TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA LÂM NGHIỆP
---٭٭٭---
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU CHỌN LỌC CÂY KEO LÁ LIỀM LÀM
VẬT LIỆU ĐỂ NHÂN GIỐNG CHO TỈNH QUẢNG TRỊ
Ngành: Lâm nghiệp
Mã số : D620201
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Đặng Thái Dương
NCS. Ths. Nguyễn Thị Liệu
Sinh viên thực hiện : Trần Anh Trung
Lớp
: Lâm Nghiệp 43, Huế
Khoá học
: 2009- 2013
Bộ môn: Lâm sinh
HUẾ - 2013
LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Nghiên cứu chọn lọc cây Keo lá liềm làm vật liệu để nhân giống
cho tỉnh Quảng Trị” đƣợc hoàn thành theo chƣơng trình đào tạo kỹ sƣ lâm
nghiệp khoá 43 trƣờng Đại học Nông lâm Huế giai đoạn 2009 - 2013.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trƣờng Đại học Nông lâm
Huế, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp cùng các thầy cô giáo trong nhà trƣờng
đã dạy bảo, giúp đỡ và tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá
trình học tập tại trƣờng.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đặng Thái
Dƣơng, NCS. Ths Nguyễn Thị Liệu ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, truyền đạt
kiến thức, kinh nghiệm quý báu, chỉ bảo cho em trong quá trình thực tập và hoàn
thành chuyên đề này.
Xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Thông tin Thƣ viện - Trƣờng Đại học
Nông lâm Huế; bộ phận Thông tin tƣ liệu - Phòng Kế hoạch Khoa học Trung
tâm Khoa học Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ đã cung cấp cho em nhiều tài liệu cần
thiết phục vụ cho đề tài này. Xin gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ UBND xã
Triệu Trạch - Triệu Phong, Gio Thành - Gio Linh, Cam Hiếu - Cam Lộ; đặc biệt
là những ngƣời đã trực tiếp giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu ngoài
hiện trƣờng.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực và cố gắng, song do hạn chế về mặt thời gian
và điều kiện nghiên cứu nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn
chế nhất định. Em rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo,
cùng toàn thể các bạn để đề tài trở thành một tài liệu hữu ích trong nghiên cứu
khoa học cũng nhƣ sử dụng cho thực tiễn.
Huế, ngày 19 tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Trần Anh Trung
2
DANH MỤC CÁC CHỬ VIẾT TẮT DÙNG TRONG BÁO CÁO
Giải nghĩa
TT
Ký hiệu
1
D1.3
Đƣờng kính thân cây tại vị trí 1,3 m.
2
Hvn
Chiều cao vút ngọn.
3
Hdc
Chiều cao dƣới cành.
4
Dt
Đƣờng kính tán.
5
CEC
Dung tích trao đổi cation của đất (Dung tích hấp thụ).
6
OM
Chất hữu cơ tổng số.
7
OC
Cac bon hữu cơ tổng số.
8
X
Gía trị trung bình x.
9
S2
Phƣơng sai.
10
Sx
Sai tiêu chuẩn của giá trị x.
11
Sx%
Độ lệch chuẩn.
12
OTC
Ô tiêu chuẩn.
13
TB
14
A.cr.cl.1.29
15
A.cr.tp.1.9
16
A.cr.gl.2.44
Giá trị trung bình.
Ký hiệu cây là Acacia crassicarpa ở Cam lộ, ô tiêu chuẩn số
1 và vị trí cây số 29.
Ký hiệu cây là Acacia crassicarpa ở Triệu phong, ô tiêu
chuẩn số 1 và vị trí cây số 9.
Ký hiệu cây là Acacia crassicarpa ở Gio ling, ô tiêu chuẩn
số 1 và vị trí cây số 44.
3
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ DÙNG TRONG BÁO CÁO
Hình 4.1. Vị trí địa lý tỉnh Quảng Trị ............................................................. 26
Hình 4.2. Địa hình tỉnh Quảng Trị .................................................................. 26
Hình 4.3. Thực bì vùng đất đồi ....................................................................... 37
Hình 4.4: Cách bố trí cây trồng trong trồng rừng thuần loài .......................... 54
Hình 4.5. Hình ảnh thảm thực bì vùng cát ...................................................... 63
Hình 4.6. Hình ảnh thảm thực bì vùng đồi núi ............................................... 63
Hình 4.7. Khu vực nghiên cứu ........................................................................ 64
Hình 4.8. Hình ảnh 6 cây vƣợ trội đƣợc chọn................................................. 65
Hình 4.9 Đo đếm lấy số liệu............................................................................ 66
Hình 4.10 Hoa keo lá liềm .............................................................................. 66
4
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG BÁO CÁO
Bảng 1. Tiêu chí, thang điểm lựa chọn cây trội .............................................. 20
Bảng 4.1. Đặc điểm hình thái phẫu diện đất ................................................... 35
Bảng 4.2. Tính chất lý học cơ bản của phẫu diện ........................................... 36
Bảng 4.3. Một số chỉ tiêu hoá học cơ bản của phẫu diện............................... 36
Bảng 4.4. Cation trao đổi trong các tầng đất của phẫu diện ........................... 36
Bảng 4.5.. Số liệu phân tích lý, hoá học phẫu diện ......................................... 38
Bảng 4.7. Đặc điểm sinh trƣởng đƣờng kính keo lá liềm ............................... 40
Bảng 4.6. Vị trí, diện tích, năm trồng rừng keo lá liềm tỉnh quảng trị ........... 39
Bảng 4.8. Đặc điểm sinh trƣởng chiều cao keo lá liềm .................................. 40
Bảng 4.9. Đặc điểm sinh trƣởng đƣờng kính tán keo lá liềm ......................... 41
Bảng 4.10. Sinh trƣởng đƣờng kính D1.3 (cm) của các rừng keo trồng ở các
vùng khác nhau................................................................................................ 42
Bảng 4.11. So sánh sinh trƣởng H 1.3 (m) ......................................................... 42
Bảng 4.12. So sánh sinh trƣởng D T (m) .......................................................... 43
Bảng 4.13. Số liệu đo đếm sinh trƣởng và chọn lọc cây trội trong ô tiêu chuẩn
vùng đất đồi núi Huyện Cam Lộ ..................................................................... 44
Bảng 4.14. Số liệu đo đếm sinh trƣởng và chọn lọc cây trội trong ô tiêu chuẩn
vùng đất cát Huyện Gio Linh .......................................................................... 46
Bảng 4.15. Số liệu đo đếm sinh trƣởng và chọn lọc cây trội trong ô tiêu chuẩn
vùng đất cát Huyện Triệu Phong ..................................................................... 48
Bảng 4.16. Mức độ tổn thƣơng lá do nhiệt độ của 10 dòng keo lƣỡi liềm ..... 50
Bảng 4.17. Cƣờng độ thoát hơi nƣớc của 10 cây trội keo lƣỡi liềm ............... 51
Bảng 4.18. Khả năng giữ nƣớc và phục hồi sức trƣơng của lá: (% so với lƣợng
nƣớc trong lá) .................................................................................................. 51
Bảng 4.19. Kết quả cây trội đã lựa chọn tại khu vực nghiên cứu................... 52
5
Phần I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vào những năm 40 của thế kỷ XX, diện tích rừng nƣớc ta có khoảng 14,3
triệu ha, độ che phủ của rừng đạt khoảng 43% do áp lực của dân số ngày càng
tăng cùng với việc khai thác sử dụng rừng không bền vững, nên diện tích rừng
nƣớc ta ngày càng bị thu hẹp. Đặc biệt, giai đoạn từ 1990 – 1995, tổng diện tích
rừng chỉ còn hơn 9 triệu ha, độ che phủ của rừng còn khoảng gần 28% đất trống
đồi núi trọc cao nhất là 11,768 triệu ha chiếm khoảng 35,7% tổng diện tích tự
nhiên. Trong những năm gần đây, đƣợc sự quan tâm của chính phủ nên diện tích
rừng cũng nhƣ độ che phủ của rừng ở nƣớc ta đã tăng lên đáng kể. Theo số liệu
thống kê của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đến hết năm 2011 thì diện
tích đất có rừng đã đạt 13.118.773ha, độ che phủ đạt 38,7%. Hơn nữa, ƣớc tính
mỗi năm có khoảng 20ha đất canh tác nông nghiệp bị lấn bởi các đụn cát di
động và nhiều diện tích cát này đã và đang bị sa mạc hóa. Để ngăn chặn, chống
sa mạc hóa tiến đến cải tạo và sử dụng có hiệu quả đất cát ven biển miền trung,
thì trồng rừng phủ xanh đƣợc xem là biện pháp tốt nhất.
