TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP HCM
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
ĐỀ TÀI:
PHƯƠNG PHÁP IN LỤA
GVHD: TS Phan Thị Thanh Diệu
Lớp: 05DHHH1
Nhóm: 4
Niên khóa: 2014 - 2018
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10 NĂM 2017
DANH SÁCH NHÓM 4
1. Đoàn Thị Hồng Ngọc
2. Phan Thị Bích Ngọc
3. Phan Thế Bảo
MỤC LỤ
2004140169
2004140168
2004140009
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KỸ THUẬT IN ẤN......................................1
1.1. In ấn............................................................................................................................ 1
1.1.1. Khái niệm..............................................................................................................1
1.1.2. Lịch sử phát triển...................................................................................................1
1.2. Một số kĩ thuật in ấn cơ bản hiện nay......................................................................2
1.2.1. In Typo..................................................................................................................2
1.2.2. In lụa...................................................................................................................... 3
1.2.3. In Plexo.................................................................................................................3
1.2.4. In ống đồng............................................................................................................ 3
1.2.5. In Off set................................................................................................................4
1.2.6. In kỹ thuật số.........................................................................................................5
1.3. Các công đoạn của quá trình in ấn...........................................................................5
1.3.1. Khâu trước in (pre-press) hay còn gọi là khâu chế bản.........................................5
1.3.2. Khâu in ấn (press)..................................................................................................5
1.3.3. Khâu sau in (post-press) hay còn gọi là khâu thành phẩm.....................................6
1.4. Nguyên tắc của các phương pháp in hiện đại..........................................................6
1.4.1. In Offset................................................................................................................. 6
1.4.2. In ống đồng............................................................................................................ 6
1.4.3. In lụa, Flexo...........................................................................................................6
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP IN LỤA...........................7
2.1. Khái niệm...................................................................................................................7
2.2. Nguyên lý.................................................................................................................... 7
2.3. Lịch sử hình thành.....................................................................................................7
2.4. Phân loại kỹ thuật in lụa............................................................................................8
2.5. Phạm vi ứng dụng......................................................................................................9
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU CHÍNH, CHẤT NHUỘM MÀU VÀ HỒ IN......................10
3.1. Vật liệu chính dùng để in.........................................................................................10
3.1.1. Các vật liệu in lụa làm từ xenlulo........................................................................10
3.1.2. Vật liệu từ lụa tơ tằm, len....................................................................................11
3.1.3. Các vật liệu sợi hóa học.......................................................................................11
3.1.4. Các vật liệu khác..................................................................................................12
3.2. Chất nhuộm màu.....................................................................................................13
3.3. Hồ in.......................................................................................................................... 13
CHƯƠNG 4: CẤU TẠO CỦA KHUÔN IN TRONG KỸ THUẬT IN LỤA..............15
4.1. Cấu tạo khuôn in......................................................................................................15
4.1.1. Khung của khuôn in.............................................................................................15
4.1.1.1. Nguyên liệu...................................................................................................15
4.1.1.2. Kỹ thuật làm khung.......................................................................................16
4.1.2. Lưới in................................................................................................................. 17
4.1.2.1. Nguyên liệu..................................................................................................17
4.1.2.2. Cách chọn lưới in..........................................................................................18
4.2. Bàn in........................................................................................................................ 19
4.2.1. Mặt bàn in............................................................................................................19
4.2.2. Khung bàn in.......................................................................................................20
4.3. Dao gạt hồ in.............................................................................................................20
4.3.1. Chổi quét bằng bọt biển:.....................................................................................20
4.3.2. Con lăn cao su:....................................................................................................21
4.3.3. Dao gạt:...............................................................................................................21
4.4. Kỹ thuật chế bản in lụa............................................................................................21
4.4.1. Nguyên lý in lụa.................................................................................................21
4.4.2. Quá trình chế tạo khuôn in lụa.............................................................................22
4.4.3. Màng cảm quang.................................................................................................23
4.4.3.1. Phân loại.......................................................................................................23
4.4.3.2. Một số màng cảm quang thường sử dụng.....................................................24
4.4.4. Cách pha chế keo.................................................................................................26
CHƯƠNG 5: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ IN LỤA....................................................29
5.1. Quy trình công nghệ in lụa......................................................................................29
5.1.1. Sơ đồ công nghệ:.................................................................................................29
5.1.2. Thuyết minh quy trình.........................................................................................30
5.2. Ưu nhược điểm của phương pháp in lụa................................................................31
5.2.1. Ưu điểm............................................................................................................... 31
5.2.2. Nhược điểm.........................................................................................................31
5.3. Các công nghệ in lụa trong thực tế.........................................................................31
5.4. Ứng dụng của in lụa.................................................................................................32
KẾT LUẬN...................................................................................................................... 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................36
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KỸ THUẬT IN ẤN
1.1. In ấn
1.1.1. Khái niệm
In ấn hay ấn loát là quá trình tạo ra chữ và tranh ảnh trên các chất liệu nền
như giấy, bìa các tông, ni lông, vải... bằng một chất liệu khác gọi là mực in. In ấn thường
được thực hiện với số lượng lớn ở quy mô công nghiệp và là một phần quan trọng trong
ngành xuất bản.
