địa lý

13

3.4.1.2. Địa hình

13

3.4.1.3. Khí hậu, thời tiết

13

3.4.1.4. Thủy văn, thổ nhưỡng

14


3.4.1.5. Động thực vật tự nhiên

14

3.4.2. Điều kiện xã hội

14

3.4.2.1. Dân số

14

3.4.2.2. Dân tộc

15

3.4.2.3. Tính ngưỡng

15

3.4.2.4. Tôn giáo

15

3.4.3. Lịch sử cù lao Tân Qui qua các thời kỳ

15

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU


17

4.1. Hiện trạng phát triển DLST

17

4.1.1. Sự hình thành và phát triển kinh tế du lịch tại cù lao Tân Qui

17

4.1.2. Cơ sở vật chất

19

4.1.3. Lượng khách và doanh thu

19

4.1.4. Ngành nghề kinh doanh

19

4.1.5. Một số địa danh tiêu biểu

20

4.2. Tiềm năng phát triển DLST

22


4.2.1. Tiềm năng, thế mạnh vườn cây ăn trái

22

4.2.2. Tiềm năng, thế mạnh du lịch sông nước

22

4.2.3. Tiềm năng, thế mạnh các động lực văn hóa

23

4.2.4. Tiềm năng về nguồn nhân lực

23

4.2.5. Tiềm năng, thế mạnh kinh tế DLST

24

4.2.6. Bản đồ tiềm năng DLST

24

v


4.2.7. Phát họa tuyến DLST, du khảo lịch sử, văn hóa truyền thống trên cù lao
Tân Qui


27

4.2.8. Sơ đồ SWOT

30

4.2.9. Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển DLST tại cù lao Tân Qui 31
4.2.9.1. Thuận lợi

31

4.2.9.2. Khó khăn

31

4.3. Ảnh hưởng của việc phát triển DLST đến đời sống người dân địa phương

31

4.3.1. Tình hình sản xuất

31

4.3.2. Lịch hoạt động, thời vụ các hoạt động sản xuất

34

4.3.3. Sinh kế người dân cù lao Tân Qui

38


Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

44

5.1. Kết luận

44

5.2. Kiến nghị

46

TÀI LIỆU THAM KHẢO

47

PHỤ LỤC

49

vi


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DLST

Du lịch sinh thái

IUCN


International Union for Conservation of Nature
Hiệp hội thế giới về bảo tồn thiên nhiên

WTA

World Travel Awards
Tổ chức lữ hành quốc tế

UNESCO

United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc

UBND
BND
TP.HCM
SWOT

Ủy ban nhân dân
Ban nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh
Strength – Weakness – Opportunity – Threaten
Điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Nguy cơ

THCS

Trung học cơ sở

THPT


Trung học phổ thông

ĐBSCL

Đồng bằng sông cửu long

TDTT

Thể dục thể thao

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

CNVC

Công nhân viên chức

CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

vii


DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Thành phần dân số cù lao Tân Qui


23

Bảng 4.2: Phân loại sử dụng đất cù lao Tân Qui năm 1975 – 2010

33

Bảng 4.3: Diện tích các loại cây trồng trên tổng diện tích đất vườn

34

Bảng 4.4: Lịch hoạt động, thời vụ các hoạt động sản xuất

36

Bảng 4.5: Lịch thời vụ hoạt động du lịch

37

Bảng 4.6: Các loại sinh kế của người dân tại cù lao Tân Qui

39

Bảng 4.7: Thu nhập của các loại sinh kế

40

Bảng 4.8: Thu nhập của nhóm độc lập với DLST

42


Bảng 4.9: Thu nhập của nhóm bán phụ thuộc DLST

42

Bảng 4.10: So sánh nhóm độc lập với DLST và nhóm bán phụ thuộc DLST 43

viii


DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Bản đồ phát họa tuyến DLST tại cù lao Tân Qui

30

Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện diện tích các loại sử dụng đất cù lao Tân Qui

33

Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ diện tích các loại cây trồng tại cù lao Tân Qui