Rừng trồng có tác dụng hạn chế và ngăn chặn sự di động của cát, dần dần
tạo ra quá trình chuyển hóa sinh học, cải thiện điều kiện vi khí hậu… là chìa
khóa cơ bản quyết định sự thành công một cách bền vững của tất cả các biện
pháp cải tạo tiếp theo. Trong những năm qua, đã có rất nhiều loài cây đƣợc đƣa
vào gây trồng, song theo một số nghiên cứu của Viên Khoa Học Lâm Nghiệp
Việt Nam cho thấy trong các loại cây gỗ mọc nhanh có thể gây trồng trên vùng
đất cát nƣớc ta gồm: Keo lá tràm, keo tai tƣợng, keo lá liềm, phi lao, các loại
keo chịu hạn… bƣớc đầu qua đánh giá thì cây keo lá liềm là loài có khả năng
sinh trƣởng tốt trên vùng đất cát ven biển miền Trung. Theo tác giả Nguyễn Thị
Liệu – Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ: “Qua điều tra tập đoàn
cây trồng rừng chủ yếu trên đất cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ đã xác định
Keo lá liềm là loài cây có triển vọng nhất. Đây là loài cây có khả năng thích
nghi trong điều kiện khắc nghiệt của đất cát nội đồng, có khả năng sinh trƣởng
6
tốt trên cát nội đồng úng ngập khi đƣợc lên líp, vừa thích hợp trong điều kiện cát
bay cục bộ nhờ bộ rễ đặc biệt phát triển”.
Keo lá liềm (Keo lƣỡi liềm, Keo lá liềm, Keo lƣỡi mác) có tên khoa học là
Acacia crassicarpa A. Cunn. Ex. Benth, thuộc họ trinh nữ (Mimosaceae), Bộ
Đậu (Legumimosa). Cây thân gỗ có thể biến dạng từ thân bụi đến thân gỗ lớn
tùy môi trƣờng sống. Nơi nguyên sản tại các đụn cát ven biển (Australia) là cây
thân bụi cao 2 – 3m, nhƣng bình thƣờng cao 5 – 20m, nơi thích hợp có thể cao
tới 30m, đƣờng kính thân ít khi to quá 50cm, thân cây thẳng, nhiều cành nhánh,
vỏ màu sẫm hay nâu xám, nhiều vết nứt sâu. Rễ phát triển mạnh, có nhiều vi
khuẩn cố định đạm cộng sinh nên vừa có tắc dụng bảo vệ và cải tạo đất tốt, đặc
biệt là các vùng cát trắng ven biển. Lá dày và cứng có thể chịu đƣợc gió, va đập
của cát bay…
Keo lá liềm đƣợc đƣa vào gây trồng ở nƣớc ta vào khoảng năm 1993, hiện
nay là loài cây đƣợc nhiều địa phƣơng ƣu tiên chọn là cây trồng lâm nghiệp
chính cho vùng cát. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chọn tạo, cải thiện giống, tạo ra
giống có tính chống chịu, thích ứng ngày càng cao với điều kiện vùng cát ven
biểm miềm Trung, có khả năng sinh trƣởng nhanh, tạo sinh khối lớn, hiệu quả
kinh tế cao phục vụ cho việc phủ xanh vùng cát ven biển còn quá ít. Một số
nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc khảo nghiệm xuất xứ với kết quả chọn đƣợc
ba xuất xứ Mala, Periden, Dimisisi cho phép đƣa vào gây trồng (theo quyết định
số 13/2005/QĐ-BNN ngày 15 tháng 3 năm 2005 của Bộ Nông Nghiệp Và
PTNT). Hơn nữa, cây giống đƣa vào trồng rừng hiện nay là cây gieo ƣơm từ hạt
với nguồn hạt một phần đƣợc thu hái ở rừng giống chuyển hóa, một phần không
có nguồn gốc nên chất lƣợng rừng trồng chƣa cao.
Hiện nay một số nƣớc có nền lâm nghiệp tiên tiến đã tạo đƣợc năng suất
rừng trồng 40-50m3/ha/năm trên diên rộng, có nơi đạt năng suất 6070m3/ha/năm. Gần đây, với việc đƣa một số giống keo lai và bạch đàn cao sản
vào sản xuất, một số nơi đã đạt năng suất rừng trồng 30-40m3/ha/năm, mở ra
triển vọng mới cho công tác giống và trồng rừng sản xuất ở nƣớc ta. Cùng với
đƣa giống vào sản xuât là việc áp dụng công nghệ nhân giống hom có quy mô
7
hàng trăm ngàn cây/năm ở nhiều lâm trƣờng và hợp tác xã. Nhiều cơ sở nhân
giống bằng nuôi cấy mô cũng ra đời, góp phần vào việc đƣa nhanh các giống
mới có năng suất cao vào sản xuất.
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất trong công tác trồng rừng,
đặc biệt là rừng trồng sản xuất. không có giống đƣợc cải thiện theo mục đích
kinh tế thì không thể đƣa năng suất rừng trồng lên cao. Theo Davison (1996) thì
giống đƣợc cải thiện có thể chiếm đến 50-60% năng suất rừng trồng. Vì thế, cải
thiện giống cây rừng nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lƣợng gỗ và
các sản phẩm mong muốn khác là một yêu cầu cấp bách đối với sản xuất lâm
nghiệp ở nƣớc ta.
Kết hợp sử dụng giống có chất lƣợn di truyền đƣợc cải thiện với việc
trồng đúng lập địa và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thịch hợp là
những biện pháp tổng hợp để tăng năng suất rừng ở nƣớc ta. Mặt khác bảo tồn
nguồn gen cây rừng là một khâu không thể thiếu để tạo cơ sở vững chắc cho
công tác cải thiện giống lâu dài ở nƣớc ta.
