Tải bản đầy đủ (.doc) (162 trang)

Chính sách công nghiệp ở một số nước thành viên liên minh châu âu trong những thập niên đầu thế kỷ XXI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.72 MB, 162 trang )

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong
luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

Đỗ Tá Khánh


2

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Công nghiệp đ ng vai tr

quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc

gia. Các nước công nghiệp đầu tên trên thế giới chủ yếu nằm tại châu Âu, n i khởi
nguồn của các cuộc cách mạng công nghiệp. Các quốc gia công nghiệp này đều c chính
sách công nghiệp từ rất sớm, trong khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Trải qua quá
trình phát triển, châu Âu ngày nay vẫn là n i tập trung nhiều nhất các quốc gia công
nghiệp trên thế giới và c đến 4 trong số 7 nước công nghiệp phát triển nhất trên toàn thế
giới.
Trong thập niên cuối thế kỷ XX, với tến trình liên kết châu Âu, Liên minh Châu Âu
(EU) đã hình thành một chính sách công nghiệp chung dù đã c nhiều chính sách chung
trong các lĩnh vực khác trước đ [46]. Chính sách công nghiệp chung của EU được đề cập
trong Hiệp ước Maastricht 1991 và Hiệp ước Amsterdam 1998 đã mở đầu cho sự d ch
chuyển từ chính sách theo chiều dọc (vertcal) dựa nhiều vào sự can thiệp của nhà


nước (phổ biến trong giai đoạn
1950 1980) sang chính sách theo chiều ngang (horizontal) với trọng tâm giảm sự can thiệp
của nhà nước và tập trung vào xây dựng khung pháp lý và các chính sách c tác động lan
tỏa, tạo nền tảng cho sự phát triển công nghiệp của EU trong thế kỷ XXI. Trong những
thập niên đầu thế kỷ XXI, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra năm 2008 đã c
tác động lớn tới EU và các nước thành viên. Cuộc khủng hoảng đang đ t ra một số vấn
đề mang tính lý thuyết và thực tễn cho việc hoạch đ nh chính sách, bao gồm chính sách
công nghiệp, cho châu Âu cũng như nhiều khu vực và quốc gia khác.
Việt Nam, dù hiện là một nước đang phát triển, đã đ t ra mục têu cho mình sẽ c
bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, dù b nghi ngờ về tính khả thi [7,
tr.14]. Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 và những bất ổn kinh tế vĩ mô trong
nước đã mang đến cho Việt Nam những thách thức rất lớn


đ i hỏi phải vượt qua để đạt mục têu trên, như cấu tr c lại nền kinh tế, duy trì tăng
trưởng, ổn đ nh kinh tế vĩ mô và th c đẩy sản xuất công nghiệp. Xét về g c độ hội nhập,
Việt Nam đã tham gia ký kết thành lập nhiều khu vực thư ng mại tự do (FTA). Là một
thành viên ASEAN, Việt Nam cũng đã tham gia sâu rộng vào tến trình liên kết khu vực.
Cộng đồng Kinh tế ASEAN đã được thành lập vào cuối năm 2015 cùng với các mục têu
về phát triển công nghiệp trong trung hạn được đề cập trong Hiệp đ nh Khung ASEAN về
hội nhập các ngành ưu tên. Do đ , Việt Nam sẽ phải thực hiện các cam kết đã ký và đây
sẽ là yếu tố quan trọng phải cân nhắc khi tến hành cấu tr c lại nền kinh tế và hoạch đ
nh chính sách kinh tế quốc gia.
Trong những năm gần đây, nhiều cuộc thảo luận về chính sách công nghiệp ở Việt
Nam và các công trình nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phát triển công nghiệp cho Việt
Nam đã được thực hiện. Các kinh nghiệm chủ yếu đến từ các nước Đông Á và các quốc
gia đang phát triển mà chưa c nhiều các kinh nghiệm đến từ EU. Chính vì vậy, các nghiên
cứu về chính sách công nghiệp ở các nước quốc gia công nghiệp phát triển ở EU sẽ bổ
sung những kinh nghiệm và bài học cho quá trình hoạch đ nh chính sách công nghiệp ở
Việt Nam, đ c biệt đ t trong bối cảnh ASEAN cũng đang hướng đến tiến trình liên kết khu

vực ch t chẽ h n.
Với bối cảnh thế giới mới và nhu cầu kinh nghiệm quốc tế phục vụ phát triển
công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, tôi quyết đ nh chọn đề tài: “Chính sách công nghiệp ở
một số nước thành viên Liên minh Châu Âu trong những thập niên đầu thế kỷ XXI” làm
luận án của mình.
2. Mục đích nghi n c u và nhiệm vụ nghi n c u
Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích và đánh giá nội dung và kết quả đạt
được của chính sách công nghiệp của Cộng h a Italia, Cộng h a Pháp và Vư ng quốc
Anh trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, từ đ r t ra bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam.


Để đạt được mục đích trên, luận án c các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
+ Làm rõ c sở lý luận và thực tễn của chính sách công nghiệp ở ba quốc gia được
nghiên cứu;
+ Làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hoạch đ nh chính sách công
nghiệp cũng như đánh giá kết quả thực hiện chính sách công nghiệp;
+ R t ra một số kinh nghiệm g p phần vào việc xây dựng và hoàn thiện chính
sách công nghiệp tại Việt Nam.
3. Đối tƣợng nghi n c u và phạm vi nghi n c u
- Đối tượng nghiên cứu của luận án:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách công nghiệp của ba quốc gia công
nghiệp chủ chốt, thành viên của EU, gồm Vư ng quốc Anh, Pháp và Italia. Sự lựa chọn
chính sách công nghiệp của ba quốc gia trên làm nghiên cứu trường hợp được dựa trên
các lý do sau:
+ Vư ng quốc Anh đại diện cho mô hình th trường tự do (Anglo-Saxon) ở châu Âu. Đây là
quốc gia đi tên phong trong cách mạng công nghiệp từ thế kỷ XVII và được xem là quốc
gia theo đuổi các chính sách tự do, trái ngược với chính sách bảo hộ của nhiều nước
châu Âu lục đ a. M c dù không c n ở v trí dẫn đầu thế giới về công nghiệp như trong
các thế kỷ trước, Vư ng quốc Anh ngày nay là một trong bảy nước công nghiệp phát triển

hàng đầu thế giới.
+ Trong khi đ , Cộng h a Pháp, lại được xem là một trong những đại diện têu biểu cho
mô hình th trường xã hội ở châu Âu lục đ a. Tuy tham gia cách mạng công nghiệp muộn
h n Vư ng quốc Anh nhưng Cộng h a Pháp đã nhanh ch ng trở thành một cường quốc
công nghiệp. Chính sách công nghiệp của Pháp c sự can thiệp cao của nhà nước trong
suốt chiều dài l ch sử phát triển công nghiệp, giống như Đức và một số nước châu Âu
lục đ a khác. Ngày nay, cũng như Vư ng quốc Anh, Cộng h a Pháp là thành viên của nh
m bảy nước công nghiệp phát triển nhất trên thế giới.


