BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN MAI LỆ
NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
TÂY BẮC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN – THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN MAI LỆ
NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
TÂY BẮC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN – THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Cơng tác xã hội
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Phạm Thu Hà
SƠN LA, NĂM 2018
LỜI CẢM ƠN
--------------
Trong suố t quá triǹ h nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này. Em đã nhận
đƣơc sƣ̣ hƣớng dẫn , giúp đỡ quý báu của các thầy cô . Với lòng kiń h trọng và
biế t ơn sâu sắ c, em xin đƣợc bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
- TS.Phạm Thu Hà, là một ngƣời giảng viên tâm huyết, cô đã hế t lòng
giúp đỡ, động viên bản thân em trong những lúc khó khăn và hƣớng dẫn em rất
chu đáo trong suố t quá trình thực hiện và hồn thành khóa luận, đã mang đến
cho em rất nhiều kiến thức quý báu và truyền cho em sự tâm huyết, yêu nghề.
- Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giảng viên trong khoa Lý luận chính
trị trƣờng Đại học Tây Bắc đã nhiệt tình giúp đỡ , tạo điều kiện thuận lợi về mặt
thời gian và cơng việc để em có thể hồn thành khóa luận theo đúng tiến độ . Xin
cảm ơn các bạn sinh viên của các lớp K 56 ĐHGD Chính trị, K57 ĐHGD Toán,
K55 ĐHGD Ngữ Văn, K56 Đại học Quản lý tài nguyên và môi trƣờng C, K56
Đại học Kế toán, đã nhiệt tình hợp tác, cung cấp thông tin để em có thể thu thập
đƣợc những thơng tin và số liệu quý báu cho khóa luận.
Sơn La, Tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Mai Lệ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBGV
: Cán bộ giáo viên
LTQĐTD
: Lây truyền qua đƣờng tình dục
KHHGĐ
: Kế hoạch hóa gia đình
NSP
: Ngành ngoài sƣ phạm
SKSS
: Sức khỏe sinh sản
SP
: Ngành sƣ phạm
SV
: Sinh viên
SVSP
: Sinh viên ngành sƣ phạm
SVNSP
: Sinh viên ngành ngoài sƣ phạm
UNICEF
: Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc
UNFPA
: Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc
WHO
: Tổ chức Y tế thế giới
%
: Phần trăm
f
: Tần số
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề ..........................................................
3. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 7
5. Giới hạn đề tài ................................................................................................ 7
6. Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu .............................................. 7
7. Giả thuyết khoa học ........................................................................................ 8
8. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................ 8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................ 11
1.1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu ...................................
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI
HỌC TÂY BẮC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN ................................................. 43
2.1. Đánh giá của sinh viên Đại học Tây Bắc về mức độ nhận thức sức khỏe sinh
sản …………………........................................................................................ 43
2.2. Nhận thức của sinh viên Đại học Tây Bắc về nội dung sức khỏe sinh sản và
về các biểu hiện sự khác biệt mặt tâm lý của giới tính ...................................... 46
2.3. Nhận thức của sinh viên Đại học Tây Bắc về vấn đề tình yêu, hôn nhân ......... 48
2.4. Nhận thức của sinh viên Đại học Tây Bắc về vấn đề tình dục .................... 55
2.5. Nhận thức của sinh viên Đại học Tây Bắc về vấn đề nạo phá thai và con
đƣờng gây nhiễm bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục ....................................... 61
2.6. Những yếu tố tác động đến nhận thức của sinh viên Đại học Tây Bắc về sức
khỏe sinh sản………. ....................................................................................... 67
2.7. Một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên trƣờng Đại
học Tây Bắc về sức khỏe sinh sản .................................................................... 70
KẾT LUẬN...................................................................................................... 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 85
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thanh niên, sinh viên là lực lƣợng quyết định sự lớn mạnh và phồn vinh
của đất nƣớc. Sự phát triển của thanh thiếu niên luôn là vấn đề đƣợc quan tâm
hàng đầu ở Việt Nam. Ở Việt Nam, vị thành niên và thanh niên tuổi từ 14 - 25 là
nhóm dân cƣ đơng nhất, chiếm gần một phần tƣ dân số cả nƣớc (khoảng trên 20
triệu ngƣời - Tổng cục Thống kê, điều tra dân số và nhà ở năm 2014). Vì lực
lƣợng thanh thiếu niên, đặc biệt là thanh niên sinh viên có tiềm năng to lớn
quyết định sự lớn mạnh và thịnh vƣợng của đất nƣớc, chính vì thế việc nắm
đƣợc những vấn đề cốt lõi trong sự phát triển của họ là hết sức quan trọng. Hiện
nay, một trong những vấn đề mà thanh niên sinh viên cần đƣợc quan tâm đó là
vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản.
Theo tổ chức UNFPA năm 2013 cho biết - Trên toàn thế giới, có khoảng 16
triệu trẻ em gái từ 15-19 tuổi sinh con mỗi năm, các biến chứng khi mang thai
và khi sinh tiếp tục là những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong mẹ cho các
em gái vị thành niên ở các nƣớc có thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Trong
số các trƣờng hợp mắc các bệnh lây qua quan hệ tình dục cứ 20 ngƣời mắc bệnh
thì có 1 ngƣời ở lứa tuổi vị thành niên và 1/2 trong tổng số các trƣờng hợp
nhiễm HIV/AIDS là những ngƣời dƣới tuổi 25. Ở Việt Nam hiện nay, cũng đang
đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến SKSS vị thành niên. Tình trạng nạo, phá
thai ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên ngày một gia tăng.
Ở Việt Nam, kể từ Hội nghị Quốc tế “Dân số và phát triển”, hàng loạt các
cuộc nghiên cứu về SKSS đã đƣợc thực hiện. Hƣớng nghiên cứu SKSS ở nhóm
dân số trẻ (15 - 24 tuổi) cũng mới thực sự đƣợc quan tâm và phát triển trong thời
gian gần đây. Trong đó, các cơng trình nghiên cứu về nhận thức sức khỏe sinh
sản của sinh viên đại học nhất là ở khối ngành sƣ phạm cũng còn ở giai đoạn
khởi đầu. Đây là việc làm cần thiết để chuẩn bị cho sinh viên đƣơng đầu với
những vấn đề của cuộc sống liên quan đến SKSS của họ. Thêm nữa, sự hiểu biết
thiếu đầy đủ, đúng đắn về SKSS có thể đẩy các sinh viên vào nguy cơ tình dục
không lành mạnh, khơng an tồn; có thể đẩy các bạn gái vào nguy cơ có thai
1
ngoài ý muốn hoặc mắc các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục kể cả
HIV/AIDS... Nhận thức của lớp trẻ về các vấn đề SKSS bao gồm tình dục, chức
năng sinh sản, các biện pháp tránh thai, quan hệ tình dục an tồn.... cịn nhiều
hạn chế. “Ở Việt Nam, theo thống kê có 40% thanh thiếu niên cho biết rằng họ
không hiểu gì về các biện pháp tránh thai” [5,tr.12]. Sự thiếu hiểu biết chung về
quá trình sinh sản và bản năng sinh dục của con ngƣời cùng với quan hệ tình dục
trƣớc hơn nhân có xu hƣớng ngày một tăng khiến lớp trẻ phải đối mặt với các
nguy cơ nói trên.
