VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ MINH THUẬN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI DÂN
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI HUYỆN
DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ MINH THUẬN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI DÂN
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI HUYỆN
DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Thị Hoài Lê
Hà Nội - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sỹ khoa học: “Thực hiện
chính sách hỗ trợ người dân khi Nhà nước thu hồi đất tại huyện Duy
Tiên, tỉnh Hà Nam” là do tôi thực hiện với sự hướng dẫn khoa học của
PGS, Tiến sĩ. Nguyễn Thị Hoài Lê. Đây không phải là bản sao chép của bất
kỳ một cá nhân, tổ chức nào. Các số liệu, nguồn thông tin trong luận văn là
do tôi thu thập, điều tra, trích dẫn và tham khảo.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung mà tôi
đã trình bày trong Luận văn này.
Duy Tiên, ngày tháng
năm 2018
Tác giả
Đinh Thị Minh
Thuận
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện được luận văn tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực của bản
thân, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới các thầy cô giáo ở
Học viện khoa học xã hội đã luôn quan tâm và tận tình truyền đạt những
những kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học tập và rèn luyện tại
trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thị
Hoài Lê - Trưởng bộ môn Tài chính - Ngân hàng, Học viện KHXH người
hướng dẫn trực tiếp, đã tận tình hướng dẫn, định hướng và tạo điều kiện
cho tôi trong suốt thời gian thực hiện Luận văn thạc sỹ này.
Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo UBND huyện Duy Tiên, tập thể
cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm phát triển quỹ đất,
Chi cục Thống kê huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, đã tận tình giúp đỡ để
tôi hoàn thành công việc.
Trân trọng cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ tôi thực hiện
đề tài.
Cuối cùng, tôi xin dành lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn
bè những người quan tâm động viên, đồng thời là chỗ dựa tinh thần lớn
giúp tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong suốt thời gian học tập
và làm Luận văn vừa qua.
Do thời gian và điều kiện nghiên cứu của học viên có hạn, chắc
không tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong các Thầy, Cô, bạn bè,
đồng nghiệp, các nhà quản lý thông cảm. Tác giả mong nhận được những
góp ý chân thành để tác giả hoàn thiện nội dung công trình.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Đinh Thị Minh
Thuận
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Nội dung viết tắt thay thế
11
BDA
Ban dự án
1
BT
Bồi thường
12
GPMB
Giải phóng mặt bằng
2
HT
Hỗ trợ
4
NN
Nhà nước
10
PTQĐ
Phát triển quỹ đất
8
QLCT
Quyền lực chính trị
5
QLDA
Quản lý dự án
9
QLNN
Quản lý nhà nước
3
TĐC
Tái định cư
6
UBND
Uỷ ban nhân dân
7
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
STT
Hình
1
Hình
Nội dung
Bản đồ hành chính huyện Duy Tiên
Trang
30
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, giữ vai trò rất quan trọng trong phát
triển kinh tế - xã hội và sự ổn định đời sống của người dân. Trong quá trình phát
triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc thu hồi đất để phục
vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế - xã hội là một quá
trình tất yếu, song công tác này đã tác động rất lớn đến người bị thu hồi đất. Để bù
đắp cho họ một phần thiệt thòi đó, Nhà nước ta đã ban hành chính sách bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư dành cho người bị thu hồi đất, từng bước hoàn thiện theo
hướng tạo điều kiện ngày càng tốt hơn cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống
và sản xuất. Đảng ta trong quá trình lãnh đạo đất nước luôn quan tâm đến việc bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư, đã đề ra nhiều chủ trương đường lối bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư trong quá trình giải phóng mặt bằng.
Tuy nhiên, đất đai là vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, trong khi các
quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thường xuyên thay đổi dẫn tới tình
trạng so bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự
án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm. Mặt khác, Luật đất đai 2003 chưa có
cơ chế bắt buộc để bảo đảm có quỹ đất và nguồn vốn xây dựng khu tái định cư
trước khi thu hồi đất; chất lượng các khu tái định cư được xây dựng cũng chưa đáp
ứng yêu cầu “có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”; chưa chú trọng
tạo việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi; việc lập và tổ chức
thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại một số dự án còn thiếu kiên
quyết, thiếu dân chủ, công khai, minh bạch; năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ
làm công tác giải phóng mặt bằng ở nhiều nơi còn chưa đáp ứng yêu cầu; chưa phát
huy vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia thực hiện. Một số địa phương thiếu
sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền,
vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật hoặc né tránh,
thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc giải phóng mặt bằng bị
kéo dài nhiều năm. Có thể nói một cách khái quát rằng các chính sách về bồi
1
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất còn thiếu đồng bộ, chưa thống
nhất và chưa tạo được đầy đủ căn cứ pháp lý để triển khai trong thực tiễn.