+ Cộng h a Italia là một trường hợp đ c biệt trong số các nước công nghiệp phát triển ở
châu Âu, đại diện cho mô hình Nam Âu hay Đại Trung Hải. Do yếu tố l ch sử, Italia
thực hiện công nghiệp h a rất muộn so với các nước khác. Tuy vậy, Italia lại c tốc độ
phát triển rất nhanh với sự can thiệp chính sách rất mạnh từ chính phủ. Trong những
thập niên 1960-1970, các tập đoàn của nhà nước đã trở thành những đầu tàu thực sự,
th c đẩy sự tăng trưởng của đất nước. Bên cạnh đ , giống như Việt Nam, SME chiếm tỷ
lệ rất cao, được xem là trụ cột quan trọng cho tăng trưởng của nền kinh tế. Hiện nay,
Italia cũng là một thành viên của nh m 7 nước công nghiệp phát triển nhất trên thế giới.
- Phạm vi nghiên cứu của luận án:
Về m t không gian, luận án giới hạn phạm vi tại ba quốc gia công nghiệp phát triển
ở Tây Âu, thành viên của EU, gồm Italia, Cộng h a Pháp và Vư ng quốc Anh.
Về m t thời gian, phạm vi nghiên cứu của luận án là chính sách công nghiệp
của ba quốc gia công nghiệp phát triển nêu trên trong thời kỳ từ 1992 đến nay (kể từ Hiệp
ước Maastricht về Liên minh châu Âu). Tuy nhiên, để làm rõ c sở của mô hình chính sách
công nghiệp trong giai đoạn hiện nay, luận án sẽ khái quát l ch sử hình thành và phát
triển chính sách công nghiệp của các quốc gia này.
Về m t nội dung, luận án sẽ chỉ giới hạn nghiên cứu trong lĩnh vực hoạch đ nh
chính sách công nghiệp của Cộng h a Italia, Cộng h a Pháp và Vư ng quốc Anh. Do
các quốc gia thành viên ch u sự chi phối của các chính sách chung của toàn khối, do đ
luận án cũng sẽ đề cập đến các vấn đề c


liên quan đến chính sách công nghiệp

chung của EU nhằm luận giải rõ h n chính sách công nghiệp của các quốc gia thành
viên. Luận án c thể lấy một số ngành công nghiệp làm các nghiên cứu trường hợp để
phân tích sâu h n tác động của chính sách công nghiệp, tuy nhiên, sự đánh giá chi tết
tác động của chính sách công


nghiệp đối với từng ngành công nghiệp cụ thể sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của
luận án.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghi n c u
- Phư ng pháp luận của luận án:
Với tính cấp thiết của luận án, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu,
nghiên cứu sinh sẽ đi thu thập các số liệu s

cấp, các công trình nghiên cứu khoa học

trong cùng lĩnh vực nghiên cứu đã được công bố, cùng với các đánh giá của riêng
nghiên cứu sinh để trả lời câu hỏi nghiên cứu sau:
Ch nh s h

ng nghi p qu

gi

m ts n

th nh vi n h


h t

E

đ ợ định hình nh thế n o trong b i ảnh m i đầu thế kỷ XXI?
Để trả lời được câu hỏi này, luận án cần trả lời một số câu hỏi phụ như sau:
Chính sách công nghiệp ở một số quốc gia công nghiệp chủ chốt ở EU đã được hình
thành như thế nào?
Tại sao một số nước công nghiệp chủ chốt ở EU lại phải điều chỉnh chính sách công
nghiệp từ sau năm 1992?
Nội dung của chính sách công nghiệp ở một số nước công nghiệp chủ chốt ở EU
là gì?
Nhà nước c vai tr như thế nào đối với sự phát triển công nghiệp ở một số nước công
nghiệp chủ chốt ở EU?
Những bài học r t ra từ sự điều chỉnh chính sách công nghiệp ở một số quốc gia công
nghiệp chủ chốt ở EU cho Việt Nam là gì?
Sự trả lời cho các câu trả nghiên cứu trên sẽ gi p làm sáng tỏ ba giả thuyết nghiên
cứu sau:
G iả thu yết 1 : Chính sách công nghiệp của các nước công nghiệp chủ chốt ở EU phải
điều chỉnh từ chính sách công nghiệp theo chiều dọc sang chính sách công nghiệp theo
chiều ngang để đáp ứng yêu cầu của quá trình liên kết khu vực.


G iả thu yết 2 : Chính sách công nghiệp theo chiều ngang ưu việt h n chính sách công
nghiệp theo chiều dọc.
G iả thu yết 3 : Vai tr của nhà nước đối với sự phát triển công nghiệp b hạn chế
trong thời kỳ toàn cầu h a và liên kết khu vực.
Với các vấn đề đã trình bày ở trên, để trả lời các câu hỏi nghiên cứu và chứng
minh các giả thuyết nghiên cứu, luận án sẽ dựa vào khung phân tích sau:


Yếu tố
bên
ngoài

LI N KẾT KHU V
C VÀ FTAs (EU,
EMU, FTAs với các
nước và khu vực
trên thế giới…)

TOÀN CẦU HÓA
(Sự d ch chuyển
d ng vốn đầu
tư,
tự do đi lại…)

CHÍNH SÁCH
CÔNG NGHIỆP

Yếu tố
bên
trong

CH NH SÁCH HỘI
NH P KINH TẾ
QU C TẾ (Chính
sách thư ng mại,
các cam kết quốc
tế…)


TÁI CẤU TR C
NỀN KINH TẾ
(Khủng hoảng
kinh tế; sự bất
hợp lý trong cấu
tr c nền kinh tế)

- Phư ng pháp nghiên cứu của luận án:
+ Ph ơng ph p thu thập t i li u:
Sách: Tài liệu phục vụ cho nghiên cứu của luận án được tập hợp từ nguồn sách về
chủ đề chính sách công nghiệp ở châu Âu và các vấn đề c liên quan do các nhà xuất bản
lớn trên thế giới phát hành. Các ấn bản sách này gồm cả sách


