Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ một số vấn đề về HIỆN TƯỢNG THÔN TÍNH, LIÊN kết và sáp NHẬP của các CÔNG TY TRÊN THẾ GIỚI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (102.21 KB, 14 trang )

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆN TƯỢNG THÔN TