Tải bản đầy đủ (.pdf) (107 trang)

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG NGHỀ ĐAN, NGHỀ DỆT TRUYỀN THỐNG CỦA NHÓM NGƯỜI LẠCH CIL TẠI HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.04 MB, 107 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
************** 

ĐẶNG THỊ THAO

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG NGHỀ ĐAN, NGHỀ DỆT
TRUYỀN THỐNG CỦA NHÓM NGƯỜI LẠCH - CIL
TẠI HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH NÔNG LÂM KẾT HỢP

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6/2012
 
 


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
************** 

ĐẶNG THỊ THAO

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG NGHỀ ĐAN, NGHỀ DỆT
TRUYỀN THỐNG CỦA NHÓM NGƯỜI LẠCH - CIL
TẠI HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

Ngành: Nông Lâm Kết Hợp



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TS. PHAN TRIỀU GIANG

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6/2012
i
 


 

LỜI CẢM ƠN
Để cá nhân sinh viên hoàn thành được đề tài, xin chân thành cảm ơn tới:
Bố ẹ đã tạo điều kiện thật tốt cho con ăn học.
Quý thầy cô Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM và quý thầy cô thuộc khoa Lâm
Nghiệp đã tận tình truyền đạt kiến thức, truyền đạt kinh nghiệm cho chúng em
trong suốt quá trình học tập của lớp DH08NK - Khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại
Học Nông Lâm Tp.HCM.
Thầy Phan Triều Giang, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt
quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Ban quản lý dự án: “Tăng cường năng lực quản lý dựa vào cộng đồng của Vườn
Quốc Gia Bidoup - Núi Bà” của tổ chức JICA (Japan International Cooperation
Agency) tài trợ cho VQG Bidoup Núi Bà, đã hỗ trợ một phần kinh phí và tạo điều
kiện cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
UBND xã Lát và UBND thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng đã
giúp đỡ tôi trong quá trình ngoại nghiệp thu thập số liệu để thực hiện đề tài.
Tất cả đồng nghiệp, bạn bè yêu mến của tôi đã động viên và giúp tôi hoàn thành
đề tài tốt nghiệp.

Xin trân trọng cảm ơn!
Tp.HCM tháng 5/2012
Đặng Thị Thao

 

ii
 


 

TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: “Khảo sát về hiện trạng và cách thức phục hồi nghề đan, dệt
truyền thống của người Lạch - Cil” được tiến hành nghiên cứu và thu thập số liệu
tại ba thôn: Bon Dơng I, Bonnơr B và Bonnơr C thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm
Đồng trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2012. Nội dung chính là tìm hiểu
thật chi tiết về hiện trạng và kiến thức bản địa sử dụng trong nghề đan, nghề dệt
truyền thống bao gồm: kĩ thuật lấy và xử lý nguyên liệu từ các loại lâm sản ngoài
gỗ, kĩ thuật truyền thống, những khó khăn, thách thức trong nghề tại địa bàn nghiên
cứu. Từ đó, tìm ra được những giải pháp và cách thức phục hồi nghề thủ công
truyền thống này. Đề tài cũng nhằm đóng góp tư liệu hỗ trợ việc thực hiện hợp phần
“Lựa chọn sinh kế thân thiện môi trường” (EFLO) của dự án do JICA tài trợ “Tăng
cường năng lực quản lý dựa vào cộng đồng của VQG Bidoup - Núi Bà”
Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Ở khu vực nghiên cứu, nghề đan lát chỉ có ở Bonnor B và Bon Dơng I của người
Lạch, nghề dệt thổ cẩm chỉ có ở làng Bonnor C của người Cil.
Hiện trạng nghề đan lát truyền thống tại Bonnor B và Bon Dơng I đang bị mai một
dần dần, các hộ còn giữ nghề truyền thống còn rất ít. Tuy vậy, nghiên cứu cho thấy
kiến thức bản địa của người dân về nghề truyền thống còn rất phong phú. Những hộ

hiện còn đang giữ nghề đều là những người rất yêu nghề truyền thống và luôn muốn
truyền đạt nghề lại cho con cháu mình. Đối tượng biết và có kiến thức bản địa về
nghề thường ở độ tuổi từ 50 tuổi trở lên, thế hệ trẻ từ 35 tuổi trở xuống thì hầu như
không ai biết và cũng không có kiến thức bản địa về nghề truyền thống của dân tộc
mình. Người Lạch phân biệt rõ ràng nghề thủ công truyền thống của phụ nữ chỉ
chuyên đan các sản phẩm thủ công từ cây lát (chiếu, blơ…) và đàn ông thì chỉ đan
những sản phẩm truyền thống từ mây song, tre, nứa (gùi, đó, giỏ đựng cá…).
Nghề dệt thổ cẩm tại Bonnor C đã xuất hiện từ rất lâu. Đến nay nghề đã và đang
được phục hồi với những sản phẩm dệt theo hướng làm hàng hóa lưu niệm, mặc dù

