Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

Nghiên cứu năng suất vật dụng làm cơ sở quản lý vật liệu cháy dưới rừng thông tại trung tâm phát triển lâm nghiệp Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.15 MB, 77 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

VƢƠNG THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU NĂNG SUẤT VẬT RỤNG LÀM CƠ SỞ
QUẢN LÝ VẬT LIỆU CHÁY DƢỚI RỪNG THÔNG TẠI
TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

Hà Nội, 2017

Hà Nội, 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

VƢƠNG THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU NĂNG SUẤT VẬT RỤNG LÀM CƠ SỞ
QUẢN LÝ VẬT LIỆU CHÁY DƢỚI RỪNG THÔNG TẠI
TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP HÀ NỘI



CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ SỐ: 60.62.02.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. VƢƠNG VĂN QUỲNH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và không sao chép. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự
giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin
trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.

Hà Nội, ngày……tháng……năm……
Ngƣời cam đoan
(Tác giả ký và ghi rõ họ tên)

Vƣơng Thị Hà


LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và rèn luyện, khóa học Cao học Quản lý bảo vệ
tại nguyên rừng 23A (2015- 2017) tại Trường Đại học Lâm nghiệp đã bước
vào giai đoạn kết thúc. Được sự nhất trí của Trường Đại học Lâm nghiệp
và Phòng Đào tạo sau đại học, tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài:

"Nghiên cứu năng suất vật rụng làm cơ sở quản lý vật liệu cháy dƣới
rừng thông tại Trung tâm phát triển lâm nghiệp Hà Nội ".
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, tôi đã được sự
quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của ban lãnh đạo Trường Đại học Lâm
nghiệp, lãnh đạo Viện Sinh thái rừng và Mội trường, các thầy cô giáo trong
trường; cùng gia đình, bạn bè và đồng nghiệp.
Trước hết, cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới GS.TS.
Vương Văn Quỳnh, thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, tạo điều
kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo thuộc Phòng Đào tạo sau
đại học, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường - Trường Đại học Lâm
nghiệp; Các cán bộ của Trung tâm Phát triển Lâm nghiệp Hà Nội cùng sự
quan tâm, động viên, cổ vũ, giúp đỡ của những người thân trong gia đình,
bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài luận
văn.
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận
văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến
đóng góp, bổ sung của các nhà khoa học, các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp
để luận văn hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017
Tác giả

Vƣơng Thị Hà


[i]

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................. iii

DANH MỤC CÁC BẢNG ................................................................................. iv
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .................................... 2
1.1. Trên thế giới ..................................................................................................... 2
1.2. Ở Việt Nam .................................................................................................... 10
CHƢƠNG II. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................... 16
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 16
2.1.1. Mục tiêu tổng quát ...................................................................................... 16
2.1.2. Mục tiêu cụ thể ............................................................................................ 16
2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 16
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu: Vật rụng (cành, lá, quả Thông) dưới rừng trồng
Thông thuộc Trung tâm Phát triển Lâm nghiệp Hà Nội ....................................... 16
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu:.................................................................................... 16
2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu ........................................................... 16
2.3.1. Nội dung nghiên cứu ................................................................................... 16
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu............................................................................. 17
CHƢƠNG III. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ................................................................................................... 24
3.1. Vị trí địa lý ..................................................................................................... 24
3.2. Về địa giới hành chính ................................................................................... 25
3.3. Về khí hậu ...................................................................................................... 25
3.4. Về giao thông ................................................................................................. 25
3.5. Về kinh tế xã hội ............................................................................................ 25
3.6. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện. ...................................... 26


[ii]

3.7. Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái............................................................ 26

3.8. Định hướng qui hoạch chung huyện Sóc Sơn định hướng đến năm 2030 .... 27
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ......................................... 28
4.1. Đánh giá thực trạng rừng trồng Thông trên địa bàn Hà Nội .......................... 28
4.1.1. Diện tích và phân bố của rừng thông .......................................................... 28
4.1.2. Đặc điểm cấu trúc và sinh trưởng của rừng thông ở Hà Nội ...................... 31
4.2. Nghiên cứu khối lượng lá rụng hàng năm của rừng thông. ........................... 38
4.2.1. Khối lượng lá rụng theo ngày ..................................................................... 38
4.2.2. Lượng lá rụng theo tháng ............................................................................ 42
4.2.3. Lượng lá rụng theo năm .............................................................................. 44
4.3. Nghiên cứu tốc độ phân huỷ lá rụng của rừng thông. .................................... 45
4.3.1. Tốc độ phân huỷ theo ngày ......................................................................... 45
4.3.2. Tốc độ phân huỷ lá rụng theo năm .............................................................. 51
4.4. Khối lượng lá rụng dưới rừng thông .............................................................. 54
4.4.1. Đường cong sinh khối lá rụng ..................................................................... 54
4.4.2. Ngưỡng tối đa của lượng lá rụng dưới rừng Thông .................................... 55
4.5. Năng suất lá rụng dưới rừng thông. ............................................................... 56
4.5.1. Quá trình năng suất lá rụng ......................................................................... 56
4.5.2. Năng suất thích hợp cho sử dụng lá rụng .................................................... 57
CHƢƠNG V. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ ............................... 59
5.1. Kết luận .......................................................................................................... 59
5.2. Tồn tại và kiến nghị........................................................................................ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 61
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 66


[iii]

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt


Bộ NN&PTNT

Giải nghĩa

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

D 1.3

Đường kính ngang ngực

Hvn

Chiều cao vút ngọn

OTC

Ô tiêu chuẩn

TB

Trung bình

VLC

Vật liệu cháy

ZD1.3

Tăng trưởng trung bình của đường kính


ZHvn

Tăng trưởng trung bình của chiều cao


[iv]