Hình thức sớm nhất của in ấn là in bằng âm bản khắc gỗ, với các nghiên cứu hiện
tại thì in ấn đã xuất hiện ở Trung Quốc có niên đại từ trước năm 220 trước Công
nguyên[1] và Ai Cập vào thế kỷ IV.
1.1.2. Lịch sử phát triển
Trong quá khứ ở Châu Âu dùng phương pháp khắc trên đá => bôi mực => in ra
giấy (in thạch bản).
Ở Châu Á (Trung Quốc, Việt Nam) dùng phương pháp khắc trên gỗ => bôi mực
=> in (in mộc bản).
Năm 868, ở Trung Hoa, sách đã được in bằng các bản khắc gỗ. Trong năm 1040,
Bi Sheng đã sáng chế chữ in. Những con chữ này được dùng để in không chỉ một cuốn
sách
Những năm 1430, Johannes Gutenberg đã phát minh ra máy in. Khi phương pháp
in hiện đại của ông ra đời tạo nên sự nhảy vọt về phát triển thông tin ở châu Âu, góp phần
làm cho khu vực này phát triển nhanh hơn về khoa học kỹ thuật.
Máy in cho phép chúng ta có thể đưa một lượng lớn thông tin đến thế giới với chi
phí thấp và hiệu quả. Chiếc máy in là nền tảng của nhiều loại máy khác, tất nhiên, tinh
1
xảo hơn chiếc bánh xe nhiều. Sự truyền bá kiến thức trong sách vở đã giúp những người
khác có điều kiện tiếp cận các công nghệ mới và phát minh ra nhiều thứ hơn.
Từ năm 1950 (ở Việt Nam từ sau 1975) => phương pháp in offset
1.2. Một số kĩ thuật in ấn cơ bản hiện nay
Công nghệ in ấn phát triển không ngừng nhằm đem lại những bản in đẹp và chất lượng để
phục vụ cuộc sống con người. Các phương pháp in đều có thế mạnh riêng, áp dụng vào
từng sản phẩm in cụ thể. Những phương pháp in từ thời xa xưa cho đến nay vẫn còn tồn
tại vì chúng rất hữu ích, các công nghệ in ấn vẫn được cải tiến, hoàn thiện và phát triển
lớn mạnh.
1.2.1. In Typo
Đây là phương pháp in đầu tiên và cổ xưa
nhất, được phát minh bởi người Trung Quốc nhưng
người Đức (Johan Gutenberg) mới là người được
công nhận là ông tổ ngành in.
Về nguyên lý, in typo là phương pháp in cao,
tức là trên khuôn in typo, các phần tử in (hình ảnh,
chữ viết) nằm cao hơn các phần không in. Khi in,
chúng ta chà mực qua bề mặt khuôn in, các phần tử in nằm cao hơn nên sẽ nhận mực và
sau đó khi ép in, mực sẽ truyền qua bề mặt giấy in tạo thành hình ảnh, chữ cần in.
Phương pháp in typo sắp chữ chỉ hiện
nay không còn được sử dụng do sản lượng
thấp, lạc hậu và độc hại… Một số ứng dụng
khác của in typo như in số nhảy, ép chìm nổi,
ép nhũ bạc, vàng… vẫn còn được sử dụng.
2
1.2.2. In lụa
In lụa là một dạng trong kỹ thuật in ấn. In lụa là tên thông dụng do giới thợ đặt ra
xuất phát từ lúc bản lưới của khuôn in làm bằng tơ lụa. Sau đó, khi mà bản lưới lụa có thể
thay thế bởi các vật liệu khác như vải bông, vải sợi hóa học, lưới kim loại để làm thì tên
gọi được mở rộng như là in lưới
In lụa thực hiện theo nguyên lý giống như in mực dầu trên giấy nến theo nguyên
lý chỉ một phần mực in được thấm qua lưới in, in lên vật liệu in bởi trước đó, một số mắt
lưới khác đã được bịt kín bởi hóa chất chuyên dùng. Kỹ thuật này có thể áp dụng cho
nhiều vật liệu cần in như nilông, vải, thủy tinh, mặt đồng hồ, mạch điện tử, một số sản
phẩm kim loại, gỗ, giấy… hoặc sử dụng thay cho phương pháp vẽ dưới men trong sản
xuất gạch men…
1.2.3. In Plexo
In flexo bắt nguồn từ chữ flexible, nghĩa
là mềm dẻo. Khuôn in flexo cũng thuộc dạng
khuôn in cao như in typo, tuy nhiên nó được
chế tạo từ chất dẻo (cao su hoặc nhự
phoyopolymer) bằng quá trình phơi quang hóa.
