Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG CỦA GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TẠI ẤP 3 VÀ 4, XÃ HIẾU LIÊM, HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (787.03 KB, 88 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐAỊ HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH


PHẠM THỊ NHUNG

PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG CỦA GIỚI TRONG GIA ĐÌNH
TẠI ẤP 3 VÀ 4, XÃ HIẾU LIÊM, HUYỆN VĨNH CỬU,
TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LÂM NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6/2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH


PHẠM THỊ NHUNG

PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG CỦA GIỚI TRONG GIA ĐÌNH
TẠI ẤP 3 VÀ 4, XÃ HIẾU LIÊM, HUYỆN VĨNH CỬU,
TỈNH ĐỒNG NAI

Ngành: Lâm Nghiệp
Chuyên ngành: Nông Lâm Kết Hợp

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



Người hướng dẫn: TS. BÙI VIỆT HẢI

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6/2012

i


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận này, bản thân tôi
đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình lớn lao của gia đình, thầy cô, bạn
bè ... mà tôi không thể nào quên được.
Con xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến bố mẹ đã sinh thành, dưỡng dục, luôn
quan tâm lo lắng và là chỗ dựa vững chắc cho con trong suốt thời gian qua.
Em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm
TpHCM, quý thầy cô giáo khoa Lâm nghiệp, đặc biệt là thầy cô bộ môn Nông Lâm
kết hợp và Lâm nghiệp xã hội đã giảng dạy và truyền đạt nhiều kiến thức quý báu
cho tôi trong suốt thời gian học tập, giúp cho tôi có hành trang trong cuộc sống.
Đặc biệt em xin cảm ơn chân thành đến thầy Bùi Việt Hải đã hướng dẫn
tận tình, giúp em thực hiện và hoàn thành tốt khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến cô chú, anh chị trong UBND xã Hiếu Liêm,
huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện
khóa luận này. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến hai chú trưởng ấp và các hộ dân
sinh sống tại ấp 3 và ấp 4 xã Hiếu Liêm, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã chỉ dẫn
và cung cấp các thông tin bổ ích trong quá trình thu thập số liệu tại địa phương.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè đã động viên, giúp đỡ và chia sẻ với tôi
trong thời gian vừa qua.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 6/2012
Người thực hiện


Phạm Thị Nhung

ii


TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: “Sự phân công lao động của giới trong gia đình tại ấp 3
và ấp 4, xã Hiếu Liêm, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” được thực hiện từ ngày
15/02/2012 đến ngày 15/06/2012.
- Mục tiêu chính của đề tài là: Tìm hiểu sự phân công lao động và quyền quyết
định theo giới trong các hoạt động ở quy mô hộ gia đình. Từ đó tìm ra nhu cầu thực tế
và nhu cầu chiến lược của giới, đưa ra kế hoạch phát triển giới tại địa phương.
Phương pháp được sử dụng trong đề tài: Thu thập thông tin sẵn có ở địa
phương và các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, kết hợp với phỏng vấn
nông hộ, thảo luận nhóm … Tổng hợp, xử lý số liệu bằng phần mềm
MICROSOFT EXCEL 2007 và phần mềm STATGRAPHICS PLUS 3.0. Từ đó
đưa ra các kết quả và kết luận của vấn đề.
- Kết quả thu được ở đề tài bao gồm:
Tìm hiểu được thực trạng cách phân công lao động của người dân tại địa
phương trong các công việc: nội trợ, sửa chữa đồ dùng trong gia đình, chăm sóc,
giáo dục con cái, sản xuất nông nghiệp (canh tác vườn hộ và chăn nuôi) và các hoạt
động cộng đồng.
Biết được cách nhìn nhận của người dân theo giới tính, trình độ học vấn,
nghề nghiệp, kinh tế gia đình đối với các công việc trên.
Tìm hiểu được quyền quyết định chính trong các hoạt động và công việc
trong mỗi gia đình.
Tìm hiểu được các nguồn lực được người dân sử dụng.
Tìm hiểu được những nhu cầu của người dân trong các hoạt động, từ đó đưa
ra những kết luận và các phương án hành động nhằm tạo ra sự bình đẳng hơn trong

phân công lao động tại gia đình.

iii


SUMMARY
The research subjects: “The division of labor in a family at 3 hamlets and 4
hamlets, Hieu Liem commune, Vinh Cuu district, Dong Nai province” was conducted
from February 15th, 2012 to June 15th, 2012, to understand the division of labor by
gender and decision-making activities at the household scale. Since then finding out
the actual needs and strategic gender needs, maked plans about local development.
The method is used in the project: Gathered information on local availability
and other documents related to research issues, combined with household
interviews, group discussions…synthetic data and processed by MICROSOFT
EXCEL 2007 software and software STATGRAPHICS PLUS 3.0. Then finding
out the results and conclusing of the problem.
The results achivement:
Finding out the status of the division of labor in the local people in the work:
housework, repairing household appliances, care and education of children, the
production activities (farm and garden livestock) and the community.
Knowing people’s perspectives on gender, education level, occupation,
family economic for the above works in each family.
Finding out the right decision in the activities and working in each family.
Finding out the resources people use.
Finding out the needs of people in the of people in the operation, then finding
out the conclusions and action plans for more equality in the division of labor with
in the family.