Thành tựu về cải thiện giống trong những năm gần đây vừa là sự áp dụng
những thành tựu mới của các nƣớc khác vừa là sự kế thừa những nghiên cứu đã
xây dựng trƣớc đây mà đến nay mới có thể thấy rõ kết quả.
Trong những năm gần đây công tác trồng rừng keo trên đất cát đã và đang
đƣợc nhiều cơ quan chức năng quan tâm đầu tƣ. Trên thực tế diện tích rừng
trồng trên cát những năm gần đây đã tăng đáng kể. Tuy nhiên, hiệu quả của rừng
trồng chƣa đƣợc cao. Để giâm hom cây keo lá liềm ở rừng trồng trên vùng cát là
việc làm cấp thiết, tạo cơ sở cho việc khảo nghiệm, xây dựng các rừng giống,
vƣờn giống phục vụ công tác trồng rừng, đặc biệt là phủ xanh vùng cát ven biển
tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài: “Nghiên cứu chọn lọc cây Keo lá liềm
làm vật liệu để nhân giống cho tỉnh Quảng Trị” đặt ra là rất cần thiết, có ý nghĩa
về cả lý luận và thực tiễn.
8
Phần II
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Trên thế giới
Keo lá liềm (Acacia crassicarpa)thuộc họ Đậu (Fabaceae), bộ Đậu
(Legumimosa). Tên thƣờng gọi Keo lƣỡi liềm, Keo lƣỡi mác.
Tên tiếng Anh: Northern Wallle, Papua New Guinea: Red Wattle, tên
khác Akasia Cook Islands.
Mô tả và đặc tính phân loại: Tập tính của Keo lá liềm thay đổi theo điều
kiện tự nhiên. Ở Papua New Guinea và Irian Jaya, nó phân bố điển hình trong
rừng thƣa và các trảng cây gỗ, bên lề của những vùng cạn nƣớc. Chúng thƣờng
là những cây gỗ nhỏ đến trung bình (cao khoảng 10-15m), với thân thẳng và tán
lá nhiều cành nhánh nặng. Trong những điều kiện thuận lợi hơn, chúng thƣờng
tìm thấy trong những rừng mƣa tái sinh, chúng phát triển đến chiều cao 25-30m,
thân cây thẳng, đƣờng kích cực đại có thể đến 55-60cm. Ở phía bắc Queensland,
Keo lƣỡi liềm đặc trƣng bởi thân cây ngắn và nhỏ, cành nhánh nặng, chiều cao
từ 6-15m, đƣờng kính thân cực đại khoảng 40-45cm. Trong những khu vực rừng
trồng, chúng có thể đƣợc xác định theo nhiều dạng cấu trúc. Cây trồng ở Papua
New Guinea có thể có từ dạng thân đơn, mảnh khảnh đến thân ngoằn ngèo,
khủng khuỷu với nhiều cành nhánh thứ cấp. Cây trồng ở bắc Queensland thƣờng
không có ƣu thế nổi trội, biểu hiện ở nhiều dạng thân khác nhau, hoặc đôi khi
cành nhánh mọc ngang sát mặt đất [14].
Keo lá liềm có lá màu xanh bạc, lá công hình lƣỡi liềm, dài 11-20cm. Hoa
thƣờng năm cánh, cánh mỏng. Quả lớn hình chữ nhật, phẳng, cứng, dày, chiều
dài 5,0-7,5cm, chiều rộng 2-2,5cm (Bentham & Mueller, 1864) [13].
Phân bố tự nhiên và vùng sinh thái: Keo lá liềm phân bố dọc theo bờ
biển, hƣớng đông bắc của Australia, từ gần Townsville tới phần chóp của bán
đảo Cape York phía bắc của Queensland. Ở các tỉnh miền tây Papua New
Guinea loài này phân bố rộng rãi chủ yếu ở khu vực phía nam của sông Fly, gần
Wasua-Duaba. Ngoài ra chúng còn phân bố đến những khu vực lân cận phía
9
đông bắc của Irian Jaya (Indonesia), và tập trung nhiều giữa Merauke và
Erambu. Chúng phân bố từ vĩ độ 80N đến 200N và ở độ cao dƣới 450m so với
mực nƣớc biển [14].
Khả năng thích nghi: Keo lá liềm có thể thích nghi với môi trƣờng axid
mạnh (pH 3,5-6) và đất cát podzol cằn cỗi, nhƣ dạng đất bị úng nƣớc trong suốt
mùa mƣa và khô hạn trong suốt mùa khô. Mặc dù vậy, mật độ nên trồng thƣa để
giảm sự cạnh tranh và áp lực về giới hạn độ ẩm ở những khu rừng trồng có điều
kiện khó khăn, đặc biệt ở những vùng có lƣợng mƣa hàng năm thấp [14].
Một số nghiên cứu cho thấy cây từ Mata (PNG) đã thích nghi với đất
kiềm nhẹ ở Đông Timor, Indonesia. Trong khi đó, cây từ Coen (Qld) lại khó tồn
tại (McKinnell & Harisetijono, 1991). Cây có nguồn gốc PNG rất dễ bị uốn
cong và gẫy bởi gió lốc (Minquan et al. 1989, Casey 1993, Thomson 1993), và
không thích hợp với việc trồng dọc bờ biển ở những khu vực thƣờng xuyên có
gió thổi mạnh. Cây có nguồn gốc bắc Queensland chịu đựng gió lốc tốt hơn
nhƣng sinh trƣởng chậm. Keo lá liềm có thể chịu đƣợc mùa khô kéo dài 6 tháng,
nhiệt độ tối thiểu từ 15-220C và nhiệt độ tối đa từ 31-340C [15].
Nhân giống: Đây là loài đƣợc nhân giống từ hạt (35.000-50.000 hạt/kg).
Việc xử lý hạt đƣợc đề xuất bao gồm ngâm hạt vào nƣớc sôi (100oC) từ 1-2
phút), hoặc giội qua nƣớc sôi (khối lƣợng nƣớc gấp 10 lần khối lƣợng hạt). Cây
non sinh trƣởng nhanh, giai đoạn cây non khoảng 3 tháng tuổi đem trồng là thích
hợp. Ngoài ra có thể nhân giống thành công bằng chiết cành non (khi cây trên 3
tuổi). Việc chiết cành cho việc nhân giống bị ảnh hƣởng bởi tuổi của mẫu.
Phƣơng pháp sau đây đƣợc phát triển cho việc chiết cành ở Riam Kiwa, Nam
Kalimantan, Indonesia. Việc chiết cành đƣợc thực hiện khi bắt đầu mùa mƣa
trên những cành khoẻ (xấp xỉ 2.5cm đƣờng kính), khoảng 30 cm tính từ thân
cây, gần 1/3 phía trên của tán cây. Bóc đi toàn bộ phần vỏ dài khoảng 2.5cm.
Bọc phần vừa cắt với chất dinh dƣỡng đƣợc gói trong than bùn ẩm hoặc xơ dừa,
buộc chặt bên ngoài, kín 2 đầu bằng vải nhựa sạch (khoảng 12.5 x 3 cm). Rễ sẽ
mọc trong khoảng 40-50 ngày, tỉ lệ thành công khoảng 95%. Cành chiết đƣợc
cắt ở phía dƣới của điểm ra rễ, tỉa bớt cành non và đặt vào rêu than bùn ẩm.