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Các thuộc tính chủ yếu của lô kiểm kê rừng trong bản đồ kiểm kê rừng ... 18
Bảng 4.1. Diện tích rừng Thông ở các huyện thị thuộc Hà Nội ......................... 29
Bảng 4.2. Phân bố diện tích rừng thông theo cấp tuổi ........................................ 30
Bảng 4.3. Đặc điểm cấu trúc rừng thông ở Hà Nội ............................................ 31
Bảng 4.4. Tăng trưởng trung bình của đường kính và tăng trưởng trung bình của
chiều cao .............................................................................................................. 34
Bảng 4.5. Tăng trưởng hàng năm của rừng thông Hà Nội.................................. 36
Bảng 4.6. Lượng lá rụng hàng ngày ở các điểm điều tra .................................... 38
Bảng 4.7. Lượng lá rụng hàng ngày ở các ô tiêu chuẩn...................................... 40
Bảng 4.8. Biến động của lượng lá rụng của từng tháng ...................................... 41
Bảng 4.9. Khối lượng lá rụng các tháng dưới rừng thông .................................. 43
Bảng 4.10. Khối lượng mẫu lá khô biến đổi theo thời gian ................................ 45
Bảng 4.11. Khối lượng mẫu lá khô thông mã vĩ trong thời gian điều tra ........... 47
Bảng 4.12. Mức giảm khối lượng lá rụng Thông mã vĩ theo thời gian .............. 49
Bảng 4.13. Bảng tra khối lượng lá khô còn lại theo số ngày sau khi rụng ......... 51
Bảng 4.14. Khối lượng lá rụng còn lại sau phân hủy theo thời gian .................. 53
Bảng 4.15. Khối lượng lá rụng tích lũy theo thời gian dưới rừng thông (kg/ha) 54
Bảng 4.16. Năng suất lá rụng trung bình năm theo thời gian tích lũy ................ 56


[v]


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 4.1. Phân bố diện tích rừng Thông ở Hà Nội ............................................. 29
Hình 4.2. Rừng Thông tại khu vực nghiên cứu................................................... 29
Hình 4.3. Phân bố diện tích rừng thông ở Hà Nội theo tuổi ............................... 30
Hình 4.4. Rừng thông 20 tuổi ở Sóc Sơn, TP. Hà Nội ........................................ 32
Hình 4.5. Liên hệ của chiều cao rừng thông với tuổi .......................................... 33
Hình 4.6. Liên hệ của đường kính cây rừng với tuổi rừng ................................. 33
Hình 4.7. Biến động của tăng trưởng đường kính thông theo tuổi ..................... 35
Hình 4.8. Biến động của tăng trưởng chiều cao thông theo tuổi ........................ 36
Hình 4.9. Điều tra khối lượng vật rụng ............................................................... 38
Hình 4.10. Biến đổi của lượng vật rụng hàng ngày theo thời gian trong năm ... 40
Hình 4.11. Biến động của khối lượng lá rụng dưới rừng thông .......................... 42
Hình 4.12. Liên hệ của khối lượng lá rụng thực tế với khối lượng lá rụng ước
lượng theo hàm sin .............................................................................................. 42
Hình 4.13. Khối lượng lá rụng các tháng dưới rừng thông ................................. 44
Hình 4.14. Suy giảm khối lượng các mẫu lá rụng theo thời gian ....................... 46
Hình 4.15. Biến đổi khối lượng các mẫu Thông mã vĩ theo thời gian ............... 47
Hình 4.16. Liên hệ của khối lượng mẫu lá Thông mã vĩ thứ nhất lấy đợt 1 với
thời gian rụng ...................................................................................................... 48
Hình 4.17. Liên hệ của khối lượng mẫu lá Thông mã vĩ thứ hai lấy đợt 1 với thời
gian rụng .............................................................................................................. 48
Hình 4.18. Liên hệ của khối lượng trung bình hai mẫu lá Thông mã vĩ đợt 1 với
thời gian rụng ...................................................................................................... 49
Hình 4.19. Mức giảm khối lượng lá khô sau khi rụng trung bình ngày ............. 50


[vi]

Hình 4.20. Biến đổi khối lượng lá rụng theo thời gian ....................................... 52

Hình 4.21. Biến động khối lượng lá rụng theo thời gian .................................... 53
Hình 4.22. Đường cong sinh khối tồn đọng của lá rụng dưới rừng Thông mã vĩ .... 55
Hình 4.23. Quá trình năng suất lá rụng ............................................................... 57


[1]

MỞ ĐẦU
Vật rụng dưới tán rừng là nguồn cung cấp các dinh dưỡng chủ yếu cho
đất rừng, duy trì độ phì nhiêu của đất, là nhân tố quan trọng đảm bảo năng suất
và tính ổn định của hệ sinh thái rừng. Tuy nhiên, ở những nơi khối lượng vật
rụng được tích lũy quá nhiều lại có thể trở thành nguồn vật liệu cháy nguy
hiểm, trở thành nguyên nhân quan trọng của những vụ cháy rừng.
Trong những năm gần đây, việc khai thác vật rụng dưới tán rừng để sản
xuất phân bón, vật liệu xây dựng, hay nhiên liệu v.v... được xem là một trong
những giải pháp lồng ghép mục tiêu nâng cao thu nhập với giảm thiểu nguy cơ
cháy rừng. Nó đảm bảo giảm được khối lượng vật liệu cháy và nguy cơ cháy
rừng trong thời kỳ khô hạn, đồng thời tạo thêm được việc làm, tăng thu nhập
cho người dân, bảo vệ đất, bảo vệ được các loài động thực vật, nâng cao hiệu
quả kinh tế và môi trường của rừng nói chung.
Tuy nhiên, để thu được năng suất lá rụng cao trong khi vẫn phát huy
được vai trò bảo vệ đất của nó và duy trì khối lượng ở mức an toàn để giảm
thiểu nguy cơ cháy rừng thì cần nghiên cứu đặc điểm tích lũy và năng suất lá
rụng dưới tán rừng. Đây là cơ sở cho phương pháp dự báo biến động năng suất
và xác định chu kỳ và khối lượng thu gom lá rụng hợp lý.
Nghiên cứu đặc điểm tích lũy và năng suất lá rụng dưới các trạng thái
rừng phục vụ mục đích khai thác còn ít được thực hiện ở Việt Nam. Đề tài
“Nghiên cứu năng suất vật rụng làm cơ sở quản lý vật liệu cháy dƣới rừng
thông tại Trung tâm phát triển lâm nghiệp Hà Nội” nhằm xác định năng
suất lá rụng và kỹ thuật khai thác dưới rừng trồng thông để nâng cao thu nhập

từ và giảm thiểu nguy cơ cháy rừng tại Trung tâm Phát triển Lâm nghiệp Hà
Nội.