35

Hình 4.4: Du khách tham quan vườn cây ăn trái tại Tân Qui

35

Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ % các loại sinh kế

40


Hình 4.6: Biểu đồ thu nhập của các ngành nghề

41

Hình 4.7: Biểu đồ diện tích và thu nhập thực của hai nhóm

44

ix


Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay, tốc độ của cuộc sống công nghiệp nhiều áp lực, nhịp sống đầy
cạnh tranh đã làm cho con người trở nên mệt mỏi và căng thẳng. Chính vì lý do này,
họ mong muốn có những nơi bình yên, xinh đẹp để được nghỉ dưỡng, giải trí. Bên
cạnh đó, mức sống của người dân ngày một nâng cao dẫn đến các nhu cầu thiết thực
về du lịch ngày càng tăng. Những nơi có phong cảnh đẹp, gần gũi với tự nhiên luôn
được quan tâm và là ưu tiên lựa chọn cho các kỳ nghỉ. Trong bối cảnh đó, du lịch
sinh thái (DLST) ra đời, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của du khách, đang ngày một phát
triển và rất được sự quan tâm. Sự hình thành của DLST đáp ứng được nhu cầu nghỉ
dưỡng, giải trí, vừa đảm bảo được nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ cho môi trường
trong sạch và nó cũng giải quyết được vấn đề kinh tế cho người dân địa phương,
góp phần phát triển kinh tế đất nước.
Tỉnh Trà Vinh có nhiều tiềm năng du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch biển
và sông nước… Các tuyến du lịch sông nước, các cù lao với những cảnh đẹp của
làng quê miền Tây dọc hai bờ sông, những vườn cây ăn trái đưa du khách tiếp xúc
với những sinh hoạt văn hoá đặc trưng, giàu bản sắc của dân cư miền Tây nói

chung. Trong những năm gần đây, loại hình DLST đã phát triển ở nhiều nơi cũng
như phát triển tại cù lao Tân Qui huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh.
Cù lao Tân Qui có diện tích khoảng 1000 ha nằm giữa dòng sông Hậu. Cù
lao có ba ấp, trong đó ấp Tích Khánh thuộc xã Tích Thiện huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh

1


Long và hai ấp Tân Qui 1 và Tân Qui 2 thuộc xã An Phú Tân huyện Cầu Kè tỉnh
Trà Vinh. Trong đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu trên địa bàn hai ấp
Tân Qui 1 và Tân Qui 2 thuộc xã An Phú Tân huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh. Do vậy,
thuật ngữ “cù lao Tân Qui” ở đây sẽ được hiểu giới hạn tại hai ấp này mà thôi.
Tại cù lao Tân Qui việc phát triển DLST dường như chưa được quan tâm
đúng mức, hình thành do tự phát, chưa có nhiều nghiên cứu về những tác động của
việc phát triển DLST tới đời sống người dân, cũng như hiện trạng và tiềm năng phát
triển DLST tại nơi đây. Việc phát triển DLST sẽ tạo ra những cơ hội và áp lực nào
đối với đời sống kinh tế, xã hội của người dân địa phương và họ đáp ứng những cơ
hội, áp lực này như thế nào ? Có thể xem DLST là một loại sinh kế của người dân ở
đây hay không ?
Để trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Ảnh
hưởng của việc phát triển du lịch sinh thái đến đời sống của người dân cù lao Tân
Qui thuộc xã An Phú Tân huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Mô tả hiện trạng và đánh giá tiềm năng phát triển DLST tại cù lao Tân Qui.
- Đề xuất một số giải pháp cho phát triển DLST tại địa phương.

2


Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Sinh kế
Một sinh kế (hay còn gọi là kế sinh nhai, kế kiếm sống) về cơ bản là “cách”
hay “phương tiện” mà hộ gia đình sử dụng để đạt được một “đời sống tốt” và duy trì
nó. “Sinh kế” không chỉ có nghĩa là các hoạt động mà con người thực hiện để kiếm
sống. Nó còn có nghĩa là tất cả các yếu tố khác nhau góp phần vào và ảnh hưởng
đến khả năng của con người đảm bảo đời sống cho họ và hộ gia đình của họ, bao
gồm:
Tài sản mà hộ gia đình có được hay có thể tiếp cận được – con người, tự
nhiên, xã hội, tài chính và hữu hình;
Các hoạt động cho phép hộ gia đình sử dụng các tài sản này để thỏa mảng
các nhu cầu cơ bản;
Các yếu tố khác nhau mà bản thân hộ có thể không kiểm soát trực tiếp, như
mùa vụ thiên tai, xu hướng kinh tế, ảnh hưởng lên tình trạng dễ bị tổn thương của
họ;
Các chính sách, định chế và tiến trình có thể giúp họ hay gây khó khăn cho
họ trong việc đạt được một sinh kế “thỏa đáng”.
2.2. Tổng quan về DLST
2.2.1. Khái niệm
Thuật ngữ “Du lịch sinh thái” được nghe thấy lần đầu tiên vào thập niên
1980 và định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST được Hector Ceballos –

