DANH SÁCH NHÓM 10
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................................5
PHẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN..................................................................................6
1.1 Một số vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán....................................6
1.1.1 Chứng khoán và thị trường chứng khoán........................................6
1.1.2 Phân loại chứng khoán.....................................................................6
1.1.2.1 Căn cứ vào nội dung chứng khoán..........................................6
1.1.2.2 Căn cứ vào hình thức chứng khoán.........................................6
1.1.2.3 Căn cứ vào lợi tức chứng khoán..............................................7
1.1.3 Đặc điểm các loại chứng khoán.......................................................7
1.1.3.1 Trái phiếu.................................................................................7
1.1.3.2 Cổ phiếu thường......................................................................9
1.1.3.3 Cổ phiếu ưu đãi......................................................................11
1.1.3.4 Các công ty tài chính có nguồn gốc chứng khoán.................12
1.1.4 Cơ chế hình thành giá chứng khoán..............................................12
1.1.4.1 Thị trường chứng khoán sơ cấp.............................................12
1.1.4.2 Thị trường chứng khoán thứ cấp............................................12
1.2 Sở giao dịch chứng khoán......................................................................13
1.2.1 Định nghĩa, đặc điểm và vai trò của Sở giao dịch chứng khoán...13
1.2.1.1 Định nghĩa.............................................................................13
1.2.1.2 Đặc điểm...............................................................................13
1.2.1.3 Vai trò....................................................................................13
1.2.2 Phương thức hoạt động của sở giao dịch chứng khoán................13
1.2.2.1 Các lệnh mua và bán chứng khoán.......................................13
1.2.2.2 Định luật chuẩn....................................................................14
1.2.3 Nghiệp vụ mua bán chứng khoán trả ngay...................................14
1.2.3.1 Quy trình giao dịch tại một TTCK tập trung........................14
1.2.3.2 Phương thức giao dịch.........................................................15
1.2.4 Nghiệp vụ mua và bán chứng khoán có kì hạn............................15
1.2.5 Thị trường chứng khoán bán tập trung.........................................16
1.2.6 Thị trường chứng khoán phi tập trung – Thị trường OTC...........16
PHẦN II : SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN TP.HCM.................................................................................................16
2.1 Quá trình hình thành và phát triển.........................................................16
2.2 Các hoạt động chính của Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM..............19
2.2.1 Hoạt động quản lý và điều hành thị trường...................................19
2.2.2 Hoạt động quản lý niêm yết..........................................................19
2.2.3 Hoạt động quản lý thành viên.......................................................20
2.2.4 Hoạt đông quản lý giao dịch.........................................................20
2.2.5 Hoạt động công bố thông tin thị trường........................................21
2.2.6 Hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán.....21
2.3 Thực trạng hoạt động của SGDCK TP.HCM từ khi ra đời đến nay.......22
2.3.1 Hoạt động của SGDCK TP.HCM từ khi ra đời đến năm 2007.....22
2.3.2 Hoạt động của SGDCK TP.HCM từ năm 2007 đến 6-2010.........25
2.3.3 Hoạt động của SGDCK TP.HCM từ tháng 7-2010 đến nay.........25
2.4 Kết quả đạt được và một số hạn chế .....................................................26
PHẦN III : SO SÁNH SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM VỚI SỞ
GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI............................................................31
PHẦN IV : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN TP.HCM..................................................................................33
4.1 Định hướng phát triển.....................................................................................33
4.2 Giải pháp phát triển.........................................................................................33
KẾT LUẬN...........................................................................................................35
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.......................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................37
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
LỜI MỞ ĐẦU
Để thực hiện đường lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước,
duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế bền vững và chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh
tế theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn
cho đầu tư phát triển. Vì vậy, việc xây dựng TTCK ở VN đã trở thành nhu cầu bức
xúc và cấp thiết nhằm huy động các nguồn vốn trung, dài hạn ở trong và ngoài
nước vào đầu tư phát triển kinh tế thông qua chứng khoán nợ và chứng khoán vốn.
Sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh là sàn giao dịch có ảnh hưởng rất lớn tới
sự phát triển kinh tế Việt Nam.Vì những lý do trên nhóm chúng tôi quyết định chọn
đề tài : Sở giao dịch chứng khoán là gì ? Trình bày sự ra đời và phát triển của Sở
giao dịch chứng khoán TP.HCM – so sánh với SGDCK Hà Nội.
PHẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Một số vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán
1.1.1 Chứng khoán và thị trường chứng khoán
Khái niệm chứng khoán và thị trường chứng khoán :
- Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận
các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản
hoặc vốn của tổ chức phát hành, bao gồm: trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ
đầu tư và chứng khoán phát sinh.
- Chứng khoán là công cụ rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường để tạo nên
một lượng vốn tiền tệ khổng lồ tài trợ cho các mục đích mở rộng sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp hay các dữ án đầu tư của nhà nước và tư
nhân.
- Chứng khoán là giá khoán động sản, tức là công cụ vốn dài hạn. Ngoài ra
trên thị trường chứng khoán còn giao dịch các loại giấy tờ có liên quan đến
chứng khoán như ‘‘ giấy đảm bảo quyền mua cổ phiếu ’’ và ‘‘ hợp đồng về
quyền lựa chọn ’’.
- Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các
loại chứng khoán. Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ
cấp, do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và
trao đổi.
1.1.2 Phân loại chứng khoán
1.1.2.1 Căn cứ vào nội dung chứng khoán
- Chứng khoán nợ : Chứng khoán nợ là loại chứng khoán do Nhà nước hoặc
các doanh nghiệp phát hành khi cần huy động vốn cho các mục đích tài trợ
dài hạn. Đại biểu cho loại chứng khoán này là trái phiếu.
- Chứng khoán vốn : Chứng khoán vốn là giấy chứng nhận sự góp vốn kinh
doanh vào công ty cổ phần. Đại biểu cho loại chứng khoán vốn là các loại cổ
phiếu.
1.1.2.2 Căn cứ vào hình thức chứng khoán
- Chứng khoán vô danh ( bearer securities ) : Là loại chứng khoán không ghi
tên người sở hữu trên các cổ phiếu, trái phiếu. Loại chứng khoán này có thể
dễ dàng mua bán hay chuyển đổi trên thị trường chứng khoán.
- Chứng khoán ký danh ( registered securities ) : Là loại chứng khoán mà tên
người sở hữu được lưu giữ trong hồ sơ của chủ thể phát hành và trên chứng
khoán. Việc chuyển quyền sỡ hữu chứng khoán này có phần khó khăn hơn,
phải có sự đồng ý của cơ quan phát hành chứng khoán.
1.1.2.3 Căn cứ vào lợi tức chứng khoán
- Chứng khoán có lợi tức ổn định : Là loại chứng khoán mà người cầm giữ
loại chứng khoán này được hưởng lợi tức ổn định theo tỷ lệ lãi suất tính trên
mệnh giá chứng khoán, điển hình là trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi.
- Chứng khoán có lợi tức không ổn định : Là loại chứng khoán mà các nhà đầu
tư mong đợi một mức lợi tức cao hơn nhiều so với chứng khoán có lợi tức ổn
định, lãi suất không được ghi trên chứng khoán. Các loại chứng khoán này
thường mang tính chất rủi ro cao và không ổn định.