iv



MỤC LỤC
TRANG
TRANG TỰA

i

LỜI CẢM ƠN

ii

TÓM TẮT

iii

SUMMARY

iv

MỤC LỤC

v

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

vii

DANH SÁCH CÁC BẢNG

viii


Chương 1. MỞ ĐẦU

1

1.1. Đặt vấn đề

1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

2

1.3. Đối tượng và giới hạn của đề tài

2

Chương 2. TỔNG QUAN

3

2.1. Một số khái niệm

3

2.2. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

4

2.3. Một số chính sách bình đẳng giới của nhà nước


6

Chương 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

8

3.1. Địa điểm nghiên cứu

8

3.1.1. Vị trí địa lý

8

3.1.2. Điều kiện tự nhiên

8

3.1.2.1. Đặc điểm địa chất đất đai

8

3.1.2.2. Khí hậu

9

3.1.2.3. Điều kiện thủy văn

9


3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

13

3.2.1. Nội dung nghiên cứu

13

v


3.2.2. Phương pháp nghiên cứu

13

3.2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

13

3.2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

14

3.2.2.3. Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu

15

Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU


17

4.1. Sơ lược về tình hình chung của các hộ điều tra

17

4.2. Phân công lao động

19

4.2.1. Phân công lao động trong các công việc gia đình

19

4.2.1.1. Phân công lao động trong nhóm các công việc nội trợ

19

4.2.1.2. Phân công lao động trong việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình

22

4.2.1.3. Phân công lao động trong công việc chăm sóc và giáo dục con cái

24

4.2.2. Sự phân công lao động trong các hoạt động sản xuất

28


4.2.2.1. Phân công lao động trong trồng trọt

28

4.2.2.2. Phân công lao động trong chăn nuôi

32

4.2.3. Sự phân công lao động trong các hoạt động cộng đồng

36

4.2.4. Các nguồn lực và tiếp cận các nguồn lực phân chia theo giới

40

4.2.5. Quyền quyết định của giới trong tài sản và công việc

42

4.3. Nhu cầu thực tế và nhu cầu chiến lược của giới

43

4.3.1. Nhu cầu thực tế của nam và nữ giới

43

4.3.2. Nhu cầu chiến lược của nam và nữ giới


47

4.4. Chương trình hành động

49

Chương 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

52

5.1. Kết luận

52

5.2. Kiến nghị

53

TÀI LIỆU THAM KHẢO

54

PHỤ LỤC

56

vi


DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBNN

Cán bộ nhà nước

CCB

Cựu chiến binh



Cộng đồng

CHXHCNVN

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

CN

Chăn nuôi

FAO

Food and Agriculture Organization
(Tổ chức Lương thực thế giới)

ND

Nông dân

NN


Nghề nghiệp

NTL

Người trả lời

PN

Phụ nữ

PTD

Participatory Techology Development
(Tiến trình phát triển công nghệ có sự tham gia)

PRA

Participatory Rural Appraisal
(Đánh giá nông thôn có sự tham gia)

SWOT

Strengths - Weakness - Opportunities - Threaten
Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức

TC, ĐH

Trung cấp, Đại học


TA

Thức ăn

TĐHV

Trình độ học vấn

TH

Tiểu học

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TNTN

Tài nguyên thiên nhiên

VNDCCH

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

UBND


Uỷ ban nhân dân

vii


DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG

TRANG

Bảng 3.1: Thành phần dân tộc trên địa bàn xã Hiếu Liêm

11

Bảng 4.1: Tóm tắt đặc điểm các hộ điều tra

17

Bảng 4.2: Các chỉ tiêu phân hạng hộ gia đình

18

Bảng 4.3 : Mức độ tham gia trong nhóm công việc nội trợ

20

Bảng 4.3b: Cách nhìn nhận công việc nội trợ phân theo TĐHV người trả lời

21


Bảng 4.3c: Cách nhìn nhận công việc nội trợ phân theo nghề nghiệp người trả lời 21
Bảng 4.3d: Cách nhìn nhận công việc nội trợ phân theo kinh tế hộ gia đình NTL 22
Bảng 4.4: Mức độ tham gia trong việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình

22

Bảng 4.4a: Cách nhìn nhận công việc sửa chữa đồ phân theo giới tính NTL

23

Bảng 4.4b: Cách nhìn nhận công việc sửa chữa đồ phân theo nghề nghiệp NTL 23
Bảng 4.4c: Cách nhìn nhận công việc sửa chữa đồ phân theo kinh tế hộ gia đình
người trả lời

24

Bảng 4.4d: Cách nhìn nhận công việc sửa chữa đồ phân theo TĐHV NTL

24

Bảng 4.5: Mức độ tham gia trong việc chăm sóc và giáo dục con cái

25

Bảng 4.5a: Cách nhìn nhận công việc chăm sóc và giáo dục con cái phân theo giới
tính người trả lời

26

Bảng4.5b: Cách nhìn nhận công việc chăm sóc và giáo dục con cái phân theo nghề

nghiệp người trả lời

27

Bảng 4.5c: Cách nhìn nhận công việc chăm sóc và giáo dục con cái phân theo kinh
tế hộ gia đình của người trả lời

27

Bảng 4.5d: Cách nhìn nhận công việc chăm sóc và giáo dục con cái phân theo trình
độ học vấn của người trả lời

28

Bảng 4.6: Mức độ tham gia trong các công việc canh tác vườn hộ

29

Bảng 4.6a: Cách nhìn nhận các công việc canh tác vườn hộ phân theo giới tính
người trả lời