iii
 


 

vẫn mang nét truyền thống nhưng được cải tiến về mẫu mã để phục vụ cho khách du
lịch.
Hiện nay các sản phẩm chính, phổ biến ở địa bàn nghiên cứu là chiếu, gùi,
blơ, ui, băng đô. Do sản phẩm còn khá ít về chủng loại và mẫu mã nên các sản phẩm
khó tìm được thị trường, đầu ra chưa ổn định. Để có thể bảo tồn và phát triển được
nghề truyền thống này, các cơ quan tổ chức liên quan cần sử dụng vai trò những
người hiểu biết ở địa phương đồng thời kết hợp các yếu tố văn hóa bản địa để phát
triển tính phong phú của sản phẩm.

iv
 


 


SUMMARY
Thesis “Studying current situation and restoration of

traditional knitting and

weaving of the K’ho people” was conducted in three villages of Bon Dung I,
Bonnor B and Bonnor C of Lac Duong district, Lam Dong province from February
to June 2012. The objectives are to understand the status and the use of the
indigenous knowledge in knitting and weaving traditions. Particularly, it studied
processing techniques, raw materials, traditional techniques, as well as difficulties
and challenges in the study area. Then, solution on how to restore this tradition can
be found. The findings has also contributed information to assist the implementation
of the Environmental Friendly Livelihood Options (EFLO) component of the JICA
funded Project “Strengthening community - based management capacity of Bidoup Nui Ba National Park”
Research results showed that:
In the study area, knitting only existed in Bonnor B and Bon Dung I of the Lach.
Weaving is only employed by the Cil in Bonnor C.
Currently, knitting tradition in Bonnor B and Bon Dung I is phasing out, only a few
people maintain the tradition. However, local knowledge about this traditionis
plentiful. The people who still knitting are in love with it and always want to pass
the tradition to their children. Key informants are usually more than 50 years old,
people under 35 almost do not knowabout knitting. The Lach has clear gender
perspective on knitting. While women produce handmade products from sedge plant
(screening, blo…) and men only produce traditional products from rattan, bamboo
(gui, fish baskets, chicken cages…)
Weaving in Bonnor C appeared long time ago. Currently, the tradition has been
modified and recorvered in the trend to provide souvernirs toserve tourists.
At present, the main products are mat (gui, blo, ui, bang do). Due to the fact that
knitting and weaving products are less diverse in types and styles, hence, market for

the output is unstable. In order to develop this tradition, relevant instituions need to
v
 


 

use identified local resource persons and integrate cultural traits into products to
make them diverse and special.

 

vi
 


 

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii 
TÓM TẮT ................................................................................................................ iii 
DANH MỤC CÁC HÌNH ....................................................................................... xi 
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................... xiii 
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ ..........................................................................................1 
2.1 

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ............................................................3 

2.1.1 


Điều kiện tự nhiên .............................................................................3 

2.1.2 

Kinh tế - xã hội...................................................................................5 

2.1.3 

Tài nguyên rừng ................................................................................7 

2.2 

Tổng quan về tình hình nghiên cứu ...........................................................7 

2.2.1 

Các nghiên cứu về kiến thức bản địa (KTBD)................................7 

2.2.2 

Các nghiên cứu về sinh kế ................................................................8 

2.2.3 

Các Báo cáo điều tra đã được thực hiện trong địa bàn .................9 

Chương 3 ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......12 
3.1 

Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................12 


3.2 

Nội dung nghiên cứu..................................................................................12 

3.3 

Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................13 

3.3.1 

Ngoại nghiệp ....................................................................................13 

3.3.2 

Nội nghiệp, xử lý và phân tích thông tin .......................................15 

Chương 4 ..................................................................................................................17 
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .....................................................17 
4.1 

Nghề đan lát ...............................................................................................17 
vii

 


 

4.1.1 


Lịch sử phát triển nghề ...................................................................17 

4.1.2 

Cộng đồng nghề đan lát ở Lạc Dương ...........................................18 

4.1.3 

Sản xuất các sản phẩm đan lát .......................................................18 

4.1.4 

Tính văn hóa đặc thù trong các loại sản phẩm đan lát. ...............23 

4.1.5 

Tình trạng nghề đan lát hiện nay tại địa phương.........................26 

4.2 

Nghề dệt thổ cẩm .......................................................................................28 

4.2.1 

Lịch sử phát triển nghề ...................................................................28 

4.2.2 

Cộng đồng nghề dệt ở Lạc Dương .................................................29 


4.2.3 

Sản xuất các sản phẩm thổ cẩm .....................................................30 

4.2.4 

Tính văn hóa đặc thù trong các loại sản phẩm dệt của người Cil
32 

4.2.5 

Tình trạng nghề dệt thổ cẩm hiện nay...........................................36 

Chương 5 TƯ LIỆU HÓA ......................................................................................38 
5.1 

Sản phẩm đan lát .......................................................................................38 