Duy Tiên là một trong 6 huyện, thành phố của tỉnh Hà Nam. Tỉnh Hà Nam
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TU ngày 2/5/2003 của BCH Đảng bộ tỉnh về đẩy
mạnh phát triển CN-TTCN. Thực hiện Nghị quyết số 08 của Tỉnh ủy, Huyện ủy
Duy Tiên đã ban hành Nghị quyết số 15- NQ/HU, ngày 5-6-2003 của BCH Đảng bộ
huyện về phát triển CN-TTCN, dịch vụ trên địa bàn, phấn đấu trở thành huyện trọng
điểm phát triển công nghiệp của tỉnh. Vì vậy, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất là nhiệm vụ tiền đề, tiên quyết và đóng vai trò rất quan
trọng đối với quá trình thực hiện của mỗi dự án. Từ thực tiễn cho thấy việc áp dụng
chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ khi có Luật
đất đai 2003 đến nay đang gặp phải rất nhiều vướng mắc, nhất là đối với chính sách
thu hồi đất sản xuất đã ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thực hiện các dự án nói
riêng, sự phát triển kinh tế, an sinh xã hội nói chung. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
tình trạng này, trong đó phải kể đến chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư còn chưa đồng bộ, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, quá trình thực
hiện còn cứng nhắc, bị động và thiếu sự linh hoạt, chưa thực sự chú ý lắng nghe các
ý kiến đóng góp từ phía người dân bị thu hồi đất. Những tồn tại, vướng mắc trên do
cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, có cả nguyên nhân do chính sách và
nguyên nhân do những người thực thi chính sách. Điều này cho thấy chúng ta cần
tiếp tục nghiên cứu, tìm ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác thực hiện chính
sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vào thực tiễn. Chính
vì vậy tác giả chọn đề tài: "Thực hiện chính sách hỗ trợ người dân khi Nhà nước
thu hồi đất tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam" để trả lời cho câu hỏi: Huyện Duy
Tiên, tỉnh Hà Nam cần có những giải pháp gì để tăng cường công tác thực hiện
chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất? Để trả lời cho
câu hỏi này, đề tài cần làm rõ những vấn đề như sau: thực trạng công tác bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Duy Tiên,
tỉnh Hà Nam từ khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực cho đến nay; đã có thành công,
hạn chế và nguyên nhân gì; cần có những giải pháp gì góp phần tăng cường công
2
tác thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
trên địa bàn Huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam để đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên
liên quan?
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước đây đã có một số công trình khoa học, các bài báo, luận văn, hội
thảo nghiên cứu về lĩnh vực này dưới nhiều khía cạnh cả về lý luận và thực tiễn,
tiêu biểu như các công trình nghiên cứu của các tác giả như:
Hồ Huy Thành, 2010. Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở
một số dự án trên địa bàn tỉnh hà Tĩnh. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội: Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại một
số dự án để tìm ra những nguyên nhân, yếu tố tác động đến các đối tượng bị thiệt
hại khi nhà nước thu hồi đất để từng bước tìm ra các giải pháp thích hợp nhằm đẩy
nhanh tiến độ thực hiện bồi thường, hỗ trợ đất đai, tài sản, vật kiến trúc, hoa màu,
cây cối và tái định cư đối với các hộ bị ảnh hưởng. Thu thập và phân tích các tài
liệu, số liệu điều tra nhằm xác định nguyên nhân, yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở đến
công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Lê Thị yến, 2011. Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất qua
thực tiễn áp dụng tại địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Luận văn thạc sĩ
Luật học: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.
Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường từ khi luật đất đai
2003 có hiệu lực đến nay tại địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Qua đó chỉ ra
các quy định phù hợp, chưa phù hợp của pháp luật về BT, HT, TĐC khi nhà nước
thu hồi đất. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.
Vũ Mạnh Thía, 2011. Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Tiền
hải, tỉnh thái Bình. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà
Nội: Nghiên cứu việc thực hiện chính sách BT, HT, TĐC khi nhà nước thu hồi đất
tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình qua các thời kỳ; đề xuất các giải pháp nhằm
hoàn thiện chính sách về BT, HT, TĐC phù hợp với tình hình thực tiễn, ổn định đời
sống nhân dân, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất trong thời gian tới.