30
viii


Bảng 4.6b: Cách nhìn nhận các công việc canh tác vườn hộ phân theo NNNTL

30

Bảng 4.6c: Cách nhìn nhận các công việc canh tác vườn hộ phân theo trình độ học

vấn người trả lời

31

Bảng 4.6d: Cách nhìn nhận các công việc canh tác vườn hộ phân theo kinh tế hộ gia
đình người trả lời

32

Bảng 4.7: Phân công lao động trong chăn nuôi

33

Bảng 4.7a: Cách nhìn nhận các công việc CN phân theo giới tính người trả lời

33

Bảng 4.7b: Cách nhìn nhận các công việc chăn nuôi phân theo NN NTL

34

Bảng 4.7c: Cách nhìn nhận các công việc chăn nuôi phân theo kinh tế hộ gia đình
người trả lời

34

Bảng 4.7d: Cách nhìn nhận các công việc chăn nuôi phân theo TĐHV NTL

35


Bảng 4.8: Mức độ tham gia trong các hoạt động cộng đồng

36

Bảng 4.8a: Cách nhìn nhận các công việc CĐ phân theo giới tính người trả lời

38

Bảng 4.8b: Cách nhìn nhận các công việc CĐ phân theo nghề nghiệp NTL

38

Bảng 4.8c: Cách nhìn nhận các công việc CĐ phân theo kinh tế hộ gia đình NTL 39
Bảng 4.8d: Cách nhìn nhận các công việc CĐ phân theo trình độ học vấn NTL

39

Bảng 4.9: Các nguồn lực vật chất tại ấp 3 và 4

40

Bảng 4.10: Đứng tên giấy tờ đất và vay vốn

42

Bảng 4.11: Quyết định của giới trong tài sản và công việc

43

Bảng 4.12: Nhu cầu thực tế và hành động đối với nhóm nam giới


44

Bảng 4.13: Nhu cầu thực tế và hành động đối với nhóm nữ giới

45

Bảng 4.14: Nhu cầu thực tế và hành động đối với nhóm nam và nữ giới

46

Bảng 4.15: Nhu cầu chiến lược và hành động đối với nhóm nam giới

47

Bảng 4.16: Nhu cầu chiến lược và hành động đối với nhóm nữ giới

48

Bảng 4.17: Phân tích khả năng tham gia của nam giới trong các hoạt động

49

Bảng 4.18: Phân tích khả năng tham gia của nữ giới trong các hoạt động

49

Bảng 4.19: Chương trình hành động có cân nhắc đến giới

50


ix


DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH

TRANG

Hình 4.1: Tỷ lệ tham gia trong nhóm công việc nội trợ

20

Hình 4.2: Tỷ lệ tham gia vào công việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình

23

Hình 4.3: Tỷ lệ tham gia vào công việc chăm sóc sức khỏe cho con

25

Hình 4.4: Tỷ lệ tham gia vào công việc dạy học cho con

25

Hình 4.5: Tỷ lệ tham gia của nam và nữ giới trong các hội

41

x



Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Gia đình được coi là tế bào của xã hội, nó phản ánh tất cả những gì đang diễn
ra ngoài xã hội, các mối quan hệ của con người đều bắt nguồn từ gia đình.
Xã hội ngày càng phát triển làm cho vị trí của người phụ nữ được nâng lên
đáng kể. Họ được học hành, được tham gia vào các hoạt động xã hội, có quyền
được bỏ phiếu ứng cử … Tuy nhiên ở nước ta, các yếu tố truyền thống, đặc biệt tư
tưởng nho giáo là một nhân tố đáng kể tác động trực tiếp đến hành vi ứng xử của
người dân trong xã hội. Quan niệm “trọng nam khinh nữ” và tư tưởng coi thường
người phụ nữ vẫn còn đang tồn tại dưới nhiều biến thể khác nhau. Sự gia trưởng và
bất bình đẳng thường là những nguyên nhân dẫn đến sự phụ thuộc trong cuộc sống
gia đình của người phụ nữ.
Ở các vùng nông thôn nói chung và ở xã Hiếu Liêm nói riêng, do sự nhận
thức chưa đầy đủ, đúng mức của các bên liên quan và có thể ngay bản thân bên
trong cộng đồng về vai trò giới nên bất bình đẳng đang xảy ra. Tình trạng bất bình
đẳng giới đang thể hiện trong các công việc mà nam giới và nữ giới đang tham gia,
thái độ và sự đánh giá của xã hội đối với công việc mà họ làm, các cơ hội để họ
phát triển nâng cao kiến thức. Chính những cách suy nghĩ lệch lạc về vai trò giới
nên đã ảnh hưởng lớn đến sự phân công lao động giữa các giới, quyền tiếp cận và
sử dụng các nguồn lực, quyền tham gia và quyền quyết định các hoạt động sản xuất,
hoạt động cộng đồng. Chính điều này đã dẫn đến những định kiến về giới, làm tăng
thêm gánh nặng cho cả hai giới, nhất là nữ giới.
Trong phân công lao động theo giới có những hoạt động, công việc khác
nhau như: công việc nội trợ, chăm sóc giáo dục con cái, các công việc trong hoạt