đang lưu tại thư viện của Viện Nghiên cứu Châu Âu và sách được lưu trong các thư viện
online (internet). Bên cạnh đ , một số ấn phẩm sách cũng được thu thập qua trao đổi trực
tiếp với các học giả đã xuất bản các công trình c liên quan.
Bài viết tạp chí: các bài viết về các chủ đề liên quan sẽ được thu thập qua các tạp
chí được công bố trong nước và quốc tế, gồm cả bản cứng và bản mềm. Các bài viết này
được công bố trên các ấn phẩm c

số phát hành quốc tế (c

thể được lưu hành trên

internet dưới dạng bản mềm).
Các nguồn trên internet: tài liệu trên internet là các số liệu, bài viết
(working papers) do các tổ chức thực hiện và được phổ biến trên internet.
Trao đổi học thuật: Luận án đã nhận được sự trao đổi về tài liệu và trao đổi
trực tếp từ các học giả trong lĩnh vực nghiên cứu đang làm việc tại Đại học Napoli „Phư

ng Đông‟, Đại học Ferrara, Đại học Milano Biccoca (Italia); Đại học Oslo (Na Uy); Đại
học Paris 1 Sorbonne (Pháp); Đại học Hamburg (Đức); và Đại học Cambridge (Anh).
+ Ph ơng ph p xử lý t i li u:
Trên c sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật l ch sử, luận án
sử dụng các phư ng pháp nghiên cứu khoa học xã hội: tổng hợp, phân tích, và so sánh
nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu và làm rõ các giả thuyết nghiên cứu, thông qua việc
thu thập và xử lý các tài liệu từ các công trình nghiên cứu trước và các số liệu s cấp do
các c quan thống kê công bố.
Bên cạnh cách tếp cận hệ thống và liên ngành, do chính sách công nghiệp ở châu Âu
c một l ch sử phát triển dài nên để hiểu được nền tảng của chính sách công nghiệp ở
châu Âu cũng như diễn giải được những điều chỉnh chính sách công nghiệp thời gian gần
đây, luận án cũng sử dụng cách tếp cận l ch sử cùng phư ng pháp phân tích l ch đại.


5. Những đóng góp mới của Luận án
- Luận án đã hệ thống h a được sự hình thành và phát triển của chính sách công nghiệp
ở ba quốc gia công nghiệp chủ chốt của EU, với trọng tâm là các chính sách công nghiệp
của các nước này trong những thập niên đầu thế kỷ XXI.
- Luận án đã phân tích những ưu tên hiện nay trong chính sách công nghiệp ở các
nước thành viên EU được nghiên cứu và đánh giá một số kết quả thực hiện.
- Luận án đã làm rõ vai tr của nhà nước trong bối cảnh toàn cầu h a, tự do h a
thư ng mại và liên kết khu vực.
- Từ thực tễn về hoạch đ nh chính sách công nghiệp ở ba quốc gia công nghiệp chủ chốt
ở EU, Luận án đã r t ra được một số kinh nghiệm, đ ng g p cho quá trình hoạch đ nh
chính sách công nghiệp ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa lý luận: luận án đã bổ sung thêm những hiểu biết về cách tếp cận đối
với chính sách công nghiệp ở châu Âu thông qua những khái niệm và cách phân loại
chính sách công nghiệp ở khu vực này. Luận án cũng cho thấy c sở của sự điều chỉnh
chính sách công nghiệp của EU n i chung và các nước thành viên n i riêng qua các

thời kỳ, đ c biệt là sự d ch chuyển từ chính sách công nghiệp theo chiều dọc sang chính
sách công nghiệp theo chiều ngang trước thềm thế kỷ XXI. Việc luận án đề cập đến vai tr
của nhà nước ở EU trong thời kỳ toàn cầu h a, liên kết khu vực và tự do h a thư ng
mại đã đ ng g p những luận điểm vào các cuộc tranh luận vẫn đang diễn ra trên thế
giới về vấn đề khả năng và mức độ can thiệp của chính phủ bằng công cụ chính sách.
Về ý nghĩa thực tiễn: thông qua những nghiên cứu về cách tiếp cận, nội dung của chính
sách công nghiệp ở Liên minh Châu Âu và các nước thành viên, luận án đã mang đến
những kinh nghiệm cho triển vọng hình thành chính sách công nghiệp chung trong tư ng
lai của ASEAN. Bằng việc r t ra kinh nghiệm lựa chọn chính sách trong phát triển công
nghiệp ở các nước EU qua các thời kỳ, luận án là


nguồn tham khảo quý báu cho quá trình hoạch đ nh chính sách công nghiệp của Việt
Nam. Hiểu biết những ưu tên trong chính sách công nghiệp hiện nay của EU và các
nước thành viên sẽ gi p Việt Nam nắm bắt được xu hướng phát triển trong tư ng lai của
họ và gợi mở những lĩnh vực Việt Nam c thể tập trung trong chiến lược phát triển công
nghiệp của mình.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các trang bìa, mục lục, danh mục các chữ viết tắt,
danh mục bảng biểu, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả luận án, danh
mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án bao gồm bốn chư ng:
Chư ng I: Tổng quan. Trong chư ng này, nghiên cứu sinh trình bày tình hình nghiên
cứu trong nước và ngoài nước, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và phư ng
pháp nghiên cứu.
Chư ng II: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách công nghiệp ở Liên minh Châu
Âu. Chư ng này đề cập đến các khái niệm về chính sách công nghiệp, phân loại
chính sách công nghiệp, chính sách công nghiệp chung của EU, và một số nhân tố
chính tác động đến quá trình hoạch đ nh chính sách công nghiệp quốc gia ở EU.
Chư ng III: Chính sách công nghiệp ở một số quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu.
Chư ng này khái quát l ch sử hình thành và phát triển chính sách công nghiệp, phân tích

các đ c điểm chính của chính sách công nghiệp hiện nay ở Italia, Pháp và Vư ng quốc
Anh và một số kết quả đã đạt được.
Chư ng IV: Một số vấn đề rút ra và khuyến ngh chính sách cho Việt Nam. Chư ng
này tập trung vào một số vấn đề rút ra trên c sở phân tích lý thuyết và thực tễn ở một
số quốc gia công nghiệp ở Liên minh Châu Âu và một số khuyến ngh chính sách cho Việt
Nam.


CHƢƠNG I T
NG QUAN

1.1. Nghi n c u ngoài nƣớc
Ng h i n

ứu

h nh s

h

ng ngh i p d

i gó

đ

lị h sử : khi nghiên

cứu về phát triển công nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển, Ha-Joon Chang
(2002) trong cuốn sách Kicking Away the Ladder: Development Strategy in Historical

Perspectve (tạm dị h: Đ

hiế th ng đi: Chiến l ợ ph t triển theo qu n điểm lị h sử),

đã đi trả lời câu hỏi nghiên cứu: các nước giàu đã thực sự trở nên giàu bằng cách nào?
Tác giả cho rằng những khuyến ngh của các nước giàu đối với các nước đang phát triển
(nước nghèo) về việc thực hiện các chính sách và thể chế „tốt‟, như được nêu trong
“Đồng thuận Washington”, đều không đ ng khi nhìn lại l ch sử phát triển của các nước
giàu này. Bằng các số liệu l ch sử, tác giả cho thấy trong thời kỳ các nước giàu ở vào v
thế đang phát triển, các chính sách bảo hộ đã được thực hiện phổ biến để bảo vệ các
ngành công nghiệp non trẻ; các chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng chưa được thực
hiện ch t chẽ; các nước phát triển hiện nay cũng thực hiện bầu cử phổ thông khi c thu
nhập bình quân đầu người cao h n nhiều so với các nước đang phát triển ngày nay khi
lấy khoảng thời gian ở cùng mức độ phát triển… Tác giả đã lập luận rằng các nước đã
phát triển hiện nay (các nước giàu) thực chất đã đá chiếc thang mà họ đã dùng để leo lên
đến đỉnh cao nhằm cản bước bắt k p của các nước đang phát triển. Họ đã giấu đi và n i
không đ ng sự thực về cách thức phát triển đã đưa họ lên v trí đỉnh cao về phát triển
của thế giới. Tác giả không bác bỏ hoàn toàn vai tr

của việc củng cố các thể chế mà

nhấn mạnh rằng một số thể chế sẽ chỉ phát huy tác dụng tốt khi đi kèm với các chính
sách tốt, trong đ chính sách tốt ở đây không phải là những gì các nước phát triển đang
khuyến ngh các nước đang phát triển cần dùng mà chính là các chính sách mà các nước
phát triển đã dùng trong thời kỳ họ đang là những nước đang phát triển. Tác giả cuối
cùng đã r t ra một số bài


học từ l ch sử cho sự phát triển hiện tại, dù những đ c điểm phát triển hiện tại không
được nêu cụ thể.