[2]

CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Các nghiên cứu trên thế giới về vật rụng dưới tán rừng chủ yếu được
thực hiện bởi các nhà lâm học. Họ tập trung vào thành phần và khối lượng vật
rụng, đặc điểm tích lũy, phân hủy và dinh dưỡng trong đất rừng, những nhân
tố ảnh hưởng đến khả năng tích lũy vật rụng, hiệu quả và những giải pháp
quản lý vật rụng để nâng cao độ phì đất và năng suất rừng nói chung.
Khi nghiên cứu vật rụng như một nguồn vật liệu cháy, người ta thường
phân tích đặc điểm biến động của thành phần và khối lượng của chúng, từ đó
đề xuất giải pháp giảm thiểu nguy cơ cháy rừng thông qua việc đốt trước vật
liệu cháy mà không đề cập đến việc biến nguồn vật liệu cháy khổng lồ dưới
tán rừng thành nguồn nguyên liệu để tạo các sản phẩm hữu ích cho xã hội.
Khi nghiên cứu về vật rơi rụng, P.W.Richard và David (1952) đã khẳng
định “Hữu cơ ở các mô sống ở rừng chiếm 80-90% tổng lượng chất hữu cơ,
10-20% chất hữu cơ còn tồn tại ở vật rơi rụng và trong đất, khi lớp phủ thực
vật mất đi đồng thời điều kiện nhiệt ẩm cao ở vùng nhiệt đới làm cho vật rơi
rụng bị phân giải mau chóng thì đất rừng bị thoái hóa mạnh và không thể
phục hồi lại được. Brailevich năm 1965 đã đưa ra kết quả nghiên cứu về cấu
trúc vật rơi rụng (gồm cành khô lá rụng và cây chết) như sau: phần tươi: 4050% (ôn đới), 20-30% (nhiệt đới); phần trên mặt đất đã được tích lũy lâu năm
30-40%; phần rễ cây chết 5-20%.
Từ những năm 1963, Olson đã nghiên cứu về thành phần hóa học của
vật rơi rụng và sự phân giải chất dinh dưỡng của vật rơi rụng dưới đất rừng,
ông đã đưa ra phương trình phân hủy của thưc vật như sau:
X/Xo =e^(-k*t)

Trong đó:
Xo : Lượng vật rơi rụng trước khi bắt đầu phân hủy.


[3]

X: Lượng vật rơi rụng còn lại trong một thời gian phân hủy nhất định.
t: Thời gian phân hủy (năm).
k: Hệ số phân hủy.
Ở Trung Quốc đã có một số nghiên cứu lớn về thành phần của vật rơi
rụng như nghiên cứu của Lô Tuấn Bồi và một số tác giả năm 1987 tại rừng
Tiêm Phong Lĩnh đã khẳng định thành phần hóa hoc trong rừng mưa nửa
rụng lá cao hơn rừng mưa nhiệt đới, hàm nguyên tố trong cành, lá, tạp chất
rừng mưa theo mùa nửa rụng lá sắp xếp theo thứ tự sau: [12]
- Cành

: Ca > N > K > Mg > Si > P.

- Lá

: Ca > Si > N > K > Mg > P.

- Tạp chất : K > N > Ca >Si > Mg > P.
Nhìn chung theo các tác giả nước ngoài thì lượng vật rơi rụng, tốc độ
phân giải và động thái các nguyên tố dinh dưỡng trong vật rơi rụng có ý
nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp. Các
nghiên cứu đều chỉ ra một điểm chung là: loài vật rơi rụng khác nhau hàm
lượng dinh dưỡng khoáng chứa trong chúng cũng khác nhau, tốc độ phân giải
cũng khác nhau. Điều kiện lập địa cũng ảnh hưởng tới sự phân bố của các
loài cây, loài cây ảnh hưởng tới vật rơi rụng, tốc độ phân giải phụ thuộc vào

loài cây, phụ thuộc vào môi trường phân giải....
Lượng rơi (cành, lá, quả, chồi… của cây rơi xuống dưới tán rừng) là
một mắt xích chủ yếu trong vòng tuần hoàn vật chất và dinh dưỡng. Đồng
thời nó cũng là phương thức chính vận chuyển vật chất hữu cơ và các nguyên
tố khoáng từ thảm thực vật xuống mặt đất (Vitousek & Sanford 1986). Nó
đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới, nơi mà chuỗi dinh
dưỡng mảnh vụn chiếm ưu thế (Odum 1969).
Quá trình phân giải thảm mục là một phần quan trọng của vòng sinh địa
hóa trong hệ sinh thái rừng, nơi những chất dinh dưỡng được tái quay vòng