3
Phạm Anh Tuấn, 2013. nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện chính
sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn TP Hải
Phòng. Luận văn thạc sỹ, trường ĐHKHTN- ĐHQGHN. Phân tích hệ thống pháp
luật hiện hành về chuyển dịch đất đai gồm cơ chế thu hồi đất của người đang sử
dụng đất để giao cho các dự án đầu tư, cơ chế thực hiện BT, HT, TĐC và cơ chế
giải quyết các khiếu nại của dân để tìm ra những điểm chưa hợp lý, gây trở ngại cho
quá trình thực thi pháp luật. Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp
luật, tổ chức bộ máy, triển khai thực hiện tạo được phương thức làm tốt cho thành
phố Hải Phòng.
Cao Đại Nghĩa, 2014. Thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư
khi nhà nước thu hồi đất tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ,
trường Đại học kinh tế- ĐHQG Hà Nội: Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở thực tiễn
về BT, HT, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất; phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện
chính sách BT, HT, TĐC khi nhà nước thu hồi đất, chỉ ra những kết quả đạt được,
những tồn tại , hạn chế, nguyên nhân của công tác BT, HT, TĐC tại huyện Đông
Anh, TP Hà Nội; đề xuất các giải pháp để hoàn thiện, nâng cao tính khả thi của
chính sách BT, HT, TĐC khi nhà nước thu hồi đất.
Các đề tài và công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến vấn đề chính
sách pháp luật về BT, HT, TĐC khi nhà nước thu hồi đất ở những khía cạnh khác
nhau. Các công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu nghiên cứu về vấn đề bồi thường
mà chưa đi sâu nghiên cứu việc thực hiện chính sách BT, HT, TĐC và vấn đề sinh
kế cho người có đất bị thu hồi. Đặc biệt chưa có công trình khoa học nào nghiên
cứu sâu đến chính sách GPMB đảm bảo hài hòa lợi ích của cả 3 bên: Nhà nước, nhà
đầu tư và người dân có đất bị thu hồi. Đến nay cũng chưa có công trình khoa học
nào nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề: Thực hiện chính sách hỗ trợ người dân khi
Nhà nước thu hồi đất tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Mặc dù vậy, các công
trình khoa học đã được công bố là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc
nghiên cứu và viết luận văn này. Trên cơ sở đó, luận văn tiếp tục nghiên cứu
theo hướng chuyên sâu, cụ thể trên phạm vi huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam nhằm
chỉ rõ những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của việc thực
4
hiện chính sách BT, HT, TĐC khi nhà nước thu hồi đất, từ đó đề xuất giải pháp
nhằm tăng cường công tác BT, HT, TĐC khi nhà nước thu hồi đất tại huyện Duy
Tiên, tỉnh Hà Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách hỗ trợ người
dân khi Nhà nước thu hồi đất.
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách này tại huyện Duy Tiên,
tỉnh Hà Nam.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác thực hiện chính sách bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn Huyện Duy Tiên,
tỉnh Hà Nam trong thời gian tới nhằm giải quyết hài hòa lợi ích giữa các bên liên
quan là Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan lý luận cơ bản về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
đối với người dân khi Nhà nước thu hồi đất
- Phân tích thực trạng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa
bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác thực hiện chính sách
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người dân khi Nhà nước thu hồi đất nói
chung và tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam nói riêng.
4. Đối tượng và nội dung nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn: là chính sách bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu về chính sách của Nhà nước và tỉnh bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
5
- Về thời gian: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách của Nhà
nước và của tỉnh khi thu hồi đất từ thực tiễn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
- Về nội dung: nghiên cứu việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư trên địa bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thông qua những dự án giải
phóng mặt bằng trên địa bàn huyện
5. Phương pháp luận và phưương pháp nghiên cứu
5.1. Cách tiếp cận nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công kết hợp tiếp
cận từ trên xuống (dựa trên cơ sở các chính sách ban hành để thực hiện) với tiếp cận
từ dưới lên (quá trình tổ chức thực hiện chính sách ở cơ sở theo chu trình thực hiện
chính sách với sự tham gia của các chủ thể thực hiện chính sách).
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị Nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Duy Tiên là sự cụ thể hóa các chính sách chung
của Luật Đất đai, các Nghị định và các thông tư hướng dẫn thi hành cho phù hợp
với tình hình thực tế của tỉnh Hà Nam nói chung và huyện Duy Tiên nói riêng, cũng
như tuân thủ chế độ phân cấp quản lý đất đai, tài chính của Nhà nước. Nội hàm
chính sách bao gồm cả nội dung chính sách lẫn phương thức tổ chức thực hiện
chính sách.