1.1.3 Đặc điểm các loại chứng khoán
1.1.3.1 Trái phiếu
- Khái niệm : Trái phiếu là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể
phát hành ( chính phủ hay doanh nghiệp ) và người cho vay, đảm bảo một sự
chi trả lợi tức định kỳ và toàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời
điểm đáo hạn. Trên mỗi trái phiếu có ghi mệnh giá và tỷ suất lãi của từng loại
trái phiếu.
- Đặc điểm :
Mệnh giá : Mệnh giá của trái phiếu là giá ghi trên trái phiếu, đại diện cho số
tiền được trả lại vào thời điểm đáo hạn. Trái chủ có thể giữ lại trái phiếu đó
cho đến khi đáo hạn để nhận lại vốn gốc đúng bằng mệnh giá.
Mệnh giá trái phiếu =
Giá trái phiếu : Giá trái phiếu là giá mua, giá bán trái phiếu. Giá này được
công bố là tỷ lệ phần trăm của mệnh giá. Giá mua bán trên thị trường của trái
phiếu được xác định theo công thức :
P
trong đó :
P : giá mua trái phiếu
F : mệnh giá trái phiếu
m : lãi suất trái phiếu
r : lãi suất thị trường
Thời hạn : Trái phiếu là công cụ vốn trung và dài hạn, nên thời hạn đáo hạn
của trái phiếu được ghi trên trái phiếu thường trên một năm, có thể là 5, 10,
20, 30, 50 năm và có thể dài hơn nữa.
Lãi suất : Lãi suất trái phiếu là mức lãi được ấn định trả hàng năm cho người
chủ trái phiếu. Lãi suất thường được xác định theo tỷ lệ phần trăm so với
mệnh giá. Dù lã suất được xác định cho một năm, nhưng trái chủ thường
được trả cổ tức vào hàng quý, hoặc hàng nữa năm.
- Phân loại trái phiếu :
Căn cứ vào hình thức phát hành :
Trái phiếu vô danh : là loại trái phiếu không ghi tên người sỡ hữu trên trái
phiếu cũng như không vào sổ của công ty phát hành.
Trái phiếu ký danh : là loại trái phiếu có ghi tên trái chủ trên phiếu cũng như
vào sổ sách của công ty phát hành.
Căn cứ vào chủ thể phát hành :
Trái phiếu công ty : là trái phiếu do công ty thuộc các thành phần kinh tế
phát hành để vay nợ và có nhiều loại sau :
Trái phiếu tín chấp : còn gọi là trái phiếu không bảo lãnh, tức là loại trái
phiếu chỉ dựa vào uy tín của công ty để phát hành mà không đưa ra bất kỳ tài
sản nào để làm vật thế chấp cho trái phiếu. Đây là trái phiếu do công ty lớn
phát hành.
Trái phiếu thế chấp : là loại trái phiếu khi phát hành có một lượng tài sản
tương ứng ký thác tại cơ quan ũy thác để đảm bảo chắc chắn khả năng hoàn
trả của trái phiếu, có thể là tài sản cố định, hoặc trái phiếu đã mua của công ty
khác hoặc trái phiếu chính phủ. Thông thường giá trị chứng khoán ký thác
phải lớn hơn 25% so với tổng giá trị trái phiếu được phát hành.
Trái phiếu thu nhập : là loại trái phiếu mà lợi tức được trả tùy thuộc vào lợi
nhuận công ty và không cao hơn lãi suất ghi trên trái phiếu. Đây là loại trái
phiếu lai tạp, gần giống với cổ phiếu ưu đãi không tích lũy.
Trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu thường: là loại trái phiếu
rất hấp dẫn, được nhiều công ty cổ phần áp dụng, là loại trái phiếu chuyển đổi
với giá cả và thời hạn chuyển đổi đã được xác định trước. Lãi suất loại trái
phiếu này thường thấp hơn trái phiếu thường, nhưng khi công ty làm ăn có
hiệu quả, cổ phiếu lên giá thì người cầm trái phiếu này sẽ kiếm được lợi
nhuận do chênh lệch cổ phiếu.
Trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương: là công cụ mà chính
phủ và chính quyền địa phương vay nợ để bù đắp các khoản thiếu hụt do
bội chi ngân sách trung ương và địa phương. Việc phát hành trái phiếu
chính phủ cũng thông qua các tổ chức môi giới chứng khoán bằng
phương thức đấu thầu. Người tham gia đấu thầu là các ngân hàng thương
mại, ngân hàng đầu tư, công ty tài chính, công ty chứng khoán. Quỹ đầu
tư và các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp.
Căn cứ vào lợi tức trái phiếu :
Trái phiếu có lãi suất ổn định: là loại trái phiếu lãi suất ổn định và được trả
định kỳ, sáu tháng hoặc một năm một lần. Vốn gốc của trái phiếu bằng mệnh
giá trái phiếu được trả một lần khi đáo hạn.
Trái phiếu chiết khấu: là loại không trả lãi định kỳ. Căn cứ vào lãi suất thị
trường lúc phát hành để định ra giá của trái phiếu. Giá này rất thấp so với
mệnh giá gọi là giá chiết khấu nhưng khi đáo hạn trái chủ lại được hoàn trả
lại vốn gốc bằng với mệnh giá trái phiếu.
Trái phiếu lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà lãi suất được điều chỉnh theo
từng thời kỳ phù hợp với lãi suất thị trường ( lãi suất tín dụng ).
1.1.3.2 Cổ phiếu thường
- Khái niệm : Cổ phiếu là giấy xác nhận quyền sỡ hữu của cổ đông đối với
công ty cổ phần căn cứ vào phần vốn góp qua việc mua cổ phần ( người mua
cổ phiếu gọi là cổ đông, giấy chứng nhận cổ phần gọi là cổ phiếu ). Là loại cổ
phiếu chủ chốt của tất cả các công ty cổ phần, là phát hành ra đầu tiên ( khi
công ty thành lập ) và là loại chứng khoán thu hồi về cuối cùng của công ty.
Khi thanh lý giải thể công ty cổ phiếu thường được hoàn vốn vốn cuối cùng
sau khi đã thanh lý hết nợ thuế, nợ vay, nợ trái phiếu và hoàn vốn cổ phần ưu
đãi.
- Đặc điểm :
Mệnh giá cổ phiếu thường
Mệnh giá của cổ phiếu là giá ghi trên cổ phiếu. Khi công ty mới thành lập,
mệnh giá cổ phiếu được tính như sau :
Mệnh giá của cổ phiếu thường không được dùng làm căn cứ để chia cổ tức,
ngay cả khi công ty bị thanh lý giải thể, số tài sản còn lại của công ty sau
khi đã trả hết các khoản nợ, hoàn vốn cho cổ phần ưu đãi mới được trả cho
cổ đông thường.
Thư giá cổ phiếu thường
Giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán phản ánh tình trạng vốn cổ phần của
công ty ở một thời điểm nhất định. Thư giá được tính theo công thức sau :
Trong đó :
Giá trị thuần = Tổng tài sản – tài sản vô hình – tổng nợ - vốn ưu đãi
Thị giá : Thị giá cổ phiếu là giá cổ phiếu được giao dịch trên thị trường
từng thời điểm. Đó là giá mà người mua phải trả và người bán nhận được.