10
Trƣớc tiên, cành chiết đƣợc nuôi cho cứng cáp trong nhà có mái che (khoảng 1-2
tháng), rồi sau đem ra trồng. Gần đây công nghệ nhân giống CFF (Clonal
Family Foresttry) đã đƣợc phát triển và áp dụng thành công cho Keo lá liềm tại
Indonesia giải quyết các vấn đề già hoá sớm vật liệu nhân giống ở các loài keo.
Nhân giống mô từ cuống lá Keo lá liềm bƣớc đầu đã đƣợc nghiên cứu bằng việc
sử dụng môi trƣờng MS cải tiến cụ thể nhƣ sau: bổ xung 1-phenyl-3-(thiadiazol5-yl) urea (thidiazuron) (TDZ) and α-naphthaleneacetic acid (NAA) để tạo mô
sẹo; bổ xung 0.5 mg l−1 TDZ and 0.5 mg l−1 NAA đã tạo chồi bất định; bổ xung
0.1 mg l−1 TDZ để kéo dài chồi; và môi trƣờng ½ MS bổ xung 0.5 mg l−1 3indolebutyric acid (IBA) để ra rễ [12].
Sinh trưởng: Keo lá liềm có nguồn gốc PNG sinh trƣởng nhanh trên
những khu vực thuận lợi trong 4 năm đầu. Ở Sai Thong (Thái Lan), cây có
nguồn gốc PNG đạt chiều cao 12.8-14.8m và đƣờng kính 13.2- 14.9 cm trong 3
năm (Harwood, 1991) [16]. Trong khi đó, cây có nguồn gốc bắc Queensland
(Shoteel) đạt đƣợc chiều cao 10.5m và đƣờng kính 9.9cm, ít hơn 50% khối
lƣợng gỗ so với cây có nguồn gốc từ PNG. Cây trồng sinh trƣởng kém hơn ở
Sakaret (Thái Lan), ví dụ cây từ Woroi-Wipim (PNG) đạt đƣợc 9.7m chiều cao
và 8.7cm đƣờng kính. Tuy nhiên, trong thử nghiệm này khối lƣợng sản phẩm
thân cây khô của xuất xứ này cũng đã đƣợc đo đếm và đạt khoảng 84tấn/ha
trong vòng 5 năm (Kiratiprayoon & Williams, 1991), tƣơng đƣơng với mức sinh
trƣởng 34m3/ha/năm. Ở đảo Hải Nam (Trung Quốc), cây của 4 xuất xứ PNG đều
sinh trƣởng chiều cao từ 12,7-14,3 m và đƣờng kính từ 12,5-15,3cm sau 4 năm
(Luangviriyasaeng, 1991). Trong 4 mẫu thử ở Sabah (Malaysia), cây từ 4 xuất
xứ PNG sinh trƣởng đạt 15,4-20,2m chiều cao, và 13,4-18,9 cm đƣờng kính sau
4 năm [18].
Một số nghiên cứu khác cho thấy ở Sarah - Malaysia Keo lá liềm đƣợc
trồng trên đất đá có tầng mặt mỏng và đất cát kết quả H = 15-23m và D1.3 = 1016cm sau 4 năm tuổi, tốt hơn cả Keo lá tràm và Keo tai tƣợng (Nor Aini
Ab.Shukor, Abel Nelson Nang and Kamis Awang, 1998) [21].
11
Trọng lƣợng khô trong không khí của Keo lá liềm là 710kg/m3, sấy khô là
620kg/m3. Ở Papua New Guinea ngƣời ta thƣờng sử dụng gỗ của chúng để đóng
đồ gia dụng, thuyền, ván sàn, gỗ củi và bột giấy [21].
Ở Sumatra – Indonesia Keo lá liềm đƣợc trồng 40.000ha trên đất ẩm, có
độ pH thấp và thỉnh thoảng bị ngập nƣớc. Keo lá liềm trồng trên đất ẩm cho sinh
trƣởng hàng năm thấp hơn Keo tai tƣợng trồng trên đất khô nhƣng do tỷ trọng
của Keo lá liềm lớn hơn so với Keo tai tƣợng nên sản lƣợng bột giấy có thể
ngang bằng, do đó sản lƣợng bột giấy trên một ha vẫn đƣợc chấp nhận [.
Các nghiên cứu về đánh giá biến dị di truyền cho các vƣờn giống Keo lá
liềm cũng đƣợc tiến hành ở nhiều nƣớc nhƣ Indonesia (Arif.N., 1997), Philipine
(Armold & Cuevas, 2003) và Australia (Harwood và cộng sự, 1993). Các tác giả
ghi nhận rằng có sự sai khác rõ rệt giữa các xuất xứ và giữa các gia đình trong
xuất xứ. Tuy nhiên, biến dị di truyền và hệ số di truyền theo nghĩa hẹp về các
chỉ tiêu sinh trƣởng ở mức trung bình (0.25). Theo A.rif, 1997 hệ số di truyền
theo nghĩa rộng về các tính trạng sinh trƣởng của Keo lá liềm ở Indonesia cũng
chỉ ở mức trung bình và có biến động lớn theo các lập địa H 2 = 0,44 - 0,62 cho
chiều cao và H2 = 0.27 - 0.58 cho đƣờng kính [12].
Cùng với A. mangium và A. mearnsii, A. crassicarpa là một trong ba loài
cố định đạm tốt nhất của Bộ đậu và có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo
vệ và khôi phục đất thái hoá do canh tác quá mức hoặc khai thác rừng cạn kiệt ở
vung nhiệt đới. Những loài cây này cung cấp gỗ nguyên liệu giấy, gỗ củi, tanin,
và gỗ lớn. Chúng cũng đƣợc trồng rộng rãi để chóng xói mòn và phục hồi đất.
Keo lá liềm đƣợc xác định là cây có khả năng hấp thụ CO 2 tốt, chính phủ
Australia đã đầu tƣ một dự án lớn để trồng các loài cây có khả năng hấp thụ khí
CO2 trên 9 quốc gia khác nhau trong đó có Việt Nam.
Keo lƣỡi liềm phân bố tự nhiên ở Bắc Bang Queensland Australia, Nam
Papua New Guinea và Irian Jaya của Indonesia từ vĩ độ 80 N đến 200 N. Độ cao
từ 0 - 200m, có khi đến 700 m. Thích ứng đƣợc với các loại đất có độ pH từ 4 8. Có thể chịu đƣợc mùa khô kéo dài 6 tháng. Lƣợng mƣa phù hợp từ 1000 3500 mm. Nhiệt độ tối đa đạt tới 32 - 340C, tối thiểu đạt 15 - 220C [14].