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định
lượng, trong đó có:
- Phương pháp thu thập thông tin: được sử dụng để thu thập, phân tích và
khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm
các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành ở
Trung ương và tỉnh Hà Nam, huyện Duy Tiên; các công trình nghiên cứu, các báo
cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới chính sách và thực hiện chính sách BT, HT, TĐC
nói chung và BT, HT, TĐC tại huyện Duy Tiên nói riêng.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng để phân tích và tổng
hợp các quy định của pháp luật về BT, HT, TĐC khi nhà nước thu hồi đất nói chung
6
và các thông tin về thực tiễn áp dụng BT, HT, TĐC tại các dự án trên địa bàn huyện
Duy Tiên, tỉnh Hà Nam nói riêng.
- Phương pháp thống kê mô tả: được sử dụng trong tiến hành thu thập tài
liệu, số liệu báo cáo, thống kê, tính toán để tập hợp thành các chuỗi số liệu phản ánh
thực trạng phục vụ cho việc phân tích và đánh giá kết quả thực hiện chính sách BT,
HT, TĐC ở địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích và đánh giá chính sách: Tìm hiểu các chính sách
hiện hành, các nghiên cứu đã có về chính sách trong lĩnh vực giải phóng mặt bằng,
đánh giá các quan điểm của các tác giả, những điểm hợp lý và chưa hợp lý từ đó đề
ra các kiến giải theo cách tiếp cận của nhóm nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên gia: được sử dụng để tham vấn và kiểm nghiệm các
phân tích, đánh giá cũng như các đề xuất về thực hiện chính sách BT, HT, TĐC ở
địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp xã hội học: Thu thập các dữ liệu về thực trạng kết quả hoạt
động xây dựng chính sách giải phóng mặt bằng; thu thập quan điểm, đánh giá của
cán bộ trực tiếp làm công tác giải phóng mặt bằng, cán bộ trực tiếp xây dựng, hoạch
định chính sách và trực tiếp nguời dân được hưởng chính sách; quan điểm và giải
pháp của các đối tượng để nâng cao hiệu quả xây dựng và thực thi chính sách giải
phóng mặt bằng.
- Phương pháp so sánh và minh họa bằng các bảng biểu, hình ảnh tài
liệu được sử dụng để góp phần nâng cao tính tin cậy trong các kết quả nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lí luận
- Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu và biết vận
dụng các kiến thức về đánh giá, phân tích chính sách công để đánh giá thực hiện
chính sách BT, HT, TĐC.
- Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng lý luận về đánh
giá chính sách công trong quá trình triển khai thực hiện nhằm phát hiện các vấn đề
BT, HT, TĐC làm cơ sở và định hướng cho việc đưa ra các khuyến nghị CS nói
chung và các khuyến nghị cho việc thực hiện chính sách tại huyện Duy Tiên, tỉnh
Hà Nam nói riêng.
7
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các phân tích, đánh giá về thực hiện chính sách BT, HT, TĐC tại địa bàn
huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam giúp nhìn nhận rõ hơn những kết quả, những tồn tại
và qua đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy cũng như khắc phục tồn tại nhằm thực
hiện các mục tiêu của chính sách, khẳng định tính đúng đắn của chính sách. Khi
chính sách được triển khai thực hiện rộng rãi, thì tính đúng đắn của chính sách được
khẳng định ở mức cao hơn, được xã hội thừa nhận, nhất là các đối tượng được thụ
hưởng chính sách.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được kết cấu thành 3
chương:
Chương 1: Tổng quan chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất
Chương 2: Thực trạng chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Chương 3: Giải pháp thực hiện chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. Tổng quan về chính sách công
* Khái niệm chính sách công
Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề
phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau,
nhằm thúc đẩy xã hội phát triển [Giáo trình phân tích về hoạch định chính sách NXB Chính trị Quốc gia năm 2009].
Khái niệm trên đây vừa bao hàm những đặc trưng của chính sách công do Nhà
nước ban hành để tác động đến các đối tượng thuộc cộng đồng một cách ổn định, vừa
thể hiện được bản chất của chính sách là công cụ định hướng của Nhà nước cho mọi
hành vi xã hội đối với các quá trình phát triển. Để đạt được mục tiêu, trước hết chính
sách phải tồn tại trong thực tế, nghĩa là Nhà nước phải hành động thực sự bằng chính
sách. Điều kiện tồn tại chính sách là tổng hòa những hành động tích cực theo định
hướng chính trị của Nhà nước nhằm tác động, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong
từng giai đoạn phát triển. Giữa chính sách kinh tế và chính sách chính trị, xã hội trước
hết có sự thống nhất biện chứng và sự phụ thuộc lẫn nhau. Chính sách xã hội bao giờ
cũng chịu sự chi phối và ràng buộc của các điều kiện kinh tế. Mỗi giai đoạn của sự phát
triển kinh tế đòi hỏi phải có những chính sách xã hội tương ứng với khả năng và điều
kiện của nó.
Chính sách công là một trong những sản phẩm của quá trình quản lý nên khi
quyết định chính sách, chủ thể quản lý cũng phải phân tích đẩy đủ những dữ liệu liên
quan đến chính sách. Do mục tiêu của chính sách tác động đến nhiều đối tượng và ảnh
hưởng lâu dài đến hoạt động của tổ chức nên chủ thể phải xem xét, cân nhắc thật kỹ
mọi bề trước khi ra quyết định. Sau khi ban hành, chính sách trở thành một công cụ
quản lý nên các chủ thể cần phải đánh giá được tính năng tác dụng của chính sách để
sử dụng có hiệu quả loại công cụ đặc biệt này. Muốn duy trì sự tồn tại của công cụ
chính sách các chủ thể cần thường xuyên xem xét về khả năng truyền dẫn ý chí quản lý
9
đến các đối tượng tác động, đánh giá về khả năng tạo động lực, điều tiết các quá trình
vận động của chính sách, về tạo dựng và củng cố mối quan hệ giữa chủ thể và đối
tượng thụ hưởng chính sách.
* Mục tiêu của chính sách công:
- Phục vụ tăng trưởng: Sửa chữa khuyết điểm của thị trường như phân bổ
nguồn lực không hiệu quả.
- Thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội bền vững: sự gia tăng của GDP
hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân theo đầu người trong một thời gian nhất định.
- Đảm bảo ổn định xã hội: Bù đắp, bảo đảm công bằng xã hội; làm nhiệm vụ
nhân đạo, tạo ổn định xã hội; bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.
- Phục vụ mục tiêu chính trị: Đáp ứng mục tiêu chính trị của Đảng cầm
quyền; đem lại uy tín chính trị cho Đảng cầm quyền; ổn định chính trị xã hội.
Chính sách công ở Việt Nam phải đóng góp thực hiện mục tiêu của Đảng
cộng sản Việt Nam: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng là mục tiêu, lý tưởng
của Đảng ta từ trước đến nay, đặc biệt trong bối cảnh phức tạp của tình hình kinh tế
và chính trị thế giới, cũng như quá trình phát triển kinh tế thị trường, toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế như hiện nay ở nước ta.
- Phục vụ mục tiêu xã hội chủ nghĩa: An sinh xã hội, công bằng, dân chủ,
văn minh. Bằng sự tiếp cận thực tiễn, chính sách công phải đóng góp cho việc bảo
đảm an sinh xã hội được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
* Các tiêu chí cơ bản để đánh giá trong phân tích chính sách công:
- Tiêu chí đánh giá tính khả thi về chính trị: Các chính sách công để được lựa
chọn cần phải được đảm bảo tính khả thi về mặt chính trị, bởi vì nếu chính sách
công không được các nhà lãnh đạo cấp trên, các quan chức cao cấp ủng hộ thì nó sẽ
có rất ít cơ hội được chấp nhận và thông qua. Chính sách có được chấp nhận thì mới
được thực hiện. Vì vậy, các chính sách công được lựa chọn phải có giá trị thuyết
phục về mặt chính trị.
- Tiêu chí về tính khả thi trong tác nghiệp hành chính: Tiêu chí này sẽ đo
lường khả năng tổ chức thực hiện chính sách công được lựa chọn trong thực tế, nhất
là các điều kiện về hành chính.
10
- Tiêu chí về tính khả thi trong kỹ thuật: Tiêu chí này được sử dụng để đo
lường chính sách công có đạt được kết quả đầu ra như mong muốn hay không.
- Tiêu chí về tính khả thi trong kinh tế, tài chính: Tiêu chí này sẽ đo lường
những chi phí và lợi ích mà chính sách công được lựa chọn sẽ mang lại. Lợi ích có
thể trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể là lợi ích trước mắt hoặc lợi ích lâu dài, có thể
định lượng được hoặc không...
Như vậy, tiêu chí trong phân tích chính sách công là các chuẩn mực để nhà
phân tích dựa vào đó phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án chính sách
khác nhau.
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư
1.2.1 Mục tiêu, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư
- Khái niệm: Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là tổng thể các
quan niệm, chủ trương, phương tiện và hành động của các cơ quan nhà nước trong
lĩnh vực BT, HT, TĐC đối với người dân có đất bị thu hồi nhằm đạt tới sự hài hòa,
hợp lý về lợi ích, hiệu quả và phát triển bền vững.