Thị giá thay đổi hàng giờ, hàng ngày hoặc chi ổn định trong một thời gian
ngắn, tùy theo tình hình cung cầu chứng khoán ở từng thời điểm nhất định.
Quyền hạn và trách nhiệm của cổ đông : Cổ đông có quyền hạn và trách
nhiệm đối với công ty : được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh, được
quyền bầu cử vào bộ máy quản lý và kiểm soát công ty và lời ăn lỗ chịu.
Cổ tức
Cổ tức là tiền lời chia cho cổ đông trên mỗi cổ phiếu thường. Căn cứ vào
kết quả có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Cổ tức
của cổ phiếu thường được trả sau khi đã trả cổ tức cố định cho cổ phiếu ưu
đãi. Những năm công ty có lợi nhuận thì cổ đông thường được chia cổ tức
cao và ngược lại.
Cổ tức cổ phiếu được tính theo công thức sau :
- Phân loại cổ phiếu thường :
Căn cứ vào quyền bầu cử hay quyền được hưởng cổ tức :
Cổ phiếu thường loại ‘‘ A ’’: là loại cổ phiếu phát hành ra công chúng và
được hưởng cổ tức, nhưng không có quyền bầu cử. Vì vậy, loại này có giá
thấp hơn loại cổ phiếu thường được bỏ phiếu khi bầu cử.
Cổ phiếu thường loại ‘‘ B ’’: là loại cổ phiếu có quyền bầu cử, nhưng chỉ
được hưởng cổ tức khi khả năng sinh lời của công ty đã đến một giai đoạn
tăng trưởng nhất định.
Cổ phiếu thường có gộp lãi: là loại cổ phiếu mà cổ tức được trả bằng một
số cổ phiếu có giá trị tương đương – mới phát hành mà không phải góp
them vốn.
Căn cứ vào đặc điểm hoạt động của công ty :
Cổ phiếu thượng hạng: là loại cổ phiếu hạng cao của công ty lớn có lịch sử
phát triển lấu đời, khả năng sinh lời cao, cổ tức cao.
Cổ phiếu tăng trưởng: là loại cổ phiếu của công ty đang trên đà tăng trưởng
nhanh, công ty này quan tâm đến việc đầu tư mở rộng sản xuất nghiên cứu
chế tạo sản phẩm mới.
Cổ phiếu thu nhập: là loại cổ phiếu mà cổ tức thường được trả cao hơn mức
trung bình trên thị trường.
Cổ phiếu chu kỳ: là loại cổ phiếu mà thu nhập của nó giao động theo chu kỳ
kinh tế.
Cổ phiếu theo mùa: là loại cổ phiếu mà thu nhập cũng tăng cao theo mùa
kinh doanh.
1.1.3.3 Cổ phiếu ưu đãi
- Khái niệm: Cổ phiếu ưu đãi là loại chứng khoán lai tạp vừa có đặc điểm
giống cổ phiếu thường vừa giống trái phiếu.
- Đặc điểm:
Mệnh giá cổ phiếu ưu đãi: là căn cứ chia lợi tức cố định, có giá trị khi người
chủ sở hữu muốn chuyển đổi thành tiền mặt hay thành cổ phiếu thường. Cổ
tức của cổ phiếu ưu đãi được ấn định theo tỷ lệ cố định trên mệnh giá.
Người mua cổ phiếu ưu đãi là cổ đông của công ty, góp vốn vào công ty vĩnh
viễn không được hoàn trả. Khi cần tiền cổ đông có thể đem cổ phiếu ưu đãi
bán trên thi trường chứng khoán.
- Phân loại :
Cổ phiếu ưu đãi tích lũy : là loại cổ phiếu được hưởng cổ tức cố định, nhưng
trong trường hợp công ty làm ăn không có lãi để trả cổ tức hoặc không đủ thì
số thiếu đó sẽ được tích lũy sang năm sau hay vào một năm nào đó khi công
ty có đủ lợi nhuận để trả.
Cổ phiếu ưu đãi không tích lũy : Khác với cổ phiếu ưu đãi tích lũy ở chổ:
phần cổ tức còn thiếu sẽ được bỏ qua và chỉ chi trả đủ cổ tức khi công ty làm
ăn có hiệu quả.
Cổ phiếu ưu đãi có tham dự chia phần : là loại cổ phiếu mà ngoài phần cổ
tức được chia cố định cổ đông được hưởng một phần lợi nhuận phụ trợ theo
quy định khi công ty làm ăn có lãi.
Cổ phiếu ưu đãi không tham dự chia phần : là loại chỉ được hưởng cổ tức ưu
đãi, ngoài ra không nhận gì thêm, dù cho năm đó công ty làm ăn có lãi cao.
1.1.3.4 Các công ty có nguồn gốc chứng khoán
- Chứng quyền ( Pre-emptive right ): là một chứng minh thư do công ty phát
hành cho các cổ đông, trong đó quy định quyền của cổ đông được mua một
số cổ phiếu mới do công ty phát hành tại mức giá bán ra của công ty.
- Hợp đồng quyền lựa chọn ( Option Contract ): là sự thỏa thuận mua bán
chứng khoán với một giá quy định trong thời gian tương lai và hy vọng giá
chứng khoán sẽ tăng lên thì thực hiện quyền mua bán chứng khoán hoặc hy
vọng giá sẽ giảm xuống thì thực hiện quyền bán chứng khoán để kiếm lời.
1.1.4 Cơ chế hình thành giá chứng khoán
1.1.4.1 Thị trường chứng khoán sơ cấp
- Thị trường chứng khoán sơ cấp là nơi phát hành chứng khoán lần đầu, nên
giá chứng khoán hình thành ở giai đoạn này là giá phát hành hay còn gọi là
giá danh định của chứng khoán, là giá được in trên chứng khoán do đặc điểm
từng loại chứng khoán mà hình thành.
- Giá chứng khoán có lãi suất cố định: là giá được in trên trái phiếu hoặc cổ
phiếu ưu đãi, được xác định bằng giá trị danh định của đợt phát hành cia cho
tổng số trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi cần phát hành.
- Giá chứng khoán có lãi suất biến động: là giá được in trên cổ phiếu, được xác
định bằng giá trị danh định của công ty lúc phát hành chia cho tổng số cổ
phiếu của công ty.
1.1.4.2 Thị trường chứng khoán thứ cấp
- Giá cả của chứng khoán ở thị trường này là giá cả mà chứng khoán thực sự
được mua bán trên thị trường, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu chứng khoán.
- Giá cả thị trường của các loại chứng khoán có lãi suất ổn định: là giá cả thực
tế mua bán lại các chứng khoán trên thị trường, nó còn phụ thuộc vào lãi suất
tín dụng của ngân hàng, của thị trường. Nếu lãi suất thị trường tăng, giá trái
phiếu giảm và ngược lại lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu tăng. Nói cách
khác lãi suất thị trường và giá cả trái phiếu có mối quan hệ tỷ lệ nghịch.