Cung cấp thơng tin và giáo dục SKSS hay giáo dục sức khỏe tình dục có
thể giúp cho lớp trẻ tự khám phá các quan điểm, tiêu chuẩn và sự lựa chọn riêng
đồng thời nâng cao kiến thức và hiểu biết về vấn đề SKSS. Điều đó giúp cho lớp
trẻ có một cuộc sống lành mạnh và hạnh phúc, ngăn ngừa những nguy cơ nói
trên và nâng cao đời sống và SKSS sau này. Do đó, có thể nói việc nhận thức về
SKSS có tác động sâu rộng và lâu dài với thái độ và hành vi của sinh viên.
Sinh viên trƣờng Đại học Tây Bắc tƣơng lai sẽ trở thành những giáo viên, cán
bộ cơng chức có trình độ cao. Do đó, nhận thức, hành vi của họ khơng những có
tác dụng với cuộc sống của chính họ mà với sinh viên khối ngành sƣ phạm còn ảnh
hƣởng mạnh mẽ tới học sinh của họ sau này. Nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh
sản cho sinh viên nhất là sinh viên khối ngành sƣ phạm thiết nghĩ là việc làm cần
thiết nhằm giúp cho họ có một cuộc sống lành mạnh, hạnh phúc, ngăn ngừa các
nguy cơ nói trên và nâng cao đƣợc đời sống và sức khỏe sau này cho nhiều thế hệ.
Để thực hiện đƣợc điều đó, bên cạnh sự tác động, phối hợp...của các lực
lƣợng giáo dục trong giáo dục, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các sinh viên, sự
nhận thức của chính sinh viên để trên cơ sở đó có hành động phù hợp về vấn đề
sức khỏe sinh sản không những đem lại hiệu quả thiết thực trong nâng cao chất
lƣợng cuộc sống cho bản thân, gia đình và xã hội mà còn ảnh hƣởng mạnh mẽ
trong việc trang bị kiến thức cho thanh niên, sinh viên đang học tại các trƣờng
cao đẳng đại học chuyên nghiệp về vấn đề này.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đó chính là lý do để em lựa chọn đề tài
này
2
“Nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc về sức khỏe sinh sản –
Thực trạng và giải pháp”. Qua việc nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp bản thân em
tích lũy thêm kiến thức, đồng thời sẽ nêu lên đƣợc thực trạng về nhận thức của
sinh viên trƣờng Đại học Tây Bắc về SKSS cũng nhƣ đề xuất một số giải pháp
góp phần nâng cao nhận thức cúa sinh viên về vấn đề này.
2. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) là vấn đề khơng cịn mới nhƣng chƣa bao
giờ là cũ. Vấn đề này đã đang và ngày càng thực sự thu hút sự quan tâm của
nhiều nƣớc trên thế giới. Chính vì vậy, từ việc nhận thức đƣợc tầm quan trọng
của công tác giáo dục dân số cho thế hệ trẻ, và kể từ sau Hội nghị quốc tế về
Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo, Ai Cập năm 1994 (ICPD), chƣơng trình
dân số chuyển hƣớng sang quan tâm nhiều hơn đến chất lƣợng dân số, trong đó
trọng tâm là nội dung chăm sóc SKSS. Hầu hết các nghiên cứu về SKSS ở các
nƣớc trên thế giới và ở Việt Nam thƣờng hƣớng về đối tƣợng thanh, thiếu niên.
Có thể nói, việc nghiên cứu SKSS nói chung và nghiên cứu SKSS cho
thanh niên, sinh viên đã đƣợc tiến hành rất sớm trên thế giới, nhất là ở các quốc
gia phát triển nhƣng thƣờng đƣợc gọi với những tên gọi khác nhau chẳng hạn
nhƣ giáo dục sức khỏe giới tính, tình dục thanh thiếu niên. Có lẽ, kể từ sau Hội
nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo, Ai Cập năm 1994 (ICPD)
khi đã có định nghĩa chính thức về SKSS thì việc nghiên cứu SKSS nhất là cho
đối tƣợng thanh thiếu niên đang là “mối quan tâm của không những các nhà
khoa học, các nhà giáo dục, các nhà quản lý xã hội mà cả các bậc cha mẹ đƣợc
đẩy lên một trình độ mới”[27, tr. 426].
Hƣớng nghiên cứu SKSS trong đối tƣợng thanh thiếu niên ở nƣớc ngoài
thƣờng tập trung nghiên cứu về những vấn đề cụ thể, nhạy cảm của SKSS nhƣ
vấn đề nạo phá thai, sinh đẻ sớm, vấn đề quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân, các
bệnh LTQĐTD. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) “hàng năm có khoảng 20
triệu ca nạo phá thai khơng an toàn. Ở Châu Phi thai nghén ngoài dự định dao
động từ 50% - 90% trong số vị thành niên chƣa chồng và 25% - 40% trong số vị
thành niên có chồng” [27, tr. 428].
3
Theo các nghiên cứu ở nhiều nơi trong khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng,
đã chỉ ra thực trạng nhận thức về SKSS ớ lứa tuổi thanh thiếu niên là “nhận
thức của lớp trẻ trong khu vực-dù đã kết hôn hay chƣa - về các vấn đề SKSS bao
gồm tình dục, chức năng sinh sản, các biện pháp tránh thai, quan hệ tình dục an
tồn... cịn nhiều hạn chế” [5, tr. 12].
Thanh thiếu niên chƣa có gia đình thƣờng khơng biết, hoặc không tiếp cận
đƣợc những dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và nhƣ vậy nguy cơ mang thai ngoài
ý muốn hoặc mắc bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục, kể cả lây nhiễm
HIV/AIDS.
Đồng thời thông tin về về tình dục, sức khỏe sinh sản vị thành niên và
thanh niên hầu nhƣ khơng có và việc thảo luận về tình dục thƣờng bị cấm kỵ.
Nhiều ngƣời lớn còn nghĩ rằng việc đƣa giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên vào
chƣơng trình học sẽ khiến lớp trẻ có quan hệ tình dục sớm hơn và nhiều hơn.
Tuy nhiên hàng loạt nghiên cứu cũng cho thấy, thông qua việc nghiên cứu và
giáo dục SKSS hay giáo dục sức khỏe tình dục sẽ làm cho “thanh thiếu niên đã
có quan hệ tình dục chấp nhận thực hiện những hành vi tình dục an toàn hơn,
cũng nhƣ lớp trẻ đã bắt đầu quan hệ tình dục muộn hơn hoặc giảm bớt hoạt động
tình dục nói chung” [5, tr. 11].