3


Lascurain đưa ra vào năm 1987 “DLST là du lịch vào những khu tự nhiên hầu như
không bị ô nhiễm hoặc ít bị xóa trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, thưởng
ngoạn, trân trọng khung cảnh và muôn thú hoang dã và các biểu thị văn hóa được
khám phá trong khu vực này”.
Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đưa ra định nghĩa: “DLST là

tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các địa điểm tự nhiên không
bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá
khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những
tác động tiêu cực do khách quan gây ra, và tạo ra lợi ích cho những người dân địa
phương tham gia tích cực.
Tổ chức lữ hành quốc tế đã đưa ra định nghĩa về DLST: “DLST (ecotourism)
là một loại hình du lịch tự nhiên được thực hiện ở những nơi tự nhiên còn nguyên
vẹn với mục đích là chiêm ngưỡng và làm phong phú hơn kiến thức, sự hiểu biết
của du khách. DLST còn bao hàm trách nhiệm hướng dẫn đến nơi đến, tổ chức điều
hành du lịch và du khách để lại lợi nhuận cho kinh tế địa phương, cuối cùng là giảm
thiểu và tránh những tác động tiêu cực đến nơi viếng thăm. DLST phải góp phần
bảo tồn các nơi tự nhiên cũng như để đem lại thu nhập cho nguồn kinh tế địa
phương và nâng cao ý thức của du khách và dân cư về sinh thái” (WTA, 2001).
Ở Việt Nam, tại hội thảo quốc gia về xây dựng chiến lược phát triển DLST,
diễn ra từ ngày 07 đến ngày 09 tháng 9 năm 1999 đã đưa ra định nghĩa về DLST ở
Việt Nam: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn
với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững,
với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.(trích dẫn từ Lê Huy Bá và
Thái Lê Nguyên, 2006).
Nói chung DLST là loại hình du lịch dựa vào những hình thức truyền thống
có sẵn, nhưng có sự hòa nhập vào môi trường tự nhiên với văn hóa bản địa, du
khách có thêm những nhận thức về đặc điểm của môi trường tự nhiên, về những nét

4


đặc thù vốn có của văn hóa từng điểm, từng vùng, từng khu du lịch và có phần trách
nhiệm tự giác để không xảy ra những tổn thất, xâm hại đối với môi trường tự nhiên
và nền văn hóa sở tại. Còn về quy mô của DLST thì tùy thuộc vào khả năng, điều
kiện, biện pháp tổ chức của nhà quản lý hoạt động du lịch, có thể dần dần từ quy mô

khiêm tốn để phát triển rộng rãi.
2.2.2. Những bước phát triển của DLST trên thế giới
Theo bài DLST ở Vườn Quốc Gia Ba Bể thì DLST phát triển qua 04 giai
đoạn:
Giai đoạn 1: Từ năm 1950 – 1970
 Giai đoạn phát triển mạnh mẽ của DLST đại chúng (mass tourism).
 Thúc đẩy bởi động cơ lợi nhuận, nguồn vốn tập trung chủ yếu tại
những khu vực có lợi nhuận cao như các bãi biển, rặng san hô. Sự
phát triển mang tính tự phát.
 Năm 1965, Nicholas Hetzer đưa ra thuật ngữ “ecological tourism” là
nguồn gốc của thuật ngữ “ecotourism” ngày nay.
Giai đoạn 2: Giai đoạn những năm 1970
 Xuất hiện những ảnh hưởng tiêu cực của việc phát triển du lịch đến xã
hội, môi trường, văn hóa. Đó là kết quả của việc phát triển thiếu sự
quản lý.
 Lần đầu tiên xuất hiện những hướng dẫn về việc tiếp tục giữ vững hệ
sinh thái nhưng vẫn đảm bảo được điều kiện sống hiện tại.
Giai đoạn 3: Giai đoạn những năm 1980
 Xuất hiện những phê phán về việc phát triển du lịch theo lối cũ
(conventional tourism) chấp nhận sự xuất hiện của một khái niệm mới
về phát triển bền vững (sustainable development).