5.1.1 

Chiếu trơn (blềl krá) .......................................................................38 

5.1.3 

Blơ (giỏ đựng cơm) ..........................................................................44 

5.1.4 

Blơ hoa ..............................................................................................46 


5.1.5 

Giỏ (pa lơ pộ) ...................................................................................47 

5.1.6 

Nón đội đầu (đuôn) ..........................................................................48 

5.1.7 

Gùi (t’rọ) ..........................................................................................49 

5.1.8 

Nơm xúc cá (đơ ê rơ) .......................................................................57 

5.1.9 

Giỏ đựng cá (pàm) ...........................................................................58 

5.2 

Sản phẩm dệt thổ cẩm ...............................................................................58 

5.2.1 

Nguyên liệu, dụng cụ, quy trình dệt vải ........................................58 

5.2.2 


Các sản phẩm ...................................................................................67 
viii

 


 

Chương 6 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ ..................................................................71 
6.1 

Kết luận ......................................................................................................71 

6.1.1 

Nghề đan lát truyền thống ..............................................................71 

6.1.2 

Nghề dệt thổ cẩm truyền thống ......................................................72 

6.2 

Kiến nghị ....................................................................................................72 

TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................74 
PHỤ LỤC .................................................................................................................77 

ix

 


 

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
JICA

Japan International

Tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản.

Cooperation Agency
KDL

Khu Du Lịch

LSNG

Lâm sản ngoài gỗ

IIRR

International Institute of

Viện tái thiết nông thôn quốc tế

Rural Reconstruction
PRA


Participatory Rural

Đánh giá Nông Thôn có sự tham gia

Ecologically Friendly

Hợp phần Phát triển Sinh kế thân thiện

Livelihood Option

với Môi Trường

Vietnam Conservation

Quỹ Bảo Tồn Việt Nam

Appraisal
EFLO
VQG

Fund

x
 


 

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình


Trang

Hình 2.1: Bản đồ huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. ...............................................3
Hình 5.1: Chiếc chiếu trơn (blềl krá) của người Lạch. ............................................38
Hình 5.2: Cây lát còn tươi và chưa qua các công đoạn xử lý. .................................39
Hình 5.3: Chiếc chiếu hoa ........................................................................................42
Hình 5.5: Cây duic. ..................................................................................................43
Hình 5.6: Chiếc blơ đựng cơm của người Lạch. .....................................................44
Hình 5.7: Blơ hoa của người Lạch ...........................................................................46
Hình 5.8: Một chiếc giỏ đựng đồ .............................................................................47
Hình 5.9: Chiếc nón đội đầu. ...................................................................................48
Hình 5.10: Chiếc gùi đi rừng, đi rẫy của đồng bào người Lạch...............................49
Hình 5.11: Dây mây song.........................................................................................50
Hình 5.12: Hoa văn pô bar (đan đôi)........................................................................52
Hình 5.13: Hoa văn sơ mẵn (ngôi sao) trên chiếc gùi ngày xưa. .............................52
Hình 5.14: Hoa văn mắt be (mắt dê) trên chiếc gùi trước đây.Error!

Bookmark

not defined.
Hình 5.15: Hình vẽ mô phỏng lại đế của một chiếc gùi...........................................53
Hình 5.16: Hình vẽ được người dân mô phỏng đế của một chiếc Gùi nhỏ .............54
Hình 5.17: Quả bầu cháo, vật gắn liền với chiếc gùi của người Lạch .....................55
Hình 5.18: Chóe của người Lạch. ............................................................................55
Hình 5.19: Chiếc nơm úp cá của đồng bào Lạch. ....................................................57
Hình 5.20: Những chiếc giỏ đựng cá. ......................................................................58
Hình 5.21: Cây bông vải. .........................................................................................60
xi
 



 

Hình 5.22: Công đoạn bật bông trong nghề dệt truyền thống của người Cil. ..........60
Hình 5.23: Công đoạn kéo sợi bông .........................................................................61
Hình 5.24: Tư thế dệt vải của người phụ nữ Cil.. ....................................................63
Hình 5.25: Hoa văn cầu thanh nhà sàn trên sản phẩm dệt truyền thống của người
Cil. .............................................................................................................................64
Hình 5.26: Hoa văn mắt chim công trên sản phẩm dệt của người Cil………….. 64
Hình 5.27: Hoa văn con thuyền trên sản phẩm dệt truyền thống của người Cil. .....65
Hình 5.28: Hoa văn cán xà gạc trên sản phẩm dệt của người Cil. ...........................65
Hình 5.29: Hoa văn cườm chim cu trên sản phẩm dệt truyền thống.. .....................65
Hình 5.30: Hoa văn tua cây nêu trên sản phẩm dệt truyền thống của người Cil. ....66
Hình 5.31: Hoa văn đường ranh trên sản phẩm dệt của người Cil. …………..…66
Hình 5.32: Hoa văn điển hình tượng trưng cho con vật, cây cối trên sản phẩm dệt
hiện nay của người Cil. .............................................................................................67
Hình 5.33: Một mảnh tấm ui của người Cil hiện nay.. ............................................67
Hình 5.34: Chiếc băng đô cột đầu ............................................................................68
Hình 5.35: Chiếc dây kẹp trong Kinh Thánh ...........................................................70
 