12
Keo lƣỡi liềm là loài cây sinh trƣởng nhanh, có khả năng cố định đạm tự
nhiên, sinh trƣởng đƣợc trên nhiều loại đất khác nhau, là cây chịu lửa, chịu gió,
cát, cạnh tranh đƣợc với cỏ dại, sinh trƣởng đƣợc trên đất nghèo dinh dƣỡng. Ở
Australia Keo lƣỡi liềm đƣợc tìm thấy ở các đồi cát, các sƣờn dốc của các đụn
cát cố định, trên các đụn cát ven biển và các chân đồi. Chúng xuất hiện trên các
loại đất khác nhau kể cả cát biển (chứa nhiều Canxi và Kali), đất cát vàng phát
triển trên đá Granit, đất đỏ phát triển trên núi lửa, đất đỏ vàng phát triển trên
phiến thạch, đất bị xói mòn và đất phù sa. ở Papua New Guinea và ở Indonesia
Keo lƣỡi liềm xuất hiện trên địa hình không không ổn định của phù sa cổ trên
cao nguyên Oriomo. Hầu hết Keo lƣỡi liềm đƣợc tìm thấy trên địa hình thoát
nƣớc tốt, đất có tính Axit mạnh. Tuy nhiên, nó cũng xuất hiện trên những vùng
không thoát nƣớc, thậm chí cả những vùng bị úng ngập trong mùa mƣa và nhanh
chóng khô hạn trong mùa khô, đất đỏ vàng glây hoá và đỏ vàng sét [22].
Nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy với rừng trồng Acacia crassicarpa xuất
xứ Papua New Guinea sau 3 năm đạt 207 tấn sinh khối khô/ha (Visaranata
1989). Ở vùng khô hơn là Ratchaburi - Thái Lan nó có năng suất ngang bằng
Keo lá tràm 40 tấn sinh khối khô/ha (3 tuổi) [18].
Ở Sarah - Malaysia nó đƣợc trồng trên đất đá có tầng mặt mỏng và đất cát
cho kết quả H = 15 - 23m, D1,3 = 10 - 16cm sau 4 năm tuổi, tốt hơn cả
A.auriculiformis và A.mangium (Sim và Gan 1991).
Nhiều nghiên cứu của các nƣớc trong khu vực cho thấy A. crassicarpa
sinh trƣởng ngang bằng hoặc hơn cả A. auriculiformis và A. mangium (các
nghiên cứu ở Thái Lan, Myanma, Trung Quốc, Lào,...) [38, 48, 59]. Các nghiên
cứu của Mianma cho thấy A. crassicarpa sinh trƣởng nhanh, cây 2 tuổi tỷ lệ
sống đạt 95 - 100%, cao 7 - 9,4m, D0 = 7 - 9,6cm [19].
Ở Papua New Guinea ngƣời ta sử dụng A. crassicarpa làm gỗ đóng đồ gia
dụng, thuyền, ván sàn, gỗ củi, bột giấy,... Trọng lƣợng khô trong không khí của
A. crassicarpa là 710 kg/m3, sấy khô là 620 kg/m3 (Clak và cộng sự, 1991 1994) [46].
13
A. crassicarpa đƣợc trồng 40.000 ha ở Sumatra Indonesia trên đất ẩm, có
pH thấp và thỉnh thoảng bị ngập nƣớc. Trong khi A. crassicarpa trên đất ẩm này
cho sinh trƣởng bình quân hàng năm thấp hơn A. mangium trên đất khô nhƣng
do tỷ trọng A. crassicarpa lớn hơn so với A. mangium nên sản lƣợng bột giấy
vẫn bằng nhau, do đó sản lƣợng bột giấy/ha vẫn chấp nhận đƣợc. Từ 40.000 ha
A. crassicarpa cung cấp nguyên liệu cho nhà máy bột giấy thu đƣợc trên 1 tỷ
USD tƣơng đƣơng > 25.000 USD/ha (Stephen Midgley 2000) [23].
A. crassicarpa là một trong ba loài cây cố định đạm tốt nhất thuộc Bộ đậu
Legumimosa (A. crassicarpa, A. magium và A. mearnsii), chúng đóng vai trò
quan trọng trong vùng nhiệt đới nhằm bảo vệ và khôi phục đất thoái hoá do canh
tác quá mức hoặc khai thác rừng quá mức. Những cây này cung cấp gỗ nguyên
liệu giấy, gỗ củi, thức ăn gia súc, Tanin và gỗ lớn. Chúng cũng đƣợc sử dụng
rộng rãi để chống xói mòn và phục hồi đất.
A. crassicarpa đƣợc xác định là cây có khả năng hấp thụ CO2 tốt, chính
phủ Australia đã đầu tƣ một dự án lớn để trồng các loài cây có khả năng hấp thụ
khí CO2 tốt trên 9 nƣớc khác nhau, trong đó ở Việt Nam đƣợc sự hợp tác của
chính phủ Australia thông qua Viện CSIRO và Trung tâm Giống cây rừng thuộc
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thiết lập 05 vƣờn giống gồm 02 loài A.
crassicarpa và Eucalyptus tereticornis. Những vƣờn giống này nhằm cung cấp
giống có chất lƣợng cao và có khả năng hấp thụ khí CO2 tốt phục vụ trồng rừng
tại Việt Nam (Stephen Midgley) [23].
2.2. Ở Việt Nam
Keo lá liềm là một loài cây đƣợc nhập nội vào nƣớc ta đầu những năm
1980 và có khả năng sinh trƣởng trên các lập địa đất đồi trên nhiều vùng ở nƣớc
ta (Lê Đình Khả, 2003) [5], đồng thời Keo lá liềm cũng có thể gây trồng đƣợc
trên vùng đất cát nội đồng có lên líp (Nguyễn Thị Liệu, 2006) [6]. Trong giai
đoạn đầu các kết quả nghiên cứu và khảo nghiệm đã đạt đƣợc một số kết quả
nhất định nhƣ:
- Keo lá liềm là một trong những loài cây sinh trƣởng nhanh nhất trong các
loài keo đƣợc khảo nghiệm ở nƣớc ta.
14
- Các xuất xứ từ Papua New Guinea thƣờng là xuất xứ sinh trƣởng nhanh
nhất. Trong đó Mata province, Gubam, Dimisisi và Deri-Deri là các xuất xứ có triển
vọng ở nhiều vùng trong nƣớc.
- Một số xuất xứ chỉ sinh trƣởng tốt ở một số vùng nhất định nhƣ Mata
province và Gubam cho các tỉnh miền Bắc, Morehead và Benbach cho các tỉnh Đông
Nam Bộ (Lê Đình Khả và cs., 2001) [4].
- Từ kết quả khảo nghiệm của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có quyết định công nhận các xuất xứ Mata
province, Dimisisi và Deri-Deri là xuất xứ có triển vọng cho trồng rừng ở một số
vùng trong nƣớc.
Keo lá liềm đƣợc đƣa vào trồng ở Việt Nam cách đây khoảng 25 năm,
bƣớc đầu chủ yếu đƣợc trồng để khảo nghiệm loài và xuất xứ nhập nội. Lần đầu
tiên Keo lƣỡi liềm đƣợc trồng khảo nghiệm ở Đá Chông, Ba Vì, Hà Tây với xuất
xứ Daintree (Qld) bƣớc đầu cho thấy khá triển vọng, sinh trƣởng tốt hơn Keo lá
tràm và Keo lá sim (A. aulacocarpa) (Nguyễn Hoàng Nghĩa (2003) [9].