5


 Áp dụng những quy tắc của phát triển bền vững đến nhiều hoạt động
của con người như trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, ngư
nghiệp, nông nghiêp,…
Năm nguyên tắc cơ bản chi phối đến sự bền vững:
o Những ý tưởng về việc lập kế hoạch và thực hiện chiến lược.

o Tầm quan trọng của việc bảo tồn những yếu tố cơ bản của diễn tiến
sinh thái.
o Sự cần thiết của việc bảo tồn di sản của nhân loại và sự đa dạng.
o Nâng cao sức sản xuất nhưng vẫn có thể đảm bảo cho tương lai của
thế hệ sau.
o Thành quả đạt được phải là sự cân bằng giữa mục tiêu và sự cân bằng
của các quốc gia.
Giai đoạn 4: Từ đầu những năm 1990 trở lại đây
 Môi trường đã trở thành vấn đề quan tâm của cộng đồng quốc tế.
 Du lịch sinh thái (ecotourism) đã trở thành một phần quan trọng của
ngành công nghiệp du lịch ở những quốc gia đang phát triển. Nó được
coi là bộ phận năng động và phát triển mạnh nhất.
2.2.3. Những điểm DLST nổi tiếng ở Việt Nam
Huyện Sa Pa nằm sâu trong rìa Tây Nam thuộc tỉnh Lào Cai, cách Hà Nội
376 km, được xem là vùng khí hậu ôn đới đặc biệt của Việt Nam, đây là điểm
DLST đối với du khách trong và ngoài nước
Khu DLST rừng Madagouil nằm dọc theo Quốc lộ 20 huyện Đạ Huoai tỉnh
Lâm Đồng, cách thành phố Hồ Chí Minh 152 km, cách thành phố Đà Lạt 148 km,
cách thị xã Bảo Lộc khoảng 30 km. Khu Du Lịch rừng Madagouil có diện tích
587,6 ha là một phần của rừng quốc gia Nam Cát Tiên – một trong những khu bảo

6


tồn thiên nhiên lớn của Việt Nam với diện tích 70.000ha. Nam Cát Tiên được
UNESCO công nhận là vườn quốc gia dự trữ sinh quyển vào ngày 25/4/2002.
Khu DLST Vườn Xoài tọa lạc tại ấp Tân Cang xã Phước Tân huyện Long
Thành tỉnh Đồng Nai. Cách thành phố Hồ Chí Minh 40 phút đi xe, khu du lịch có
diện tích 350.000 m2 là một mảng xanh đặc biệt với những nét chấm phá hấp dẫn,
ẩn chứa nhiều thú vị bất ngờ cho du khách tham quan. Khu DLST Vườn Xoài hội

đủ các điều kiện để du khách các nơi đến tham quan, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng
hoặc tổ chức nghiên cứu và học tập khu du lịch có chiều dài 1.000 m, chỗ rộng nhất
500 m và có thảm thực vật phong phú đa dạng.
Khu du lịch Văn Thánh cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 2
km, khu du lịch có tổng diện tích 77.000 m2, phần hồ chiếm khoảng 2 ha, khu du
lịch mát mẻ, rộng rãi phù hợp với nhiều hoạt giải trí thư giãn, khu du lịch Văn
Thánh như một ốc đảo xanh giữa lòng Sài Gòn.
Vườn quốc gia Cát Tiên là tên gọi một vùng đất nằm gọn trong đoạn uốn
khúc của sông Ðồng Nai, thuộc địa phận của ba tỉnh Ðồng Nai, Bình Phước và Lâm
Ðồng. Cách thành phố Hồ Chí Minh 150 km về phía Bắc, đây là khu rừng nguyên
sinh tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới vùng thấp. Rừng có nhiều cây cổ
thụ như bằng lăng, gỗ đỏ. Hệ thực vật có hàng ngàn loài thực vật bậc cao, hơn 400
loài cây gỗ quý, hàng trăm loại cây dược liệu, hơn 100 loài hoa phong lan... Về
động vật có hàng trăm loài chim, có những loài chim quý hiếm như trĩ lông đỏ, cò
quắm xanh, tê giác một sừng, voi... Đến vườn quốc gia Cát Tiên, du khách sẽ có cơ
hội chiêm ngưỡng một trong 6 khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công
nhận ở Việt Nam.
Cù lao An Bình thuộc tỉnh Vĩnh Long là một cù lao xanh nằm giữa dòng
sông Tiền mênh mông, được hợp thành từ 4 xã: An Bình, Bình Hòa Phước, Hòa
Ninh và Đồng Phú. Với diện tích khoảng 60 km2, cù lao An Bình nổi tiếng là mảnh
đất hiền hòa, bốn mùa cây trái xum xuê trĩu quả...đã trở thành điểm hẹn du lịch miệt