Phương pháp in này được sử dụng rộng rãi để in
các lọai nhãn decal, bao bì hoặc thùng carton.
1.2.4. In ống đồng
In ống đồng về nguyên lý nó là
phương pháp in lõm, tức là trên khuôn
in, hình ảnh hay chữ viết (gọi là phần tử
in) được khắc lõm vào bề mặt kim lọai.
Khi in sẽ có 2 quá trình: Mực (dạng
lỏng) được cấp lên bề mặt khuôn in, dĩ
3
nhiên mực cũng sẽ tràn vào các chỗ lõm của phần tử in, sau đó một thiết bị gọi là dao gạt
sẽ gạt mực thừa ra khỏi bề mặt khuôn in, và khi ép in mực trong các chỗ lõm dưới áp lực
in sẽ truyền sang bề mặt vật liệu.
Khuôn in ống đồng có dạng trục kim lọai, làm bằng thép, bề mặt được mạ một lớp
đồng mỏng, phần tử in sẽ được khắc lên bề mặt lớp đồng này nhờ axít hoặc hiện đại hơn
là dùng máy khắc trục. Sau đó bề mặt lớp đồng lại được mạ một lớp crôm mỏng để bảo
vệ nên có người lại nói đây là phương pháp in ống crôm.
In ống đồng được ứng dụng trong ngành in bao bì màng nhựa, thí dụ như bao đựng
bánh kẹo, cà phê, bột giặt, thực phẩm đông lạnh…
1.2.5. In Off set
Đây là phương pháp in phổ biến
nhất và cũng phương pháp in được nhắc
đến nhiều nhất đối với những người làm
design thiết kế. Nguyên lý của phương
pháp in này đơn giản nhưng khó hình
dung nếu chưa được tay sờ mắt thấy
“hiện vật”.
In offset là phương pháp in phẳng,
các thông tin hình ảnh được thể hiện trên
bản in có tính quang hoá để tạo ra các phần tử in bắt mực và phần tử không in thì bắt
nước. Ngoài ra hình ảnh trên khuôn in phải là hình ảnh thuận, tức là cùng phương với tờ
in sẽ được in ra.
Vì sao gọi là offset (offset = truyền qua) khi in bản in không ép trực tiếp lên giấy
hay vật liệu in như những phương pháp in khác mà sẽ được ép lên bề mặt một tấm cao su,
sau đó tấm cao su này mới được ép lên bề mặt giấy. Việc này nhằm tạo ra sự truyền mực
tối ưu nhất.
4
1.2.6. In kỹ thuật số
In kỹ thuật số (KTS) đã phát triển
một cách rộng rãi trên phạm vi toàn cầu,
với những ưu điểm vượt trội hơn về tính
linh động khi in các đơn hàng nhỏ cũng
như sản xuất các sản phẩm yêu cầu dữ liệu
thay đổi. Vật liệu in kỹ thuật số cũng rất đa
dạng, đáp ứng được nhiều yêu cầu của
khách hàng, có thể in được trên vải, thuỷ
tinh, các loại màng,... Tuy vậy, giấy vẫn là
vật liệu in phổ biến hơn cả, trong tương lai giấy vẫn là vật liệu in truyền thống.
1.3. Các công đoạn của quá trình in ấn
Để sản xuất ra một ấn phẩm (một tờ báo, một cuốn sách, một tờ rơi hoặc catalogue
giới thiệu sản phẩm…), người ta phải thực hiện nhiều công đoạn trước đó.
1.3.1. Khâu trước in (pre-press) hay còn gọi là khâu chế bản
Gồm các công việc chuẩn bị các dữ kiện Ban đầu (nhập liệu nội dung các bài viết,
tìm kiếm và vẽ các hình ảnh minh họa, scan và chỉnh sửa các hình ảnh), sau đó mới lên
bố cục, màu sắc, rồi dùng các phần mềm chuyên dụng để thiết kế nên sản phẩm trên máy
tính (các phần mềm Photoshop, Corel Draw, Illustrator), các phần mềm dàn trang (layout)
như Page Maker, QuarkXpress, Indesign… Sau khi đã thiết kế xong trên máy tính, chúng
ta có thể tiếp tục công đoạn bình trang điện tử trên máy tính (thông thường là với các sản
phẩm như tạp chí, báo chí …). Cuối cùng là đem xuất ra phim hoặc ra luôn bản in rồi
chuyển qua cho khâu tiếp theo là khâu in ấn.
1.3.2. Khâu in ấn (press)
Là công đoạn làm việc với máy in, vận hành máy in để in ra sản phẩm. Trong in ấn
có in offset, in flexo, in ống đồng, in lụa… Chuyên ngành in ấn sẽ được trang bị kiến
5
thức về các công nghệ in ấn , cấu tạo của máy in, nguyên lý in ấn, quy trình vận hành
máy in, các quy tắc an toàn lao động và cách khắc phục một số sự cố xảy ra trong quá
trình in ấn.