Cùng trong cách tếp cận l ch sử về chính sách công nghiệp ở châu Âu, James
Foreman – Peck và Giovanni Ferderico cùng nhiều tác giả (1999) trong cuốn European
Industrial Policy: the Twentieth-Century Experience (Chính s h

ng nghi p Châu Âu:

Kinh nghi m trong thế kỷ 20) đã đưa ra một cách nhìn rộng về chính sách công nghiệp
ở nhiều nước châu Âu trong suốt thế kỷ XX. Các tác giả phân tích khái niệm về chính
sách công nghiệp của nhiều tác giả khác và họ cho rằng chính sách công nghiệp là “một
khái niệm kh nắm bắt, c thể bao trùm tất cả mọi thứ liên quan đến công nghiệp” và
được xác đ nh là “tất cả các dạng can thiệp của nhà nước c ảnh hưởng đến công nghiệp
như một khu vực riêng biệt của nền kinh tế” [91, tr.3]. Các tác giả cũng đề cập đến các
cuộc tranh luận về chính sách công nghiệp ở châu Âu trong thế kỷ XX, với sự d ch
chuyển quan điểm của các học giả theo trường phái tự do Ăng-lô-Xắc-xông (ủng hộ th
trường tự do) khi họ chấp nhận rằng th trường c sự khiếm khuyết và cần thiết c sự
can thiệp của nhà nước trong những năm 1930. Tuy nhiên từ những năm 1980, Chủ
nghĩa Tân tự do (Neo-liberalism) đã chiếm dần ưu thế với việc chuyển sự can thiệp của
nhà nước vào từng ngành cụ thể sang tập trung vào c chế cho sự phát triển. Trả lời cho
câu hỏi tại sao các quốc gia lại đưa ra chính sách công nghiệp, các tác giả cho rằng đ
là do sự tác động qua lại giữa các chính tr gia và các nh m lợi ích trong xã hội. Để
làm rõ h n chính sách công nghiệp ở châu Âu, các tác giả đã đi mô tả chính sách công
nghiệp của một số nước châu Âu làm nghiên cứu trường hợp, gồm Anh, Pháp Đức,
Italia, Thụy Điển, Hà Lan, Bỉ, Ai len, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, và Nga. M c dù
mô tả và phân tích khá sâu về chính sách công nghiệp của các nước trên nhưng nh m
tác giả chưa đề cập đến những biến chuyển chính sách trong thời gian gần đây, đ c biệt
trong giai đoạn 1992 đến nay.


Ng h i n


ứu

h nh s

h

ng ng h i p d

i gó

đ

t

ấp vi mô: các tác giả trong cuốn Industrial Policy in Europe (Ch nh s

đ ng đ i v i
h

ng nghi p ở

Châu Âu) do Keith Cowling biên tập đã đi phân tích vai tr và tác động của chính sách
công nghiệp đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Các tác giả cho rằng
trong các hệ thống th trường tự do các tập đoàn chiếm ưu thế trên th trường đ khi
đưa ra các quyết đ nh chiến lược thường chỉ do một nh m nhỏ, lãnh đạo cao cấp của tập
đoàn. Do vậy, nếu những chiến lược của tập toàn đ là sai lầm ho c những chiến lược
đ chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của tập đoàn thì kết quả của các chiến lược đ c thể
tác động têu cực đến lợi ích của toàn xã hội.
Trên c sở đ , các tác giả đề ra một cách tếp cận mới nhằm tránh những sai lầm
đ , qua việc hướng đến tạo những mối liên kết và hợp tác giữa các SME, c thể dựa vào

yếu tố đ a lý như qua phát triển vùng, trao quyền tự chủ h n cho các đ a phư ng trong
việc đưa ra chính sách th c đẩy đổi mới và phát triển công nghệ. Vốn xã hội c thể phát
huy trong trường hợp này qua việc thiết lập các hiệp hội kinh doanh để trao đổi kinh
nghiệm, trợ gi p lẫn nhau và liên kết kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cuốn
sách cho thấy một cách tếp cận rất tốt, tuy nhiên n chỉ tập trung vào một khu vực của
nền kinh tế và chỉ phản ánh sự phát triển và cạnh tranh của SMEs trong khu vực châu
Âu. Cuốn sách chưa đề cập đến sự tác động của th trường thế giới hay sự cạnh tranh
quốc tế đến SMEs của châu Âu.
Ng h i n ứu h nh s

l

m t n hân t

Europe n

h

ng ngh i p nh m t h nh s

h h ung

EU

trong tến trìn h li n kết khu vự : trong cuốn Industry and the

nion: An lysing Poli ies for Business

Mi he l D rmer v


L urens Kuyper (C ng nghi p v Li n minh Châu Âu: Phân t h

h nh s h kinh doanh)

(2000) đã làm rõ khái niệm về chính sách công nghiệp của EU và các chính sách tăng
cường khả năng cạnh tranh của nền công nghiệp châu Âu. Các tác giả đã đưa ra sự
phân loại các khái niệm về chính sách công nghiệp. Các


tác giả cho rằng chính sách công nghiệp bao gồm các công cụ pháp lý để tạo hành
lang phát triển công nghiệp và các công cụ ngân sách để hỗ trợ phát triển công nghiệp,
bao gồm cả cho nghiên cứu và phát triển, th c đẩy SME cũng như hỗ trợ cho các lĩnh
vực cụ thể. Bên cạnh chính sách công nghiệp c n c