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Nhà nước là căn cứ quan
trọng mà dựa vào đó để xác định nội dung bồi thường, mức độ bồi thường, giá bồi
thường và phương án TĐC, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ sản xuất, ổn định
đời sống cho người dân bị thu hồi đất.
- Mục tiêu của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
Thứ nhất: Đảm bảo quyền và lợi ích của người sử dụng đất, người sở hữu
nhà ở.
Thứ hai: Khuyến khích người dân giao đất.
Thứ ba: Ổn định cuộc sống, ổn định việc làm cho người dân mất đất.
Thứ tư: Góp phần thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, xây dựng
và phát triển nhà ở, phát triển kinh tế - xã hội.
- Nội dung của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư :
Quy định mức và phương thức bồi thường
11
Quy định hỗ trợ người bị thu hồi đất
Quy định phương thức và mức hỗ trợ TĐC
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
Cơ sở pháp lý liên quan đến việc thu hồi đất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Hoạt động giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
quyền sở hữu nhà ở
Chính sách định giá quyền sử dụng đất của Việt Nam
Năng lực tổ chức thực hiện của cơ quan thực thi chính sách chính sách BT,
HT, TĐC.
1.2.2. Các khái niệm thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
* Các khái niệm
- Khái niệm thu hồi đất: Theo Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 đưa
ra khái niệm: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử
dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của
người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”.
- Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Theo Khoản 12 Điều 3
Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 đưa ra khái niệm “Bồi thường về đất là việc Nhà
nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử
dụng đất”.
- Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Theo Khoản 14 Điều 3 Luật
Đất đai sửa đổi năm 2013 đưa ra khái niệm: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và
phát triển”.
- Khái niệm tái định cư: Theo Từ điển Tiếng Việt: Tái định cư được hiểu là:
Đến một nơi nhất định để sinh sống lần thứ hai (lại một lần nữa).
Theo Khoản 3 Điều 42 Luật Đất đai năm 2003 chỉ quy định: "Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư
trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất mà
phải di chuyển chỗ ở...Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất
12
được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà
nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn...".
Vậy tái định cư là việc bố trí chỗ ở mới, ổn định cho người bị thu hồi đất mà
phải di chuyển chỗ ở. Theo quy định của pháp luật thì khu tái định cư phải được xây
dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, đảm bảo đủ điều kiện bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
* Đặc điểm của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Về đối tượng được bồi thường: là những chủ thể sử dụng đất gồm: hộ gia
đình, cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn
giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư tại Việt Nam... khi thỏa mãn
các điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Về phạm vi bồi thường: Chỉ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào nhằm
mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tếxã hội người sử dụng đất mới được bồi thường. Bên cạnh đó, tùy từng trường hợp Nhà
nước sẽ thực hiện các chính sách HT và thực hiện TĐC cho người bị thu hồi đất.
- Về giá đất bồi thường: Nhà nước chủ động trong việc xác định giá đất BT
dựa trên các căn cứ khoa học và tôn trọng giá đất trên thị trường trong điều kiện
bình thường của thửa đất. Các phương pháp tiến hành, kết hợp phương pháp hành
chính và phương pháp thỏa thuận. Ngoài ra cần sử dụng tổng hợp nhiều phương
pháp như: Phương pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, kinh tế...
* Tính chất của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Tính phức tạp: Ở nước ta, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất không thể
thiếu được trong sản xuất nông nghiệp; dân cư sống chủ yếu nhờ vào hoạt động sản
xuất nông nghiêp, trình độ sản xuất chưa cao, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó
khăn, do đó việc định giá bồi thường và tuyên truyền, vận động người dân giao đất
rất khó khăn; chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và sinh kế là điều kiện cần
thiết cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi. Đối với đất ở, nhất là tại khu vực
đô thị được xem là quyền tài sản có giá trị, đặc biệt là đối với các chủ thể sản xuất,
kinh doanh thường có tâm lý ngại di chuyển, thay đổi chỗ ở, điều kiện sống và tập
quán sinh hoạt, gây khó khăn cho việc thu hồi đất. Tình trạng lấn chiếm xây nhà trái
13
phép vẫn diễn ra. Bên cạnh đó, quỹ đất xây dựng cho TĐC còn thiếu, chất lượng
các khu TĐC chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu ổn định cuộc sống ở nơi ở mới.
Do đó việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cho đến nay
vẫn rất phức tạp.