1



động sản xuất, các công việc ngoài cộng đồng, quyền quyết định chính trong các
công việc gia đình … Vậy, chúng ta nghiên cứu xem sự phân công lao động giữa vợ
và chồng trong gia đình diễn ra như thế nào? Có hay không cơ hội như nhau trong
việc tiếp cận các nguồn lực phát triển của gia đình? Liệu đã có những đánh giá công
bằng công lao đóng góp trong việc nuôi sống gia đình của người vợ và người chồng
chưa? Hay nói cách khác, chúng ta nghiên cứu xem trong gia đình phụ nữ và nam
giới ai làm gì? Ai có gì? Ai được gì? Có sự bất bình đẳng trong phân công lao động
không?…Đây cũng chính là những câu hỏi mà đề tài: “Phân công lao động của
giới trong gia đình tại ấp 3 và ấp 4, xã Hiếu Liêm, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng
Nai” đưa ra . Đây là những ấp mà đời sống của người dân phụ thuộc chủ yếu vào
hoạt động canh tác vườn hộ và hoạt động chăn nuôi. Đề tài thực hiện ở cấp độ nông
hộ với các thông tin chi tiết về sự phân công lao động và quyền quyết định của giới
trong các hoạt động của gia đình và ngoài cộng đồng. Từ đó, đề tài đưa ra các nhu
cầu thực tế, nhu cầu chiến lược của giới và đề ra kế hoạch hành động để phát triển
giới tại địa điểm nghiên cứu.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
(1) Mô tả thực trạng sự phân công lao động, cách tiếp cận nguồn lực và
quyền quyết định của giới trong các hoạt động ở cấp độ hộ gia đình và cộng đồng
tại địa phương.
(2) Phân tích nhu cầu của giới trong các hoạt động ở cấp độ hộ gia đình và
cộng đồng tại địa phương.
(3) Đề xuất các chương trình hành động nhằm tạo sự bình đẳng giới trong
các hoạt động tại địa phương.
1.3. Đối tượng và giới hạn của đề tài
Đối tượng của đề tài là người dân (giới) tại các hộ gia đình trong các hoạt
động trong gia đình và cộng đồng của người dân ở ấp 3 và 4 của xã Hiếu Liêm,
huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Đề tài được nghiên cứu và thực hiện từ ngày 15/02/2012 đến ngày 15/06/2012.


2


Chương 2
TỔNG QUAN
2.1. Một số khái niệm
Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã
hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Nói cách khác, nói
đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ góc độ xã hội (Bùi Việt
Hải và các cộng sự, 2011).
Phân tích giới là quá trình thu nhập, phân tích các số liệu một cách có hệ
thống thông tin về giới. Phân tích giới bao gồm việc xác định những hoạt động kinh
tế mà phụ nữ và nam giới tiến hành, những nguồn lực mà họ sử dụng, quản lý và
những lợi ích mà họ nhận được. Phân tích giới cũng dự đoán kết quả và thành công
do đó tránh những kết quả tiêu cực đối với phụ nữ và những mối quan hệ giới có thể
xảy ra trong quá trình phát triển để có thể tiến gần đến bình đẳng giới (Bùi Việt Hải
và các cộng sự, 2011).
Trần Thị Quế (1999) cho rằng, cách tiếp cận giới là cách nhìn vấn đề qua
lăng kính giới, có nghĩa là khi xem xét bất kì vấn đề gì thì không xem xét một cách
chung chung là họ (nam và nữ) mà xem xét một cách cụ thể là nam giới và phụ nữ
có địa vị như thế nào? Thuộc nhóm người nào? Mức sống ra sao? Có nguồn lực gì?
Có quyền gì? Nam và nữ làm gì? Làm như thế nào? Trong điều kiện nào? Được
đánh giá và hưởng thụ ra sao?... (trích Vũ Đức Thư, 2008).
Mục tiêu của phân tích giới là phân tích vị trí của nam giới và phụ nữ trong
xã hội để xác định nhu cầu và tiềm năng của họ nhằm đạt hiệu quả lao động và đảm
bảo sự tham gia của phụ nữ và nam giới, đáp ứng được cả hai giới và làm cho họ
thấy hài lòng. Nó tập trung vào hoạt động và nguồn lực của cả nam giới và nữ giới,
làm sáng tỏ nơi nào là sự khác biệt giữa họ và ở đâu họ bổ sung cho nhau.

3



Nhu cầu giới (Bùi Việt Hải và các cộng sự, 2011).
Nhu cầu thực tế: Nhu cầu thực tế của giới là những nhu cầu xuất phát từ vai
trò hiện tại của mỗi giới và nếu được đáp ứng sẽ giúp họ làm tốt hơn vai trò hiện
có của mình.
Nhu cầu chiến lược: Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới mà khi
được đáp ứng sẽ làm thay đổi vị trí, địa vị của phụ nữ và nam giới theo hướng
bình đẳng hơn.
2.2. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Theo nghiên cứu của FAO (1995) ở Băng-La-Đét: “Trong nông nghiệp thì
hầu hết đàn ông làm chủ, đàn bà chỉ làm một phần công việc nhỏ. Trong các nông
trại thì phụ nữ tham gia hầu hết các công việc”.
Tại Việt Nam, bất bình đẳng đang xảy ra ở nhiều nơi, quan niệm “trọng nam,
khinh nữ” đang còn tồn tại. Theo Trần Thị Quế (1999), “Qua xem xét thời gian và
phân công lao động trong gia đình giữa vợ và chồng, trẻ em trai và trẻ em gái của
một số gia đình Việt Nam, cho thấy phụ nữ phải làm tái sản xuất nhiều hơn, vất vả
hơn nên thời gian học tập và nâng cao trình độ học vấn còn ít; nhất là ở vùng cao,
vùng dân tộc nơi đang còn nặng các thủ tục phong kiến, các tập tục, với trình độ
thấp, nhận thức còn kém thì vai trò người phụ nữ xem nhẹ”. Theo Vũ Thị Ngọc
Trâm và Nguyễn Thị Minh Nguyệt (1999), “Trong gia đình người H’Mông, người
chồng là chủ hộ và có quyền quyết định mọi công việc quan trọng trong sản xuất và
đời sống, người chồng có vẻ gia trưởng hơn dân tộc khác, ít bàn bạc với vợ về công
việc liên quan đến sản xuất vì họ đánh giá khả năng hiểu biết của người phụ nữ quá
thấp …” (Trích Doãn Thị Thuận, 2009)
Người ta nói “Phụ nữ chân yếu tay mềm” nhưng thời gian làm việc, lượng
công việc mà phụ nữ làm nhiều nhưng thành quả lao động đó họ được hưởng rất ít,
với đồng lương rẻ mạt. Theo số liệu điều tra khảo sát mức dân cư 1992 – 1993, tiền
lương phụ nữ bằng 69% tiền lương nam giới. Lực lượng lao động nữ chiếm 50,28%
so với tổng số lao động tham gia các hoạt động kinh tế. Riêng lao động nữ ở nông