[4]

bởi sự phân hủy vật rơi rụng (Crockford và Richardson, 2002) đồng thời nó
cũng có vai trò quan trọng trong sự hình thành vật chất hữu cơ trong đất. Nó
thể hiện khả năng hoàn trả chất dinh dưỡng cho đất của hệ sinh thái rừng.
Năm 1976, E. Ebermayer người Đức nói về vật rơi rụng trong nghiên
cứu của mình “Sản lượng chất tàn tạ héo rụng của rừng và những thành phần
hóa học của chúng” đã nói lên tầm quan trọng trong tuần hoàn dinh dưỡng
của các chất tàn tạ héo rụng [6].
Nghiên cứu về lượng vật rụng giúp ta có được tiêu chuẩn để đánh giá
năng suất, cung cấp thông tin về sự phân hủy (khi kết hợp với sự đánh giá
về thảm mục ở một thời điểm nhất định), dữ liệu về vật hậu học và dòng
dinh dưỡng của hệ sinh thái (Proctor, 1983), cũng như những chỉ số về hiệu
suất sử dụng chất dinh dưỡng (Vitousek, 1982), sự ổn định và khả năng tự
điều chỉnh của hệ sinh thái để trở lại trạng thái cân bằng dưới tác động của
ngoại cảnh. Đã có một số mô hình dự đoán năng suất lượng rơi được đề xuất
(Bray & Gorham 1964 và Silver 1994). Cho đến nay đã có rất nhiều phương
pháp được sử dụng để nghiên cứu quá trình phân hủy thảm mục như
Whitcamp & Olson (1963), Wiegert & Evans (1964), Wiegert & Murphy

(1968), Wood (1971, 1974), Spain (1975), Singh & Gupta (1977) và Woods
& Raison (1982).
Năm 1993, Bernhard Reversat.F đã nghiên cứu về động thái vật rơi
rụng và chất hữu cơ của rừng mọc nhanh gồm Bạch đàn lai, Keo tai tượng,
Keo lá tràm ở các tuổi 5-8 trồng trên đất các khu vực Tây Nam Công Gô.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy lượng rơi rụng biến đổi tương
đối lơn, 5 tấn/ha/năm đối với rừng Bạch đàn lai và 10 tấn/ha/năm đối với
rừng Keo.
Nghiên cứu của Goncalves et al. (1997) [27] xác định tỷ lệ hàng năm
của phân hủy lượng rơi ở tuổi 7 - 8 của rừng Bạch đàn E.grandis là 7,8 tấn/ha


[5]

(60% từ lá và 40% từ cành cây). Sự phân hủy lớn nhất được tìm thấy vào mùa
Xuân và Đông và thấp nhất vào mùa Thu đã cho thấy sự phân hủy là theo
mùa. Hàng năm có 42 kgN/ha; 2,3 kgP/ha; 20 kgK/ha và 47 kg Ca/ha đã được
phân hủy. Con số này tương đương với 10% của N, 6% P, 10% K và 17% Ca
chứa trong cây. Nghiên cứu khác của tác giả xác định rằng, tổng thảm mục
tích lũy trên đất phân rã từ 16 – 24 tấn/ha chỉ trong sáu tháng sau khi khai
thác trắng và tỷ lệ phân hủy là 55% /năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy: E.
grandis 7 tuổi , có tới 30% tổng số N, 18% P, 14% K, 43% Ca và 31% Mg
của rừng (sinh khối trên mặt đất và rễ) được tìm thấy trong thảm mục.
Một trong những điều kiện xảy ra cháy rừng là vật liệu cháy (VLC) cả
về số lượng và tính chất (Johnson và Miyanishi, 2001). Trên Thế giới đã có
rất nhiều nghiên cứu về năng suất lượng rơi và khả năng hoàn trả dinh dưỡng
như của Bray và Gorham (1964), Xiaoniu N. Xu và Eiji Hirata (2002),
Wenxuan Han và cộng sự (2005) …
Sau nghiên cứu này đã có rất nhiều các học giả khác tiếp tục nghiên cứu
và đi sâu hơn nữa về vật rơi rụng. Điển hình như nghiên cứu của Bray (1964)

về lượng vật rơi rụng của nhiều đối tượng loại rừng khác nhau như rừng ôn
đới, nhiệt đới… Tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ là những đánh giá bước
đầu về lượng vật rơi rụng.
Nghiên cứu của Volni thời kỳ sau đó từ (1977- 1985) đã nghiên cứu
về ảnh hưởng của vật rơi rụng tới dòng chảy và xói mòn đất. Bằng cách bố
trí những ô thí nghiệm nhỏ để nghiên cứu hàng loạt các nhân tố có liên
quan đến dòng chảy và xói mòn đất như thực bì và lớp che phủ bề mặt,
lượng vật rơi rụng.
Nghiên cứu của Rodin và Basilevic (1976) về cấu trúc vật rơi rụng.
Trong nghiên cứu này, thuật ngữ vật rơi rụng được hiểu là các cành khô lá


[6]

rụng và cây chết. Đồng thời kết quả ghiên cứu cũng chỉ ra cấu trúc vật rơi
rụng bao gồm:
-Vật rơi rụng chưa phân hủy chiếm khoảng 40 ÷ 50% đối với rừng ôn
đới, còn đối với rừng nhiệt đới, tỷ lệ này thấp hơn khoảng 20 ÷ 30%.
- Vật rơi đã phân hủy một phần và được tích lũy lâu năm chiếm 30 ÷
40%.
- Vật rơi rụng là rễ cây chết trong đất chiếm 5 ÷ 10%.
Bằng phương pháp đường hồi quy 2 nhân tố, Maisep đã nghiên cứu độ
che phủ rừng và lượng thảm mục, thảm khô trên các hồ chứa nước và dòng
chảy các con sông vùng tây bắc và thượng lưu sông VonGa. Sau 20 năm quan
trắc của trạm thực nghiệm Vants, ở 2 lưu vực không có rừng và có 98% rừng
với lượng nước mưa khu vực như nhau đã rút ra kết luận: ở những nơi có
rừng lượng nước chảy bề mặt và hệ số dòng chảy năm nhỏ hơn nơi không có
rừng 40 ÷ 50% do được tán rừng ngăn cản và lớp thảm mục và thảm khô có
khả năng hút nước và là chướng ngại vật ngăn cản tốc độ dòng nước.
Nghiên cứu của Rodin (1967) về vai trò của quần xã thực vật rừng trong

tuần hoàn vật chất ở hệ sinh thái rừng, trong đó có đề cập đến vật rơi rụng như
là một mắt xích của chu trình này. Và để đánh giá tốc độ phân hủy, Rodin đã
sử dụng hệ số phân giải thảm mục K (K là tỷ số giữa lượng thảm mục tồn dư
trung bình trên mặt đất với lượng thảm mục rơi hằng năm). Khi
áp dụng hệ số K để đánh giá tốc độ phân giải vật rơi rụng ở những vùng điển
hình, Rodin đã đưa ra kết luận: tốc độ phân giải chất hữu cơ trong rừng đặc
trưng cho các vùng sinh thái.
Nghiên cứu của Chijok (1980) cũng cho thấy: Các loại cây khác nhau
thì hàm lượng dinh dưỡng hoàn trả cho đất cũng khác nhau. Nghiên cứu được
tiến hành dưới nhiều loại rừng khác nhau. Ví dụ như rừng Bạch đàn trắng
lượng Nitơ hoàn trả là 1,03÷ 1,71. Rừng Thông nhựa là 0,91÷ 1,31…