1.2 Sở giao dịch chứng khoán
1.2.1 Định nghĩa, đặc điểm và vai trò của Sở giao dịch chứng khoán
1.2.1.1 Định nghĩa
Sở giao dịch chứng khoán(SGDCK) là nơi gặp gỡ của những nhà môi giới
chứng khoán để thương lượng đấu giá mua bán chứng khoán, là nơi cơ quan
phục vụ cho hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán, nơi tập trung các giao
dịch chứng khoán có tổ chức tuân theo những luật nhất định.
1.2.1.2 Đặc điểm
- SGDCK không tham gia mua bán chứng khoán, không mua và bán bất kì loại
chứng khoán nào, không sở hữu chứng khoán.
- SGDCK chỉ cho thuê địa điểm để người môi giới mua và bán chứng khoán thực
hiện mua bán chứng khoán và dưa ra danh sách các loại chứng khoán được mua
bán trên thị trường.
- SGDCK không có hàng hóa và không có người mua bán cươi cùng, chỉ có nhà
môi giới.
- SGDCK không kiểm soát việc mua bán chứng khoán mà chỉ đóng góp vai trò
như quan tòa và để xử lí các sự kiện cáo trong mua bán chứng khoán.
- SGDCK khong ấn định giá cổ phiếu, không can thiệp vào quá trình hình thành
thị giá của cổ phiếu, mà chỉ đảm bảo sao cho việc đấu thầu hoặc thỏa thuận giá
mua bán chứng khoán diễn ra đúng luật pháp công khai và tránh lừa đảo.
- SGDCK thiết lập các thể lệ, chính sách phù hợp với luật chứng khoán và thị
trường.
1.2.1.3 Vai trò
SGDCK là nơi giao dịch giúp cho việc mua bán chứng khoán được thuận tiện,
dễ dàng hợp pháp, giúp cho quá trình giao lưu vốn được hài hòa và phát triển. Hoạt
động của SGDCK là nhân tố quyệt định đến sự thành công hay thất bại của thị
trường chứng khoán quốc gia.
1.2.2 Phương thức hoạt động của sở giao dịch chứng khoán
1.2.2.1 Các lệnh mua và bán chứng khoán
Hoạt động của SGDCK tập trung ở sàn giao dịch. Sàn giao dịch là nơi các nhà
môi giới chứng khoán thương lượng và đấu giá mua bán chứng khoán. Các nhà
môi giới chứng khoán thực hiện việc thương lượng và đấu giá theo lệnh của nhà
đầu tư. Có 3 loại lệnh cơ bản sau:
Lệnh thị trường: là loại lệnh được áp dụng phổ biến nhất. Khách hàng yêu cầu cá
nhà môi giới thực hiện việc giao dịch ngay về mua bán một số lượng chứng
khoán thuộc một loại nào đó theo giá thị trường.
Lệnh giới hạn: là lệnh khách hàng đặt ở mức giá giới hạn (giá mua tối đa hoặc giá
bán tối thiểu) cho nhà môi giới. Lệnh này được những khách hàng có hiểu biết về
kinh tế, chứng khoán, thị trường áp dụng.
Lệnh dừng để mua hoặc để bán
Lệnh dừng để bán: một lệnh dừng để bán luôn định giá thấp hơn giá thị trường
hiện tại.
Lệnh dừng để mua: lệnh dừng để mua luôn đặt giá cao hơn giá thị trường hiện
tại. Lệnh này thường được các người bán khống áp dụng.
Lệnh ATO: được dùng ở TTCK Việt Nam, lệnh được thực hiện ở mức giá khớp
lệnh. Lệnh này được đưa ra nhưng không kèm theo giá và ưu tiên sau lệnh giới
hạn.
1.2.2.2 Định chuẩn lệnh
Định lệnh chuẩn là khoảng thời gian có hiệu lực cho các nhà mối giới thực hiện
lệnh của khách hàng. Ngoài khoảng thời gian này các lệnh của khách hàng không
còn giá trị.
1.2.3 Nghiệp vụ mua bán chứng khoán trả ngay
1.2.3.1 Quy trình giao dịch tại một TTCK tập trung
- Nhà đầu tư bắt đầu giao dịch của mình bằng cách liên hệ với 1 công ty chứng
khoán thành viên của SGDCK để kí hợp đồng giao dịch. Công ty chứng khoán
mở tài khoản giao dịch cho khách hàng.
- Nhà đầu tư đưa ra yêu cầu mua hay bán chứng khoán bằng cách đặt lệnh cho
công ty chứng khoán thực hiện.
- Công ty chứng khoán rà soát lại các phiếu lệnh, kiểm tra tịnh hợp lệ hợp pháp
của chúng trước khi chuyển qua nhà môi giới tại sàn.
- Chuyển lệnh sang nhà môi giới tại sàn.
- Nhà mối gới đăng kí lệnh.
- So khớp lệnh, đấu giá hay đấu lệnh. Giá khớp được thông báo công khai và là
giá thống nhất cho cả bên mua lẫn bên bán.
- Nhà môi giới thông báo kết quả mua và bán được về công ty chứng khoán.
- Công ty chứng khoán chuyển kết quả giao dich để thực hiện việc thanh toán tại
trung tâm quản lí chứng khoán và thanh toán bù trừ.
1.2.3.2 Phương thứ giao dịch
Phương thức giao dịch gồm: giao dịch đấu giá và giao dịch đấu lệnh.
Giao dịch đấu giá : Trong thị trường đấu giá, các nhà tạo lập thị trường đưa ra
giá chào mua và giá chào bán cho một số cho một số loại chứng khoán nhất
định. Người đầu tư thực hiện giao dịch với tư cách là đói tác của nhà tạo lập thị
trường qua việc mựa chọn những chào giá thích hợp.
Giao dịch đấu lệnh : Trong một thị trường đấu lệnh, lệnh của các nhà đầu tư
được ghép với nhau sau khi các lệnh mua, bán được đưa vào hệ thống với mức
giá phù hợp theo nguyên tắc ưu tiên về giá và thời gian.
Các hình thức đấu (khớp) lệnh:
- Khớp lệnh định kì : Các lệnh mua và bán được chuyển vào hệ thống giao dịch
trong một khoảng thời gian nhất định. Trong thời gian này, mặc dù các lệnh
được đưa vào liên tục nhưng không có giao dịch được thực hiện vào đúng thời
điểm khớp lệnh, tất cả các lệnh sẽ được so khớp để chọn ra mức giá có khối
lượng giao dịch lớn nhất.
- Khớp lệnh liên tục : Giao dịch được thực hiện lien tục thông qua việc so khớp
các lệnh có giá phù hợp (nghĩa là giá mua cao hơn hoặc bằng giá bán) ngay
khi có lệnh mới đưa vào sổ lệnh.
1.2.4 Nghiệp vụ mua bán chứng khoán có kỳ hạn
Các công cụ phái sinh
Các công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở các công
cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu…, nhằm phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận
hoặc tạo lợi nhuận.
- Quyền lựa chọn
Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua ( nếu
là quyền lựa chọn mua ) hoặc bán ( nếu là quyền lựa chọn bán ) một khối
lượng nhất định hàng hóa với một mức giá xác định, và trong một thời hạn
nhất định.
- Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận trong đó một người mua và người bán
chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hóa với khối lượng xác định, tại một
thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày
hôm nay.
- Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai, nhờ đặc tính linh hoạt của nó, đã khắc phục được những
nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn và thường được xem là một cách thức tôt
hơn để rào chắn rủi ro trong kinh doanh.
1.2.5 Thị trường chứng khoán bán tập trung
Thị trường chứng khoán bán tập trung là thị trường giao dịch mua bán chứng
khoán trao tay giữa các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán với nhau,
mà không thông qua hoạt động môi giới trên sở giao dịch chứng khoán và cũng
không thông qua hệ thống máy tính của thị trường OTC. Thị trường này nằm
ngoài tầm kiểm soát của UBCK Nhà nước và không được pháp luật thừa nhận;
tuy nhiên, trong thực tế nó vẫn tồn tại.
1.2.6 Thị trường chứng khoán phi tập trung – thị trường OTC
Thị trường chứng khoán phi tập trung ( OTC : Over the counter market ) cùng
với thị trường tập trung ( Trung tâm giao dịch chứng khoán – Sở giao dịch chứng
khoán ) tạo nên một TTCK hoàn chỉnh. Thị trường OTC là một thị trường có tổ
chức dành cho những chứng khoán không niêm yết trên Trung tâm giao dịch
chứng khoán. Thị trường OTC không có địa điểm giao dịch chính thức, thay vào
đó các nhà môi giới ( công ty chứng khoán ) kết nối các giao dịch qua mạng máy
tính diện rộng giữa các công ty chứng khoán và trung tâm quản lý hệ thống.
PHẦN II : SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN TP.HCM
2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh (TTGDCK TP.HCM)
được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998 và chính
thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000 đã
đánh dấu một sự kiện quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội của đất nước.
Sự ra đời của TTGDCK TP.HCM có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo ra một
kênh huy động và luân chuyển vốn mới phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, là sản phẩm của nền chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế vận hành
theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và nhà nước ta. Là
đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản
riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp, Trung tâm được Chính phủ
giao một số chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quản lý điều hành hệ thống giao
dịch chứng khoán tập trung tại Việt Nam. Đó là: tổ chức, quản lý, điều hành việc
mua bán chứng khoán, quản lý điều hành hệ thống giao dịch, thực hiện hoạt động
quản lý niêm yết, công bố thông tin, giám sát giao dịch, hoạt động đăng ký, lưu
ký và thanh toán bù trừ chứng khoán và một số hoạt động khác. Để thực hiện tốt
các chức năng, Trung tâm có cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ, bao gồm: một Giám
đốc và hai Phó giám đốc, trong đó có một Phó giám đốc thường trực và 9 phòng,
ban (Phòng Quản lý niêm yết, Phòng Quản lý thành viên, Phòng Giám sát giao
dịch, Phòng Đăng ký - Lưu ký - Thanh toán bù trừ, Phòng Công nghệ thông tin,
Phòng Thông tin Thị trường, Phòng Hành chính Tổng hợp, Phòng Kế toán và
Ban quản lý Dự án).
Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (SGDCK TP.HCM), tiền thân là
Trung Tâm Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, được chuyển đổi theo
Quyết định 559/QĐ/TTg ngày 11/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 7/1/2008, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận
đăng ký hoạt động Công ty TNHH Một thành viên cho Sở Giao dịch Chứng
khoán Tp.HCM (HOSE).
Công ty TNHH Một thành viên này có địa chỉ trụ sở chính 45-47 Bến
Chương Dương, Phường Thái Bình, quận 1, Tp.HCM. Công ty có vốn điều lệ
1.000 tỷ đồng (bao gồm vốn ngân sách Nhà nước cấp do Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán Tp.HCM chuyển giao và vốn bổ sung của Nhà nước trong quá trình
hoạt động), ngoài ra còn có nguồn vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế và các
nguồn vốn hợp pháp khác. Công ty này hoạt động theo Luật Chứng khoán, Luật
Doanh nghiệp, Điều lệ của Sở Giao dịch chứng khoán và các quy định khác của
pháp luật có liên quan.
Chức năng hoạt động của Công ty bao gồm: tổ chức thị trường giao dịch cho
chứng khoán của các tổ chức phát hành đủ điều kiện niêm yết tại Sở Giao dịch
Chứng khoán theo quy định của pháp luật, giám sát các hoạt động giao dịch
chứng khoán niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán.
- Tên gọi đầy đủ: Sở Giao Dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
- Tên giao dịch quốc tế: Hochiminh Stock Exchange.
- Tên viết tắt: HOSE.
Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh có quyền hạn và nghĩa vụ như sau:
Quyền hạn
* Ban hành các quy chế về niêm yết chứng khoán, giao dịch chứng khoán, công bố
thông tin và thành viên giao dịch sau khi được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
chấp thuận.
* Tổ chức và điều hành hoạt động giao dịch chứng khoán tại Sở giao dịch chứng
khoán.
* Tạm ngừng, đình chỉ hoặc huỷ bỏ giao dịch chứng khoán theo Quy chế giao dịch
chứng khoán của Sở giao dịch chứng khoán trong trường hợp cần thiết để bảo vệ
nhà đầu tư.
* Chấp thuận, huỷ bỏ niêm yết chứng khoán và giám sát việc duy trì điều kiện
niêm yết chứng khoán của các tổ chức niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán.
* Chấp thuận, huỷ bỏ tư cách thành viên giao dịch; giám sát hoạt động giao dịch
chứng khoán của các thành viên giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán.
* Giám sát hoạt động công bố thông tin của các tổ chức niêm yết, thành viên giao
dịch tại Sở giao dịch chứng khoán.
* Làm trung gian hoà giải theo yêu cầu của thành viên giao dịch khi phát sinh tranh
chấp liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán.
* Thu phí theo quy định của Bộ Tài chính.
Nghĩa vụ
* Bảo đảm hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường được tiến hành công
khai, công bằng, trật tự và hiệu quả.
* Thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thống kê, nghĩa vụ tài chính theo quy định
của pháp luật.
* Thực hiện công bố thông tin về giao dịch chứng khoán, thông tin về tổ chức niêm
yết tại Sở giao dịch chứng khoán, thông tin về công ty chứng khoán, công ty quản
lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán và thông tin giám sát
hoạt động của thị trường chứng khoán.
* Cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
công tác điều tra và phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán
và thị trường chứng khoán.
* Phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và
thị trường chứng khoán cho nhà đầu tư.
* Bồi thường thiệt hại cho thành viên giao dịch trong trường hợp Sở giao dịch
chứng khoán gây thiệt hại cho thành viên giao dịch, trừ trường hợp bất khả kháng.
2.2
Các hoạt động chính của Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
2.2.1 Hoạt động quản lý và điều hành thị trường
Tính đến thời điểm ngày 31/12/2006, TTGDCK TP.HCM đã tổ chức thành công
1451 phiên giao dịch. Các hoạt đông giao dịch được diễn ra liên tục, thông suốt .