1.3.3. Khâu sau in (post-press) hay còn gọi là khâu thành phẩm
Khâu này bao gồm các công đoạn cuối cùng để hoàn tất sản phẩm in ấn: cắt xén,
cán màng, cấn bế, ép nhũ, ép chìm nổi, gấp dán, khâu chỉ đóng kim…
1.4. Nguyên tắc của các phương pháp in hiện đại
1.4.1. In Offset
Sử dụng 4 màu CMYK in chồng lên nhau. Các mực in được chuyển dưới dạng lưới
điểm (trame). Mỗi màu có một độ nghiên khác nhau để tạo ra sự hoà màu. Mật độ lưới
điểm tuỳ thược vào chất lượng loại giấy sử dụng
1.4.2. In ống đồng
- Ảnh Bitmap được in chồng 4 màu CMYK dạng lưới điểm
- Các hình vector được in tách rời từng màu
1.4.3. In lụa, Flexo
In tách rời từng màu
6
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP IN
LỤA
2.1. Khái niệm
In lụa là một dạng trong kỹ thuật in ấn. In lụa là tên thông dụng do giới thợ đặt ra
xuất phát từ lúc bản lưới của khuôn in làm bằng tơ lụa. Sau đó, khi mà bản lưới lụa có thể
thay thế bởi các vật liệu khác như vải bông, vải sợi hóa học, lưới kim loại để làm thì tên
gọi được mở rộng như là in lưới.
2.2. Nguyên lý
In lụa sử dụng một bản lưới rất đơn giản vào việc in ấn. Bản lưới là một loại
vật chất bằng lưới như vải sợi, vải lụa hoặc lưới,... Lưới được trải trên giá bằng gỗ
hay bằng kim loại,... Sau đó các mắt lưới được bịt kín bằng hoá chất chuyên dùng,
chỉ chừa lại những chỗ có vân hoa ( có chi tiết in) để cho mực thấm qua, in lên vật
liệu in. Nguyên tắc in lụa hoàn toàn giống như in mực dầu trên giấy nến.
Phương tiện chính của công nghệ in lụa là khuôn in. Ngoài ra, còn có: bàn
in, dao gạt, các công cụ để chế hồ và xử lý sản phẩm sau khi in.
2.3. Lịch sử hình thành
Kỹ thuật này được Châu Âu sử dụng vào năm 1925 với việc in trên giấy, bìa,
thuỷ tinh, tấm kim loại, vải giả da.
Nhưng, hơn 1000 năm trước "người ta phát minh ra rằng sợi tơ khi kéo căng
trên một khung gỗ, với hình ảnh khuôn tô gắn phía dưới khung bằng keo hồ có thể
dùng để sao chép các hình ảnh nhiều lần trên nhiều vật liệu khác nhau bằng cách phết
mực xuyên qua các lỗ tròn khuôn tụ”.
Những công trình nghiên cứu sử dụng vải tơ làm lưới in sau đó được tiến hành
tại Pháp và Đức trong khoảng thập niên 1870. Sau đó tại Anh Quốc, vào năm 1907,
Samuel Simon đã sáng chế ra quá trình làm lưới bằng các sợi tơ. Năm 1914, tại San
Francisco, California, phương pháp in lưới nhiều màu được John Pilsworth phát triển.
7
Nghề in ở Việt Nam ta đã có từ lâu đời, ít nhất xuất hiện đời Nhà Lý, tuy nhiên
nó chỉ được lưu hành trong phạm vi Phật giáo và quản lý nhà nước. Người có công
truyền bá nghề này sớm nhất là Lương Như Hộc (Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam
– Lương Như Hộc, tự Tường Phủ, hiệu Hồng Châu, là danh sĩ, quan nhà Lê Sơ). Ông
là người hai lần đi sứ giả sang Trung Quốc, học được kỹ thuật in khắc bản gỗ và
truyền lại cho dân làng Liễu Tràng – Hồng Lục.
Đối với ngành in lụa (in lưới) Việt Nam ta thì thế kỷ 21 là một thế kỷ sẽ tăng
trưởng và có nhiều triển vọng. Đầu tiên là chính sách vĩ mô của Đảng và Chính phủ
cở mở, khuyến khích, tạo điều kiện cho các ngành thủ công mỹ nghệ nói chung và
ngành in nói riêng phát triển. Thứ nữa là cơ hội về một thị trường toàn cầu. Tiếp đến
là sự phát triển của internet cùng những kỹ thuật mới khác, sẽ giúp chúng ta ngày
càng thu hẹp dần khoảng cách với các nước phát triển, mở ra rất nhiều cơ hội đang
chờ đón.
2.4. Phân loại kỹ thuật in lụa
-
Theo cách thức sử dụng khuôn in, có thể gọi tên in lụa theo các kiểu sau:
In lụa trên bàn in thủ công
In lụa trên bàn in có cơ khí hóa một số thao tác
In lụa trên máy in tự động.