các chính sách đối nội c tầm

quan trọng đối với công nghiệp như th trường nội khối, chính sách liên minh kinh tế và
tền tệ, chính sách giao thông và chính sách môi trường. Ngoài chính sách đối nội nêu
trên, chính sách đối ngoại cũng c ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp của EU, cụ thể là
chính sách thư ng mại.
Với những nhận đ nh đ , các tác giả đã đi sâu phân tích các chính sách c vai tr
quan trọng đối với phát triển công nghiệp và phân tích các nhân tố cấu thành nên
chính sách công nghiệp của EU. Cuối cùng, các tác giả đã đưa ra một số nhận đ nh về
chính sách công nghiệp của EU trong bối cảnh mới, đ c biệt là trước xu hướng mở rộng
sang phía Đông. C thể n i, cuốn sách đã đi nêu bật được chính sách công nghiệp của
EU cho đến thời điểm trước năm 2000 với phạm vi điều chỉnh toàn khu vực EU, tuy
nhiên cuốn sách chưa đề cập đến chính sách công nghiệp của các nước thành viên và
các thách thức từ sự xung đột lợi ích trong phát triển giữa các nước thành viên. Những
thách thức này chỉ thực sự được nhìn rõ trong bối cảnh thực hiện các g i cứu trợ sau
khủng hoảng tài chính và cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực sử dụng đồng tền

chung diễn ra gần đây.
Patrizio Bianchi trong cuốn Industrial Policies and Economic Integraton: Learning
from European Experiences (Ch nh s h
kinh nghi m

ng nghi p v th ng nhất kinh tế: họ hỏi từ

hâu Âu) (1998) đi xem xét chính sách công nghiệp là gì và vai tr của ch

ng trong bối cảnh thống nhất châu Âu. Cuốn sách đi phân tích quá trình thống nhất từ
Hiệp ước Rome tới Hiệp ước Maastricht, thời điểm cuốn sách được viết. Tác giả đi sâu
vào phân tích các chính sách công nghiệp ở cấp Cộng đồng Châu Âu với việc tập trung
vào cách tếp cận mới đối với chính sách công nghiệp trong bối cảnh liên kết khu vực.
Quan điểm chính


của tác giả là quá trình thống nhất châu Âu đã trải qua một quá trình dài phát triển và
n là một quá trình thay đổi c cấu trong mỗi nước thành viên và cả khu vực. Từ một khu
vực mậu d ch tự do tới liên minh thuế quan và cuối cùng là liên minh kinh tế và tền tệ,
sự liên kết khu vực được hình thành qua sự đấu tranh giữa các liên minh lợi ích, gồm
liên minh „thoái lui‟ chống lại sự thống nhất do lo ngại thống nhất sẽ gây tổn hại lợi ích
của n và liên minh „tến bộ‟ ủng hộ cho quá trình thống nhất, được kỳ vọng sẽ mang lại
lợi ích nhiều h n cho n . Quá trình thống nhất châu Âu là quá trình dung h a lợi ích cho
các liên minh lợi ích đ , trong đ c các chính sách nhằm bù đắp cho các nh m c thể trở
thành nh m thua thiệt trong quá trình thống nhất.
Cách tếp cận trong hoạch đ nh chính sách ở EU trong thời kỳ mới không chỉ gồm
các quyết đ nh từ hội đồng các lãnh đạo cấp cao mà c n từ c chế cho phép các đ a phư
ng được đưa ra các yêu cầu nhằm làm tham khảo cho các hành động chung. Tác giả cho
rằng “mạng lưới” c thể được xem là cách tếp cận tốt của EU trong quá trình liên kết. N
cho phép không cần phải sử dụng nhiều quy tắc chung của cộng đồng mà cung cấp các c

hội để các nh m ch u nhiều hạn chế c thể hợp tác với nhau và cùng nhau phát triển.
Công trình nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn về bối cảnh của EU ở thời điểm tến
hành hội nhập sâu rộng, tập trung ở việc hoạch đ nh chính sách công nghiệp ở cấp cộng
đồng. Tuy nhiên, do những hạn chế về quy mô, công trình chưa đề cập được vai tr của
các quốc gia thành viên trong phát triển công nghiệp của bản thân trong bối cảnh
thực hiện các chính sách chung của Liên minh.
Ng h i n ứu h n h s
ồm ả
n

h

ng ng h i p tr n b ìn h d i n q u

tế, b o g

đ n g ph t triển : Patrizio Bianchi và Sandrine Labory (2008) trong cuốn

sách Intern tion l H ndbook on Industri l Poli y (Sổ t y qu

tế về Ch nh sách c ng nghi

p) đã đi phân tích bối cảnh mới trong việc xây dựng và thực thi chính sách công nghiệp
của các chính phủ. Các tác giả cho rằng chính sách công nghiệp đã phát triển trải qua
nhiều thời kỳ và c thể phân loại thành chính sách


công nghiệp cổ điển với chính sách bảo hộ và nuôi dưỡng các ngành công nghiệp
non trẻ và chính sách phát triển công nghiệp „mới‟ được hình thành trong bối cảnh hiện
nay. Các tác giả cho rằng, bối cảnh hiện nay không thể thực hiện được chính sách công

nghiệp kiểu cũ được nữa bởi các quốc gia hiện đang tham gia mạnh mẽ vào quá trình tự
do h a và toàn cầu h a kinh tế. Các quốc gia thiết lập và gắn kết ngày càng nhiều vào
các khu vực mậu d ch tự do, ở các cấp độ khu vực và toàn cầu. Các mạng lưới khu vực
mậu d ch tự do này cũng chồng chéo, đan xen nhau khiến các quốc gia không thể tến
hành bảo hộ hay ưu đãi cho các doanh nghiệp của nước mình ho c ngăn ch n sự
cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài. Bất cứ sự đối xử thiên v nào cũng c thể
dẫn đến sự khiếu nại của các nước c liên quan ho c cao h n nữa là sự kiện tụng lên các
thể chế thư ng mại quốc tế. Do vậy, trong hoàn cảnh này các quốc gia chỉ c thể tập trung
vào hai công cụ chính: i) tạo ra các quy tắc để dựa vào đ

các doanh nghiệp hoạt

động và ii) hỗ trợ năng lực cho doanh nghiệp bằng cách phát triển tri thức và phổ biến tri
thức cho các doanh nghiệp để từ đ các doanh nghiệp tăng cường được khả năng cạnh
tranh, ví dụ như th c đẩy nghiên cứu và phát triển hay xây dựng các c sở nghiên cứu
khoa học.
Cuốn sách là một tài liệu tham khảo tốt cho việc hiểu biết và xây dựng chính sách
công nghiệp trong bối cảnh mới, đ c biệt là đối với các nước đang phát triển hiện đang
hướng đến phát triển kinh tế và trở thành quốc gia công nghiệp. Các tác giả đã lấy một số
dẫn chứng EU như một khối thống nhất và một số nước thành viên EU cũng như một số
ngành để minh họa cho các lập luận của mình. Tuy nhiên, cuốn sách mới chỉ dừng ở việc
phân tích các nước đang phát triển trong một bối cảnh chung mà chưa đi vào phân
tích một (ho c một vài) quốc gia cụ thể để thấy được tác động của bối cảnh hiện nay đối
với quá trình hoạch đ nh chính sách, cụ thể là chính sách công nghiệp.