Bên cạnh đó, trung tâm luôn nghiên cứu các giải pháp, kiến nghị Chính phủ và
UBCKNN ban hành những chính sách và quy định kịp thời để điều tiết thị trường
cho phù hợp với xu hướng phát triển và tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng,
công bằng, đúng pháp luật đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng của nhà đầu tư . Đó
là việc điều chỉnh biên độ dao động giá để phù hợp với từng giai đoạn phát triển
của thị trường, tăng phiên giao dịch từ 3 phiên / tuần lên 5 phiên / tuần, áp dụng
các biện pháp kĩ thuật mới như : tăng từ 1 đợt khớp lệnh lên 3 đợt trong một phiên
giao dịch, áp dụng lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh ( lệnh ATO ), chia nhỏ lô
giao dịch cổ phiếu từ 100CP xuống còn 10CP , giảm tỷ lệ ký quỹ tiền mua chứng
khoán từ 100% xuống 70%, tăng tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài từ 20%
lên 30% và 49% trên tổng khối lượng niêm yết của tổ chức phát hành, không giới
hạn đối với trái phiếu, thay đổi phương thức giao dịch trái phiếu, theo đó trái phiếu
chỉ được giao dịch theo phương thức thỏa thuận, không quy định khối lượng giao
dịch, biên đọ dao động giá, đơn vị giao dịch và các đơn vị yết giá và nhiều chính
sách giải pháp khác. Bên cạnh đó, hoạt động giám sát giao dịch của trung tâm cũng
được tiến hành thường xuyên nhằm phát hiện và đề xuất Thanh tra UBCKNN xử lý
kịp hời các hành vi vi phạm.
2.2.2 Hoạt động quản lý niêm yết
Khi mới đi vào hoạt động, tại TTGDCK TP.HCM chỉ có 2 loại cổ phiếu (REE và
SAM) và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch. Số lượng chứng
khoán niêm yết đã tăng dần qua các năm.Tính tới tháng 12/2007, đã có 537 chứng
khoán, trong đó có 128 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quĩ, 407 trái phiếu, đang niêm yết và
giao dịch tại Sở. Tính đến hết ngày 28/12/2007, thị trường có thêm 32 loại cổ phiếu
và 1 chứng chỉ quỹ được niêm yết mới, nâng tổng số cổ phiếu trên sàn HOSE là
138 cổ phiếu và 3 chứng chỉ quỹ, và thêm 17 loại trái phiếu (trong đó có 12 trái
phiếu chính quyền địa phương và 5 trái phiếu công ty). Số lượng cổ phiếu niêm yết
tăng trưởng gần 30% so với năm 2006.Các công ty có cổ phiếu niêm yết mới trong
năm 2007 đều là những công ty có vốn lớn, có tình hình quản trị công ty tốt, thực
sự có nhu cầu huy động vốn qua thị trường chứng khoán, và đã góp phần nâng cao
chất lượng hàng hóa giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán. Về số lượng tài
khoản, nếu như cuối năm 2006 là 200.000 người thì năm nay đã tăng lên xấp xỉ
300.000 tài khoản, tăng 50%.Thời điểm cuối 2006, thị trường chứng khoán Việt
Nam đạt 17% GDP. Đến cuối năm 2007, thị trường chứng khoán đã đạt 40% GDP
vượt mục tiêu 25-30% GDP mà Thủ tướng đặt ra trong chiến lược phát triển của thị
trường chứng khoán đến năm 2010. Và dự kiến quy mô vốn hóa thị trường chứng
khoán trong năm 2008 sẽ chiếm khoảng 50 - 60% GDP.
2.2.3 Hoạt động quản lý thành viên
Số Công ty chứng khoán thành viên SGDCK TP.HCM không ngừng tăng về số
lượng, quy mô và chất lượng dịch vụ. Từ lúc chỉ có 6 Công ty chứng khoán thành
viên vào thời điểm đầu, đến nay, theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, trên cả
nước có 69 công ty chứng khoán đang hoạt động, con số đã được cấp phép là gần
100. Ngoài ra còn hơn 80 hồ sơ xin thành lập công ty chứng khoán đang chờ xét
duyệt. So với dầu năm 2006, số lượng các công ty chứng khoán hiện tại tăng gấp 5
lần.Trong năm 2007, hầu hết các công ty chứng khoán đều đạt hoặc vượt kế hoạch
kinh doanh. Mạng lưới hoạt động và vốn điều lệ của các công ty cũng tăng từ hai
đến ba lần. Phân hóa giữa các công ty đã rõ nét. Theo tác giả Ngọc Thủy (Nhịp cầu
Đầu tư), SSI chiếm 20% thị phần môi giới trên cả hai sàn. BVSC chiếm 70% thị
phần bảo lãnh phát hành. Nhóm các công ty có hỗ trợ từ ngân hàng mẹ như ACBS,
SBSC, DAS, VCBS, Agriseco cũng khẳng định lợi thế khách hàng và vốn.
2.2.4 Hoạt động quản lý giao dịch
Hoạt động quản lý giao dịch là một trong những nghiệp vụ quan trọng của SGDCK
TP.HCM. Xác định được tầm quan trọng đó, thời gian qua Sở luôn nghiên cứu và
kiến nghị các giải pháp kỹ thuật cũng như các quy chế, quy trình nhằm từng bước
hoàn thiện và tạo điều kiện thuạn lợi để các nhà đầu tư tham gia mua bán chứng
khoán trên thị trường. Từ thời điểm ban đầu Trung tâm chỉ thực hiện một đợt khớp
lệnh trong một phiên giao dịch và mỗi tuần chỉ tổ chức 3 phiên giao dịch (Hai, Tư,
Sáu) thì Sở đã tăng lên 3 đợt khớp lệnh trong một phiên và mỗi tuần thực hiện 5
phiên giao dịch. Bên cạnh đó, nếu như trước đây, trái phiếu được tổ chức giao dịch
thông qua 2 phương thức là khớp lệnh và thoả thuận, có quy định biên độ giao
động, đơn vị yết giá thì nay, căn cứ vào tình hình thị trường và kinh nghiệm quốc
tế, trái phiếu được giao dịch chỉ qua phương thức thoả thuận, không quy định biên
độ và đơn vị yết giá.
2.2.5 Hoạt động công bố thông tin thị trường
Hoạt động công bố thông tin thị trưòng chiếm vị trí khá quan trọng trong việc xây
dựng một thị trường chứng khoán hoạt động công khai, minh bạch nhằm tạo ra một
môi trường đầu tư công bằng, cung cấp kịp thời các thông tin, dữ liệu cần thiết cho
các nhà đầu tư. Nhận thức được điều đó, một mặt SGDCK TP.HCM tăng cường,
kiểm tra giám sát việc thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của công ty niêm yết,
mặt khác nâng cao chất lượng, nội dung và đa dạng hoá các phương tiện công bố
thông tin theo phương châm: Đầy đủ, kịp thời, chính xác và dễ tiếp cận. Hiện nay
các thông tin về hoạt động chứng khoán và hoạt động của các tổ chức niêm yết
được công bố thông tin đúng theo quy định và qua nhiều phương tiện như: trang
Web, bản tin Thị trường Chứng khoán, màn hình điện tử đặt tại SGDCK TP.HCM
và các công ty Chứng khoán thành viên, thông qua mạng Internet gửi đến các địa
chỉ E-mail đăng ký, Fax và các ấn phẩm thường niên của Sở.