[7]

Nghiên cứu về lượng bốc hơi nước của lượng nước bị hút giữ lại của lớp
thảm thực vật rơi rụng có Black và Kellihe (1989) cho thấy rõ lượng bốc hơi
nước của nước bị hút giữ lại trong lớp thảm mục khác nhau, chiếm khoảng 3
÷ 21% tổng lượng bốc hơi bề mặt đất.
Nghiên cứu của Tietema và cộng sự (1992) cho thấy tốc độ Nitrate hóa
và tốc độ khoáng hóa của thảm mục tăng lên tùy thuộc vào hàm lượng nước
của nó. Sự biến đổi theo không gian và thời gian rất rõ rệt của hàm lượng
nước trong thảm mục làm tăng thêm mức độ khó khăn cho công tác nghiên
cứu.
Trong nghiên cứu về khả năng hút và giữ nước của lớp thảm mục (cành
khô lá rụng) trong rừng của hai tác giả Phtahena và Cordery (1996) đã cho
thấy ý nghĩa của những biến đổi về khả năng hút, và giữ nước của lớp thảm
mục (cành khô lá rụng) trong rừng đối với tuần hoàn thủy văn rừng là ở chỗ
ảnh hưởng của nó đối với sự vận chuyển, truyền dẫn nước và năng lượng giữa
không khí dưới tán và đất rừng. Từ các nghiên cứu trên ta thấy các tác giả đã

dần đánh giá về đặc điểm, thành phần và động thái các nguyên tố dinh dưỡng
của vật rơi rụng. Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu được đề cập ở rừng
ôn đới hoặc lá kim. Để làm phong phú thêm về đối tượng rừng đặc biệt là đối
với rừng nhiệt đới các học giả người Trung Quốc đã nghiên cứu về hàm lượng
dinh dưỡng và tốc độ phân giải vật rơi rụng và cũng đã chỉ ra rằng: Hàm
lượng dinh dưỡng và tốc độ phân giải vật rơi rụng ở các rừng cây lá rộng
thường cao hơn rừng cây lá kim. Độ dày của tầng lá rụng trong điều kiện tự
nhiên nói chung dầy từ 1 ÷ 5 cm. Trong đó lượng vật rụng của rừng cây lá
kim miền Bắc dày hơn ở miền Nam và lượng tích lũy của lớp thảm khô giảm
từ 12 ÷ 40 tấn/ha, 5 ÷ 15 tấn/ha tùy vùng sinh thái.
Nghiên cứu của tác giả Trung Quốc Renyonghong (1997) về lượng vật
rơi rụng, thành phần, hàm lượng dinh dưỡng trong vật rơi rụng và bước đầu


[8]

đề cập đến ảnh hưởng của vật rơi rụng đến tái sinh của loài Huday, một loài
cây tiên phong phục hồi rừng thông qua thí nghiệm về sự nảy mầm của nó
dưới các lớp phủ vật rơi rụng có độ dày khác nhau.
Nhìn chung, theo các tác giả nước ngoài thì lượng vật rơi rụng, tốc độ
phân giải cũng như động thái các nguyên tố dinh dưỡng trong vật rơi rụng đều
có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp. Các
nghiên cứu đó đều chỉ ra một điểm chung là: Loại vật rơi rụng khác nhau,
hàm lượng dinh dưỡng khoáng chứa trong nó cũng khác nhau, tốc độ phân
giải cũng khác nhau và tất cả đặc điểm này đặc trưng cho từng vùng sinh thái
nhất định.
Ngoài ra, khi nghiên cứu biến động và năng suất thảm khô trên thế giới
các tác giả chủ yếu dựa vào cân bằng của khối lượng vật rụng và tốc độ phân
huỷ chúng. Nhiều tác giả nghiên cứu về biến động thảm khô như Whitcamp
& Olson (1963), Bray và Gorham (1964), Wiegert & Evans (1964), Wiegert

và Murphy (1968), Wood (1971, 1974), Spain (1975), Singh và Gupta
(1977), Rodin và Basilevic (1976, 1978), Mêlêkhốp (1982), Woods và
Raison (1982), Silver 1994) v.v...
Mêlêkhốp (1982) khi nghiên cứu trữ lượng thảm khô đã đưa ra kết luận
rằng trữ lượng thảm khô cao thường xuất hiện ở các quần xã thực vật rừng
vùng núi phía Bắc, rừng trên núi cao nơi có điều kiện lạnh và khô không
thuận lợi cho sự phân huỷ thảm khô. Trữ lượng này thường dao động từ 20 ÷
100 tấn/ha. Tuy nhiên, tác giả không đề cập đến năng suất thảm khô.
Rodin (1978) đã sử dụng hệ số phân giải thảm khô K là tỷ số giữa lượng
thảm khô tồn dư trung bình trên mặt đất với lượng thảm khô rơi hằng năm để
nghiên cứu tốc độ phân giải thảm khô. Ông đã đưa ra kết luận rừng tốc độ
phân giải chất hữu cơ trong rừng đặc trưng cho các vùng sinh thái.