Theo hình dạng khuôn in, có thể phân làm 2 loại:
In dùng khuôn lưới phẳng
In dùng khuôn lưới tròn kiểu thùng quay
Theo phương pháp in, có tên gọi:
In trực tiếp: là kiểu in trên sản phẩm có màu nền trắng hoặc màu nhạt, màu
nền không ảnh hưởng đến màu in.
In phá gắn: là kiểu in trên sản phẩm có nền màu, mực in phải phá
được màu của nền và gắn được màu cần in lên sản phẩm
In dự phòng: là in trên sản phẩm có màu nhưng nhưng không thể
dùng kiểu in phá gắn được.
2.5. Phạm vi ứng dụng
8
Ngày nay, in lụa rất phổ biến do không hạn chế về không gian, địa điểm,
vốn nguyên liệu vừa phải, vốn đầu tư giới hạn. Kỹ thuật này có thể được sử dụng
rộng rãi cho các mục đích in ấn khác: in nylon, in vải hoa, in thuỷ tinh, in mặt
đồng hồ, in mạch điện tử, in kim loại ( dễ bị gỉ sét), in gỗ, in mỹ thuật, in giấy, in
quảng cáo,...
9
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU CHÍNH, CHẤT NHUỘM MÀU VÀ
HỒ IN
3.1. Vật liệu chính dùng để in
Nắm vững được tính chất của vật liệu in chúng ta mới có thể chọn được
mực in lụa phù hợp với nhu cầu và các hóa chất xử lý thích hợp để đạt được hiệu
quả mầu sắc in ấn tốt nhất. Dưới đây trình bày về các loại vật liệu in lụa thường
hay gặp.
3.1.1. Các vật liệu in lụa làm từ xenlulo
Nhóm này bao gồm các loại lụa, vải bông, các vật liệu bằng da đay gai, cói...
Chúng có công thức hóa học chung là C6H7O2(OH)3 n lần. Do đó có các tính chất chung
như sau:
- Có khả năng hút ẩm cao chính vì vậy chúng dễ dàng thấm các loại mực in lụa hòa tan
trong nước.
- Trương nở mạnh trong môi trường kiềm đặc biệt là dung dịch kiềm đặc ở nhiệt độ thấp
và thời gian xử lý ngắn.
- Bị phân hủy mạnh dưới tác dụng của axit.
- Dưới tác dụng của chất ô xi hóa chuyển thành xenlulo oxit có độ bền kém
Các loại lụa nhân tạo ( lụa vixco, sản phẩm dệt kim có cấu trúc xốp và dễ bắt
mực in lụa). Đối với các loại vải bông vải dệt kim, khăn mặt, khăn tắm khăn trải
bàn ... người ta thường in bằng các loại mực có hoàn nguyên tan hoặc không tan, hoạt
tính trực tiếp, lưu huỳnh, pigment...
Các vật liệu bằng dây đai, gai, cói, thường được in bằng thuốc nhuộm bazo trực tiếp.
Các loại giấy thường được in bằng các thuốc nhuộm trực tiếp và pigment.
10
3.1.2. Vật liệu từ lụa tơ tằm, len
Đây là loại mặt hàng quý và đắt tiền do đó phải in bằng mực in lụa chất lượng cao
đảm bảo tiêu chuẩn. Vật liệu này có các đặc điểm chính như sau:
tính axit
-
Khá bền trong môi trường axit yếu, nên có thể dùng mực in lụa có
Bị phân hủy mạnh trong môi trường kiềm.
Kém bền trước các tác nhân oxy hóa khử
Từ những tính chất trên các vật liệu từ lụa tơ tằm và len thường được in bằng thuốc
nhuộm axit hoạt tính, hoàn nguyên tan.
3.1.3. Các vật liệu sợi hóa học
Xơ nhân tạo: Chủ yếu được sản xuất từ xenlulo gỗ, nên nó mang các tính
chất giống như các vật liệu từ xenlulo. Riêng các xơ diaxetat và triaxetat là các este
xenlulo thì không ưa nước do đã bị axetyl hóa. Do đó không nên in lên lụa dệt từ xơ
axetat bằng các thuốc nhuộm hay mực in lụa hòa tan trong nước. Người ta thường dùng
mực in lụa chịu nước đối vơi loại chất liệu này.
Xơ tổng hợp: Gồm các loại
Xơ họ polyamit ( PA ) gồm các loại nylon - Dùng mực in lụa trên nylon
Xơ họ Polyeste ( PES ) chủ yếu là các este của axit tereftalic và
etylenglycol.Dùng mực in lưới trên PES.
Xơ polyvinylic hay vinylon: sản xuất từ vinylaxeta
Xơ polyacrylonitrin ( PAN ) tên thương phẩm là acrylic
Xơ Polyvinyclorua ( PVC ) sử dụng mực in trên nhựa PVC
Do có cấu tạo khác nhau nên các loại sơ tổng hợp có tính chất hóa học khác nhau.