4


thôn chiếm 80,6% so với tổng số lao động nữ và 39,97% so với tổng số lao động
nói chung (Lê Thị Chiêu Nghị, 2001).
Ở Việt Nam nghiên cứu về phụ nữ và giới cho đến nay đã có bước phát triển
nhanh chóng, đã nắm bắt và phản ánh được các yêu cầu đặt ra đối với quyền phát
huy bình đẳng nam – nữ trong giai đoạn mới, có đóng góp kịp thời cho thực tiễn,
cũng như phân tích, đánh giá và kiến nghị đổi mới chính sách đối với phụ nữ.
Lê Thị Lý (2001) khi nghiên cứu vai trò trong quản lý tài nguyên thiên nhiên
vùng cao cho rằng, cả phụ nữ và nam giới người dân tộc M’nông đều tích cực tham
gia các hoạt động canh tác nông nghiệp và quản lý bảo vệ, sử dụng nguồn TNTN.
Cả hai giới đều có quyết định, kiểm soát nguồn lực thông qua các hoạt động cụ thể
trên hiện trường, trong gia đình cộng đồng. Rõ ràng cả hai giới đều hiểu khá sâu sắc
về môi trường tự nhiên, nguồn lực và tầm nhận thức hiểu biết là không hoàn toàn
như nhau. Tuy nhiên, với sự chênh lệch về hiểu biết và nhận thức so với nam giới,
đồng thời do cùng một lúc thực hiện nhiều vai trò và chức năng thiên bẩm của giới
tính nên bản thân người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, vất vả trong cuộc sống sinh
hoạt và công việc (trích từ Nguyễn Thị Lan Hương, 2005).
Võ Văn Thoan (2001) cho rằng trong chuỗi lịch sử tồn tại của con người
Châu Mạ vùng Nam Tây Nguyên, cả hai giới đều quan tâm đến tài nguyên rừng.
Trong cuộc sống họ luôn tìm cách thích ứng với hoàn cảnh mới. Điều này cho thấy,
giới nam và giới nữ Châu Mạ có năng lực tham gia và quyết định trong tiến trình
phát triển công nghệ có tham gia (PTD), bình đẳng giới và hòa nhập giới có khả
năng phát triển trong PTD. Tại đây, khi các bên liên quan tham gia tiến trình thúc
đẩy tích cực hơn, cũng cần có sự cảm thông của hai giới và sự vận động bên trong
của cộng đồng (trích từ Nguyễn Văn Ân, 2010).
Hoàng Thị Dung và các cộng sự (2006) cho rằng phụ nữ dân tộc, nhất là phụ
nữ dân tộc vùng sâu, vùng xa thì những quyền quyết định liên quan đến sử dụng đất

đều do già làng, trưởng bản. Khi quy hoạch sử dụng đất, người trong gia đình được
mời là đàn ông, các hộ do phụ nữ làm chủ thường được coi là “hộ ăn theo, nói leo”.
Bên cạnh đó nguồn vốn phát triển cũng như vậy, thông thường khi cho vay vốn thì cán

5


bộ tín dụng xuống bản người ta tập hợp đàn ông chứ không tập hợp phụ nữ. Và lý do
nữa là thị trường, nhất là ở dân tộc ít người thì chị em phụ nữ không có khả năng tiếp
thị các sản phẩm họ làm ra. Những tỉnh vùng xa họ thường bị tác động trước những
cuộc mua bán, họ không biết giá bán trên thị trường (trích Doãn Thị Thuận, 2009).
Và cũng theo Hoàng Thị Dung và các cộng sự (2006) chỉ ra rằng, để cải thiện
tình trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất để phát triển giá trị
sản xuất nông nghiệp lên khoảng 20%. Những lợi ích và tiềm năng của việc tăng
cường tiếp cận của phụ nữ với tín dụng, đào tạo, dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm là
vô cùng to lớn đối với bản thân họ và cho đất nước (trích Doãn Thị Thuận, 2009).
Việc đầu tư cho nông dân dẫn đến tăng cường phát triển bình đẳng giới ở
khu vực nông thôn, đồng thời tạo điều kiện cho phụ nữ đóng góp vào sự phát triển
kinh tế, nông nghiệp đa dạng và hiệu quả bền vững. Những lợi ích tiềm tang có thể
đạt được thông qua việc tăng cường tiếp cận của phụ nữ với các nguồn lực đất đai,
khuyến lâm là vô cùng quan trọng.
2.3. Một số chính sách bình đẳng giới của nhà nước
Ngay sau khi giành được độc lập, khai sinh ra nước VNDCCH, hiến pháp
đầu tiên đã khẳng định sự bình đẳng trong đối xử với phụ nữ và nam giới của nhà
nước như sau:
-

Hiến pháp nước VNDCCH năm 1946:

Điều 9: Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện.

-

Hiến pháp nước VNDCCH năm 1959:

Điều 24: Phụ nữ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có quyền bình đẳng với
nam giới về các mặt sinh hoạt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, gia đình.
Cùng làm việc như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới, nhà
nước đảm bảo cho nữ công nhân và nữ viên chức được nghr trước và sau khi đẻ vẫn
được hưởng nguyên lương.
-

Hiến pháp nước CHXHCNVN, 1992:

Điều 63: Công nhân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục.

6


Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm
của phụ nữ.
Lao động nữ và nam làm việc như nhau thì hưởng lương như nhau. Lao động
nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức nhà nước và người làm
công ăn lương, có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ
cấp theo quy định của pháp luật.
Nhà nước và pháp luật tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt
không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội, chăm lo phát triển các nhà hộ
sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình,
tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, canh tác, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn
phận của người làm mẹ.

-

Luật bình đẳng giới nước CHXHCNVN, 2006:

Điều 4. Mục tiêu bình đẳng giới: Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt
đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội
và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết
lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội và gia đình.

7


Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Địa điểm nghiên cứu
3.1.1. Vị trí địa lý
Xã Hiếu Liêm nằm về phía Bắc huyện Vĩnh Cửu, diện tích tự nhiên là
209,46km2, chiếm 19,2% diện tích tự nhiên của huyện.
Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước
Phía Đông giáp xã Mã Đà
Phía Nam giáp thị trấn Vĩnh An và xã Trị An
Phía Tây giáp tỉnh Bình Dương
3.1.2. Điều kiện tự nhiên
3.1.2.1. Đặc điểm địa chất đất đai
Đất hình thành trên đá Granit có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước nhanh,
pha ít sét màu vàng cam.
Đất trên đá phiến sét có diện tích rất nhỏ, thường có màu vàng hay màu vàng
nhạt, thành phần cơ giới trung bình đến nặng, thành phần chất dinh dưỡng khá.
Đất nâu đỏ, tầng đất đồng nhất, tơi xốp và có cấu trúc viên hạt, độ phì cao.

Đất phù sa thường có màu nâu sẫm đến nâu vàng nhạt, phân bố không liên
tục tạo thành các giải hẹp ven sông Đồng Nai.
Tóm lại, đất đai xã Hiếu Liêm phần lớn đều có tầng canh tác mỏng, nhiều sỏi
đá, dinh dưỡng kém.
3.1.2.2. Đặc điểm địa hình
Xã Hiếu Liêm nằm trong vùng đồi thấp, địa hình phổ biến có dạng lượn sóng
bị chia cắt nhẹ, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc không quá 15o, trung
bình 8 – 100, có các dạng địa hình sau:

8


+ Dạng địa hình thấp trũng bị ngập nước: Chủ yếu là lòng hồ và sông suối.
+ Dạng địa hình thấp: Phân bố ven sông Bé, thường bị ngập vào mùa mưa.
+ Dạng địa hình bằng lượn sóng: Phân bố tập trung ở khu vực khu dân cư
nhà máy điện Trị An và cạnh bờ phía Nam hồ.
+ Dạng địa hình đồi thoải: Phân bố tập trung ở phía Bắc đường Hai Búa và
phía Nam đường suối Rộp.
Địa hình đa dạng, phức tạp như vậy đã gây nên rất nhiều khó khăn cho các
hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân tại địa phương.
3.1.2.2. Khí hậu
Khí hậu khu vực huyện Vĩnh Cửu nói chung và địa bàn xã Hiếu Liêm nói
riêng là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa rõ rệt, có nền nhiệt
cao quanh năm. Đây là điều kiện tốt đảm bảo nhiệt lượng cao cung cấp cho cây
trồng phát triển.
Lượng mưa khá lớn (2100 – 2200mm/năm), phân bố theo mùa (mùa khô và
mùa mưa) đã chi phối mạnh mẽ các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp, mùa
mưa cây cối phát triển xanh tốt là vụ sản xuất chính trong năm.
Độ ẩm bình quân 83%, tối cao 91%, tối thấp 73%.
3.1.2.3. Điều kiện thủy văn

Nguồn nước mặt trên địa bàn xã Hiếu Liêm khá phong phú, được cung cấp
từ nước mưa và hệ thống sông Đồng Nai với 2 nhánh sông chính là sông Đồng Nai
và sông Bé.
Nước ngầm ở xã Hiếu Liêm có chất lượng khá tốt. Hiện người dân đang khai
thác nước ngầm tầng mặt để phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Chế độ thủy văn phân bố theo mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Và mùa
mưa mực nước trên sông suối lớn, thường gây ngập úng cục bộ ở một số khu vực.
3.1.2.4. Thảm thực vật
Nhìn chung thảm thực vật trên địa bàn phát triển mạnh với một số chủng loại
chính thường được phân bố theo địa hình, đất đai và khí hậu thủy văn.