Khảo nghiệm loài và xuất xứ tại Đá chông - Hà Tây năm 1990 cho thấy
Keo lƣỡi liềm đƣợc xếp vào một trong những loài có triển vọng nhất, trong đó
xuất xứ Dimisisi, Gubam, Bimadebun, Mata và Derideri đều có nguồn gốc
Papua New Guinea sinh trƣởng rất tốt (Sau 54 tháng tuổi, Keo lƣỡi liềm đã đạt
D = 10,74 - 12,01cm, H = 7,45 - 9,33m) (Nguyễn Hoàng Nghĩa) [9].
Các nghiên cứu về chọn giống đã xác định thêm đƣợc một số xuất xứ có
triển vọng cho trồng rừng một số vụng gồm: Xuất xứ Chilli Beach (Qld),
Bimadebum (PNG) và Bensbeach (PNG) cho vùng Nam Trung Bộ và xuất xứ
Oriomo (PNG), Gubam Village (PNG) và Bimadebum (PNG) cho các lập địa đất
đồi ở miền Trung. Ngoài ra bƣớc đầu đã khẳng định các chỉ tiêu về chất lƣợng thân
cây nhƣ độ thẳng thân, số thân trên một cây của Keo lá liềm có biến động lớn giữa
các gia đình, các xuất xứ, và lập địa. Để đạt đƣợc tăng thu thoả đáng trong cải thiện
giống đối với loài cây này thì phƣơng thức hữu hiệu nhất là chọn lọc đồng thời theo
nhiều chỉ tiêu dựa trên chỉ số chọn lọc của các tính trạng (Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê
Đình Khả, 1998) [7].
15
Nghiên cứu về sinh trƣởng cho thấy cây có nguồn gốc bắc Queensland chỉ
đạt tốc độ sinh trƣởng trung bình 9,9m chiều cao và 12.6cm đƣờng kính sau 6
năm (ở Hoà Thông) và 13,2m chiều cao, 13,8cm đƣờng kính sau 8 năm (ở Ba
Vì). Sự khác nhau của cây có nguồn gốc PNG đã tạo nên những sinh trƣởng
ngoại lệ, ví dụ nhƣ sinh trƣởng về chiều cao đạt 6m trong vòng 3.5 năm trên đất
cát acid, cằn cỗi (với 1 mùa ngập úng) ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Cây có nguồn
gốc PNG cũng sinh trƣởng nhanh trên đất cằn cỗi ở Cam Lộ (Quảng Trị), tốc độ
sinh trƣởng về chiều cao trung bình đạt trên 6m sau 2 năm, vƣợt trội hơn so với
những loài keo nhiệt đới khác, bao gồm cả Keo tai tƣợng [3].
Nghiên cứu về kỹ thuật lâm sinh cho Keo lá liềm trồng trên cát nội đồng ở
vùng Bắc Trung Bộ đã kết luận. Keo lá liềm là loài có triển vọng nhất trên cát nội
đồng bán ngập vùng Bắc Trung Bộ. Sinh trƣởng tốt hơn khi đất đƣợc xử lý bằng
cách lên líp, kích thƣớc líp thích hợp cho Keo lá liềm là cao 0.2m và rộng 4m. Ngoài
ra bón phân có ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của Keo lá liềm cụ thể: Sinh trƣởng chiều
cao và đƣờng kính của cây tại công thức bón phân NPK và phân vi sinh cao hơn so
với công thức chỉ bón phân lân và công thức không bón phân. Tuy nhiên sau 54
tháng thì sự khác nhau giữa các công thức bón phân và không bón phân không còn ý
nghĩa. Ngoài ra ảnh hƣởng của mật độ đến sinh trƣởng của Keo lá liềm chƣa rõ rệt
sau 3 năm trồng trên đât cát tại Quảng Trị. Sinh trƣởng tốt nhất về đƣờng kính (6.1
cm) và chiều cao (4.1 cm) đƣợc ghi nhận trong công thức trồng với cự li 3 m x 2 m.
Đối với cây trồng cự li 3m x 1.5m, đƣờng kính đạt 5.7cm và chiều cao đạt 3.6m và
trồng với cự li 2m x 2m đƣờng kính đạt 5.2 cm và chiều cao 3.9 m (Nguyễn Thị
Liệu, 2006) [6].
Nghiên cứu về nhân giống bằng hom đã kết luận: IBA có tác dụng kích thích
ra rễ rất thấp đối với loài cây này chỉ đạt 40 – 50%. IAA (nồng độ 3% dạng bột và
2000ppm dạng nƣớc) và NAA (nồng độ 1% dạng bột và 1000ppm dạng nƣớc) là có
hiệu quả nhất, tỷ lệ ra rễ đạt 60 – 80% [1].
Đến nay, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã xây dựng 6 vƣờn
giống kết hợp với khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 cho Keo lá liềm ở nhiều vùng
sinh thái khác nhau với diện tích 10 ha, bao gồm 238 gia đình của 10 xuất xứ.
16
Khảo nghiệm loài và xuất xứ tại Đông Hà - Quảng Trị (1997) [2] cũng
cho thấy Keo lƣỡi liềm có sinh trƣởng vƣợt trội, chỉ đứng sau Keo tai tƣợng, các
xuất xứ tốt của Keo lƣỡi liềm là Derideri, Oriomo, Gubam, Mata và
Wemenever.
Kết quả khảo nghiệm tại La Ngà cho thấy, Keo lƣỡi liềm có sinh trƣởng
tốt nhất, ngang bằng Keo tai tƣợng và lớn hơn các loài khác, trong đó các xuất
xứ tốt của Keo lƣỡi liềm là Dimiisi, Oriomo và Derideri [9].
Khảo nghiệm của Huỳnh Đức Nhân và Nguyễn Quang Đức (1997) [20]
tại Hàm Yên - Tuyên Quang, Gia Thanh - Phú Thọ và Tam Đảo - Vĩnh phúc cho
4 loài keo là Keo lƣỡi liềm, Keo lá tràm, Keo tai tƣợng, Keo lá sim, và Keo A.
holosericea kết quả Keo lƣỡi liềm sinh trƣởng tốt nhất, có triển vọng gây trồng ở
trung du miền Bắc.
Khảo nghiệm ở An Giang của Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2002) [11] cho
các loài keo gồm Keo lƣỡi liềm, Keo lá tràm, Keo tai tƣợng, Keo lá sim, và một
số Keo chịu hạn khác cũng kết luận ở An Giang Keo lƣỡi liềm sinh trƣởng tốt,
ngang bằng Keo tai tƣợng, tốt hơn các loài khác.
Một số khảo nghiệm loài và xuất xứ trên vùng đồi cho kết quả A.
crassicarpa sinh trƣởng nhanh hơn A. auriculiformis và A. mangium. Trong đó
các xuất xứ từ Papua New Guinea sinh trƣởng nhanh nhất, là các xuất xứ: Manta
prov., Gubam, Derideri và Pongaki. (Nguyễn Hoàng Nghĩa và Lê Đình Khả 1998) [7].
Theo một số khảo nghiệm của WFT trên cát nội đồng tại Đông Phong Thừa Thiên Huế cho một số loài cây lá rộng và lá kim thì sau 2 năm tuổi cho
thấy A. crassicarpa có tỷ lệ sống đạt 100%, và cao tới 6,0 m, trong khi đó A.
mangium chỉ sống 40% và cao 3,0m, còn các loài khác thì không sống đƣợc (Lê
Đình Khả) [3].