Trang thông tin điện tử của Sở GDCK Tp. Hồ Chí Minh mỗi ngày đang phục vụ
nhu cầu thông tin của gần nửa triệu nhà đầu tư, công ty chứng khoán và định chế
tài chính cùng rất đông đảo người sử dụng Internet quan tâm tới thị trường vốn, thị
trường chứng khoán Việt Nam. Tính tới thời điểm tháng 12/2007, địa
chỉ đã tiếp nhận 14 triệu lượt truy cập.
2.2.6 Hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ của SGDCK TP.HCM không
ngừng được cải thiện, nâng cao và luôn đảm bảo quy trình thanh toán các giao dịch
được diễn ra thông suốt an toàn. Tính đến ngày 28/07/2004, Trung tâm đã nhận lưu
ký 87.101.594 cổ phiếu (chiếm tỷ lệ 70,1%) và 176.841.650 (chiếm tỷ lệ 98,9%).
Ngoài ra, Trung tâm đã thực hiện cầm cố đối với 48.614.897 cổ phiếu và 5.560.100
trái phiếu, thực hiện 94 đợt thanh toán hộ cổ tức với tổng giá trị 249.905.411.100
đồng và 102 đợt thanh toán lãi trái phiếu với tổng giá trị 850.938.615.517 đồng.
Đồng thời, TTGDCK TP.HCM đã triển khai thực hiện các nghiệp vụ cho các loại
trái phiếu chính phủ đang lưu ký của các tổ chức tín dụng, Ngân hàng thương
mại... như quản lý các giao dịch trái phiếu cầm cố, chiết khấu, các trái phiếu được
đưa vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tham gia thị trường mở và các hoạt động khác của
Ngân hàng Nhà nước. Các giao dịch trái phiếu Chính phủ qua hệ thống lưu ký của
Trung tâm đã mang lại những thuận lợi nhất định như thực hiện được nhanh chóng,
hiệu quả, tiết kiệm chi phí do sự cách trở về địa lý và giảm được chi phí rút, in ấn
chứng chỉ chứng khoán, vận chuyển cũng như đảm bảo an toàn cho quá trình thực
hiện.
Ngày 7/7/2006 tại Hà Nội, Bộ Tài chính - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã tổ
chức Lễ ra mắt Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK). TTLKCK tạo ra một
định chế tài chính mới, góp phần hoàn thiện hơn thị trường chứng khoán trong việc
đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ
cho việc giao dịch chứng khoán.
TTLKCK sẽ là địa điểm rất tin cậy cho các nhà đầu tư cũng như Nhà nước giám
sát được thị trường chứng khoán. Cụ thể, đối với các thành viên lưu ký, TTLKCK
cung cấp các dịch vụ lưu ký cho nhà đầu tư, giảm các chi phí liên quan đến lưu
giữ, tổ chức kho két, chuyển giao chứng khoán vật chất, được thông báo đầy đủ kết
quả bù trừ, thanh toán các giao dịch chứng khoán lưu ký, được nhận sự hỗ trợ từ
Quỹ thanh toán trong trường hợp mất khả năng thanh toán. Còn đối với các Tổ
chức phát hành sẽ không phải mất chi phí xác nhận lại quyền sở hữu khi chứng
khoán được giao dịch mua bán trên các Sàn GDCK và TTGDCK, tiết kiệm được
các chi phí liên quan đến việc tập hợp danh sách cổ đông khi muốn thực hiện đại
hội cổ đông, thanh toán cổ tức... thông qua việc sử dụng hệ thống đăng ký và thực
hiện quyền trên TTLKCK, giảm thiểu được các chi phí phát hành chứng chỉ chứng
khoán trong trường hợp phát hành thêm thông qua việc sử dụng hệ thống bút toán
ghi sổ trên TTLKCK. Đối với các nhà đầu tư, chứng khoán lưu ký được lưu giữ an
toàn, đảm bảo, chuyển quyền sở hữu chứng khoán thông qua chuyển giao ghi sổ,
an toàn, hiệu quả, người đầu tư không phải đăng ký lại chứng khoán khi thực hiện
quyền…
2.3 Thực trạng hoạt động từ khi ra đời đến nay
2.3.1 Hoạt động của SGDCK TP.HCM từ khi ra đời đến năm 2007
Khi mới đi vào hoạt động năm 2000 TTGDCK TP.HCM chỉ có 2 loại cổ phiếu
( REE và SAM ) và một vài loại trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch. Số
lượng chứng khoán niêm yết đã tăng dần qua các năm như sau :
Năm 2000 có 2 loại cổ phiếu niêm yết trên sàn
Năm 2001 có 11 loại cổ phiếu niêm yết trên sàn
Năm 2002 có 20 loại cổ phiếu niêm yết trên sàn
Năm 2003 có 22 loại cổ phiếu niêm yết trên sàn
Năm 2004 có 23 loại cổ phiếu niêm yết trên sàn
Năm 2005 có 71 loại cổ phiếu niêm yết trên sàn
Đến quý II năm 2007 có 107 công ty, 2 chứng chỉ quỹ đầu tư và 363 loại trái phiếu
niêm yết trong đó có 309 loại trái phiếu chính phủ, 46 loại trái phiếu chính quyền
địa phương và 8 loại trái phiếu doanh nghiệp.
Bảng : Phát triển của thị trường chứng khoán đến hết ngày ngày 26/06/2007:
Hàng hóa trên TTCK Việt Nam
TT
1
2
Nội dung
Tổng số CK đang
niêm yết
472
Tỷ trọng ( % )
100%
Khối lượng CK
đang niêm yết
Tỷ trọng ( % )
3
Toàn thị
trường
Giá trị CK đang
niêm yết (đv: tr.đ)
Tỷ trọng ( % )
2.569.173.825
100%
Chia ra
Cổ phiếu
Chứng chỉ
quỹ
107
2
22.67%
1.878.363.975
73.11%
0.42%
100.000.000
3.89%
Trái phiếu
363
76.91%
590.809.850
23%
78.982.975
18.783.640
1.000.000
59.199.335
100%
23.78%
1.27%
74.95%
Nhìn chung, phần lớn các công ty có cổ phiếu niêm yết trên thị trường đều hoạt
động kinh doanh có lãi. Đa số các công ty niêm yết đều thực hiện tốt các nghĩa vụ
công bố thông tin đúng theo quy định, duy trì được tiêu chuẩn niêm yết và áp dụng
điều lệ mẫu nhằm nâng cao quản trị công ty. Tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp
Nhà nước kéo theo sự phát triển vượt bậc cả về chất và lượng của thị trường chứng
khoán, có thể nói từ năm 2006 đã bùng nổ ‘‘ làn sóng lên sàn ’’ của các công ty
niêm yết, số lượng các công ty chứng khoán thành viên cũng tăng mạnh và có sự
thay đổi về quy mô và hình thức hoạt động :
Năm 2002 có 9 công ty chứng khoán
Năm 2003 có 11 công ty chứng khoán
Năm 2004 có 13 công ty chứng khoán
Năm 2005 có 13 công ty chứng khoán
Tính đến ngày 30/06/2007 tại thị trường giao dịch chứng khoán TP.HCM đã có 48
công ty chứng khoán thành viên với tổng số vốn điều lệ đạt đến 4.644,75 tỷ đồng.