 
 
 
 
 
 
 

xii

 


 

 

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng

Trang

Bảng 4.1: Dòng thời gian và sự thay đổi trong nghề đan lát của người Lạch……..17
Bảng 4.2: Nguyên liệu trong nghề đan lát truyền thống của người Lạch ................19
Bảng 4.3: Quy trình thu hái các nguyên liệu trong nghề đan lát của người Lạch ....20
Bảng 4.4: Quy trình chế biến các nguyên liệu trong nghề đan lát của người Lạch .22
Bảng 4.5: Dòng thời gian và sự thay đổi trong nghề dệt thổ cẩm của người Cil .....28

xiii
 


 

Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều thành phần dân tộc. Mỗi dân tộc
đều một nét riêng về lịch sử, văn hóa cũng như bản sắc dân tộc truyền thống riêng
và được lưu truyền qua nhiều đời. Bản sắc văn hóa từng dân tộc góp phần tạo nên sự
đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam. Mỗi dân tộc có một hệ thống kiến

thức bản địa (KTBD) rất phong phú góp phần làm nên bản sắc văn hóa đó. Các kiến
thức đặc thù này có thể thấy được ở hầu hết các khía cạnh trong đời sống của người
dân, đặc biệt là những người dân còn giữ lối sống truyền thống của mình. Ngày nay,
những điểm đặc sắc của các dân tộc là cơ sở để phát triển ngành du lịch bền vững
dựa vào cộng đồng.
Huyện Lạc Dương là một huyện miền núi có địa hình tương đối phức tạp với diện
tích đất lâm nghiệp chiếm tới 86,98% tổng diện tích toàn huyện và là một vùng đất
nổi tiếng với nhiều thắng cảnh và tiềm năng cho việc phát triển du lịch dựa vào cộng
đồng như núi LangBiang, hồ Đan Kia - Suối Vàng với những lễ hội giao lưu văn
hóa cồng chiêng, du lịch vườn - rừng…
Nghề đan lát và nghề dệt truyền thống của người dân K’ho nơi đây với những sản
phẩm như: chiếu, gùi, nơm xúc cá, ui, băng đô… đã tạo ra những nét rất độc đáo,
đặc trưng cho vùng đất cao nguyên này. Nguyên liệu chủ yếu của các nghề truyền
thống này là các loài lâm sản ngoài gỗ lấy từ rừng (cây lát, mây song, tre, nứa, lồ ô)
và ngoài ra thì người K’ho họ còn dùng những loài cây củ mọc trong rừng để tạo
màu nhuộm cho các loại chỉ dệt trong nghề dệt thổ cẩm.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay những giá trị văn hóa truyền thống quý báu đó đang dần
bị mai một đi làm ảnh hưởng đến đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng người
K’ho.
1
 


 

Vì vậy, tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Khảo sát về hiện trạng nghề đan, nghề
dệt truyền thống của nhóm người Lạch - Cil tại thôn Bon Dơng I, Bonnơr B và
Bonnor C thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng” với mong muốn biết rõ
được hiện trạng và các kiến thức bản địa về nghề đan, dệt truyền thống để có thể
góp phần tìm ra giải pháp, cách thức phát triển mới cho nghề thủ công truyền thống

bền vững tại địa phương.

2
 


 

Chương 2
TỔNG QUAN
2.1
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1Vị trí địa lý

Nguồn: maps.google.com.vn
Hình 2.1: Bản đồ huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
Các thôn nghiên cứu của đề tài nằm trên địa bàn huyện Lạc Dương là một huyện
nằm trên cao nguyên Lâm Viên của tỉnh Lâm Đồng, tại hai ngã ba ranh giới giữa
Lâm Đồng với Đăk Lăk và Khánh Hòa, với Khánh Hòa và Ninh Thuận.
Trên địa bàn huyện có các ngọn núi cao trên 2.000m như: núi Bidoup (2.287 m), núi
LangBiang (2.167 m) và núi Chư Yen Du (2.075 m). Đặc biệt, tại địa bàn nghiên
cứu có tiềm năng rất tốt về phát triển du lịch sinh thái ở khu vực núi LangBiang

3
 


 