[9]

Các học giả Trung Quốc đã cho thấy tốc độ phân giải vật rơi rụng ở
các rừng cây lá rộng thường cao hơn rừng cây lá kim. Vì vậy, lượng thảm
khô tích luỹ ở các rừng cây lá kim thường cao hơn so với rừng cây lá rộng.
Điều này thể hiện rõ hơn ở các vùng phía Bắc và núi cao.
Khi nghiên cứu về biến động thảm khô các tác giả phần lớn đã đưa ra
những mô hình dự báo năng suất thảm khô, dự đoán biến động của tổng khối
lượng vật rụng dưới các trạng thái rừng theo thời gian. Các mô hình dự báo
năng suất và tổng lượng vật rụng và thảm khô chủ yếu đều thể hiện mối liên
hệ giữa năng suất và khối lượng vật rụng với các nhân tố như tuổi cây, mật
độ, thời gian tích luỹ v.v... Không có mô hình dự báo chung cho các loài
cây, các trạng thái rừng khác nhau và ở những vùng khí hậu khác nhau.
Hardiyanto E. B và cộng sự (2008) [28] khi nghiên cứu về lượng rơi của rừng A.
mangium tại Sumatra Indonesia đã cho rằng, lượng rơi trung bình / 2 năm của rừng
có tuổi từ 2 - 5 năm là 10,6 tấn/ha và lượng dinh dưỡng để lại từ lượng rơi là: 143

kg N/ha, P 2,3 kg/ha, K 22,6 kg/ha, Ca 83,2 kg/ha và Mg là 17,4 kg/ha. Lượng dinh
dưỡng này rất có ý nghĩa bổ sung cùng với dinh dưỡng từ vật liệu hữu cơ sau khai
thác cho đất rừng.
Khi nghiên cứu về thảm mục dưới tán rừng, các nhà nghiên cứu cho thấy có
sự khác nhau về lượng thảm mục giữa các rừng trồng nhiệt đới, nó thể hiện ảnh
hưởng rõ rệt của đặc tính loài cây, tuổi rừng, mức sinh trưởng, điều kiện khí hậu và
độ phì đất. Nhìn chung, các loài Bạch đàn, Thông và Phi lao tích lũy thảm mục
nhiều hơn các loài rừng trồng khác: Phi lao (Ấn độ, Senegan) trung bình 40,8 tấn/ha
(từ tuổi 6 - 34); Thông (Nigeria, Indonesia, Mỹ) 14,5 tấn/ha từ tuổi 7 - 31; Bạch
đàn (Ấn độ, Côngô, Úc) 8,2 tấn/ha tuổi 2 - 27; và Keo (Ấn độ, Malaisia, Công gô)
7,7 tấn/ha, tuổi 4 - 11. Theo nghiên cứu của A.M.O Connell và K.V.Sankaran
(1997), dinh dưỡng tích lũy từ tầng thảm mục rừng trồng nhiệt đới của các loài keo
từ 4 - 8 tuổi tại Ấn Độ có lượng tích lũy dinh dưỡng trung bình là 96,8 kgN/ha; 5,7


[10]

kgP/ha; 14,1 kgK/ha; 31,6 kgCa/ha và 5,9 kgMg/ha thấp hơn so với các loài Tràm ở
cùng độ tuổi.

1.2. Ở Việt Nam
Vật liệu cháy (VLC) là đối tượng cần quan tâm nghiên cứu trong từng
điều kiện cụ thể khác nhau để hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ cháy
rừng.
Thành phần VLC trong rừng chủ yếu là thảm cỏ, cây bụi, cành, lá của
cây rừng (vật hậu) tạo thành. Khối lượng VLC và thành phần của nó có liên
quan đến tổ thành loài và đặc tính sinh vật học đặc trưng của các loài cũng
như trạng thái biến động phức tạp của các loài. Đó là quá trình sinh trưởng,
phát triển, ra hoa kết quả, già cỗi chết đi và tích lũy một khối lượng đủ lớn trở
thành vật liệu khô để tham gia vào quá trình cháy. Trong quá trình sinh

trưởng phát triển của các loài hay chu kỳ sống của chúng, có những giai đoạn
chúng là VLC hay tham gia vào thành phần của VLC nhưng cũng có những
giai đoạn chúng có tác dụng ngăn chặn, cản trở khả năng gây cháy rừng. Sự
cháy của VLC phụ thuộc vào khả năng bắt cháy của VLC, khả năng bắt cháy
của VLC phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hàm lượng nước chứa trong vật
liệu, ẩm độ của vật liệu theo mùa, khối lượng VLC, thành phần và cấu trúc
của VLC, khả năng chất đống của VLC, các yếu tố tự nhiên như nhiệt độ, độ
ẩm, tốc độ gió, hướng phơi và các yếu tố khác như loài, mật độ rừng trồng,
thời gian chăm sóc, phương pháp bố trí cây trồng, chủng loại thực bì, thời
gian sinh trưởng và vật hậu…
Vương Văn Quỳnh và nhóm nghiên cứu thuộc Đề tài khoa học cấp nhà
nước mã số KC0824 "Nghiên cứu những giải pháp phòng chống và khắc
phục hậu quả cháy rừng cho vùng U Minh và Tây Nguyên" (Vương Văn
Quỳnh, 2005) đã cho thấy ở Tây Nguyên khối vật liệu khô dưới các rừng
trồng Thông trung bình dao động từ 10-25 tấn/ha, ở các rừng tự nhiên thường