Ng h i n
ợng
n gh i n ứu


ứu

h nh s

h

ng ng h i p

qu

gi

th u

đ i t

luậ n n :

Về Cộng h a Italia, Giuseppe Calabrese và Secondo Rolfo (2001), c bài viết
„SMEs and Innovaton: the Role of the Industrial Policy in Italia‟ (SMEs và Đổi mới: vai tr
của chính sách công nghiệp ở Italia) tập trung vào việc phân tích các tác động của
chính sách công nghiệp đối với sự phát triển và sức sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa. Rafaella Conleti (2007) cũng tập trung vào tính đổi mới của doanh nghiệp Italia
dưới tác động của chính sách công, bao gồm cả chính sách công nghiệp, trong bài
viết „Italia and Innovaton: Org nis ton l Stru ture nd Publi Poli ies‟ (Italia và Đổi
mới: cấu tr c doanh nghiệp và chính sách công). Nghiên cứu về mô hình công nghiệp
của Italia, Maria Chiarvesio, Eleonora Di Maria, và Stefano Micelli (2010) c bài nghiên
cứu „Global Value Chains and Open Networks: The Case of Italian Industrial Districts‟
(Chuỗi giá tr toàn cầu và các Mạng lưới mở: nghiên cứu trường hợp các khu công
nghiệp của Italia). Các tác giả đã nhấn mạnh đến mô hình liên kết giữa các doanh nghiệp

nhỏ và vừa qua các hiệp hội để tạo nên sức mạnh trong cạnh tranh trên th trường toàn
cầu. Về những điều chỉnh chính sách công nghiệp trong thời gian gần đây ở Italia,
Patrizio Bianchi và Sandrine Labory (2010) c bài viết „Industrial Policy afer the Crisis:
the Case of the Emilia-Romagna Region in Italia‟ (Chính sách công nghiệp thời kỳ hậu
khủng hoảng: nghiên cứu trường hợp vùng Emilia-Romagna ở Italia).
Về Cộng h a Pháp, Jean-Pierre Dormois (1999) c

một chư ng: „France: The

Idiosyncrasies of Volontarisme‟ trong cuốn European Industrial Policy: The TwentethCentury Experience của James Foreman – Peck và Giovanni Federico,
1999 [91]. Tác giả đã điểm lại l ch sử phát triển của chính sách công nghiệp Pháp từ
khi thiết lập đến những năm 80 của thế kỷ XX. Cùng chung cách tếp cận theo d ng l ch
sử của chính sách công nghiệp ở Cộng h a Pháp, Elie Cohen (2007) qua bài viết
„Industrial Policies in France: the Old and the New‟ (Chính


sách công nghiệp ở Pháp: chính sách mới và cũ) đã tập trung so sánh chính sách công
nghiệp của Pháp ở thời kỳ trước năm 2000 và chính sách giai đoạn 2000 2006. Qua bài viết „Industrial Policy in Europe since the second world war: what has
been learnt?‟ (Chính sách công nghiệp ở châu Âu từ sau chiến tranh thế giới II: ch ng
ta đã học hỏi được gì?) Geoffrey Owen (2012), đã tổng hợp lại chính sách công nghiệp của
một số nước châu Âu, trong đ c Pháp.
Về Vư

ng Quốc Anh, trong chư

ng „Britain: From Economic Liberalism to

Socialism – And Back?‟ (Nước Anh: từ Chủ nghĩa kinh tế tự do đến Chủ nghĩa xã hội
– và ngược lại?) của cuốn sách European Industrial Policy: The Twenteth-Century
Experience [91], James Foreman-Peck và Leslie Hannah đã phân tích chính sách công

nghiệp của Vư ng Quốc Anh trong suốt chiều dài l ch sử, từ khi thiết lập lần đầu tên cho
đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Martin Chick (1998) cũng c công trình „Industrial Policy
in Britain 1945 – 1951: Economic planning, Natonalism, and the Labour governments‟
(Chính sách công nghiệp ở Anh 1945 – 1952: Kinh tế kế hoạch, Quốc hữu h a và Các
chính phủ Công đảng) với trọng tâm phân tích chính sách công nghiệp của Vư ng
Quốc Anh thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới II. Về những phân tích chính sách công nghiệp
của Vư ng Quốc Anh trong thời gian gần đây, Ben Gardiner và các tác giả (2012) c

bài

viết: „Spatally Unballanced Growth in the Britsh Economy‟ (Tăng trưởng bất cân bằng
trong nền kinh tế Anh). Các tác giả đã nêu bật sự bất cân đối giữa các vùng trong Vư ng
Quốc Anh và đ i hỏi phải c một sự điều chỉnh trong chính sách công nghiệp và chính
sách phát triển vùng nhằm đạt được một nền kinh tế phát triển cân bằng h n. Nghiên cứu
trường hợp về các ngành cụ thể, Kaveh Pourvand (2013) trong bài viết: „Pi king Winners:
How K industrial policy ensured the success of the aerospace and automobile
industries‟ (Lựa chọn người thắng cuộc: chính sách công nghiên của Vư ng Quốc
Anh đã đảm bảo cho sự thành công của ngành hàng không và ô tô như thế


nào?) đã đi phân tích tác động của chính sách công nghiệp đối với ngành hàng không
và ô tô ở Vư ng Quốc Anh trong những thập niên gần đây.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu nêu trên, các học giả trên thế giới và châu Âu
đã c

nhiều bài viết về chính sách công nghiệp n i chung cũng như chính sách công

nghiệp của châu Âu và một số nước châu Âu n i riêng như [33], [35], [66], [67], [74], [76],
[79], [92], [97], [103], [112], [113] …
1.2. Nghi n c u trong nƣớc

Cho đến nay, c

rất ít công trình nghiên cứu tại Việt Nam về chính sách công

nghiệp của các quốc gia châu Âu cũng như của EU. Một số công trình xuất bản bằng tếng
Việt mới dừng ở việc đề cập s

lược chính sách công nghiệp của EU ho c của một số

nước châu Âu như những bài học kinh nghiệm trong một tổng thể nghiên cứu rộng h n
ho c chỉ là các ấn phẩm d ch lại các bài viết của các học giả nước ngoài. Ví dụ như, cuốn
“Ch nh s h

ng nghi p trong

nền kinh tế thị tr ờng ph t triển: những

h tếp ận

m i” (1994) của Viện Kinh tế Thế giới là một cuốn sách tập trung các bài về chính sách
công nghiệp của Mỹ, Canada, Nhật Bản và châu Âu của các tác giả Mỹ và châu Âu, được d
ch ra tếng Việt. Về phần châu Âu, do quy mô c hạn, tác giả chỉ tập trung vào sự chuyển
biến của chính sách công nghiệp ở phạm vi EU trong bối cảnh liên kết khu vực và sự
tăng cường các chính sách chung của Liên minh trong những năm 1990. Tác giả phân
tích những thách thức của châu Âu trong thập niên 90 với sự phát triển mạnh mẽ của
quá trình quốc tế h a và toàn cầu h a th trường, sự cạnh tranh phát triển công nghệ
cao từ khu vực Đông Á, sự d ch chuyển d ng vốn về các nước Trung và Đông Âu chuyển
đổi. Từ những thách thức đ , các tác giả đi sâu phân tích chính sách công nghiệp của châu
Âu thông qua văn kiện về chính sách công nghiệp được EU đưa ra l c bấy giờ: “Chính
sách công nghiệp trong môi trường kinh tế cạnh tranh mở”, trong đ nhấn mạnh chính