(theo Quyết định 1809/QĐ-UBND ngày 09/6/2006 của UBND tỉnh Lâm Đồng).
Trong đó: thôn Bon Đưng I, nằm ở phía Tây Nam dưới chân núi Lang Biang thuộc
một phần góc của thị trấn Lạc Dương. Thôn Bonnor B và Bonnor C thuộc địa bàn
xã Lát, nằm về phía Tây của huyện Lạc Dương, cách thị trấn Lạc Dương (trung tâm
huyện Lạc Dương) 2 km theo tuyến đường 19/ 5 về phía Tây Bắc của huyện Lạc
Dương.
2.1.1.2 Tọa độ địa lý
Huyện Lạc Dương có tọa độ địa lý: từ 11o99’ đến 12o31’ vĩ độ Bắc và 108o31’ đến
108o73’ kinh độ Đông.
Trong đó, Thị trấn Lạc Dương: 12o2’3’’ vĩ độ Bắc và 108o25’40’’ kinh độ Đông,
Xã Lát có tọa độ: Từ 11o36’5’’ đến 11o43’0’’ vĩ độ Bắc và từ 108o 16’33’’ đến 108
o

25’32’’ kinh độ Đông.

2.1.1.3 Về ranh giới hành chính
Huyện Lạc Dương: Phía Đông giáp tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Khánh Hòa, phía Tây
giáp huyện Lâm Hà và huyện Đam Rông, phía Nam giáp thành phố Đà Lạt, phía
Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk.
Thị trấn Lạc Dương: Phía Đông giáp với xã Đạ Sar, phía Tây và phía Bắc giáp với
xã Lát, phía Nam giáp với thành phố Đà Lạt.
Xã Lát: Phía Đông Bắc giáp thị trấn Lạc Dương và xã Đạ Sar, phía Bắc giáp với xã
Đưng Knơh và xã Đa Nhim, phía Đông Nam giáp với Thành Phố Đà Lạt và huyện
Lâm Hà, phía Tây Nam giáp với xã Đưng K’Nơh, phía Tây Bắc giáp với huyện
Lâm Hà.
2.1.1.4 Diện tích tự nhiên
Diện tích tự nhiên toàn huyện Lạc Dương là 130.963,04 ha.
Trong đó: Thị trấn Lạc Dương là 3.599,59 ha chiếm 2,75% diện tích tự nhiên toàn
huyện và diện tích xã Lát là 25.194,8 ha chiếm 19,23% diện tích tự nhiên toàn
huyện.


4
 


 

2.1.1.5 Đặc điểm địa hình, khí hậu
Về khí hậu: địa bàn nghiên cứu nói riêng và huyện Lạc Dương nói chung nằm trong
vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng bị chi phối bởi qui luật độ cao và ảnh
hưởng của địa hình nên khí hậu nơi đây có những đặc điểm đặc biệt với vùng xung
quanh mát lạnh quanh năm, mưa nhiều, mùa khô ngắn. Lượng bốc hơi thấp, không
có bão, tạo cho xã Lát có những lợi thế nổi trội và một số hạn chế trong việc phát
triển kinh tế xã hội nói chung và sử dụng quỹ đất nói riêng. Độ cao so với mặt nước
biển từ 1.500 m - 1.600 m. Nhiệt độ trung bình hàng năm thấp từ 18 - 22oC, trong
đó: Tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất: 16,4oC, tháng 5 có nhiệt độ trung
bình cao nhất: 19,7oC, nhiệt độ ổn định qua các mùa trong năm và biên độ giao
động giữa ngày và đêm lớn: 9oC.
Về địa hình: địa hình thấp dần từ phía Đông xuống phía Tây độ cao tương ứng
2.000 m xuống 1.450 m, có hai dạng địa hình chính: núi cao và đồi thấp.
Dạng địa hình núi cao: độ cao khoảng 1.600 - 2.100 m2 so với mặt nước biển độ
dốc lớn trên 50o. Tuy gây nhiều khó khăn cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng. Không
thích hợp cho phát triển nông nghiệp, nhưng với hồ Đan Kia - Suối Vàng lại tạo lợi
thế rất lớn trong phát triển du lịch trên địa bàn toàn xã.
Địa hình đồi thấp có độ cao trung bình khoảng 1400 m - 1500 m, độ dốc từ 8 - 150 .
2.1.2 Kinh tế - xã hội
Huyện Lạc Dương là một huyện có tiềm năng về phát triển du lịch ở khu vực núi
LangBiang và hồ Đan Kia - Suối Vàng, khu du lịch văn hóa lễ hội cũng như một số
danh lam thắng cảnh khác ở hầu hết các xã. Huyện có 88 - 89% diện tích là rừng
đầu nguồn, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo về nguồn nước cho các công

trình thủy điện trên địa bàn. Tổng số dân: 3.274 hộ/ 17.765 nhân khẩu (theo Quyết
định 1809/QĐ-UBND ngày 9/6/2006 của UBND tỉnh). Các dân tộc thiểu số đang
sống trên địa bàn huyện: K’ho, Cil, ChRu, Êđê, Nùng, Tày, Hoa, Chàm. Với tổng
số hộ 4.271 hộ và trên 17.00 khẩu, cư trú trên 35 thôn dân tộc trong tổng số 99 thôn
của huyện, gồm có các đơn vị: thị trấn Lạc Dương, xã Lát, xã Đạ Sar, xã Đạ Nhim,
xã Đạ Chais và xã Đưng K’Nớh. Sự phát triển kinh tế của huyện Lạc Dương rất ấn
5
 