Cũng qua các nghiên cứu trên cho thấy ở một số nƣớc trong khu vực, cha
mẹ đƣợc xem là những ngƣời có trách nhiệm chính trong việc giáo dục SKSS
cho vị thành niên và thanh niên. Nhƣng trên thực tế, do việc việc thiếu hiểu biết
chính xác hoặc khơng biết cách nói chuyện với con cái về chủ đề trên khiến lớp
trẻ thích thu lƣợm những thông tin từ những ngƣời khác hay nguồn khác nhƣ
bạn bè đồng lứa, phƣơng tiện truyền thông không đƣợc kiểm soát hơn là từ cha
mẹ. Và lẽ tất nhiên chính điều đó đã gây cho họ những hệ lụy không mong
muốn.
Đáp ứng chƣơng trình hành động quốc tế và thực hiện chiến lƣợc quốc gia
về dân số và chăm sóc SKSS, ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ XX, hoạt
động giáo dục dân số cũng đã chuyển hƣớng sang giáo dục SKSS nói chung và
SKSS cho thanh thiếu niên nói riêng. Theo đó đã có hàng loạt các cuộc nghiên
4
cứu về SKSS đã đƣợc thực hiện. Đặc biệt hƣớng nghiên cứu về nhận thức, thái
độ, hành vi về SKSS ở nhóm dân số trẻ từ 15 tuổi đến 24 tuổi cũng mới thực sự
đƣợc quan tâm và phát triển trong những năm gần đây cùng với quá trình hội
nhập và đổi mới. Mặc dù còn khá mới mẻ nhƣng chúng ta đã sớm nhận ra vị trí
quan trọng của giai đoạn 10 -19 tuổi (trong đó có đối tƣợng SV) trong quá trình
phát triển của cuộc đời mỗi con ngƣời. Do vậy, chỉ hơn mƣời năm qua cùng với
sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nƣớc, sự vào cuộc của các nhà khoa học, sự hỗ trợ
về mặt tài chính và khoa học của các tổ chức quốc tế, đã có hàng chục cơng trình
và đề tài nghiên cứu về các vấn đề cơ bản của SKSS nói chung và SKSS thanh
thiếu niên nói riêng. Tuy nhiên, các nghiên cứu đa phần thƣờng đƣợc tiếp cận
dƣới góc độ Y tế - bệnh học và thời gian qua chúng ta cũng chƣa có một dự án
nào một cách tồn diện với quy mô quốc gia về SKSS thanh thiếu niên.
- Điều tra về thanh niên Việt Nam (SAVY) mang tính chất rộng lớn vào
năm 2003 do Bộ Y tế, Tổng cục thống kê, WHO thực hiện đã mô tả tƣơng đối
đa dạng về các mối quan hệ bạn bè, SKSS và vấn đề tình dục; quan niệm, thái
độ, hành vi và trải nghiệm của thanh thiếu niên về các vấn đề SKSS. Đồng thời,
cũng qua báo cáo điều tra đã nêu lên nhận thức, kiến thức và nguồn thông tin về
SKSS nhƣ nhận thức về 4 chủ đề SKSS: Các bệnh lây truyền qua đƣờng tình
dục (LTQĐTD); Hiểu biết về chu kỳ kinh nguyệt; Nhận thức và sử dụng các
biện pháp tránh thai; Việc sử dụng bao cao su.
Các công trình nghiên cứu trên đối tƣợng SV về SKSS ở các trƣờng đại học
thƣờng không nhiều chủ yếu là tập trung nghiên cứu những vấn đề cụ thể của
SKSS. Có thể kể ra một vài nghiên cứu sau đây:
- Quan niệm về sự chung thuỷ trong tình yêu của SV hiện nay của tác giả
Lê Thị Bừng nghiên cứu trên 143 sinh viên ở hai trƣờng cao đẳng sƣ phạm
Hƣng Yên và đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho thấy đa số SV có quan
niệm đúng về tình yêu, trong đó gần 60,14% cho rằng yếu tố đầu tiên trong tình
yêu là phải có phẩm chất chung thủy....[7, tr.19-21]
- Quan niệm của SV về vấn đề quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân của tác giả
Nguyễn Ánh Hồng nghiên cứu trên 230 SV ở 3 trƣờng đại học Khoa học Xã hội
5
và Nhân văn, đại học Khoa học Tự nhiên và đại học Kinh tế đã phản ánh xu
hƣớng dễ chấp nhận quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân trong SV hiện nay, quan
niệm về hôn nhân và tình yêu của họ thƣờng thoáng hơn [20, tr.18-20]
Các công trình nghiên cứu về nhận thức SKSS đối với SV đại học sƣ phạm
cũng đang còn ở giai đoạn khởi đầu.
- Tác giả Trần Thị Minh Ngọc với công trình nghiên cứu về “Khảo sát nhận
thức của sinh viên đại học sƣ phạm về SKSS” vào năm 2004 ở 1440 SV thuộc
bốn trƣờng đại học sƣ phạm: Thái Nguyên, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội,
Vinh đại diện cho các trƣờng đại học sƣ phạm ở bốn miền Bắc, Trung, Nam và
miền núi phía Bắc, đã cho thấy thực trạng mức độ nhận thức của sinh viên đại
học sƣ phạm còn rất hạn chế, khơng đồng đều. Có sự chênh lệch mức độ nhận
thức của sinh viên đại học sƣ phạm theo giới tính, năm học, học lực, ngành học,
khu vực về 7 nội dung cốt lõi của SKSS: 1. Khái niệm SKSS, đối tƣợng SKSS,
nội dung SKSS; 2. Giới tính; 3. Tình bạn, tình u, hơn nhân; 4. Tình dục an
tồn; 5. Mang thai, nạo phá thai; 6. Biện pháp tránh thai; 7. Bệnh LTQĐTD và
HIV/AIDS. Đồng thời cũng qua nghiên cứu đó, tác giả cũng đề xuất các biện
pháp tác động sƣ phạm nhằm phát triển nhận thức của sinh viên đại học sƣ phạm
về SKSS. [34, tr.40-58].