Tuy nhiên cung cũng có vài tính chất chung như:
-
Có cấu trúc chặt chẽ nên không ưa nước rất khó thấm nước và trương nở. Vì vậy
nó chung khi in các vật liệu xơ tổng hợp không nên dùng mực in lụa hòa tan được
-
trong nước.
Ở nhiệt độ cao đều bị chuyển hóa thành dạng mềm sau đó chảy ra.
Tương đối bền với các dung dịch axit và kiềm loãng và các chất oxy hóa khử.
11
-
Các loại mực in lụa ( thuốc nhuộm phù hợp ) với các vật liệu sơ tổng hợp: Thuốc
nhuộm phân tán có thể dùng cho tất cả các loại sơ trên. Mỗi loại xơ có mực in lụa
-
chỉ định riêng.
Có thể dùng phương pháp in pigment đối với tất cả các loại xơ nói trên. Riêng in
trên PVC, PE, PES, PP phải dùng mực in lụa có chứa Pigment và chất tạo màng
-
hòa tan trong dung môi hữu cơ.
Thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm trực tiếp dành cho xơ nylon
Thuốc nhuộm cation giành cho xơ polyacrylonitrin.
3.1.4. Các vật liệu khác
Nhựa hóa học
Các loại nhựa dẻo như PVC, PE, PP... có tính chất không hút ẩm, kém bền
nhiệt, bền với hóa học như axit kiềm, bazo, chất oxi hóa khử, không tan trong các
dung môi như rượu benzen.... Thành phần mực in lụa in trên các loại nhựa này phải
bao gồm: thuốc tạo màng, dung môi hữu cơ dễ bay hơi, trong đó thuốc nhuộm thích
hợp nhất là pigment hoặc bột mầu vô cơ siêu mịn.
Vật liệu silicat
Bao gồm các chát liệu in như kính, gốm sứ,.. Đối với các sản phẩm gốm sứ
dùng men mầu vô cơ để vẽ hay in chuyển nhiệt để tạo hoa văn trang trí.
Đối với kính và các sản phẩm gốm sứ khác dùng mực in có thành phần tương tự mực
in dùng cho in nhựa dẻo. Khi áp dụng phương pháp in lưới đối với các vật liệu này
sản phẩm in phải phẳng và nhẵn.
Kim loại ( dùng mực in lụa trên kim loại )
Đây là chất liệu cứng và đặc. Khi đem in đòi hỏi phải có bề mặt thật phẳng và
nhẵn. Với các sản phẩm in có thể chịu được gia nhiệt thì dùng mực in pigment có
chưa nhựa bán đa tụ. Nếu sản phẩm in không chịu được nhiệt độ sấy hay không có
điều kiện tiến hành sấy thì dùng mực in lụa có thành phần tương tự mực in dùng cho
nhựa nhiệt dẻo.
12
Đặc biệt với vật liệu nhôm nên dùng thuốc nhuộm axit cầm màu
Trước tiên cần xử lý mặt nhôm để tạo một lớp muối hay hidroxit hay oxit mặt ngoài.
Sau đó in bằng mực in có thành phần axit cầm mầu, tác nhân axit, hồ nhũ tương.
3.2. Chất nhuộm màu
Những chất nhuộm màu trong in lụa là những hợp chất mà khi tiếp xúc với
vật liệu khác thì có khả năng bắt màu và giữ màu trên vật liệu bằng các lực liên kết
lý học hay hoá học.
In lụa thường sử dụng các chất tạo màu là các hợp chất màu hữu cơ. Có thể
phân làm 2 loại tan và không tan trong nước.
Chất nhuộm màu tan trong nước có thể là: thuốc nhuộm trực tiếp,
thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm hoạt tính, thuốc nhuôm bazo-cation...
Chất nhuộm màu không tan trong nước có thể là: thuốc nhuộm hoàn
nguyên không tan, thuốc nhuộm lưu huỳnh, pigmen, thuốc nhuộm azo không
tan...
3.3. Hồ in
Hồ in sau khi pha trộn với thuốc nhuộm được gọi là mực in, sau khi in sẽ
được gắn vào sản phẩm cần in. Do đó, tuỳ loại nhóm vật liệu cần in phải có những
công thúc pha chế khác nhau. Nhóm vật liệu in được phân các loại sau: vật liệu
xenlulo, vật liệu tơ tằm, len; sợi hoá học và xơ tổng hợp; nhựa; gốm sứ; kim loại;
thuỷ tinh...Nhưng cho dù in trên chất liệu gì, hồ in cũng phải đáp ứng những yêu
cầu sau:
Phải đồng nhất về thành phần và lượng màu thích hợp để đạt cường
độ màu mong muốn
Độ đặc, đột nhớt, độ dính phải bảo đảm để dính được vào vật liệu in
và cho hoạ tiết sắc nét
Hồ phải tương đối bền khi bảo quản
Một số hồ in cho vải cần có tính dễ trương nở khi hấp để "nhả" thuốc
nhuộm cho vải
Không chứa các chất có thể làm hại lưới in
13
14
CHƯƠNG 4: CẤU TẠO CỦA KHUÔN IN TRONG KỸ
THUẬT IN LỤA
4.1. Cấu tạo khuôn in
Sơ đồ cấu tạo của khuôn in
1. Thành khung
2. Hình in
3. Lưới in
4.1.1. Khung của khuôn in
15
Trong in lụa, phải dùng một bộ khuôn in ( hay còn gọi là bản lụa ). Khuôn in là
một cái khung, trên đó có căng một tấm vải, lụa hay lưới,...