sách công nghiệp theo “chiều ngang”, tức tạo một môi trường kinh tế th c đẩy sáng tạo
và sự hợp


tác giữa các doanh nghiệp, xây dựng một mạng lưới giao thông thống nhất, các hệ
thống cung cấp năng lượng và viễn thông, tái đào tạo tại n i làm việc…
Đối với chính sách công nghiệp ở Việt Nam, số lượng các công trình nghiên cứu về
chủ đề này đến nay c n hạn chế về số lượng. Một số công trình đáng ch ý về chủ đề này
c thể kể đến như sau:
Về chuyển d ch c

cấu kinh tế, Đỗ Hoài Nam (chủ biên) (1996), trong cuốn

Chuyển dị h ơ ấu kinh tế ng nh v ph t triển

ng nh trọng điểm, mũi nhọn ở Vi t N

m), đã tập trung phân tích các nhân tố tác động của khu vực và thế giới, thực trạng c
cấu ngành trong nước để từ đ đưa ra các mô hình phát triển theo ngành ở Việt Nam và
các điều kiện để thực hiện. Công trình được thực hiện ở thời điểm đất nước đã tến hành
Đổi mới được 10 năm và bắt đầu bắt tay vào quá trình công nghiệp h a, hiện đại h a
đất nước. Đây cũng là công trình g p phần làm tài liệu tham khảo cho quá trình chuẩn
b Đại hội Đảng VIII. Đối với lĩnh vực công nghiệp, các tác giả đã nêu ra thực trạng phát
triển công nghiệp và đưa ra khuyến ngh đ nh hướng phát triển một số ngành cụ thể như
khai thác tài nguyên, xây dựng và phát triển hạ tầng, chế biến nông lâm thủy sản,
các ngành thâm dụng lao động để giải quyết việc làm, và một số ngành gia công, lắp ráp.
Công trình bao quát một phạm vi nghiên cứu rộng nhưng chưa kết nối được các kinh
nghiệm từ các quốc gia khác đối với d ch chuyển c cấu ngành và đ c biệt là phát triển
công nghiệp với tình hình phát triển của Việt Nam, do đ các khuyến ngh về phát triển
công nghiệp chưa đưa ra được những lựa chọn chính sách mang tính dài hạn.

Tập trung cụ thể vào chiến lược phát triển công nghiệp, Kenichi Ohno và Nguyễn
Văn Thường (chủ biên) (2005), trong cuốn Ho n thi n hiến l ợ ph t triển

ng nghi p

Vi t N m, đã tập hợp các bài viết tập trung vào vấn đề thiết kế chính sách và đổi mới
công tác nghiên cứu chính sách, cụ thể là về phát triển công nghiệp. Bên cạnh đ , các
tác giả cũng tập trung vào các vấn đề cụ thể trong


phát triển công nghiệp như tếp cận marketng trong thu h t đầu tư trực tiếp nước ngoài,
xây dựng và tăng cường công nghiệp phụ trợ, chiến lược mua sắm tối ưu, một số bài học
từ các nước trong khu vực về phát triển ngành điện, điện tử; phát triển công nghiệp ô tô…
Các quan điểm về phát triển công nghiệp và các bài học r t ra cho Việt Nam trong phát
triển một số ngành cụ thể nêu trên chủ yếu từ Nhật Bản và một số nước trong khu vực
như Indonesia, Malaysia, Thái Lan….. Tuy nhiên, những bài học này dường như kh

c

thể áp dụng cho Việt Nam vì các ngành này đã rất phát triển ở các nước đ và Việt Nam
nếu muốn phát triển các ngành này thì phải cạnh tranh trực tiếp với họ.
Pietro Masina (2006) trong cuốn Vietn m‟s Development Str tegy (tạm d ch:
Các chiến lược phát triển của Việt Nam), dựa trên các nghiên cứu của tác giả thực hiện
tại Việt Nam, đã nêu bật tầm quan trọng của việc đ nh hình chính sách phát triển của
Việt Nam trong giai đoạn từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX vì đây là giai đoạn nền tảng
sau khi tến hành mở cửa hội nhập sâu h n vào khu vực và chứng kiến sự khủng hoảng
của các nước trong khu vực. Tác giả đã nêu bật các lĩnh vực kinh tế cần cải cách như khu
vực nhà nước, ngoại thư ng, lĩnh vực tài chính, vai tr của nhà nước… cũng như đ t
vấn đề cần cân bằng giữa tăng trưởng, giảm nghèo và bất bình đẳng. Tác giả cho
rằng các đ nh hướng chính sách của các đ nh chế quốc tế cho các nước đang phát

triển, trong đ c Việt Nam, về tự do h a thư ng mại, đầu tư là không hoàn toàn phù hợp
với Việt Nam vì n mang lại tính dễ tổn thư ng cho nền kinh tế và sự gia tăng bất bình
đẳng như đã thấy trong cuộc khủng hoảng ở các nước Đông Nam Á. Tác giả cho rằng mô
hình „Nhà nước phát triển‟ ở một số nước Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan c thể là
một lựa chọn thích hợp cho Việt Nam, đ c biệt là trong việc hoạch đ nh chiến lược.
Thực tế cho thấy, nhà nước c vai tr lớn ở Việt Nam, do vậy trong việc thực hiện một
chiến lược công nghiệp h a do nhà nước dẫn dắt đ i hỏi phải c sự đồng thuận chính
tr . Với mục têu đ , cải cách quản lý nhà


nước nhằm tạo ra một bộ máy quản lý hiệu quả h n, với trách nhiệm và quyền hạn rõ
ràng là một đ i hỏi bức thiết.
Tuy đã phân tích sâu các kinh nghiệm từ Đông Á và bối cảnh Việt Nam nhưng công
trình chưa đề cập đến những kh khăn trong hoạch đ nh chính sách khi việc hình thành
các khối liên kết trong khu vực ngày càng chồng chéo và sự gia tăng các cam kết quốc tế
về mở cửa th trường ngày càng tăng. Việc bảo hộ cho sản xuất trong nước và hỗ trợ
hàng h a hướng ra xuất khẩu nhằm th c đẩy tăng trưởng và phát triển như các nước
Đông Á khác đã từng thực hiện trong thời kỳ trước đây giờ đã kh

thực hiện trong

thời điểm hiện nay. Các kinh nghiệm phát triển công nghiệp từ châu Âu vắng b ng
trong công trình nghiên cứu này.
Dwight H. Perkins và Vũ Thành Tự Anh (2010) trong bài viết “Chính sách công
nghi p c a Vi t Nam: Thiết kế h nh s