7


vườn lý thú cho du khách gần xa. Đến cù lao An Bình, du khách được du ngoạn trên
dòng sông Tiền thơ mộng, ngắm lục bình trôi, tự tay hái trái trong vườn, thưởng
thức những món ăn dân dã miệt vườn, có thể tham quan nhiều vườn cây ăn trái như:
chôm chôm, nhãn, bưởi, sầu riêng...được nhà vườn tận dụng làm du lịch thời vụ. Cù
lao An Bình đã tạo được ấn tượng khó phai trong lòng nhiều du khách trong nước

và nước ngoài.
Sân chim Ngọc Hiển: Cà Mau là mũi đất tận cùng của tổ quốc. Hàng năm
nơi đây bồi ra biển gần 100 m. Hiện nay, Mũi Cà Mau đang lập dự án phát triển du
lịch và xây dựng biểu tượng "Mũi Cà Mau" tại đất Mũi. Sân chim Ngọc Hiển thuộc
huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, có diện tích tự nhiên rộng 130 ha. Đây là một trong
những sân chim tự nhiên lớn nhất nước. Sân chim Ngọc Hiển có dòng sông Bảy
Háp chảy qua cùng với hệ thống kênh ngòi chằng chịt, với thảm thực vật phong phú
và xanh tươi quanh năm đã là môi trường thiên nhiên trong lành chưa bị con người
huỷ hoại, nơi trú ngụ của các loài chim bay đến hàng năm.
Suối Mơ nằm ở phường Long Bình quận 9 thành phố Hồ Chí Minh, khu du
lịch Suối Mơ đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn trong những ngày nghỉ cuối tuần
của cư dân thành phố và vùng phụ cận Ðồng Nai, Bình Dương... Khu du lịch có lợi
thế nằm gần công viên Việt Nam Water World, Con Nai Vàng, lại có nhiều tiết mục
mới lạ như biểu diễn cá heo, sư tử biển, hải cẩu nên Suối Mơ rất có sức hấp dẫn đối
với du khách. Đến đây bạn có thể sử dụng các dịch vụ như hồ bơi, câu cá, cắm trại,
chơi tenis, thưởng thức đặc sản... Suối Mơ đang phủ thêm hàng chục ha cây xanh
trên những phần đất còn lại để mở rộng khu cắm trại và phát triển một số loại hình
giải trí cảm giác mạnh khác.
Và rất nhiều khu DLST khác khắp mọi vùng miền trên cả nước, mỗi khu du
lịch mang những nét đặc trưng riêng.

8


Chương 3
NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA ĐIỂM
NGHIÊN CỨU

3.1. Nội dung nghiên cứu
- Mô tả hiện trạng và đánh giá tiềm năng phát triển DLST: Sông nước, trái

cây, thắng cảnh, cơ sở hạ tầng phục vụ, dịch vụ, tổ chức…tại cù lao Tân Qui, quá
trình hình thành và phát triển, cơ sở vật chất, các hoạt động và dịch vụ chính.
- Những ảnh hưởng của việc phát triển DLST đến đời sống của người dân tại
cù lao Tân Qui: Tình hình sản xuất của người dân, lịch thời vụ, sản xuất, giải quyết
lao động, môi trường, kinh tế hoạt động du lịch…
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập qua các đề tài nghiên cứu, các thông tin tài liệu trên sách báo và các
trang wed.
UBND xã An Phú Tân: Gặp lãnh đạo xã trình các giấy tờ giới thiệu, đã được
sự giúp đỡ của anh Phan Hồng Ka công chức văn phòng UBND xã, cung cấp tài
liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội và các báo cáo về tình hình sản xuất
của xã An Phú Tân.
Cán bộ ấp: Gặp, phỏng vấn và được sự giúp đỡ nhiệt tình của chú Trần Văn
Hoàng trưởng BND ấp Tân Qui. Sau đó xin các số liệu sơ lượt để có cái nhìn tổng
quát về ấp Tân Qui. Đồng thời tìm hiểu sinh kế, tình hình hoạt động sản xuất, ngành

9


nghề và nguồn thu nhập chính của người dân địa phương .
3.2.2. Thu thập thông tin sơ cấp
Quan sát trực tiếp thực trạng DLST tại địa phương, ghi nhận, chụp ảnh…để
có cái nhìn sơ bộ, hiểu biết cơ bản về khu vực nghiên cứu.
Xây dựng bảng phỏng vấn mở để tìm hiểu về tình hình hiện tại cũng như
tiềm năng phát triển DLST.
Bảng phỏng vấn với những câu hỏi đóng nhằm nắm bắt tình hình sản xuất
như diện tích, giống cây trồng, các loài thủy sản, động vật trên cạn, năng suất, thu
nhập…của nông hộ.
Cách chọn mẫu điều tra: Chọn ngẫu nhiên, không định hướng trước, tiến