9


Địa hình cao: Thực vật chủ yếu là các cây dài ngày như cao su, cây ăn trái..
và các loại cây trồng ngắn ngày như khoai mì, bắp, các loại đậu đỗ..
Địa hình thấp: Thực vật chủ yếu là cây ngắn ngày, hoa màu …
Trong rừng tự nhiên và rừng trồng: Thực vật chủ yếu là cây gỗ và cây bụi.
3.1.2.5. Rừng và đa dạng sinh học
Diện tích đất lâm nghiệp theo địa giới hành chính xã Hiếu Liêm chiếm 92%,
diện tích tự nhiên 19.265,45 ha, với độ che phủ của rừng khoảng 84% với nhiều
kiểu rừng tiêu biểu của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa như kiểu rừng lá rộng`
thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng lá rộng rụng lá.
Đặc trưng nổi bật về rừng tự nhiên của khu bảo tồn là hệ sinh thái rừng cây
họ Dầu với các loài cây phổ biến có giá trị cao về mặt kinh tế lẫn vai trò phòng hộ
đầu nguồn, là nơi cư trú của nhiều động vật rừng, trong đó có nhiều loài quý hiếm,
có nguy cơ tuyệt chủng và được ghi vào sách đỏ Việt Nam như gấu chó, bò tót …
Rừng Vĩnh Cửu còn là vùng căn cứ cách mạng trong thời kì kháng chiến
chống ngoại xâm của miền Đông Nam Bộ với địa danh nổi tiếng là chiến khu D.
Ngoài ra, rừng của Khu bảo tồn còn có chức năng quan trọng là phòng hộ và

tạo thủy trực tiếp cho hồ thủy điện Trị An, góp phần tạo cân bằng sinh thái, đồng
thời là nơi có tiềm năng nhất để phát triển du lịch sinh thái.
3.1.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội
(1) Tình hình dân cư:
Trước đây, phần lớn người dân ở xã Hiếu Liêm là cán bộ công nhân của lâm
trường Hiếu Liêm và nhà máy thủy điện Trị An, họ đến đây theo kế hoạch và sau
khi hình thành xã, nhiều hộ tự đến sinh sống lập nghiệp tại đây.
Ở khu vực trung tâm nhà cửa tương đối ổn định, riêng ấp 4 do nằm trong
diện phải di dời nên nhà cửa của người dân không được đầu tư sửa chữa và hiện nay
đã xuống cấp trầm trọng.
Do đặc điểm dân cư là người từ nhiều vùng miền về đây lập nghiệp, nên tập
quán vẫn còn mang đặc điểm nơi gốc của họ. Tuy vậy, người dân tại xã phần lớn là

10


công nhân lâm trường Hiếu Liêm và nhà máy thủy điện Trị An nên nhận thức bảo
vệ môi trường, tài nguyên cao.
Tổng dân số toàn xã 4.992 người (10/2011) với 1.150 hộ sống tập trung ở ấp
2, ấp 3 một số ít ở ấp 4 và ven bờ ấp 1. Mật độ dân số 20,39 người/km2.
Do điều kiện vùng nông thôn nên nhân dân chủ yếu sống bằng nghề nông và
làm thuê theo từng thời vụ, giá nông sản không ổn định do đó đời sống nhân dân
trên địa bàn xã cũng còn gặp nhiều khó khăn.
Theo thống kê của UBND xã Hiếu Liêm (2012):
Thiên chúa giáo có 96 hộ (337 khẩu), Tin lành 39 hộ (167 khẩu), có 42 tín đồ
vãng lai, Phật gáo có 101 tín đồ, Cao đài 2 hộ (8 khẩu), Hòa hảo 1 hộ (7 khẩu).
Tổng số hộ dân tộc thiểu số trên địa bàn là 41 hộ với 174 nhân khẩu .
Bảng 3.1: Thành phần dân tộc trên địa bàn xã Hiếu Liêm
STT


Dân tộc

Số hộ

01

Dân tộc Thái

02

8

02

Dân tộc Nùng

10

40

03

Dân tộc Mường

06

29

04


Dân tộc Khơ me

08

38

05

Dân tộc Tày

07

33

06

Dân tộc Sán Riu

01

4

07

Dân tộc Hoa

06

18


08

Dân tộc Châu Ro

01

4

41

174

Tổng cộng

Số khẩu

(Nguồn: Báo cáo UBND xã Hiếu Liêm)
(2) Tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp:
Diện tích đất nông nghiệp năm 2012 có 440 ha cây hàng năm (mía 100 ha,
mì 300 ha, bắp 25 ha, rau đậu các loại 115 ha).
Về chăn nuôi tổng đàn gia súc, gia cầm hiện có 156.656 con (đàn nai 986
con, đàn bò 105 con, đàn heo 3.565 con, đàn gà 152.000 con) (Báo cáo tổng kết của
UBND xã Hiếu Liêm, 2011 ).