h để phát triển bền vững” đã phân tích chính

sách công nghiệp của Việt Nam năm 2007 và một số kết quả thực hiện phát triển công
nghiệp của Việt Nam chủ yếu trong giai đoạn từ 19902008. Bài viết cũng so sánh chính sách phát triển công nghiệp ở Việt Nam với chính sách

của một số quốc gia khác ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Bài viết đề cập đến một số
vấn đề nổi cộm trong phát triển công nghiệp ở Việt Nam và từ đ đưa ra một số khuyến
ngh chính sách nhằm th c đẩy phát triển công nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn
2010-2020. Bài viết đã c những phân tích rất sâu sắc và nêu bật được những đ c điểm
của chính sách công nghiệp ở Việt Nam đến trước năm 2010, do vậy một nghiên cứu tiếp
nối cho giai đoạn từ 2010 đến nay và đưa ra các khuyến ngh chính sách trong giai đoạn
10 năm tiếp theo và xa h n nữa là hết sức cần thiết.
Một công trình thực hiện gần đây nhất tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
là đề tài cấp bộ: “Ch nh s

h

ng nghi p trong m hình tăng tr ởng m i, gi i đoạn

2011-2020”, do Lê Anh Vũ làm chủ nhiệm đề tài (2011). Đề tài


đã tổng quan lại các khái niệm về chính sách công nghiệp và đưa ra khái niệm riêng về
chính sách công nghiệp, cho rằng: chính sách công nghiệp là “các chính sách, biện pháp
được nhà nước sử dụng để tác động đế sự phân bổ nguồn lực giữa các ngành cũng
như giữa các doanh nghiệp trong các ngành đ nhằm th c đẩy tăng trưởng kinh tế”.
Các tác giả sau đ đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm về chính sách công nghiệp
của một số nước châu Á, không c các nước châu Âu. Đề tài tập trung chủ yếu vào thực
trạng chính sách công nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010 và các một số
khuyến ngh chính sách công nghiệp trong giai đoạn 2011 – 2020. Đề tài cho rằng trong
mô hình tăng trưởng mới, chính sách công nghiệp của Việt Nam cần đ nh hướng phân
bổ nguồn lực c mục têu, đ nh hướng lựa chọn ngành đầu tư cho doanh nghiệp, th
c đẩy doanh nghiệp gia nhập chuỗi sản phẩm toàn cầu, đ nh hướng phát triển công
nghiệp phụ trợ….. Đây là một đề tài tập trung sâu vào các đ nh hướng cho chính sách
công nghiệp của Việt Nam, tuy nhiên c sở cho các khuyến ngh , đ c biệt là kinh nghiệm

từ các nước khác, c n rất hạn chế. Nội dung kinh nghiệm quốc tế mới chỉ tập trung ở
các nước châu Á mà chưa c sự mở rộng sang các nước công nghiệp phát triển ở châu Âu.
Liên quan đến vấn đề phát triển công nghiệp ở các quốc gia thành viên
EU trong giai đoạn gần đây, Đề tài cấp bộ: „Điều h nh h nh s h ph t triển
C ng h

Ph p‟ (thực hiện 2011-2012) do Đinh Mạnh Tuấn làm chủ nhiệm đã phân tích

được những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008
đến nền kinh tế Cộng h a Pháp, trong đ c các hoạt động sản xuất công nghiệp. Đề tài
cũng đã nêu và phân tích một số chính sách được điều chỉnh nhằm ứng ph

khủng

hoảng và phục hồi nền kinh tế cũng như sản xuất công nghiệp.
Cuốn sách „Điều h nh h nh s

h ph t triển ở V ơng qu

ng hoảng t i h nh v suy tho i kinh tế to n ầu 200 v b i họ
do Đỗ Tá Khánh chủ biên, cũng đi sâu phân tích những

Anh gi i đoạn hậu kh
ho Vi t N m‟ (2013),


nguyên nhân dẫn tới suy thoái kinh tế ở Vư ng Quốc Anh và những tác động của n
đối với nền kinh tế, bao gồm cả sản xuất công nghiệp. Các tác giả cũng đã phân tích
những điều chỉnh chính sách của chính phủ Anh nhằm khôi phục nền kinh tế và các
hoạt động sản xuất công nghiệp. Các tác giả cũng đã r t ra một số bài học từ Vư ng

Quốc Anh cho Việt Nam trong việc ứng ph với khủng hoảng và suy thoái kinh tế.
1.3. Một số vấn đề đ t ra cho luận án
Với các nghiên cứu ngoài nước và trong nước nêu trên, ch ng ta c

thể thấy

rằng các đề tài đã c những phân tích về chính sách công nghiệp của các nước châu Âu
nói riêng cũng như EU nói chung. Nhiều công trình đã phân tích chính sách công nghiệp
bằng phư ng pháp tếp cận l ch sử, với các phân tích chính sách công nghiệp của các
nước trong từng giai đoạn. Một số công trình đã tập trung vào các vấn đề liên quan đến
chính sách công nghiệp trong thời kỳ hiện nay, với sự điều chỉnh chính sách n i chung
nhằm thích ứng tình hình mới cũng như nghiên cứu trường hợp ở một số ngành. Nhiều
đề tài cũng nghiên cứu một số tác động của quá trình hội nhập khu vực đối với quá
trình hoạch đ nh chính sách n i chung và chính sách công nghiệp n i riêng. Bên cạnh đ ,
một số đề tài cũng đã phân tích chính sách công nghiệp chung của EU và mối quan hệ với
chính sách công nghiệp của các nước thành viên.
Tuy nhiên, các đề tài nêu trên vẫn c n c một số hạn chế như chưa phân tích
chính sách công nghiệp đ t trong bối cảnh mới của quá trình toàn cầu h a ngày càng
sâu rộng, với tến trình tự do h a thư ng mại và thiết lập các khu vực mậu d ch tự do
chồng chéo. Các đề tài này chưa làm rõ các động lực điều chỉnh chính sách công nghiệp
với một sự kết nối theo d ng l ch sử, đ c biệt là cập nhật những điều chỉnh chính sách
trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính 2008. Bên cạnh đ , các đề tài chưa c
những nghiên cứu so sánh về chính sách công nghiệp ở các nước theo các mô hình phát
triển khác nhau ở châu Âu: th trường tự do và th trường xã hội, chủ nghĩa tự do và chủ
nghĩa bảo hộ. Các đề tài cũng


chưa c những phân tích về vai tr của nhà nước, những thách thức của công tác hoạch đ
nh chính sách trong giai đoạn hiện nay.
Với những điểm c n khuyết nêu trên, luận án này, với trọng tâm nghiên cứu

những điều chỉnh trong chính sách công nghiệp của một số nước công nghiệp châu
Âu chủ chốt trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, với sự nhìn lại cả quá trình tến h a
của chính sách công nghiệp theo d ng l ch sử, được kỳ vọng sẽ là nguồn bổ sung quan
trọng cho c sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế cho quá trình hoạch đ nh chính sách công
nghiệp ở Việt Nam.


×