- Tính đa dạng: Việc BT, HT, TĐC thực hiện tại các dự án được diễn ra trên
cac khu vực hành chính với những đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và
trình độ dân trí khác nhau và mục đích sử dụng BT, HT, TĐC khác nhau. Ngoài ra,
mỗi dự án được thực hiện cũng mang những đặc điểm riêng và được tiến hành với
những giải pháp mang tính phù hợp với từng dự án cụ thể.
* Vai trò của chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Liên quan đến vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, vai trò việc thực hiện
chính sách được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước.
Pháp luật đất đai hiện hành quy định: Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng để
phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Khi
thu hồi đất, Nhà nước sẽ phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho
người có đất bị thu hồi để giải phóng mặt bằng. Trong quá trình triển khai công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, cơ sở
hạ tầng xã hội, phát triển công nghiệp và dịch vụ, hiện đại hoá lực lượng quốc
phòng và an ninh đòi hỏi quỹ đất khá lớn Nhà nước cần phải thu hồi.
Thứ hai, góp phần hoàn thiện hệ chính sách, pháp luật đất đai nói chung và
chinh sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nói riêng.
Thông qua quá trình tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đất đai nói
chung và chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nói riêng chúng ta mới có cơ
sở để tổng kết, đánh giá thực tiễn mức độ hoàn thiện, đồng bộ và hiệu quả của hệ
thống pháp luật.
Thứ ba, góp phần khắc phục những hạn chế, yếu kém trong hoạt động của cơ
quan nhà nước trong công tác giải phóng mặt bằng.
14
Thông qua việc thực hiện chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của
cơ quan nhà nước, bằng việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, sự giám sát của các cơ quan dân cử, các phương tiện truyền thông và quan
trọng hơn là sự giám sát của nhân dân, chúng ta sẽ kịp thời phát hiện ra những sai
phạm, yếu kém của các cơ quan cũng như cán bộ có thẩm quyền trong quá trình tổ
chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trên cơ sở đó cấp có thẩm
quyền kịp thời uốn nắn và có những giải pháp đồng bộ để khắc phục những tồn tại,
yếu kém đã phát hiện.
Thứ tư, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hiến định trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước. Theo đó, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuyệt
đối tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước. Nói cách khác, pháp chế là
tính “thiêng liêng” của pháp luật. Thực hiện đúng pháp luật trên thực tế sẽ làm
cho pháp chế được bảo đảm. Trong lĩnh vực thực hiện pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư, các chủ thể (đặc biệt là cơ quan nhà nước) phải thực hiện đầy
đủ các quy định của toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung, nhất là các quy định
của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
1.2.3. Các nguyên tắc và yêu cầu đối với công tác bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư
- Đảm bảo công bằng, công khai và dân chủ: BT, HT, TĐC được thực hiện
thông qua một hoặc kết hợp các hình thức bằng tiền, bằng đất, quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà và phải đảm bảo công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp
luật. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu, quyết định thành công của chính sách
BT, HT, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất.
- Đảm bảo tiến độ kịp thời, chính xác: Đảm bảo kịp thời, chính xác, đúng
tiến độ nhưng đúng luật là những yêu cầu quan trọng và cấp thiết của công tác BT,
HT, TĐC. Điều này không những ảnh hưởng to lớn đến yếu tố kinh tế mà còn ảnh
hưởng đến an ninh, chính trị, văn hóa, xã hội.
15
- Hiệu quả, tiết kiệm ngân sách Nhà nước: Nguyên tắc này đòi hỏi người có
quyền thực hiện chính sách BT, HT, TĐC phải cân nhắc tính toán kỹ càng về mọi
mặt trước khi quyết định để đảm bảo hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội; hiệu quả
cả trong ngắn hạn và dài hạn. Người thực thi công vụ có quyền quyết định chi ngân
sách nhà nước cho BT, HT, TĐC phải tiết kiệm, không được lãng phí nhưng vẫn
đảm bảo lợi ích và điều kiện sống của người bị thu hồi đất. Tổ chức BT, HT, TĐC
theo quy hoạch, tránh tràn lan gây lãng phí.
- Giải quyết hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan:
Về phía Nhà nước: Thu hồi đất nhằm phân phối lại quỹ đất cho phù hợp với
mục tiêu quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện vai trò các lợi
ích kinh tế của các chủ thể liên quan thông qua các chính sách tài chính về đất đai.
Nhà nước vừa là người quyết định chính sách BT, HT, TĐC vừa là người đưa ra các
biện pháp xử lý hài hòa lợi ích của người đang sử dụng đất với lợi ích nhà đầu tư.
Nhà nước cần xác lập cơ chế và có các chế tài ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư
để tránh hiện tượng vì lợi ích của mình mà làm phương hại đến lợi ích của người bị
thu hồi đất.