Hoàng Liên Sơn và các cộng sự (2006) [10] khi đánh giá các mô hình
rừng trồng phòng hộ trong Dự án 661 giai đoạn 1998 - 2005 cũng đã đề xuất
Keo lá liềm là loài cây trồng rừng phòng hộ trong giai đoạn 2006- 2010 của Dự
án 661 ở 2 tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị nhất là những vùng cát nội đồng.
17
Phần III
MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Chọn đƣợc vật liệu khởi đầu để sản xuất cây giống có khả năng chịu đƣợc
những điều kiện khắc nhiệt và sinh trƣởng tốt nhằm phát triển gây trồng rừng
cho tỉnh Quảng Trị.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá đƣợc đặc ddieemrsinh trƣởng của rừng keo lá liềm trồng trên
các dạng lập đại khác nhau cả=ủa tỉnh.
- Đánhgiá đƣơc đặc điểm đất nôi có rừng trồng keo lá liểm của tỉnh
- Chọn lọc đƣợc một số cây có khả năng chịu nóng, chịu hạn, sinh trƣởng
tốt của loài Keo lá liềm để làm vật liệu khởi đầu.
- Đề xuuast các ccay trội và kỹ thuạt gây trồng loài cây keo lá liềm tại
quảng trị.
2.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Loài Keo lá liềm: Tên khoa hoc: Acacia crassicarpa A. Cunn. Ex. Benth.
Tên phổ thông: Keo lá liềm (Keo lƣỡi liềm, Keo lá liềm, Keo lƣỡi mác).
Bộ: Bộ Đậu (Legumimosa).
Họ: Thuộc họ trinh nữ (Mimosaceae).
2.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Báo cáo thực hiện từ tháng 1năm 2012 đến tháng 5 năm
2013.
- Về không gian: Báo cáo thực hiện tại tỉnh Quảng Trị.
- Về nội dung: Chọn cây trội chỉ dựa vào đạc điểm sinh trƣởng và chịu
nóng, chịu hạn.
2.4. Nội dung nghiên cứu
Để đạt đƣợc những mục tiêu trên, đề tài thực hiện một số nội dung sau:
18
2.4.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh quảng trị.
+ Điều kiện tự nhiên
+ Điều kiện kinh tế - xã hội
2.4.2. Mô tả và đánh giá đặc điểm lập địa lập địa vùng đất có rừng trồng
keo lá liềm.
+ Đặc điểm của đất ở vùng đất đồi núi.
+ Đặc điểm của vùng đất cát.
2.4.3. Điều tra hiện trạng và sinh trưởng keo lá liềm trên một số dạng lập
địa của tỉnh quảng trị.
+ Vùng đất đồi.
+ Vùng đất cát.
2.4.4. Chọn lọc cây trội.
+ Khảo sát chọn cây dự tuyển
+ Tính toán chọn cây trội
2.4.5. Đề xuất chọn cây trội và kỹ thuật gây trồng rừng keo lá liềm.
2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
2.5.1. Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1.1. Kế thừa các tài liệu đã có
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu.
- Kế thừa các kết quả, thông tin, số liệu nghiên cứu đã có về tài nguyên
rừng tự nhiên của tỉnh Quảng Trị.
- Tham khảo tài liệu, trang web, các bài báo khoa học, tạp chí,….
- Các tài liệu liên quan đến Keo lá liềm ở trong nƣớc và quốc tế.
2.5.1.2. Điều tra thực địa
Tiến hành điều tra các rừng trồng cây keo lá liền tại vùng đất cát ven biển
và đồi núi có chế độ đất đai, khí hậu đặc trƣng cho vùng để khảo sát chọn cây dự
tuyển. việc chọn cây dự tuyển căn cứ vào độ thẳng thân, tán tròn đều, không sâu
bệnh, có đƣờng kính thân và chiều cao vút ngọn, chiều cao dƣới cành vƣợt hơn
19
các cây khác trong lô rừng để chọn và đánh giấu các cây dự tuyển làm cơ sở để
xác định cây ƣu tú.
Tại những lô rừng có cây dự tuyển, tiến hành thu thập số liệu thông qua ô
đo đếm về các chỉ tiêu D1.3, Hvn, Dt làm cơ sở để chọn cây ƣu tú.
Điều tra đo đếm ô tiêu chuẩn:
+ Lập ô tiêu chuẩn: Diện tích từ 200 - 500m2 xung quanh cây dự tuyển (1 ô
50 cây). Điều tra (đo đếm) các chỉ tiêu liên quan đến phẩm chất cây dự tuyển
Hvn, D1.3, Hdc…
Cây trội là những cây đạt đƣợc chỉ tiêu sau:
- D1.3 D1.3 1.5S d
- HVN H vn 1.5S h
Trong đó: D1.3 là đƣờng kính thân cây đo ở vị trí cách mặt đất 1,3m.
Hvn là chiều cao vút ngọn.
D1.3 , H vn là các giá trị trung bình về đƣờng kính, chiều cao.
n
S là sai tiêu chuẩn: S
(X
i 1
i
X )2
n 1
n: là số cây đo đếm trong ô.
Bảng 1. Tiêu chí, thang điểm lựa chọn cây trội
S
TT
Thang
Tiêu chí chọn cây trội
tối đa
1 -
Hình thái cây mẹ: Hình thái cân đối, khỏe, 1 thân, không
sâu bệnh, vƣợt trội so với các cá thể khác của quần thể.
1
2 - Sinh trƣởng (D, H, cành tán) vƣợt trội trị số trung bình của
quần thể/ cao hơn mức bình thƣờng: D 1.5S d ; H 1.5S h
2
3
3
điểm
- Khả năng chịu nóng và hạn của cây
Tổng cộng
20
60
20
100
20
2.5.2. Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi thu thập số liệu, chỉnh lý số liệu, tôi sử dụng phần mềm Excel,
SPSS 16.0 để xử lý số liệu, dùng các công thức để tính các đặc trƣng của nhân tố
điều tra:
-
Tính giá trị bình quân mẫu:
X
1 n
ni
n i 1
Trong đó:
X : Giá trị trung bình của các chỉ tiêu Hvn, D0, số thân cây.
n: Dung lƣợng mẫu quan sát.
Xi: Trị số quan sát của nhân tố nào đó.
Tính phƣơng sai ( S x2 ):
S x2
1 n
( X i X )2
n 1 n1
Trong đó:
S x2 : Phƣơng sai mẫu.
n: Dung lƣợng mẫu quan sát.
X :Giá trị trung bình của các chỉ tiêu Hvn, D0 Số thân trong bụi.
Xi: Trị số quan sát của nhân tố nào đó.
-
Sai tiêu chuẩn (Sx)
Sx S 2
Hệ số biến động (Sx%)
Sx %
S
.100
X
Trong đó:
Sx%: Hệ số biến động của một nhân tố.
Sx: Sai tiêu chuẩn của một nhân tố.
X : Giá trị trung bình của một nhân tố.
21
2.5.3. Dựa vào khả năng chịu nóng, chịu hạn để chọn lọc cây trội.
2.5.3.1. Phương pháp nghiên cứu.
Xác định khả năng giữ nước và phục hồi sức trương của lá
+ Phƣơng pháp xác định: theo phƣơng pháp của G.N.Eremeev.