 

tượng với GDP tăng 22% trong ba năm vừa qua. Mặc dù có tốc độ phát triển kinh
tế cao nhưng theo quyết định 170/2005/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ngày
08/05/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 thì
Lạc Dương vẫn là huyện nghèo. Theo quyết định này thì những hộ nghèo là những
hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/ người/ tháng trở xuống đối với
khu vực nông thôn và ở khu vực thành thị là dưới 260.000 đồng/người/tháng. Đa số
các hộ nghèo là dân tộc thiểu số. Vào năm 2009, huyện Lạc Dương có 907 hộ
người dân tộc thiểu số tương ứng với 97% (UBND Lạc Dương, 2009).
Người K’ho ở Lạc Dương theo chế độ mẫu hệ, phụ nữ làm chủ gia đình và thường
sinh rất nhiều con. Họ có quyền kiểm soát các nguồn lực gia đình như: đất đai, vật
nuôi, tiền bạc nhưng trên thực tế việc quyết định sử dụng mua bán tài sản trong gia
đình lại do người đàn ông quyết định. Người vợ tham gia hầu hết các hoạt động
kinh tế bao gồm cả các công việc nặng nhọc cần nhiều cơ bắp như: làm rẫy, lấy
củi… và họ cũng là người chăm lo con cái, chăm lo bữa cơm trong gia đình. Nguồn
thu nhập chính của các hộ trong vùng chủ yếu từ nông nghiệp (rẫy gần nhà, rẫy xa
nhà) và một số đan lát, dệt thổ cẩm tại nhà.
Xã Lát: là xã có kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, sản xuất công nghiệp, xây
dựng và các ngành dịch vụ đang phát triển. Về lĩnh vực ngành nghề phát triển chậm

(thổ cẩm 55 hộ bình quân thu nhập 3 - 4 trăm triệu đồng/ năm), nghề đan lát hiện
đang bị mai một và có nguy cơ mất hoàn toàn.
Thị trấn Lạc Dương: Có các thay đổi quan trọng trong đời sống vật chất và văn hóa
của người Lạch ở Bon Dơng I và Bonnơr B. Sự kiện chính là việc chuyển tôn giáo
của người dân từ đa thần sang Tin lành vào những năm 1950. Từ những người già
trong thôn còng nhớ rằng trước thời kỳ này, một số lễ hội được thực hiện theo lịch
trồng trọt, đặc biệt là lễ hội mùa thu hoạch để cám ơn Thần Lúa. Cồng Chiêng một
dụng cụ âm nhạc được sử dụng trong các lễ hội này và trong các sự kiện đặc biệt
như chào mừng khách hay trong ma chay. Sau khi chuyển tôn giáo, các thế hệ
trước đã bán cồng, chiêng cho các nhóm dân tộc khác. Đối với một số người già,
6
 


 

trình diễn cồng chiêng cho du khách hiện nay không còn nguyên gốc của người
Lạch. Một quan ngại tương tự liên quan đến các hoa văn trong đan dệt. Các định
chế địa phương cũng đã thay đổi từ buôn làng truyền thống lãnh đạo bởi già làng
được bầu chọn bởi người dân sang hệ thống làng hiện nay (dẫn theo Hoàng Hữu
Cải, Phan Triều Giang, 2012).
2.1.3 Tài nguyên rừng
Rừng trên địa bàn huyện Lạc Dương có tính đa dạng sinh học rất cao với thành
phần cây như số lượng các loại rất phong phú. Có vai trò đặc biệt quan trọng trong
bảo vệ nguồn nước, làm đẹp cảnh quan, tham gia vào phát triển du lịch và cũng cấp
các loài lâm sản ngoài gỗ (mây, tre, nứa, lồ ô, lát) là nơi cung cấp nguyên liệu và
dụng cụ cho các ngành nghề đan lát, dệt thổ cẩm truyền thống.
Về động vật: Rừng tại địa là nơi cư trú của nhiều loại động vật quý hiếm như các
loại chim và thú rừng nên cần chú trọng bảo vệ. Hệ thực vật rừng nằm trong khu
vực rừng kín mưa ẩm nhiệt đới và khá phong phú về chủng loại.