Đối với nhà đầu tư: Để khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư phát
triển, nhưng trong quá trình thu hồi đất nhà đầu tư không thỏa thuận được với người
dân thì Nhà nước có thể can thiệp vào việc thỏa thuận này sao cho giữa nhà đầu tư
và người dân đều có lợi, không gây thiệt hại cho người bị thu hồi đất, không kéo dài
thời gian cho chủ đầu tư.
Về phía người bị thu hồi đất: Khi thực hiện GPMB không chỉ quan tâm tới
chính sách BT mà cần quan tâm cả chính sách HT, TĐC, đặc biệt là sinh kế cho
người có đất bị thu hồi thông qua cơ chế BT bằng đất, bằng nhà, bằng tiền; hỗ trợ
ổn định cuộc sống; hỗ trợ đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm cho
người bị thu hồi đất; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Tổ chức,
cá nhân khi bị Nhà nước thu hồi nhà ở phải được giải quyết chỗ ở mới ổn định, có
điều kiện bằng hoặc tốt hơn chỗ ở cũ và vấn đề sinh kế cho người dân. Người bị thu
hồi đất cũng cần nhận thức đầy đủ về lợi ích mang lại cho cộng đồng từ việc GPMB
và phải có trách nhiệm bàn giao mặt bằng đúng thời hạn.
16
1.2.4. Phạm vị, đối tượng và điều kiện được nhận bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư
- Phạm vi: Theo quy định của Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 và các văn bản
hướng dẫn thi hành thì Nhà nước thu hồi đất trong một số các trường hợp nhất định.
Tuy nhiên, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chỉ được thực hiện trong trường hợp
Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế- xã hội
- Đối tượng được BT, HT, TĐC: Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín
ngưỡng, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ
chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi và có đủ điều kiện
được bồi thường đất, tài sản thì được bồi thường theo quy định; trường hợp sau khi
bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở thì được bố trí TĐC.
- Điều kiện được bồi thường:
Về bồi thường đất: Người bị thu hồi đất phải có một trong các điều kiện như:
Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định giao đất của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền; giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật; giấy tờ thanh lý, hóa giá, mua nhà ở gắn liền với đất ở thuộc quyền sở hữu Nhà
nước; bản án có hiệu lực của tòa án nhân dân về việc giải quyết tranh chấp nhà ở
gắn liền với quyền sử dụng đất hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp đất đại.
Đối với tài sản trên đất: Người có tài sản trên đất hợp pháp thì được bồi
thường theo giá trị hiện có của tài sản. Nếu tài sản trên đất không hợp pháp thì tùy
theo trường hợp cụ thể được UBND tỉnh xem xét bồi thường hoặc hỗ trợ. Đối với
nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng
giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ
Xây dựng ban hành.
- Điều kiện được hỗ trợ:
Hỗ trợ di chuyển: Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di
chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ kinh phí để di chuyển.
17
Hỗ trợ tái định cư: Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở mà
không có chỗ ở nào khác thì được giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư.
Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất: Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp
sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp từ 30 đến 70% diện
tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian
6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở, thu
hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời
sống trong thời gian 12 tháng, nếu không phải di chuyển chỗ ở và 24 tháng nếu phải
di chuyển chỗ ở; nếu phải di chuyển đến địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng. Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu
được tính bằng tiền tương đương 30kg gạo trong 1 tháng theo thời giá trung bình tại
địa phương.
Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm: Hộ gia đình, cá nhân trực
tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp được hỗ trợ chuyển
đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo một trong các hình thức bằng tiền hoặc bằng
đất ở hoặc nhà ở hoặc đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Nếu người được hỗ
trợ nêu trên có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận còn các cơ sở đào tạo
nghề và được miễn học phí đào tạo cho một khoá học đối với các đối tượng trong
độ tuổi lao động.
Hỗ trợ khác: Pháp luật đất đai không quy định các biện pháp hỗ trợ khác cụ thể là
gì mà giao cho UBND cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế địa phương quyết định biện
pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi
đất. Trường hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định
- Điều kiện được tái định cư: Khi hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi
đất ở mà không có chỗ ở nào khác thì được giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư hoặc
bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị thu hồi và phù hợp với thực tế của địa
phương. Trường hợp diện tích đất bi thu hồi lớn hơn hạn mức giao đất ở thì UBND
cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất của địa phương và số nhân khẩu của hộ gia đình xem
xét, quyết định giao thêm một phần diện tích đất ở cho người bị thu hồi đất, nhưng
không vượt quá diện tích đất bị thu hồi.
18