- Với công trình nghiên cứu về “Thực nghiệm nâng cao nhận thức của sinh
viên sƣ phạm về SKSS” vào năm 2005 cũng của tác giả Trần Thị Minh Ngọc
tiến hành ở 358 SV sƣ phạm Hà Nội, thực nghiệm với 3 nội dung cơ bản: tình
dục an toàn, các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục
bằng biện pháp tác động sƣ phạm thực hiện qua 2 hình thức: tổ chức sinh hoạt
câu lạc bộ theo từng chủ đề về SKSS; tổ chức thi tìm hiểu SKSS thông qua trị
chơi “hái hoa dân chủ” có giải bài tập tình huống. Qua kết quả thực nghiệm đã
cho thấy nhận thức của sinh viên sƣ phạm đƣợc nâng lên nhờ các biện pháp tác
động sƣ phạm nhƣng mức độ thay đổi nhận thức về các nội dung SKSS là không
đồng đều, phụ thuộc nhất định vào các tác động sƣ phạm [36, tr.37-39]
- Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về nhận thức SKSS của sinh viên
sƣ phạm đã phản ánh thực trạng mức độ nhận thức của SV sƣ phạm về việc biết,
6
hiểu, vận dụng liên quan đến các vấn đề cốt lõi của SKSS, các biện pháp thực
nghiệm nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên sƣ phạm về các chủ đề SKSS có
liên quan nhất là các vấn đề tƣơng đối nhạy cảm nhƣ tình dục an toàn, các biện
pháp tránh thai, các bệnh LTQĐTD.
Với đề tài “Nhận thức của sinh viên trƣờng Đại học Tây Bắc về sức khỏe
sinh sản – Thực trạng và giải pháp”, em mong muốn qua việc nghiên cứu nắm
bắt đƣợc thực trạng nhận thức về SKSS của sinh viên đại học Tây bắc ở các nội
dung cơ bản về SKSS, đồng thời qua đó so sánh nhận thức của SV ở 2 khối
ngành lớn: ngành sƣ phạm (SP), ngành ngoài sƣ phạm về vấn đề trên nhằm xem
xét sự khác biệt giữa SV sƣ phạm và SV ngành ngồi SP (NSP). Từ đó đề xuất
những giải pháp tác động nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về SKSS.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng nhận thức của sinh viên trƣờng Đại học Tây Bắc về
sức khỏe sinh sản; từ đó đề xuất một số biện pháp cụ thể góp phần nâng cao
nhận thức về SKSS cho sinh viên.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Thực trạng nhận thức của sinh viên trƣờng Đại học Tây Bắc về SKSS
- Đề xuất một số biện pháp cơ bản góp phần nâng cao nhận thức của sinh
viên trƣờng Đại học Tây Bắc về SKSS
5. Giới hạn đề tài
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu mức độ nhận
thức của sinh viên trƣờng Đại học Tây Bắc về SKSS
- Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu sinh viên thuộc
hệ đào tạo chính quy đang theo học tại trƣờng Đại học Tây Bắc
- Giới hạn về không gian nghiên cứu:Tại trƣờng Đại học tây Bắc.
6. Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên trƣờng Đại học Tây Bắc.
- Đối tƣợng nghiên cứu: Nhận thức của sinh viên trƣờng Đại học Tây Bắc
về SKSS.
7
7. Giả thuyết khoa học
- Nhận thức của sinh viên hệ Đại học chính quy trƣờng Đại học Tây Bắc
cịn chƣa đầy đủ ở các nội dung cơ bản của SKSS và có sự khác nhau giữa sinh
viên ngành sƣ phạm (SVSP) và sinh viên ngành ngoài sƣ phạm (SVNSP).
- Có thể nâng cao nhận thức của sinh viên trƣờng Đại học Tây Bắc về
SKSS bằng việc cung cấp thông tin, kiến thức giáo dục giới tính, giáo dục dân
số, giáo dục SKSS và phát huy tính tích cực nhận thức của sinh viên trong tiếp
cận SKSS.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài, em đã lựa chọn và
sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể sau:
* Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan về SKSS để xây dựng cơ sở lý luận
của đề tài nghiên cứu.
* Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phƣơng pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu trƣng cầu ý kiến:
Xác định thực trạng nhận thức của sinh viên trƣờng Đại học Tây Bắc về
SKSS. Đây là phƣơng pháp nghiên cứu chính sử dụng trong thực hiện khóa luận.
+ Mục đích khảo sát:
Khảo sát thực trạng về mức độ nhận thức của SV Đại học Tây Bắc về
SKSS ở hai khoa sƣ phạm và ngoài sƣ phạm Kết quả khảo sát sẽ là cơ sở để đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về SKSS của SV.
+ Nội dung khảo sát:
Khảo sát hƣớng vào các nội dung cơ bản của SKSS gắn với đối tƣợng
thanh niên SV
- Khái niệm SKSS, giới tính;
- Tình bạn, tình u, hơn nhân, luật hơn nhân;
- Tình dục;
- Nạo phá thai và các con đƣờng nhiễm bệnh LTQĐTD
- Đánh giá của SV về nhận thức SKSS
8
- Nguyên nhân ảnh hƣởng đến nhận thức của SV về SKSS.
- Mức độ ảnh hƣởng của các nguồn thông tin giúp SV có hiểu biết về
SKSS.
- Các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về SKSS của SV:
Cấu trúc bảng hỏi: Bảng hỏi đƣợc xây dựng dựa vào các nội dung cơ bản
về SKSS tập trung vào việc biết, hiểu và vận dụng của SV. Trong đó có các câu
hỏi là các tình huống giả định để tìm hiểu khả năng vận dụng kiến thức về SKSS
của SV.
+ Đối tƣợng khảo sát:
Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của SV trƣờng Đại học Tây Bắc về
SKSS, em đã thực hiện khảo sát trên toàn bộ SV hệ đại học chính quy thuộc
khoa sƣ phạm và ngồi sƣ phạm gồm SV của 5 lớp: K56 ĐHGD Chính trị, K57
ĐHSP Toán, K55 ĐHSP Ngữ Văn, K56 ĐH Quản lý tài nguyên và môi trƣờng,
K56 Đại học kế toán.
Tổng số phiếu phát ra: 200 phiếu
Tổng số phiếu thu vào: 188 phiếu
Số phiếu hợp lệ là 188 phiếu và đƣợc phân bố nhƣ sau:
Lớp
Nam
Nữ
Tổng cộng
ĐHSP Toán
10
22
32
ĐHGD Chính trị
22
24
46
ĐHSP Ngữ văn
15
24
39
Đại học Quản lý tài nguyên
23
15
38
13
20
33
83
105
188
và môi trƣờng C
Đại học Kế toán
Cộng
Với số phiếu phân bố nhƣ trên thì:
- Sinh viên ngành sƣ phạm (SVSP) có: 117 phiếu
Trong đó: Nam sinh viên có:
Nữ sinh viên có:
47 phiếu
70 phiếu
- Sinh viên ngành ngồi sƣ phạm (SVNSP): 71 phiếu
9
Trong đó: Nam sinh viên có:
Nữ sinh viên có:
36 phiếu
35 phiếu
- Thời gian và địa bàn khảo sát:
Khảo sát nhận thức của SV Đại học Tây Bắc đƣợc tiến hành tháng 4 năm
2018 thực hiện trên 5 lớp SV đại học chính quy thuộc khoa sƣ phạm và ngồi sƣ
phạm tại trƣờng ĐHTB.
+ Xử lý kết quả khảo sát:
Phân tích số liệu qua khảo sát để đƣa ra nhận xét và bàn luận, đặc biệt là
thực trạng nhận thức về SKSS của SVSP và SVNSP.