[11]

xanh từ 5-10 tấn/ha, ở U Minh khối lượng vật liệu khô dưới rừng Tràm trồng
từ 10-20 tấn/ha, dưới rừng Tràm tự nhiên từ khoảng 20 - 40 tấn/ha 14.
Nguyễn Tiến Dũng năm 2010 trong luận án Thạc sỹ (Nguyễn Tiến
Dũng, 2010) đã nghiên cứu về quá trình tích luỹ vật liệu cháy dưới rừng trồng
Thông ở Khu thực nghiệm Trường Đại học Lâm nghiệp. Số liệu cho thấy mỗi
năm tổng lượng cành khô lá rụng rơi từ tán các rừng trồng thông xuống mặt
đất xấp xỉ 6500 kg/ha. Nếu thu gom toàn bộ cành khô lá rụng trên mặt đất thì
sau 3 năm khối lượng của chúng trên mặt đất lại vượt 10 tấn/ha. Đây là mức
nguy hiểm với cháy rừng 3.
Vương Văn Quỳnh, Trần Thị Trang và nhóm nghiên cứu thuộc Đề tài
của Sở Khoa học công nghệ Hà Nội "Nghiên cứu các giải pháp phòng cháy,

chữa cháy rừng cho các trạng thái rừng ở Thành phố Hà Nội" (Vương Văn
Quỳnh, 2012) đã cho thấy mặc dù hàng năm người dân thường vào rừng thu
gom lá thông rụng về làm chất đốt nhưng khối lượng của chúng điều tra được
ở khu vực Sóc Sơn vẫn ở mức từ 7 đến 20 tấn/ha, cục bộ có nơi tới 30 tấn/ha.
Đây là khối lượng vật liệu tạo ra nguy cơ cháy rừng cao 15.
Nguyễn Hoàng Trí (1986) có những nghiên cứu về lượng rơi và phân
giải thảm mục của quần xã rừng Đước đôi (Rhizophora apiculata Bl.) ở Cà
Mau; Hoàng Xuân Tý (1988) có những nghiên cứu về lượng rơi và phân giải
thảm mục trong rừng trồng Bồ đề (Styrax tonkinensis) 19; Hà Văn Tuế
(1994) có những nghiên cứu về năng suất lượng rơi trong một số quần xã
rừng trồng nguyên liệu giấy tại vùng Trung du Vĩnh Phú 18; Ngô Đình Quế
(1990) có nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng trồng Thông ba lá (Pinus
kesiya) tới đất rừng và tuần hoàn dinh dưỡng ở Lâm Đồng; Ngô Đình Quế và
Nguyễn Đức Minh (2000) nghiên cứu về động thái dinh dưỡng đất rừng trồng
Keo và Bạch đàn có đề cập tới năng suất lượng rơi.


[12]

Năm 2012, trong nghiên cứu về vật liệu cháy và giải pháp phòng cháy
rừng trồng giai đoạn chăm sóc tại Đà Lạt- Lâm Đồng của Lê Văn Hương, đã
chỉ ra: Thảm cỏ đóng vai trò quan trọng trong thành phần kết cấu của VLC.
Động thái của thảm cỏ trong quá trình chăm sóc rừng là vấn đề có ý nghĩa để
hoàn thiện phương pháp xử lý vật liệu cháy trong công tác phòng cháy
rừng trồng cũng như rừng tự nhiên thông ba lá ở Lâm Đồng. Nghiên cứu này
cũng đã xác định thành phần loài và sự biến thiên của số lượng và độ ẩm của
vật liệu cháy. Trên cơ sở đó, tác giả đã có một số đề xuất về bố trí cây trồng
và chọn thời điểm chăm sóc thích hợp cùng các biện pháp kỹ thuật xử lý vật
liệu cháy để phòng cháy 9.
Các nghiên cứu về biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng ở Việt Nam

chủ yếu hướng vào thử nghiệm và phân tích hiệu quả của giải pháp đốt trước
nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy. Phó Đức Đỉnh (1993) đã thử nghiệm đốt
trước vật liệu cháy dưới rừng Thông non 2 tuổi tại Đà Lạt. Theo tác giả ở
rừng Thông non nhất thiết phải gom vật liệu cháy vào giữa các hàng cây hoặc
nơi trống để đốt, chọn thời tiết đốt để ngọn lửa âm ỉ, không cao quá 0,5m có
thể gây cháy tán cây. Phan Thanh Ngọ thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy
dưới rừng Thông 8 tuổi ở Đà lạt (Phan Thanh Ngọ, 1995). Tác giả cho rằng
với rừng Thông lớn tuổi không cần phải gom vật liệu trước khi đốt mà chỉ
cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để
đốt. Tác giả cho rằng có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số loại
rừng ở địa phương khác, trong đó có rừng Khộp ở Đắk Lắk và Gia Lai.
Ở Việt Nam đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về việc sử
dụng hữu ích vật liệu cháy dưới tán rừng mà các công trình chủ yếu nghiên
cứu kỹ thuật đốt trước để giảm thiểu nguy cơ cháy - một biện pháp vừa làm
tăng lượng phát thải khí nhà kính vừa gây lãng phí sản phẩm và giảm tính đa
dạng sinh học của hệ sinh thái rừng. Bởi vậy nghiên cứu này như là sự khởi


[13]

đầu cho việc sử dụng bền vững tài nguyên rừng, kết hợp hài hòa việc phát
triển kinh tế xã hội với phòng cháy chữa cháy rừng và bảo vệ cảnh quan Thủ
đô nói chung.
Khái niệm thảm khô trong đề tài này chủ yếu là cành lá thông rụng từ
tán rừng xuống mặt đất suốt thời gian trong năm.
Hoàng Xuân Tý trong luận án phó tiến sĩ đã nghiên cứu về điều kiện đất
trồng rừng Bồ đề làm nguyên liệu giấy và ảnh hưởng của rừng trồng bồ đề
thuần loài đến độ phì của đất. Tác giả đã xem vật rơi rụng như là một nhân tố
quan trọng và không thể thiếu khi đánh giá ảnh hưởng của thực vật đối với
đất. Đối tượng nghiên cứu là rừng trồng Bồ đề thuần loài song nghiên cứu