Về cảnh quan môi trường: Huyện nằm bên cạnh thành phố Đà Lạt có nhiều cảnh
quan đặc sắc như núi LangBiang, hồ Đan Kia - Suối Vàng thơ mộng và rừng thông
nguyên sinh trùng điệp đã tạo ra cho huyện có thế mạnh nổi trội về du lịch. Trong
tương lai tổ hợp du lịch Đan Kia - Suối Vàng, Langbiang sẽ là một trong những
cụm du lịch lớn nhất của Lâm Đồng cũng như của cả nước.
2.2

Tổng quan về tình hình nghiên cứu

2.2.1 Các nghiên cứu về kiến thức bản địa (KTBD)
Khái niệm KTBĐ là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa, hoặc của cộng
đồng tại một khu vực cụ thể nào đó. Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh
nhất định với sự đóng góp của những thành viên trong cộng đồng (người già, người
trẻ, đàn ông, phụ nữ) ở một vùng địa lý xác định (Louise G, 1996).
Theo Học Viện Quốc tế về tái thiết nông thôn Philippines (IIRR, 1996), KTBĐ là
kiến thức đã được phát triển trong nhiều năm và hiện vẫn đang phát triển kiến thức
7
 


 

này. Nó còn gọi là “kiến thức địa phương”, “kiến thức truyền thống”, hay “kiến
thức kỹ thuật bản địa”.
Theo Nguyễn Duy Thiệu, KTBĐ hay tri thức bản địa là một phức hệ những kinh
nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác. Nó được hình thành trong những
ứng xử giữa hoạt động của con người với môi trường tự nhiên để kiếm sống.
KTBĐ cũng chỉ tồn tại được trong những điều kiện môi trường cụ thể. Nó còn gọi
là tri thức bản địa (Local knowledges) hay cụ thể hơn là tri thức của người bản địa
(dẫn theo Nguyễn Văn Thường, 2002).

Các tác giả Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn (1999) trong cuốn “Luật tục Ê-đê”, đã
khẳng định trong hầu hết các loại hình truyền thống, canh tác nông nghiệp du canh
gắn liền với các hoạt động văn hóa tâm linh. Người du canh có những hiểu biết sâu
sắc về điều kiện sinh thái và những trở ngại với từng công việc cụ thể. Họ cố gắng
đáp ứng và khắc phục những trở ngại đó trong điều kiện của mình. Người nông dân
cũng có những hiểu biết sâu sắc về cách thức lựa chọn những vùng đất phù hợp để
làm rẫy cũng như phương thức sử dụng những loài cây trồng khác nhau, các giống
khác nhau để tiến hành luân canh và xen canh phù hợp với độ phì của đất và nhu
cầu sử dụng của nông hộ (dẫn theo Nguyễn Văn Thường, 2002).
Nguyễn Văn Thường (2002) với “Nghiên cứu KTBĐ của đồng bào dân tộc thiểu số
Gia - Rai trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên ở vùng Tây Nguyên”: kinh
nghiệm trong nông nghiệp và quản lý rừng của người Gia - Rai là một kho tàng bài
học quý giá, phục vụ rất lớn cho sinh kế của người dân. Tuy nhiên, ngày nay kiến
thức này đang bị mai một dần, xuất hiện nhiều kiến thức mới và các kiến thức này
có sự đan xen lẫn nhau.
2.2.2 Các nghiên cứu về sinh kế
Trong nghiên cứu giao rừng tại Việt Nam như là một giải pháp phát triển bền vững,
Nguyễn Quang Tân (2006) cho thấy các hộ giàu và những người có vị thế chính trị
nắm hầu hết các lợi ích. Nhân lực lao động của họ cũng đóng vai trò quan trọng
8
 


 

trong phân phối quyền hưởng lợi từ rừng. Bốn yếu tố quan trọng trong phân phối
lợi ích là khả năng lao động, sự giàu có, vị thế chính trị và quyền lợi sở hữu hợp
pháp rừng của các hộ. Đồng thời, cũng có sự khác biệt giữa người dân bản xứ và
người nhập cư vì người dân bản địa phụ thuộc nhiều hơn vào tài nguyên rừng, đặc
biệt là lâm sản ngoài gỗ và đất trồng trọt.

Nghiên cứu “Phân cấp trong quản lý tài nguyên rừng và sinh kế của người dân” của
Trần Đức Viên và các cộng sự (2005) được thực hiện tại huyện Tương Dương, tỉnh
Nghệ An với dân tộc Khơ Mú và dân tộc Thái tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã
thực hiện các nội dung: tiến trình phân quyền trong hoạt động quản lý tài nguyên
rừng ở các cộng đồng; chính sách phân quyền tác động như thế nào đến sự thay đổi
tài nguyên rừng ở các vùng khác nhau; và chính sách phân quyền có ảnh hưởng gì
đến sinh kế của người dân. Nghiên cứu đã đưa ra kết quả: tại các điểm nghiên cứu,
chính sách phân cấp trong giao đất giao rừng hiện tại đã không mang lại kết quả
như mong đợi với mục tiêu bảo tồn nguồn tài nguyên, nâng cao chất lượng rừng,
cải thiện cuộc sống sinh kế người dân dựa vào rừng.
Qua các nghiên cứu trên đã cho thấy các tiếp cận sinh kế của người nghèo rất đa
dạng và phong phú và thường bị tác động bởi rất nhiều yếu tố khác nhau. Thường
các nhóm hộ thuộc các thành phần khác nhau sẽ có các phương thức sinh kế khác
nhau để thoát nghèo, tăng thêm thu nhập, giảm áp lực chi phí cuộc sống. Vì vậy,
việc cần thiết đó là tìm ra các nhóm nguyên nhân, các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến
sinh kế người dân và từ đó đề ra các giải pháp để phát triển sinh kế cộng đồng, phát
triển nghành nghề truyền thống của người dân.
2.2.3 Các Báo cáo điều tra đã được thực hiện trong địa bàn
Theo báo cáo điều tra cơ bản thôn: Dự án “Tăng Cường Năng Lực Quản Lý Dựa
Vào Cộng Đồng Của Vườn Quốc Gia Bidoup - Núi Bà”, trang 58, tài liệu lưu hành
nội bộ của tác giả: Hoàng Hữu Cải, Phan Triều Giang và nhóm nghiên cứu1, tháng
06 năm 2010. Về sản xuất nông nghiệp, thu hái sản phẩm từ rừng, khai thác lâm sản
để phục vụ cuộc sống là hoạt động sinh kế rất phổ biến của những cộng đồng dân
9
 