- Phƣơng pháp trò chuyện:
Hỗ trợ cho phƣơng pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi trong việc làm rõ
thực trạng nhận thức của sinh viên trƣờng đại học Tây Bắc về SKSS.
- Phƣơng pháp quan sát:
Hỗ trợ cho phƣơng pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi trong việc nắm thực
trạng nhận thức của sinh viên khoa Sƣ phạm và khoa Cơ bản về SKSS.
- Phƣơng pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả điều tra đƣợc:
Hỗ trợ cho phƣơng pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi, bằng cách thống kê
tần số và phần trăm, từ đó rút ra đƣợc các nhận xét và kết luận.
10
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về tuổi thanh niên sinh viên
Việc phân đoạn, phân kỳ quá trình phát triển của con ngƣời phác họa cho
chúng ta thấy rõ những nét đặc trƣng cơ bản cho từng lứa tuổi. Trong mỗi giai
đoạn phát triển, các nét đặc trƣng này nảy sinh trên cơ sở kết hợp các điều kiện
khách quan và chủ quan.
Quá trình phát triển này là quá trình liên tục. Mỗi giai đoạn phát triển vừa
mang tính kế thừa vừa mang tính phát triển. Tuy nhiên việc phân đoạn, phân kỳ
quá trình phát triển của con ngƣời, trong đó có lứa tuổi thanh niên SV chỉ có ý
nghĩa tƣơng đối.
Hiện nay tồn tại nhiều cách phân đoạn, phân kỳ quá trình phát triển của con
ngƣời tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu: xuất phát từ đặc điểm phát triển sinh lý,
đặc điểm phát triển tâm lý hay đi từ góc độ xã hội học dựa vào các dạng hoạt
động xã hội...Nếu so sánh sự khác biệt giữa ngôn ngữ thông thƣờng và ngôn ngữ
khoa học thì nội dung các khái niệm thể hiện giai đoạn phát triển lại càng khác
xa nhau.
Riêng trong tâm lý học, nếu loại trừ sự khác biệt trong quan điểm phân
đoạn, phân kỳ lứa tuổi do tính liên tục của quá trình phát triển tạo ra, nhìn chung
có thể chấp nhận xác định lứa tuổi thanh niên trong đó có thanh niên SV là từ 15
đến 24 tuổi. Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng các ngƣỡng tuổi trên và ngƣỡng
tuổi dƣới có thể dịch chuyển chút ít (độ 1-2 tuổi) tuỳ thuộc vào các đặc điểm
phát triển lịch sử xã hội, đặc điểm giới và cả đặc điểm phát triển cá nhân.
Chính vì vậy, việc xem xét và đƣa ra các quan niệm, định nghĩa về lứa tuổi
thanh niên SV nhìn chung là chƣa thống nhất, còn nhiều vấn đề tranh cãi.
- Theo Từ điển Giáo dục học của nhà xuất bản Từ điển Bách khoa: “Sinh
viên là ngƣời học của một cở sở giáo dục cao đẳng, đại học” [18,tr.343]. Theo
cách hiểu này, có thể phân loại sinh viên theo nhiều phạm trù khác nhau. Thí dụ
sinh viên tập trung, sinh viên chính quy, sinh viên không tập trung, sinh viên tại
11
chức, sinh viên tự do,....Hơn nữa, do nhu cầu thống kê, ngƣời ta có thể phân biệt
sinh viên thơng thƣờng và sinh viên thuộc hệ thống giáo dục khơng chính quy
(giáo dục thƣờng xuyên) và có một hệ số quy đổi từ sinh viên khơng chính quy
sang sinh viên chính quy.
- Về độ tuổi theo Điều 1, chƣơng I, Luật thanh niên 2005, thanh niên trong
đó có cả thanh niên sinh viên là “công dân Việt Nam từ đủ mƣời sáu tuổi đến ba
mƣơi tuổi”.
- Quan điểm cho rằng tuổi thanh niên sinh viên thuộc giai đoạn tuổi thanh
niên là phù hợp xét theo nhiều mặt. Theo cách hiểu đó, tuổi thanh niên là “giai
đoạn phát triển bắt đầu từ sự phát dục và kết thúc vào lúc bƣớc vào tuổi trƣởng
thành” [17,tr.61]. Tuy nhiên việc phát dục hay trƣởng thành về mặt sinh dục của
mỗi trẻ em là hoàn toàn khác nhau. Hơn thế nữa, việc xác định chuẩn thế nào là
ngƣời trƣởng thành cũng khác nhau. Chính vì vậy, theo cách nhìn nhận trên thì
khó mà xác định đƣợc giới hạn về tuổi thanh niên. Trên thực tế, ngƣời ta thƣờng
đƣa ra các chuẩn về mặt sinh lý, về mặt xã hội... để xác định lứa tuổi thanh niên.
- Cũng có quan niệm cho rằng nội dung tuổi thanh niên là những giai đoạn
của cuộc đời. Quan niệm này có phần chặt chẽ, khoa học hơn khi cho rằng tuổi
thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp, quá độ từ trẻ em đến ngƣời lớn và bao gồm
lứa tuổi từ 11-12 đến 23- 25 tuổi và trong đó đặc biệt lƣu ý đến 2 thời kỳ cơ bản
sau:
+ Tuổi thanh niên mới lớn: (từ 14-15 đến 18 tuổi) là “thế giới thứ ba”
[21,tr.61] tồn tại giữa trẻ em và ngƣời lớn với đặc trƣng là sự trƣởng thành về
mặt cơ thể, sự chín muồi sinh vật, là giai đoạn hồn thiện quá trình xã hội hóa
đầu tiên. Tuổi thanh niên mới lớn cũng thuộc “thời kỳ chuyển tiếp trước”.
+ Thời kỳ thứ ba của lứa tuổi chuyển tiếp (từ 18 đến 23-25 tuổi) là tuổi
thanh niên muộn hay thời kỳ bắt đầu của tuổi ngƣời lớn còn gọi là “thời kỳ
chuyển tiếp sau”. Lứa tuổi này “lớn” về cả hai phƣơng diện sinh vật và quan hệ
xã hội.
Theo PGS. TS Nguyễn Thạc và PGS. TS Phạm Thành Nghị trong giáo
trình Tâm lý học sƣ phạm đại học đã cho rằng “SV đại học là những thanh niên
12
thuộc thời kỳ chuyển tiếp sau” [43,tr.37-44]. Việc cho rằng thanh niên nằm
trong thời kỳ chuyển tiếp và SV đại học thuộc thời kỳ chuyển tiếp sau cũng phù
hợp với quan niệm của nhà tâm lý học ngƣời Mỹ Niky Hayes khi cho rằng “thời
thanh niên nhƣ một thời kỳ chuyển tiếp vai trò ngày càng tăng, đến lƣợt dẫn đến
sự thay đổi nhân cách”[15,tr.803]. Theo đó việc chuyển tiếp có thể diễn ra từ
trƣờng học đến nơi làm việc hay thực hành kinh nghiệm địi hỏi thanh niên nói
chung và thanh niên SV nói riêng phải tập quen nhiều hành vi vai trị khác biệt
nhau nhằm mục đích hƣớng tới việc hồn thiện bản thân.