Chọn những lá cùng tầng về một hƣớng, có hình thái gần giống nhau và
không bị tổn thƣơng. Mỗi lần thí nghiệm 3-5 lá.
Sau khi cắt lá ,đem cân nhanh ta đƣợc trọng lƣợng P1(gam).
Để lá héo tự nhiên, tránh bức xạ nhiệt trực tiếp (treo lá trên dây). Sau
khoảng thời gian 8 giờ ta đem cân và thu đƣợc trọng lƣợng P2(gam).
Sau đó đem những lá có trọng lƣợng P2 (gam) ngâm vào trong nƣớc 1-2
giờ để khôi phục sức trƣơng, lá phục hồi có màu xanh trở lại. Cân lá ta đƣợc
trọng lƣợng P3 (gam). Khi đó sẽ có những mô bị tổn thƣơng và chết, còn lại
những mô khỏe.
Khi cân xong, ta tiến hành tính toán các chỉ tiêu:
- Lƣợng nƣớc mất đi khi cây héo trong 5 giờ là P1-P2(gam)
- Lƣợng nƣớc chứa trong lá sau khi phục hồi sức trƣơng là: P3-P2(gam)
Lúc đó :
- Lƣợng nƣớc mất đi của lá là: (% so với lƣợng nƣớc ban đầu):
A=
P1 P2
x 100%
P1
- Lƣợng nƣớc lá hút lại là: (% so với lƣợng nƣớc trong lá )
B=
P3 P2
x 100%
P1
Kết quả ghi vào bảng
Lần lặp
Lƣợng nƣớc mất đi
Lƣợng nƣớc hút lại
Lần 1
Lần 2
Lần 3
Trung bình
22
Xác định cường độ thoát hơi nước của lá cây bằng phương pháp của
Ivanop
+Phƣơng pháp cân nhanh
- Đối tƣợng, dụng cụ:
+ Mẫu thực vật: Cành lá tƣơi (cắm trong nƣớc để giữ lá tƣơi).
+ Dụng cụ: Cân chính xác, kéo sắc.
- Nguyên lý của phƣơng pháp:
Dựa vào sự thay đổi khối lƣợng của lá tƣơi sau khi cắt ra khỏi cây trong
một thời gian ngắn. Khối lƣợng thay đổi giữa hai lần cân chính là lƣợng nƣớc
mà lá thoát đi trong thời gian ngắn. Khối lƣợng thay đổi giữa hai lần cân chính
là lƣợng nƣớc mà lá thoát đi trong thời gian đó. Xác định đƣợc diện tích lá thí
nghiệm, ta tính ngay đƣợc cƣờng độ thoát hơi nƣớc của lá theo công thức:
I
( P1 P2 ).60
(mg / dm2 / h)
t.S
S: là diện tích lá cây thí nghiệm đƣợc xác định bằng phƣơng pháp cân
gián tiếp.
Thí nghiệm nhắc 3 lần để lấy kết qủa trung bình, mỗi lần lấy 10 lá ở các
tầng trên, giữa và tầng dƣới tán.
Thí nghiệm đƣợc tiến hành trong điều kiện môi trƣờng .
- Cách tiến hành thí nghiệm :
Cắt lá ra khỏi cành, xác định nhanh chóng khối lƣợng lá của lá (P1). Để lá
thoát hơi nƣớc trong 2 phút (nếu để lâu hơn lá sẽ không chính xác ). Cân nhanh
khối lƣợng lá lần thứ hai (P2). Sau đó xác định diện tích lá bằng phƣơng pháp
cân (S), áp dụng công thức tính cƣờng độ thoát hơi nƣớc (ITHN). Lặp lại thí
nghiệm 3 lần, tính giá trị thoát hơi nƣớc trung bình.
23
Kết quả ghi vào bảng sau:
Lần lặp lại
P1(g)
P2(g)
S (cm2)
Lần 1
Lần 2
Lần 3
Trung bình
Xác định khả năng chịu nóng theo phƣơng pháp của Maxcốp
Chọn những lá cùng tầng về một hƣớng, có hình thái gần giống nhau và
không bị tổn thƣơng. Mỗi lần thí nghiệm 3-5 lá .
Cho vào cốc đựng nƣớc nóng ở các nhiệt độ 40, 45, 50, 55, 600C. Sau 30
phút lấy ra và quan sát sự biến đổi của lá, xuất hiện những dấu thâm. Tùy thuộc
vào khả năng chịu nóng của từng loài mà dấu thâm nhiều hay ít, rộng hay hẹp.
+Phƣơng pháp xử lý số liệu
- Sau khi thu thập số liệu, chỉnh lý số liệu, tôi sử dung phần mềm Excel để
xử lý số liêu, dùng một số công thức cơ bản để tính các đặc trƣng của các nhân
tố cần thể hiện.
- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Excel trong xử lý thông kê trong Lâm
nghiệp (Theo tác giả Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi – Trƣờng Đại học
Lâm nghiệp).
24
Phần IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh quảng trị
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Quảng Trị là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ - Việt Nam. Toàn tỉnh có 10
đơn vị hành chính, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện (kể cả huyện đảo
Cồn Cỏ) với tổng diện tích tự nhiên 4746,99 km2 và dân số trung bình 599.221
ngƣời (số liệu năm 2012) [NGTK 2012]. Toạ độ địa lý của tỉnh từ 16018'30'' đến
17010' vĩ độ bắc và 106030'51'' đến 107023'48'' kinh độ đông (Hình 1.1 và 1.2).
Vị trí của tỉnh nhƣ sau:
- Phía bắc giáp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
- Phía nam giáp huyện Phong Điền và A Lƣới, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phía đông giáp Biển Đông.
- Phía tây giáp tỉnh Savanakhet và Salavan, nƣớc CHDCND Lào(với
khoảng 228 km đƣờng biên giới).
Nằm trên lãnh thổ tỉnh Quảng Trị có Quốc lộ 1A, đƣờng Hồ Chí Minh,
đƣờng sắt Bắc - Nam (trục giao thông huyết mạch xuyên Việt), có Quốc lộ 9 nối
từ Cảng Cửa Việt qua Quốc lộ 1A đến cửa khẩu quốc tế Lao Bảo sang Lào và có
bờ biển dài 75 km với cảng Cửa Việt cùng với các cửa khẩu quốc tế Lao Bảo,
cửa khẩu La Lay,... đã tạo cho Quảng Trị điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng
giao lƣu phát triển kinh tế, văn hóa không chỉ với các tỉnh khác trong vùng mà
cả trong giao lƣu kinh tế quốc tế, đặc biệt là với nƣớc bạn Lào, vùng Đông bắc
Thái Lan, Myanma.
Cách mũi Lay khoảng 25 km về phía đông bắc là huyện đảo Cồn Cỏ với
diện tích 2,14 km2 (thời kỳ triều thấp là 2,4 km2), vị trí vào khoảng 17o08'15''17o10'05'' vĩ độ bắc 107o19'50''-107o21'40'' kinh độ đông. Đây là đảo duy nhất
thuộc tỉnh Quảng Trị.
25