hành phỏng vấn, thu thập các thông tin, số liệu cần thiết. Sau đó, phân loại các hộ
thành hai nhóm có hoạt động DLST và chỉ sản xuất nông nghiệp đơn thuần để so
sánh.
Dung lượng mẫu điều tra được xác định theo công thức tính toán của một
nghiên cứu mang tính định tính như sau :
n = (N.t2.S2)/(N.d2 + t2.S2)
Trong đó:
+ n: Số hộ điều tra
+ N: Tổng số hộ trong ấp
+ t: Hệ số tin cậy của kết quả (t = 1,96)
+ d: Sai số mẫu (10%)
+ S2: Phương sai mẫu (0,25)
Tổng số hộ của hai ấp là 1248 hộ, nên dung lượng mẫu điều tra được xác
định trên lý thuyết là 90 hộ. Do những thông tin và số liệu phỏng vấn các hộ gần
như nhau, nên trên thực tế số hộ được phỏng vấn là 58 hộ.
Phỏng vấn một số cán bộ chủ chốt của xã, ấp và một số người dân tại địa

10


phương có tham gia vào hoạt động DLST để đánh giá những thuận lợi và khó khăn
của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu.
Phỏng vấn nông dân thu thập số liệu về đầu tư, sản xuất, thu nhập, chi phí
trong năm, các ngành nghề hoạt động khác như phục vụ cho hoạt động DLST.
Dùng dòng lịch sử để nắm bắt được những sự kiện xảy ra tại cù lao Tân Qui,
để thấy được tình hình phát triển DLST của cù lao Tân Qui.
Dùng lịch thời vụ để mô tả các hoạt động trong năm cũng như lịch thời vụ
các loại cây trồng, để có thể nắm được những hoạt động nào nhiều trong năm. Thời
điểm nào có nhiều du khách nhất.
Dùng SWOT phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của

DLST, để thấy được những thuận lợi và khó khăn của đời sống và các hoạt động
phát triển du lịch. Từ đó thấy được những mặt tích cực và tiêu cực của DLST đối
với đời sống cộng đồng địa phương.
3.2.3. Nội nghiệp
Dựa trên những số liệu thu thập được về tình hình, hiện trạng và ảnh hưởng
của việc phát triển DLST từ thông tin thứ cấp và thông tin phỏng vấn được, xây
dựng nhận xét những thuận lợi và khó khăn của việc phát triển DLST.
Những kết quả thu thập được từ phỏng vấn nông hộ, so sánh số lao động
tham gia, diện tích đất canh tác, các nguồn thu nhập để tìm hiểu mức độ ảnh hưởng
của DLST đến đời sống cộng đồng. Đồng thời, tổng hợp nên lịch hoạt động, thời
vụ, sơ đồ SWOT.
Đưa các số liệu thu thập được về số nhân khẩu, số lao động, thu nhập, chi phí
sản xuất, diện tích đất canh tác, nghề nghiệp hoạt động…của hai nhóm (có hoạt
động DLST và nhóm sản xuất nông nghiệp đơn thuần) vào phần mềm excel xử lý,
phân tích các con số trung bình và so sánh giữa các nhóm, tìm ra mức độ ảnh hưởng
của việc phát triển DLST.

11


3.3. Giới thiệu sơ lượt về xã An Phú Tân
An Phú Tân là một xã nằm ven sông Hậu thuộc phía Tây của huyện Cầu Kè
tỉnh Trà Vinh. Trung tâm xã cách thị trấn Cầu Kè khoảng 13,5 km và cách trung
tâm tỉnh Trà Vinh 53 km theo trục giao thông chính là quốc lộ 54 và 60. Trên địa
bàn có Tỉnh lộ 915 chạy qua với chiều dài 6,46 km, hương lộ 32 và 50 với tổng
chiều dài 2,38 km, các tuyến đường liên ấp được bê tông hóa 96%.
Xã có diện tích tự nhiên 2.366,46 ha.
Ranh giới hành chính của xã:
- Phía Bắc giáp xã Tích Thiện, huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long.
- Phía Nam giáp xã Hòa Tân.