- Trong một cơng trình nghiên cứu khác, ngƣời ta cho rằng đối với lứa tuổi
thanh niên SV, về tên gọi và sự phân chia giai đoạn phát triển ở lứa tuổi này
đƣợc xác định theo một nghĩa tƣơng đối. Các thành tựu nghiên cứu về sự phát
triển của lứa tuổi này cịn ít, chƣa tập trung và có hệ thống nên việc khái quát
các đặc điểm chung đối với toàn bộ độ tuổi này theo ghi nhận là thuộc nhóm dân
số trẻ tức là trong độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi. Thông thƣờng khi đề cập đến lứa
tuổi này, ngƣời ta hay mô tả đó là lứa tuổi của những “thanh niên đang ngồi trên
ghế nhà trƣờng: đại học, cao đẳng, dạy nghề....”[36, tr.137]. Theo ý kiến của
nhiều tác giả, lứa tuổi thanh niên sinh viên nên bắt đầu từ 19 tuổi và kết thúc vào
khoảng 24 - 25 tuổi. Sỡ dĩ nhƣ vậy là vì khi ở độ tuổi 24, 25 con ngƣời đã hoàn
tất sự phát triển về thể chất thể hiện ở: sự tăng lên về chiều cao, trong lƣợng
của cơ thể, sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của các bộ phận trong cơ
thể.... Đồng thời ở tuổi 25 cũng là dấu mốc cuối cùng kết thúc giai đoạn đào tạo
dài nhất ở trƣờng đại học nhƣ đại học y, đại học dƣợc sinh viên phải hoàn thành
khóa học trong thời gian 6 năm.
Tóm lạị: Từ cách tiếp cận các quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu: Tuổi
thanh niên SV là công dân Việt Nam, trong độ tuổi từ 19 đến 23 - 25 tuổi, nhóm
dân số trẻ ở “thời kỳ chuyển tiếp sau”; là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về
mặt thể chất sang sự trưởng thành về mặt tâm lý –xã hội; là lứa tuổi đang ngồi
trên ghế nhà trường đại học, cao đẳng, dạy nghề....
1.1.2. Khái niệm về sức khỏe sinh sản
- Bối cảnh ra đời của khái niệm SKSS.
13
Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, chúng ta khơng thấy đề cập hay
nhắc đến khái niệm SKSS mà chỉ nói đến các vấn đề về giới tính, giáo dục giới
tính, sức khỏe, văn hóa tính dục, tình dục. Khái niệm SKSS đƣợc khởi nguồn từ
các nƣớc phƣơng Tây và theo hƣớng hòa nhập xuất hiện ở Việt Nam thời gian
gần đây.
Theo tác giả Đào Xuân Dũng: Khái niệm SKSS “có nguồn gốc từ những
năm 50 của thế kỷ XX khi xuất hiện tình trạng gia tăng dân số quá nhanh ở
nhiều nƣớc đang phát triển buộc chính phủ nhiều nƣớc phải quyết định hành
động để giảm bớt sự tăng nhanh dân số” [25,tr.47]. Vì thế trong thập niên 60 của
thế kỷ XX, nhiều chƣơng trình kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) đã ra đời ở
nhiều nƣớc và trở thành động lực bƣớc đầu cho những nỗ lực toàn cầu trong
nghiên cứu vấn đề sinh sản ngƣời.
Năm 1986 chƣơng trình này còn nghiên cứu về AIDS, sự lây nhiễm HIV từ
mẹ sang con. Năm 1988 thì WHO đã ủng hộ những đƣờng lối chiến lƣợc của
Chƣơng trình, đồng thời tái khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa KHHGĐ, sức
khỏe và phát triển và sự cần thiết phải lồng ghép các hoạt động KHHGĐ với các
hoạt động bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em. Chính từ thời điểm này, sứ mạng của
Chƣơng trình là phát triển và điều phối những nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu
về SKSS.
- Quan niệm về sức khỏe sinh sản.
Rõ ràng vấn đề SKSS đã đƣợc quan tâm nhiều từ những năm 90 của thế kỷ
XX. Khái niệm này chính thức đƣợc nhắc đến từ Chƣơng trình của WHO về
nghiên cứu sinh sản ngƣời trên bình diện toàn cầu xuất từ yêu cầu của việc giáo
dục dân số, việc nghiên cứu về giới tính, trong đó đáng lƣu ý là xuất phát từ tình
hình phức tạp của đời sống xã hội về các tệ nạn xã hội, về sự bùng nổ dân số, về
sự phát triển của những lối sống không lành mạnh của thanh thiếu niên.
Theo tác giả Bùi Ngọc Oánh, việc nghiên cứu SKSS thƣờng đƣợc tiến hành
theo các hƣớng:
+ Nghiên cứu theo góc độ Dân số học và Giáo dục dân số: việc nghiên cứu
này thƣờng đi vào những phƣơng thức điều chỉnh sự phát triển dân số, KHHGĐ,
14
giáo dục dân số.....
+ Nghiên cứu theo góc độ Y học: việc nghiên cứu này thƣờng là hƣớng
những tri thức khoa học về các vấn đề của SKSS, những vấn đề thuộc về kỹ
thuật của KHHGĐ....
+ Nghiên cứu việc giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên cũng nhƣ cho ngƣời
lớn, đặc biệt là cho trẻ vị thành niên, trẻ ngoài nhà trƣờng.
Kể từ sau Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cairo, Ai
Cập vào tháng 09/1994, việc nghiên cứu về SKSS ngày càng đƣợc phát triển.
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục SKSS đƣợc đặc biệt quan tâm trong tình hình
hiện nay ở mọi đối tƣợng nhất là vị thành niên vì nhóm đối tƣợng này có nguy
cơ cao. Bởi lẽ, nhóm đối tƣợng này dễ mắc bệnh LTQĐTD, nghiện hút ma tuý
nhƣ HIV/AIDS và nhiều bệnh lây nhiễm khác, thậm chí cịn là vấn đề thách thức
về SKSS. Thực tế những nội dung này chỉ mới đƣợc giới thiệu trong thời gian
gần đây, nhƣng đã đƣợc nhiều cơ quan ban ngành trong xã hội xem xét tích cực.