Sự phát triển nhanh chóng lượng hang hóa niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, số lượng tài khoản giao
dịch tại các công ty chứng khoán trên địa bàn TP.HCM đã tăng nhanh chóng.
Năm 2003 có 16.000 tài khoản
Năm 2004 có 21.200 tài khoản
Năm 2005 có 31.000 tài khoản
Năm 2006 có 95.000 tài khoản
Đến 29/06/2007 có trên 240.000 tài khoản trong đó có trên 5.000 tài khoản của nhà
đầu tư cá nhân và tổ chức nước ngoài.
Sự bứt phá của quy mô giao dịch trên thị trường chứng khoán TP.HCM
Năm 2005 VNI-Index mới đạt 307.5 điểm
Ngày 21/12/2006 VNI-Index đạt 809.86 điểm
Ngày 12/03/2007 VNI-Index đạt 1173.6 điểm
Tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đã đạt trong năm 2006 ước tính là 17%.
Qua hơn 6 năm hoạt động, số Công ty chứng khoán thành viên TTGDCK TP.HCM
không ngừng tăng về số lượng, quy mô và chất lượng dịch vụ. Từ lúc chỉ có 3
Công ty chứng khoán thành viên vào thời điểm ban đầu, đến nay toàn thị trường đã
có 21 Công ty chứng khoán đăng ký làm thành viên TTGDCK TP.HCM với tổng
số vốn đăng ký là 2.600 tỷ đồng. Các thành viên của TTGDCK TP.HCM hầu hết
được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh với 5 nghiệp vụ gồm : Môi giới, tự
doanh, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư. Số lượng tài
khoản giao dịch chứng khoán thành viên tăng liên tục qua từng năm và cho đến
cuối năm 2006 đã có hơn 95.000 tài khoản giao dịch của nhà đầu tư mở tại các
công ty chứng khoán.
Bảng : Bảng tổng khối lượng và giá trị giao dịch chứng khoán từ năm 2000 đến
quý II năm 2007 tại sàn giao dịch TP.HCM
TOÀN THỊ TRƯỜNG
CỔ PHIẾU
NĂM
KL
G.TRỊ
KL
CHỨNG CHỈ
QUỸ
G.TRỊ
KL
TRÁI PHIẾU
G.TRỊ
KL
G.TRỊ
3.662.790
92.357
3.641.000
90.215
0
0
21.790
2.143
19.721.930
1.034.721
19.028.200
964.020
0
0
693.730
70.702
37.008.649
1.080.891
35.715.939
959.330
0
0
1.292.710
121.561
53.155.990
2.998.321
28.074.150
502.022
0
0
25.081.840
2.496.299
248.072.240
19.887.150
72.894.288
1.970.969
3.498.720
32.899
171.679.232
17.883.282
353.070.622
26.877.959
94.846.187
2.784.291
26.113.610
256.079
232.110.825
23.837.589
1.120.781.696
86.829.273
538.536.869
35.472.342
104.744.380
2.702.683
447.500.447
48.654.249
1.135.007.203
122.733.726
789.482.038
95.852.455
120.406.010
3.227.236
225.119.155
23.654.035
101.27%
141.35%
146.6%
270.22%
114.95%
119.41%
47.15%
48.62%
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
29/06
/2007
%
2.3.2 Hoạt động của SGDCK TP.HCM từ năm 2007 đến tháng 6 năm 2010
Đến thời điểm 30/6/2010, Sở GDCK TP.HCM (HOSE) có 243 cổ phiếu, 58 trái
phiếu, 4 chứng chỉ quỹ chính thức được niêm yết, so với thời điểm năm 2000 mới
chỉ có 2 cổ phiếu niêm yết. Giá trị vốn hóa thị trường đạt hơn 560 ngàn tỷ đồng.
Có thể nói thành công lớn nhất về giao dịch sau 10 năm thị trường đi vào hoạt
động đó là việc chuyển từ phương thức nhập lệnh thủ công tại sàn sang phương
thức khớp lệnh trực tuyến (ngày 12/01/2009), tác động tích cực đến hoạt động toàn
thị trường. Tính thanh khoản của thị trường cũng được cải thiện đáng kể với khối
lượng giao dịch trung bình một phiên từ vài ngàn chứng khoán trong năm 2000, lên
đến khoảng 49,95 triệu chứng khoán trong năm 2010. Trong công tác quản lý công
ty chứng khoán thành viên hiện nay, HOSE đã có 101 công ty chứng khoán
(CTCK) là thành viên, so với năm 2000 chỉ có 4 công ty. 101 công ty hiện tại có
tổng số vốn điều lệ hơn 23 ngàn tỷ đồng, và hầu hết là đã tham gia giao dịch trực
tuyến.
Công tác hợp tác quốc tế đã và đang tiếp tục được đẩy mạnh, nhằm khẳng định vị
trí và tầm ảnh hưởng của HOSE trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới. Sở
vẫn là điểm đến của các tổ chức quốc tế khi muốn tìm hiểu về TTCK Việt Nam.
Tính đến nay, sở đã ký kết với các đối tác 20 biên bản ghi nhớ về hợp tác (MoU),
trong đó tiêu biểu nhất là việc ký MoU liên kết giữa 6 sở GDCK của ASEAN, đánh
dấu sự hội nhập toàn diện của HOSE trong khu vực ASEAN. Hiện nay, sở cũng đã
trở thành thành viên đối thoại của Liên đoàn các Sở GDCK thế giới (WFE).
2.3.3 Hoạt động của SGDCK TP.HCM từ tháng 7 năm 2010 đến nay
Cho đến nay, SGDCK TP.HCM đã đạt những thành quả rất đáng khích lệ. Tính
đến ngày 31/12/2012, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết,
trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 ngàn tỷ đồng, đặc biệt
có 6 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia niêm yết, 03 chứng chỉ quỹ
đầu tư với khối lượng 171,4 triệu đơn vị và 366 trái phiếu các loại. Dự kiến thời
gian tới, số lượng cổ phiếu niêm yết tại SGDCK TP.HCM sẽ tăng lên rất nhiều do
Chính phủ đã có chủ trương đưa cổ phiếu của một số tổng công ty lớn, các ngân
hàng thương mại quốc doanh cổ phần hoá vào niêm yết trên thị trường.
Trước sự tăng trưởng của TTCK, số lượng công ty chứng khoán thành viên của
SGDCK TP.HCM cũng không ngừng tăng về số lượng, quy mô và chất lượng dịch
vụ. Tính đến hết ngày 31/12/2011, toàn thị trường đã có 62 công ty chứng khoán
đăng ký làm thành viên của Sở với tổng số vốn đăng ký là 9.960 tỷ đồng. Các
thành viên hầu hết được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh với các nghiệp vụ
gồm: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư.
Sự gia tăng nhanh chóng lượng cổ phiếu niêm yết trên thị trường đã thu hút được
thêm nhiều nhà đầu tư, trong cũng như ngoài nước, cá nhân cũng như có tổ chức.
Đến cuối năm 2010, số lượng tài khoản của nhà đầu tư mở tại các công ty chứng
khoán thành viên lên tới trên 106 ngàn tài khoản, thì cho đến hết năm 2011 số