 

tộc thiểu số sống gần rừng. Họ dùng để xây nhà, lấy gỗ củi từ rừng, tre nứa làm vật

dụng trong gia đình và nông cụ. Tuy nhiên theo quy chế hiện hành, mọi sự tiếp cận
và sử dụng tài nguyên rừng của người dân vào rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đều
bị cấm. Hiện tại, việc thu hái các sản phẩm từ rừng của người dân trong các thôn đã
được điều tra là không đáng kể. Vì các loại lâm sản ngoài gỗ không được phong
phú như trước nữa, các loại động vật rừng cũng đã giảm đi đáng kể. Báo Cáo đã chỉ
ra được mục tiêu nhằm để phát hiện các vấn đề của cộng đồng một cách đúng đắn
cho công tác phát triển và thách thức chính về sinh kế trong tương lai của cộng
đồng người dân ở địa bàn là việc tạo cơ hội việc làm cho số dân trẻ sẽ sớm gia nhập
vào lực lượng lao động.
Cũng theo báo cáo kết quả: “Đánh Giá Nông Thôn Có Sự Tham Gia Cho Dự Án
Nâng Cao Năng Lực Quản Lý Dựa Vào Cộng Đồng Của Vườn Quốc Gia Bidoup –
Núi Bà”, trang 87, tài liệu lưu hành nội bộ của tác giả Hoàng Hữu Cải, Phan Triều
Giang và nhóm nghiên cứu1, tháng 01 năm 2011. Báo cáo đã nói lên tổng quan về
sự quan trọng và cần thiết của các nguồn sinh kế phi nông nghiệp của người Lạch
tại thôn Bonnơr B và Bon Dơng I như: Nghề đan gùi là một nghề truyền thống của
người dân Lạch. Gùi đã từng là phương tiện duy nhất để người dân mang các sản
phẩm lấy từ rừng về nhà. Hiện tại, mặc dù xe máy được sử dụng nhiều để vận
chuyển hàng hóa nhưng gùi vẫn còn được dùng như một vật không thể thay thế.
Nghề đan chiếu cũng là một truyền thống lâu đời của người Lạch. Có ba kích thước
chiếu thường được đan đó là cỡ lớn (1.3 m x 3 m), cỡ trung bình (1.3 m x 2 m), và
cỡ nhỏ (0.7 m x 2 m). Các loại chiếu này thường được làm bằng cây lát, một loại
lách mọc trong các vùng đầm lầy trong khu vực. Người Lạch thường thu hái chúng
vào mùa khô ở khu vực Đa Sar. Người dân thường dành một hoặc hai ngày cho một
chuyến thu hái lát về làm chiếu. Lát được phơi khô trong bóng râm để có độ dẽo.
Người dân thường dùng một thanh tre để tách ép lát thành nan mỏng. Lát chẻ ra
được loại bỏ các thân gãy. Lát sau đó có thể nhuộm màu tự nhiên từ chàm và các
loại cây rừng khác.
                                                            
1


Bùi Việt Hải, Đặng Đình Bôi, La Vĩnh Hải Hà, Nguyễn Quốc Bình, Đặng Hải Phương, Nguyễn Thị
Kim Tài, Nguyễn Thị Lan Phương, Nguyễn Đức Thành, Phạm Văn Hiền.

10
 


 

Như vậy, những sinh kế này nên được tổ chức và quản lý nếu chúng được lựa chọn
như là một kênh cho phát triển cộng đồng. Để giúp người dân phát triển những
nghề nghiệp này, một số năng lực mà người tham gia cần phải được nâng cao, bao
gồm kiến thức và kỹ thuật (kỹ năng dệt, đan lát, thiết kế sản phẩm, quản lý chất
lượng, ngoại ngữ, kiến thức về thực vật, chim...)

11
 


×