Năm 1998, Ủy ban Nhà nƣớc về các vấn đề xã hội đã khuyến cáo Quốc hội,
Chính phủ và các tỉnh “Phát triển chƣơng trình SKSS quốc gia bao gồm chƣơng
trình quốc gia chăm sóc bà mẹ trẻ em, nâng cao chất lƣợng của các dịch vụ
KHHGĐ và phát triển chƣơng trình SKSS thanh thiếu niên”[4, tr.26-27] và
“năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo đƣa nội dung giáo dục dân số SKSS vào chƣơng trình đào tạo trong các trƣờng sƣ phạm”[38, tr.134] cũng nhƣ
thực hiện chƣơng trình giáo dục về SKSS ở các nhà trƣờng từ trung học cơ sở
đến trung học phổ thơng.
Trƣớc đây, khi nói đến khái niệm SKSS thƣờng ngƣời ta cho rằng đó là
những vấn đề liên quan đến KHHGĐ, đến vấn đề sinh sản và sức khỏe của phụ
nữ. Ngày nay, mọi ngƣời đều nhận thấy rằng sức khỏe sinh sản có nội hàm rộng
hơn bao gồm nhiều vấn đề về lối sống, quan hệ yêu đương, tri thức về KHHGĐ,
về hoạt động tình dục và nhiều vấn đề khác.
Về khái niệm SKSS, mặc dù có nhiều tài liệu khác nhau với nhiều cách
trình bày khác nhau nhƣng tựu trung các tác giả đều thống nhất với định nghĩa
của WHO khi đề cập đến SKSS: “SKSS là tình trạng khỏe mạnh về thể chất,
15
tinh thần và xã hội, của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng
của bộ máy sinh sản chứ khơng phải chỉ là khơng có bệnh tật hoặc là ốm yếu”.
Định nghĩa này đã đƣợc Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) họp
tại Cairo, Ai Cập vào năm 1994 cơng nhận. Chính vì vậy hiện nay trong các tài
liệu về SKSS các tác giả thƣờng sử dụng khái niệm này.
Trong đề tài này, em cũng sẽ sử dụng cách tiếp cận khái niệm SKSS này,
xem đó là khái niệm cơ bản khi thực hiện nghiên cứu. Vì đây là khái niệm mang
tính phổ biến.
Theo cách hiểu trên, khái niệm SKSS hàm ý là con người có thể có một
cuộc sống tình dục an tồn và thỏa mãn, có khả năng sinh sản và được tự do
quyết định khi nào và thường xuyên như thế nào trong việc này. Điều kiện cuối
cùng này ngụ ý nói về quyền của phụ nữ và nam giới được thông tin và tiếp cận
các biện pháp KHHGĐ an tồn, hiệu quả vừa túi tiền, có thể chấp nhận được và
được tự lựa chọn cũng như các biện pháp khác để điều hịa sinh sản mà khơng
trái với pháp luật. Việc tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp sẽ
giúp cho người phụ nữ trải qua thời kỳ thai nghén và sinh đẻ an tồn, tạo cho
các cặp vợ chồng có cơ may tốt nhất để có con lành mạnh, một cách lý tưởng là
tham vọng hướng đến việc tạo ra những đứa con với các tiêu chuẩn “đẹp, khỏe,
cao, thông minh và ngoan”.
Từ định nghĩa trên có thể khẳng định, việc chăm sóc SKSS là một tổng thể
các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc
bằng cách phòng ngừa và giải quyết cáxc vấn đề về sức khỏe sinh sản. Nó cũng
bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan
hệ riêng tƣ, chứ không chỉ là việc tƣ vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và
cách bệnh LTQĐTD.
Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy điều này khi nói đến SKSS ngƣời ta cũng
thƣờng đề cập đến khái niệm sức khỏe tình dục vì chúng có liên quan mật thiết
nhau và sức khỏe tình dục đƣợc xem là một bộ phận của nội dung SKSS.
Khái niệm sức khỏe tình dục đã đƣợc đề cập từ thập niên 70 của thế kỷ XX
(1975) trƣớc khi tổ chức Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại
16
Cairo, Ai Cập năm 1994. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sức khỏe tình dục đƣợc
phát biểu nhƣ sau: “Sức khỏe tình dục là tổng hợp các khía cạnh thể chất, tình
cảm, tri thức và xã hội của con ngƣời có tính dục, sao cho cuộc sống con ngƣời
phong phú, tốt đẹp hơn về nhân cách, giao tiếp và tình yêu”
(Nguồn: Sex Education in the eighties- Lorna Brown-p.248)
Điều đó chứng tỏ rằng, hành vi tính dục của con ngƣời khơng cịn là “vấn
đề riêng tư của cá nhân mà đã trở thành một vấn đề mang tính xã hội”
[12,tr.52]. Hành vi tính dục của con ngƣời trƣớc đây thƣờng chịu sự nhìn nhận,
đánh giá khắt khe và biến đổi theo thời gian, theo sự phát triển xã hội. Hiện nay
đã ra đời những quan niệm cởi mở hơn, tiến bộ hơn do việc chúng ta ngày càng
hiểu rõ bản chất sinh học, ảnh hƣởng tâm lý, giá trị nhân bản và tác động xã hội
của nó. Đồng thời sức khỏe tình dục, ngồi ý nghĩa nhân bản của nó còn thể hiện
một bƣớc tiến quan trọng trong quan niệm về bình đẳng nam nữ và đã trở thành
“một nội dung được quan tâm nhiều trong khoa học xã hội về phụ nữ”.
Khi nói đến sức khỏe tình dục, chúng ta cũng cần xem xét đến yếu tố có
liên quan nhƣ: vấn đề tình dục an toàn và lành mạnh, tình dục có trách nhiệm,
việc giáo dục tình dục, vì sao cần coi hành vi tình dục ngƣời là một thực thể sức
khỏe....Có nhƣ vậy, trong điều kiện nhất định mới có thể trang bị tƣơng đối đầy
đủ cho các loại đối tƣợng trong đó có thanh niên.
- Nội dung cơ bản của vấn đề SKSS.
Trong kế hoạch hành động sau Hội nghị Cairo của Quỹ Dân số Liên Hiệp
Quốc (UNFPA), SKSS bao gồm sáu nội dung chính có liên quan mật thiết với
nhau đó là SKSS, KHHGĐ, sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an tồn, vơ sinh, bệnh
nhiễm nhuẫn và bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục, vấn đề tình dục.
Nhƣng mỗi khu vực, mỗi quốc gia lại có những vấn đề ƣu tiên của riêng
mình, nên các nƣớc và các tổ chức tham gia vào việc thực hiện chƣơng trình sức
khỏe sinh sản đã cụ thể hóa 10 nội dung nhƣ sau :
+ Làm mẹ an toàn.
+ Kế hoạch hóa gia đình.
+ Nạo hút thai.
17
+ Bệnh nhiễm khuẩn qua đƣờng sinh sản.
+ Các bệnh LTQĐTD.
+ Giáo dục tình dục
+ Phát hiện sớm ung thƣ vú và đƣờng sinh dục.
+ Vô sinh.
+ Sức khỏe vị thành niên.
+ Giáo dục truyền thông vì SKSS-KHHGĐ [42, tr.12].