- Phía Đông giáp xã Tam Ngãi.
- Phía Tây giáp sông Hậu.
Kinh tế chủ lực hàng đầu là vườn cây ăn trái với diện tích 1.208,4 ha, chiếm
93,34% diện tích đất nông nghiệp toàn xã. Tổng thu nhập bình quân đầu người cuối
năm 2010 là 11,079 triệu đồng/người/năm. Tổng thu ngân sách năm 2011 là 2.1 tỷ
đồng.
Toàn xã có 06 ấp, hiện có 2.682 hộ với 12.397 nhân khẩu, địa bàn dân cư
sinh sống chủ yếu là người kinh, chỉ có 01 hộ khmer với 11 nhân khẩu. Tỷ lệ hộ
khá, giàu có 2.245 hộ, chiếm 83,7% tổng số hộ toàn xã. Về cơ sở hạ tầng được trên
đầu tư xây dựng cơ bản, gồm 01 khu trung tâm hành chính của xã, 01 trạm y tế, 02
điểm bưu điện văn hóa, 07 đơn vị trường lớp (02 đơn vị trường THCS, 04 đơn vị
trường tiểu học và 01 đơn vị trường mầm non), năm học 2010 – 2011 có 1.367 học
sinh, 02 chợ Bến Cát, Bến Đình. Trạm y tế xã có 01 bác sĩ, 01 y sĩ, 02 dược sĩ, 01
cán bộ điều dưỡng, 01 cán bộ hộ sinh, 01 tổ đông y, 06/06 ấp điều có cộng tác viên
y tế. Về tính ngưỡng tôn giáo xã có 02 chùa (chùa Long Phước, chùa Phước Hoa).

12


3.4. Giới thiệu về cù lao Tân Qui
3.4.1. Điều kiện tự nhiên
3.4.1.1. Vị trí địa lý
Cù lao Tân Qui nằm giữa sông Hậu, cách biển Đông khoảng 60 km, được
chia thành ba ấp, trong đó ấp Tích Khánh thuộc xã Tích Thiện huyện Trà Ôn tỉnh
Vĩnh Long và hai ấp Tân Qui 1 và Tân Qui 2 thuộc xã An Phú Tân huyện Cầu Kè
tỉnh Trà Vinh. Chiều dài toàn bộ của cù lao Tân Qui là hơn 10 km, trong đó địa
phận của ấp Tích Khánh dài hơn 3 km, phần đất Tân Qui 1 và Tân Qui 2 dài gần 7
km. Chiều rộng trung bình của ấp Tích Khánh là khoảng 400 m, của ấp Tân Qui 1 là
700 m, Tân Qui 2 là 900 m. Diện tích tự nhiên tổng thể của toàn bộ cù lao Tân Qui
là hơn 1000 ha, riêng hai ấp Tân Qui 1 và Tân Qui 2 là 825 ha.

3.4.1.2. Địa hình
Địa hình tại cù lao Tân Qui khá thuần nhất, được kiến tạo qua quá trình trầm
lắng và bồi tụ lâu dài của phù sa và dịch chuyển của dòng chảy trên dòng sông Hậu.
Cao trình trung bình của cù lao Tân Qui hiện nay trong khoảng 0,2 – 0,5 m so với
mặt nước biển, tức là thấp hơn 0,7 m so với cao trình chung của đất liền cả tỉnh. Ở
giữa cù lao là nơi cao nhất, có một gò chiều ngang hơn 100m, dài hơn 4 km, kéo dài
từ ấp Tân Qui 1 đến hơn nữa ấp Tân Qui 2. Gò này đạt cao trình xấp xỉ 0,5 m so với
mặt nước biển, là phần nổi lên sớm nhất của cù lao. Do vậy, một cách tổng thể cù
lao Tân Qui có dạng mu rùa.
3.4.1.3. Khí hậu, thời tiết
Cù lao Tân Qui nằm trong khu vực gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều. Trong chu
kỳ một năm, mùa mưa từ tháng 4 – 11, kèm theo gió mùa tây nam, lượng mưa trung
bình trong khoảng 1450 – 1750 mm. Mùa khô là những tháng còn lại, kèm theo gió
mùa đông nam và gió mùa đông bắc, tháng nắng nhiều nhất là tháng 2, 3 và tháng
mưa nhiều nhất là tháng 8, 9.

13


3.4.1.4. Thủy văn, thổ nhưỡng
Cù lao Tân Qui nằm trong khu vực ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy văn
bán nhật triều ven biển Đông. Đồng thời, do nằm trên sông Hậu, nên chế độ thủy
văn còn ảnh hưởng lớn bởi chế độ thủy văn thượng nguồn sông Mêkông. Hàng
năm, trong những tháng mùa mưa nước nổi, nước trên nguồn đổ về nhiều thì khúc
sông này là vùng nước ngọt hoàn toàn. Tuy nhiên, trong những tháng mùa khô,
nước trên nguồn không còn đổ về, tạo điều kiện cho nước mặn dưới biển xâm nhập
dần lên tới Tân Qui và trên nữa. Thời gian nhiễm mặn tại Tân Qui từ 1 – 2 tháng và
độ nhiễm mặn từ 0,1 – 4 phần ngàn.
3.4.1.5. Động thực vật tự nhiên
Thãm động thực vật tại cù lao Tân Qui rất đa dạng, phong phú. Những chủng