cũng đưa ra những dẫn liệu so sánh với một số loại rừng khác như rừng Mỡ,
Lim xanh, rừng gỗ thứ sinh… Theo ông, lượng thảm mục hàng năm và tốc độ
phân giải của chúng là những chỉ số quan trọng của tuần hoàn dinh dưỡng
khoáng trong hệ sinh thái rừng, từ đó có ảnh hưởng trực tiếp đến độ phì đất.Vì
vậy ông đã tiến hành xác định lượng vật rơi rụng hàng năm và tốc độ phân
giải lượng vật rơi rụng trên một số trạng thái rừng khác nhau.
Khi nghiên cứu về rừng phòng hộ đầu nguồn liên quan đến thủy văn
rừng tác giả Võ Đại Hải (1997) đã kết luận: Lớp thảm mục (vật rơi rụng)
trong rừng có vai trò lớn trong việc bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, và chống
xói mòn do nước. Dưới tán rừng lớp thảm mục che phủ kín mặt đất ngăn
không cho hạt mưa rơi trực tiếp vào đất hút và giữ lại một phần nước đồng
thời là chướng ngại làm giảm tốc độ dòng chảy mặt của trận mưa 7.
Trong luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Điển (1998), khi nghiên
cứu về thủy văn rừng có viết: Lượng vật rơi rụng phân bố tương đối đồng
đều trên mặt đất của các ô thí nghiệm nên chỉ cần dùng 5 ô dạng bản (1 m x
1 m), 4 ô ở bốn góc và một ô ở giữa để điều tra khối lượng vật rơi rụng 4.


[14]

Tác giả đã dựa trên lượng vật rơi rụng và khả năng hút nước của nó để
xác định lượng chảy trên bề mặt đất rừng khi có mưa. Trong vấn đề phòng và
chống lửa rừng, Ngô Quang Đê, Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hưng (1983) đã
xây dựng khái niệm về vật liệu cháy là tất cả vật chất hữu cơ trong rừng có
thể bắt lửa và bốc cháy 11. Như vậy vật rơi rụng cũng là một vật liệu cháy.
Cũng nghiên cứu về vấn đề này Bế Minh Châu (2000) đã tiến hành xác định
độ ẩm của vật rơi rụng làm cơ sở dự báo nguy cơ cháy rừng 1.
Nghiên cứu của Đinh Văn Thuận (2004) về một số đặc trưng cơ bản
của vật rơi rụng cho một số trạng thái rừng tự nhiên ở Mai Châu - Hòa Bình.
Trong nghiên cứu này tác giả đã có một số kết luận về lượng vật rơi rụng theo

thời gian, khả năng hút nước của vật rơi rụng và có dự đoán về vật rơi rụng
cho khu vực nghiên cứu dựa trên kết quả các ô thí nghiệm 16.
Vương Văn Quỳnh (2005) đã nghiên cứu khối lượng thảm khô trong
một số trạng thái rừng ở Tây Nguyên và U Minh. Nhìn chung, lượng thảm
khô dao động từ một vài tấn đến vài chục tấn trên mỗi hecta. Thảm khô dưới
rừng tràm U Minh tạo thành lớp dày tới trên 20cm, và khối lượng trung bình
là 21 tấn/ha. Ở Tây Nguyên lượng thảm khô ít hơn do điều kiện nóng ẩm
chúng bị phân huỷ nhanh. Dưới rừng thường xanh lượng thảm khô là 9.4
tấn/ha, rừng hỗn giao là 9.8 tấn/ha, rừng khộp là 5.4 tấn/ha, rừng trồng là 11.3
tấn/ha 14.
Công trình của Nguyễn Tiến Dũng (2010) 3 có thể được xem là một
trong số ít nghiên cứu về biến động thảm khô. Từ kết quả điều tra lượng vật
rụng và tốc độ phân giải của chúng theo thời gian, Nguyễn Tiến Dũng đã xác
định được quy luật tích luỹ khối lượng thảm khô dưới rừng thông và rừng keo
tai tượng tại rừng thực nghiệm của Trường Đại học Lâm nghiệp.
Trong nghiên cứu Nguyễn Tiến Dũng đã sử dụng mô hình dự báo khối
lượng thảm khô như sau.


[15]

Mn =

hoặc Mn =

Trong đó: Mn là khối lượng thảm khô tích luỹ trong n năm.
m là khối lượng vật rụng một năm.
n là số năm để vật rụng phân huỷ hết, tức là còn lại không quá 5%.
k là tỷ lệ phân giải trung bình một năm của thảm khô trong n năm.
là tỷ lệ phân giải trung bình một năm của thảm khô trong i năm.

Khối lượng thảm khô dưới rừng phụ thuộc vào lượng vật rơi rụng trong
một năm và tốc độ phân giải của thảm khô. Lượng vật rụng trong một năm
càng nhiều và tốc độ phân giải càng thấp thì khối lượng vật khô tổng số dưới
rừng càng cao.
Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng vật rơi rụng của rừng keo tai tượng
khoảng 864 kg/ha/tháng, tốc độ phân giải trung bình khoảng 64%/ năm. Sau
khi bị thu dọn hết, lớp thảm khô bắt đầu tăng lên đến khoảng năm thứ 5, rồi
ổn định dần ở mức 10,3 tấn/ha. Còn với rừng thông mã vĩ, lượng rơi rụng như
hiện nay khoảng 775kg/ha/tháng, tốc độ phân giải khoảng 53%/năm, tổng
lượng thảm khô sẽ tăng lên cho đến năm thứ 4 đã bắt đầu tương đối ổn định ở
mức 12.0 tấn/ha.
Phạm Thế Dũng và Kiều Tuấn Đạt (2014) khi nghiên cứu quá trình hoàn
trả dinh dưỡng cho đất của rừng trồng keo tai tượng ở Bình Dương cho kết
quả là tổng lượng vật rơi rụng trong 40 tháng ở rừng keo là 24.2 tấn/ha, trung
bình 7.2 tấn/ha/năm 2.
Nhìn chung, những nghiên cứu về năng suất thảm khô trên thế giới và
Việt Nam tập trung vào năng suất bình quân của thảm khô. Các nghiên cứu về
vật rơi rụng ở Việt Nam được đánh giá là tương đối đầy đủ về số lượng, động
thái dinh dưỡng vật rơi rụng, những nghiên cứu đặc điểm tích lũy và năng
suất lá rụng dưới các trạng thái rừng phục vụ mục đích khai thác còn ít được
thực hiện ở Việt Nam.


×