Nội dung SKSS nhƣ đã đề cập bao gồm nhiều nội dung phong phú, phức
tạp, có nhiều cách hiểu khác nhau nhƣng đều có những điểm chung.
Theo tác giả Bùi Ngọc Oánh, nội dung cơ bản của vấn đề SKSS bao gồm:
+ Tình trạng sức khỏe của hệ cơ quan sinh dục nam và nữ...
+ Sự dậy thì và sự chín muồi giới tính, sự nảy sinh và xuất hiện những nhu
cầu của đời sống tình dục.
+ Những biểu hiện của đời sống tính dục và những chức năng khác trong
hoạt động của các cơ quan sinh dục.
+ Đời sống tình dục trong đó có sức khỏe tình dục.
+ Sự thụ thai và các vấn đề phòng tránh, chữa trị trong sinh nở nuôi con...
+ Vấn đề KHHGĐ.
+ Những kiến thức và bệnh lý liên quan đến đƣờng tình dục.
+ Ý thức và trách nhiệm trong quan hệ yêu đƣơng, quan hệ tình dục.
+ Ý thức tôn trọng phụ nữ, tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ... [38, tr.135136]. Theo tác giả Đào Xuân Dũng, nội hàm của SKSS có thể tóm tắt ở các
điểm chính sau đây:
+ Hành vi sinh sản và tình dục có trách nhiệm.
+ Dịch vụ KHHGĐ rộng rãi và thuận tiện.
+ Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và đảm bảo thai nghén và sinh nở an
tồn.
+ Kiểm soát có hiệu quả các bệnh nhiễm khuẫn đƣờng sinh sản.
+ Phịng và điều trị vơ sinh.
+ Loại trừ phá thai khơng an tồn.
18
+ Phịng và điều trị các bệnh ác tính ở cơ quan sinh sản.
Ngồi ra SKSS cịn có ảnh hƣởng qua lại với nhiều khía cạnh khác của sức
khỏe, đặc biệt là HIV/AIDS, sức khỏe trẻ em, sức khỏe vị thành niên, tình dục,
lối sống và môi trƣờng [25, tr.49-50].
Thực tế ở Việt Nam khi đề cập đến nội dung của SKSS thƣờng ngƣời ta
hay nhắc đến 7 vấn đề ƣu tiên sau đây:
+ Quyền sinh sản.
+ Các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục.
+ Kế hoạch hóa gia đình.
+ Nạo phá thai.
+ Bình đẳng giới.
+ Sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an toàn
+ SKSS vị thành niên [54, tr.4]
Theo Chuẩn quốc gia về Chăm sóc SKSS, Bộ Y tế nội dung chủ yếu của
SKSS gồm các vấn đề sau:
Chăm sóc phụ nữ khi mang thai, chăm sóc bà mẹ và trẻ trong khi sinh và
sau khi sinh
Kế hoạch hóa gia đình và các biện pháp tránh thai.
Nạo hút thai an toàn và giảm tác hại của việc nạo hút thai.
Phòng tránh các bệnh viêm nhiễm đƣờng sinh sản, bệnh LTQĐTD, nhiễm
HIV/AIDS.
Chăm sóc SKSS vị thành niên [17, tr.9]
Có thể nói: nội dung cơ bản của SKSS gây tác động tới vấn đề sức khỏe cụ thể là các vấn đề sức khỏe có liên quan đến hệ sinh sản hoặc là các vấn đề
sức khỏe có liên quan tới giống nòi. Ở Việt Nam, vấn đề SKSS đặt ra chủ yếu là
tình trạng mang thai ở tuổi thiếu niên, các bệnh LTQĐTD, sự phân biệt chống
lại trẻ em gái và phụ nữ và bạo lực đối với phụ nữ. Ở nhà trƣờng phổ thông, nội
dung SKSS phải tập trung vào việc giúp học sinh hiểu biết và có những quyết
định đúng đắn hơn đối với các vấn đề này.
Trong các công trình nghiên cứu về SKSS, các tác giả cũng thƣờng đề cập
19
đến các nội dung cốt lõi của SKSS nêu trên nhƣ: thuật ngữ, khái niệm SKSS,
vấn đề giới và giới tính, tình bạn, tình u, hơn nhân, tình dục an toàn, mang
thai, nạo phá thai, biện pháp tránh thai, bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS.
Nhƣ vậy, với những nội dung trên, khái niệm SKSS trƣớc hết là một khái
niệm rộng không chỉ giới hạn ở sức khỏe ngƣời mẹ mà là sức khỏe ngƣời phụ
nữ nói chung, nhƣng cũng quan tâm đến những vấn đề liên quan đến quá trình
sinh sản của nam nữ và nhấn mạnh nhiều đến việc tự quyết định của phụ nữ với
sinh đẻ. Vấn đề này hiện nay ở nhiều loại đối tƣợng trong đó có cả SV và ngƣời
lớn vẫn cho rằng SKSS là vấn đề chỉ dành cho những ngƣời đã lập gia đình và
có con. Họ đồng nhất vấn đề SKSS với việc sinh đẻ của các sản phụ và thậm chí
cịn cho rằng việc cung cấp kiến thức về SKSS chẳng khác nào “vạch đường cho
hươu chạy”....
Khái niệm SKSS có ý nghĩa xã hội và rất nhân bản vì nó giúp nâng cao
những yêu cầu bảo vệ chức năng đặc thù của phụ nữ là mang thai, sinh đẻ và
nuôi con. Chức năng đặc thù này xét về mặt đạo lý và giá trị đƣợc xem là chức
năng xã hội vì nó quan tâm đến cả hai giới mặc dù hiện nay vấn đề ƣu tiên trong
SKSS là dành ƣu tiên cho phụ nữ nhƣng chính bản thân nam giới đơi khi cũng
khơng đƣợc hƣởng đầy đủ về SKSS nhƣ vấn đề vô sinh ở nam giới, rối loạn
chức năng tình dục của nam giới... mà hiện nay ở nƣớc ta ít có cơ sở y tế và
thầy thuốc chuyên khoa chữa trị. Do vậy nói đến SKSS phải là “tình trạng khỏe
mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, của tất cả những gì liên quan đến hoạt
động và chức năng của bộ máy sinh sản” và cần phải chú ý việc chăm sóc
SKKS đến cả hai giới mặc dù có thể một giới nào đó đƣợc ƣu tiên chăm sóc
nhiều hơn.
Từ những nội dung trên, có thể nói rằng SKSS là bộ phận quan trọng và
điển hình của đời sống giới tính, gắn bó mật thiết với những yếu tố khác của đời
sống giới tính.
Theo các nội dung trên về SKSS, có thể đƣợc trình bày ở nhiều tài liệu
khác nhau, theo những cách viết khác nhau nhƣng tất cả đều phác họa những
vấn đề cơ bản về SKSS. Vấn đề quan trọng theo chúng tôi là cần xác định đúng
20