loại thực vật tự nhiên đặc hữu của vùng đất phù sa trên cạn như: trâm bầu, gáo, gừa,
bàn gai, bàn nhớt, điên điển, tre trúc…cùng nhiều loại cỏ như: cỏ chỉ, cỏ mực, cỏ
ống, lục bình, lứt, cỏ tranh, dứa gai, sậy… Những chủng loại cây đặc hữu của cùng
đất phù sa bãi bồi và vùng đất phù sa ngập nước như: bần, dừa nước, lác voi, lác
hến… Về động vật đặc hữu trên cạn có các loại chim cò như: cò, vạc, quạ, le le,
chằng nghịt, cúm núm, chằng chài, cu, se sẻ, cú mèo, mỏ nhác,… Các loài thú như:
hồn, rắn, trăn, chuột… Các loại động vật dưới nước như: kỳ đà, cua đinh, rùa, cá
lóc, cá trê, cá rô, cá cháy, cá bông lau, cá ngát, cua, còng,…
Ngày nay, sau một quá trình khai phá lâu dài biến rừng hoang thành đất vườn
và những tác động khác của môi trường, thảm động - thực vật tại cù lao Tân Qui bị
thu hẹp dần. Trong khi đó, nhiều chủng loại trái cây, nhiều vật nuôi có giá trị kinh
tế cao được du nhập về, ngày càng phát triển tạo ra nguồn thu nhập ổn định, góp
phần tích cực nâng cao diện mạo kinh tế xã hội cù lao cũng như đời sống vật chất
tinh thần của người dân Tân Qui.
3.4.2. Điều kiện xã hội
3.4.2.1. Dân số

14


Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số tại hai ấp của cù
lao Tân Qui là 5.010 người trong 1.248 hộ (ấp Tân Qui 1 có 2.282 người, ấp Tân
Qui 2 có 2.728 người) trên diện tích đất tự nhiên là 852 ha. Mật độ dân số tại đây là
580 người/km2.
3.4.2.2. Dân tộc
Gần như 100% dân số tại cù lao Tân Qui từ xưa đến nay là người Kinh. Gần
đây có vài người Khmer do có quan hệ hôn nhân mà nhập cư về đây.
3.4.2.3. Tính ngưỡng
Thần Thành hoàng được thờ tại ngôi đình tọa lạc tại ấp Tân Qui 2, được xây
dựng vào khoảng năm 1900 và được xem là tính ngưỡng sớm nhất tại cù lao này.

Bên cạnh đó, Bà Chúa Xứ được xem là Thánh mẫu có nhiệm vụ cai quản một vùng
đất nhất định trên miền sông nước và bảo vệ cư dân ở đó thoát khỏi mọi tai nạn,
hiểm họa. Bà Chúa Xứ được thờ tại ngôi miễu tọa lạc tại ấp Tân Qui 1 là một tính
ngưỡng quan trọng của người dân cù lao Tân Qui. Ngoài ra, người Việt Tân Qui
vẫn trân trọng lưu giữ, truyền thừa tính ngưỡng thờ tổ tiên ông bà tại mỗi gia đình.
3.4.2.4. Tôn giáo
Theo thống kế năm 2009, tại cù lao Tân Qui có 3.174 trên tổng số dân 5.010
người là tín đồ phật giáo, chiếm tỷ lệ 63,2%. Vào cuối thế kỷ XX, ngôi chùa phật
giáo Đại thừa mang tên Phước Hoa được xây dựng tại ấp Tân Qui 2 bằng sự chung
tay đóng góp của bà con phật tử, các tầng lớp nhân dân Tân Qui và sự phát tâm
đóng góp của tính đồ phật giáo gần xa.
3.4.3. Lịch sử cù lao Tân Qui qua các thời kỳ
Năm 1892, làng Tân Định được thành lập, thuộc tổng Thạnh Trị quận Cầu
Kè tỉnh Cần Thơ. Đến năm 1900, tên làng được đổi thành Tân Qui và tên cù lao Tân
Qui cũng được gọi từ đó. Nhà việc làng Tân Qui được đặt tại đình Tân Qui.
Năm 1940, thực dân Pháp tiến hành một đợt phân chia lại địa giới hành
chính cấp cơ sở. Theo đó, làng Tân Qui và các làng lân cận bên đất liền nhập lại
thành xã An Phú Tân thuộc tổng Thạnh Trị quận Cầu Kè tỉnh Cần Thơ. Phần đất

15


×