4.1.1.1. Nguyên liệu
Nguyên liệu để làm khuôn không bắt buộc phải tuân theo một quy định nào. Điều
quan trọng là phải tuân theo một nguyên tắc chính về tiêu chuẩn nguyên liệu sau:
Chắc bền
Nhẹ nhàng
Không bị cong vênh khi sấy hoặc bị trương nở khi rửa
Không bị biến dạng trong quá trình sử dụng
Các vật liệu có thể đáp ứng những tiêu chuẩn trên :
Kim loại: nhôm hoặc antimon
Cao su
Gỗ ( phổ biến nhất vì giá thành thấp, dễ xử lý): các thanh gỗ phải bào thật phẳng và
nhẵn. Những loại gỗ thường dùng là gỗ mỡ, gỗ thông, gỗ de, gỗ dổi. Tuy nhiên, gỗ
lim, sến không thích hợp để chế tạo khuôn in vì nó làm cho khuôn in nặng, khó thao
tác khi căng lưới lên khung.
Khuôn in bằng gỗ mỡ có ưu điểm là nhẹ, bền không bị cong vênh, dễ đóng nẹp
đinh và ghim. Nếu dùng gỗ thông làm khuôn in thì phải tẩm dầu sơn hay nhựa bakelit lên
gỗ để chống thấm nước. Không nên dùng những thanh gỗ thông có sẹo hay mắt to để làm
khung vì chúng dễ bị biến dạng, khuôn in không bền và ảnh hưởng đến độ chính xác của
quá trình in. Khung bằng gỗ de hay gỗ dổi sẽ nặng hơn so với khung bằng gỗ thông hay
gỗ mỡ, do đó thao tác sẽ khó khăn hơn.
4.1.1.2. Kỹ thuật làm khung
Quy trình chung của khuôn in bao gồm những bước sau:
16
Xác định kích thước của khung khuôn in: khung khuôn in thường có cấu tạo hình
chữ nhật. Kích thước của khung in được xác định theo cấu trúc của hình in. Thông
thường người ta lấy kích thước bên trong của khung để làm chuẩn và xác định như
sau:
Chiều dài: cần có khoảng trống ( không có hình in), tính từ biên của hình in đến sát
mép khung là 10-15cm, để chứa hồ in và cho dao gạt dịch chuyển dễ dàng
chiều rộng: bề ngang trong lòng khung in phải lớn hơn bề ngang của hình in từ 56cm( tính từ mép khung đến biên của hình in), giúp lưới in tiếp xúc dễ dàng với sản
phẩm cần in
Nếu hình in quá gần với mép của khung in thì phần biên cảu hình in
có thể bị nhoè hoặc không đều màu
Tiết diện của thành khung: chiều rộng chọn bằng hoặc lớn hơn chiều cao của
chúng. Nếu chiều rộng quá nhỏ so với kích thước khung thì khi căng lưới thành khung sẽ
bị kéo cong vào. Nếu quá cao thì sẽ ảnh hưởng đến thao tác gạt hồ in nhưng nếu quá thấp
thì hồ in sẽ bắn ra ngoài.
Chuẩnbị
Đánhdấu Cốđịnh Bàocạnh
thanhvật
Kiểmtra
vàlắpráp khung
sắc
liệu
4.1.2. Lưới in
4.1.2.1. Nguyên liệu
17
Trong các vật liệu chế tạo khuôn in, lưới in là vật liệu quan trọng nhất, có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng của khuôn in cũng như chất lượng in. Nếu chọn lưới in
không phù hợp sẽ không đạt kết quả in mong muốn. Có thể dùng các loại lưới dệt từ tơ
tằm, sợi tổng hợp, sợi kim loại
Lưới từ tơ tằm: là loại vật liệu làm lưới in lâu đời do có độ đàn hồi tốt, không bị
ngấm hồ in. Nó được dệt theo kiểu đan chéo hay kết hợp giữa đan chéo vào dệt đơn.
Lưới tơ tằm không bền trong hồ in kiềm, độ bền không cao => in lên sứ theo kiểu in
ảnh
Lưới từ sợi polyamit: là loại sử dụng rộng rãi nhất trong ngành in. Nó có ưu điểm:
độ đàn hồi cao, độ bền đứt cao, bề ma sát cao, bền hoá học, bền nấm mốc, hút ẩm
và hút nước thấp,... Tuy nhiên nó cũng có một số nhược điểm: tan trong một số
dung môi ( phenol, crezol, formandehit, các axit đậm đặc,..), kém bền nhiệt. Lưới
polyamit thường được đan chéo và phải xử lý bằng hỗ hợp riêng của
metylmetacrylat
Lưới sợi polyeste: có nhiều ưu điểm như: bền cơ học, tính ổn định kích thước cao,
rất bền nhiệt, tương đối bền hoá học ( không tan trong nhiều dung môi hữu cơ, chỉ
tan trong crezol, octoclophenol khi ở nhiệt độ sôi. Tuy nhiên nó cũng có một số
nhược điểm như kém đàn hồi hơn polyamit, chịu ma sát kém => ít sử dụng, chỉ
dùng để in trên màng PVC, PE khi dùng dung môi để hoà tan hồ in.
Lưới từ sợi kim loại: được dệt từ dây của hợp kim đồng ( ngoài ra còn được dệt từ
dây thép hoặc dây niken). Chúng rất bền cơ học. Tuy nhiên nhược điểm của nó là
đàn hồi kém => rất ít được sử dụng.
4.1.2.2. Cách chọn lưới in
Trước khi làm khuôn in, người ta thường phải chọn lưới in cho phù hợp. Khi chọn
lưới in, người ta thường dựa vào những tiêu chuẩn sau:
Loại vật liệu in
Đặc điểm của hình in ( chi tiết lớn hay nhỏ, đường nét thẳng hay cong, nhiều màu
hay ít màu)
Chất lượng và đặc tính của hồ in
18
Chọn lưới in phù hợp thì hình in sẽ đẹp và dễ in. khi in chỉ cần ấn nhẹ con lăn hay
dao gạt thì hồ in sẽ thấm vừa đủ qua mắt lưới xuống vật cần in, đảm bảo đều màu và đầy
đặn
Một số ví dụ điển hình:
In trên giấy: tuỳ vào đặc điểm của hình và chất lượng hồ in mà ta có thể chọn lưới
in từ T90 – T140 ( độ mịn: 90-140 sợi trên 1cm)
In trên bao bì PVC, PE: chọn lưới từ T120 - T180
In trên vải và các sản phẩm dệt: chọn loại lưới thô hoặc trung bình ( T30 – T100)
Khi in hình nhỏ và có nét thẳng: nên chọn lưới có độ mịn cao
Trong công nghiệp sứ - thuỷ tinh: chọn lưới tơ tằm ( N64 – N100) để in lên giấy nền
rồi chuyển vào sản phẩm mộc.
19
4.2. Bàn in
Bàn in đóng vai trò quan trọng trong việc dảm bảo cho hoa văn được in chính
xác đạt được độ nét cao . Không những thế, cách thiết kế, bố trí bản in cũng ảnh
hưởng khá nhiều đến năng suất cũng như hiệu quả công việc in ấn. Bản in phải hoàn
toàn phẳng phiu không có chỗ nào lồi lõm. Những chỗ lồi lõm sẽ cảng trở sự vận
hành của cho gạt và làm hỏng bản lưỡi.
Độ cao của bản in cũng phải thích hợp cho một người có độ cao trung bình
khom lung dấy dao gạt, đặc biệt là khi in những sản phẩm lớn như in vải, in trên
thủng các tông. Nếu bệ in quá thấp sẽ khiến người đứng in để bị mỏi làm giảm hiệu
quả công việc. Nếu bệ in cao quá, lực đẩy dao gạt sẽ không đều đặn, ảnh hưởng xấu
đến kết quả in. đồng thời cũng gây tốn sức. Nói chung độ cao thông thường của bệ in
in là khoảng 70-80cm.
Độ dài và chiều rộng của bệ in tùy thuộc vào mức độ cần thiết của công việc in
ấn, và vào không gian của xưởng in để bố trí cho phù hợp. Thông thường, chiều rộng
của bể lớn hơn chiều rộng của sản phẩm cần in 20-30cm.
Bản in phải được bố trí ở nơi có thiết bị chiếu sáng tốt, để dễ dàng kiểm tra các
chi tiết in. Bản in gồm 2 phần chính là mặt bàn và khung bàn.
4.2.1. Mặt bàn in
Yêu cầu quan trọng nhất đối với mặt bàn in là phải phẳng, chắc, và có độ đàn hồi
nhất định để khuôn in có thể tiếp xúc đều với mặt sản phẩm in.
Mặt bản có thể được đặt trong tư thế nằm ngang hay nghiêng một góc 10-16°
để việc đưa dao gạt được dễ dàng hơn.
Vật liệu làm mặt bàn in:
Có thể dùng các tấm gỗ dày khoảng 2cm, rộng 8-10cm, ghép phẳng lại với nhau.
20