11


Về nuôi trồng thủy sản có 42,2 ha diện tích ao hồ.
Về lâm nghiệp việc trồng rừng trong nhiều năm qua có chiều hướng phát
triển, tổng diện tích rừng trồng trên địa bàn xã 2.318 ha (Trong đó nhà nước đầu tư

1.459 ha, còn lại 859 ha do dân trồng và tự khai thác).
Đã chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân áp dụng trong sản xuất và
chăn nuôi hiệu quả (Tổ chức 5 lớp tập huấn chăn nuôi và trồng trọt, 2 cuộc hội thảo
sử dụng thuốc và phân bón cho cây trồng và 2 lớp tham quan mô hình trồng nấm).
(3) Tình hình tiêu thụ nông sản:
Nông sản của nông dân sản xuất ra đều bán cho các tiểu thương từ nơi khác
đến, nên sản phẩm thường bị ép giá. Thông tin thị trường cũng được cập nhật
nhưng do sản xuất không đồng loạt, không quy hoạch nên ảnh hưởng đến đời sống
của người dân.
Giao thông đã được nâng cấp từ cầu số 1 đến cầu số 3 nhưng toàn bộ ấp 4 đi
lại vẫn rất khó khăn ảnh hưởng đến đầu vào và đầu ra của sản phẩm.
(4) Thương mại và dịch vụ:
Đến nay địa phương có một chợ nhỏ với 20 kiốt, 22 sạp buôn bán nhỏ và 44
điểm kinh doanh dịch vụ thương mại như: mua bán phân bón, vật liệu xây dựng,
sửa chửa xe máy, sửa chửa điện tử … đã một phần nào đáp ứng được các nhu cầu
sinh hoạt thiết yếu của nhân dân.
(5) Cơ sở hạ tầng:
Hiện trong xã có 1 trường Mầm non, 1 trường Tiểu học, 1 trường THCS giải
quyết được việc học hành của con em nhân dân trong xã.
Trụ sở UBND xã đã được tu bổ, xã có trạm y tế, nhà máy thủy điện Trị An
đóng trên địa bàn xã.
Do dân cư phân bố rải rác cho nên việc đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng
dịch vụ sản xuất khó khăn, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội và cải thiện đời
sống vật chất, tinh thần cho người dân.

12


3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Nội dung nghiên cứu

(1) Bối cảnh tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc phân công
lao động và bình đẳng giới.
+ Về tự nhiên: Bao gồm các nguồn lực như đất đai, tài nguyên rừng, tài
nguyên nước …
+ Về kinh tế xã hội: Gồm các khía cạnh về điều kiện kinh tế hộ gia đình,
nguồn vốn hỗ trợ sản xuất
(2) Sự phân công lao động, việc tiếp cận nguồn lực và quyền quyết định
trong các hoạt động gia đình
+ Sự phân công lao động của giới trong các hoạt động sản xuất, tái sản xuất
và cộng đồng
+ Tiếp cận các nguồn lực của giới
+ Quyền quyết định của giới trong các công việc và tài sản
(3) Nhu cầu của giới trong các hoạt động
+ Nhu cầu thực tế
+ Nhu cầu chiến lược
(4) Chương trình hành động nhằm tạo bình đẳng giới
+ Phân tích khả năng tham gia của nam giới trong các hoạt động tại địa
phương
+ Phân tích khả năng tham gia của nữ giới trong các hoạt động tại địa
phương
+ Đề xuất các chương trình hoạt động nhằm tạo bình đẳng giới
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Gặp gỡ các cán bộ tại UBND, các ban ngành, đoàn thể cũng như các cá nhân
cung cấp các thông tin trong xã để thu thập một số tài liệu liên quan đến điều kiện
tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu, qua đó có thể biết

13



được yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phân công lao động, vai trò và khả năng tiếp cận
cũng như sử dụng các nguồn lực tại địa phương.
3.2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Sau khi tiến hành thu thập thông tin thứ cấp, tiến hành sử dụng bảng câu hỏi
phỏng vấn người dân. Vì trong nghiên cứu này, hộ gia đình được chọn như một đơn
vị phân tích nên tổng thể sẽ là các hộ gia đình trong hai ấp và số hộ cần phỏng vấn
được tính theo công thức:
N=(Nt2S2)/(Nd2 + t2S2)
Trong đó:
n: Số hộ cần điều tra
N: Tổng số hộ (N = 530)
t: Hệ số tin cậy của kết quả (t = 1,96)
d: Sai số mẫu (10%)
S2: Phương sai mẫu (0,25)
(Nguyễn Thị Kim Tài, 2006)
Tổng số hộ của hai ấp 3 và 4 là 530 hộ nên số hộ cần phỏng vấn theo công
thức là 79 hộ, trong đó ấp 3 có 46 hộ và ấp 4 có 33 hộ (Phụ lục 1).
Ngoài ra, còn sử dụng các công cụ PRA cần cho thu thập thông tin, đó là:
+ Nhập cuộc, quan sát: Đánh giá tổng quan về điều kiện tự nhiên, các nguồn
lực có mặt trên địa bàn nghiên cứu.
Tiến hành đi cùng một người dân địa phương theo một hướng qua các khu
vực của từng ấp để thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, cách sống, các hoạt
động của người dân.
Trong quá trình quan sát, ghi lại những điều quan sát có liên quan đến các
hoạt động của người dân (trường học, nhà văn hóa, chợ, trạm y tế, các loại cây
trồng, khoảng cách từ khu dân cư đến rẫy …), và đưa ra những câu hỏi mở khi gặp
người dân để tăng thêm hiểu biết khi đi dạo, ví dụ: Theo anh (chị) thấy trong ấp
nam hay nữ đi làm rẫy là chủ yếu? Kỹ thuật canh tác anh (chị) học được từ đâu? Gia

14



×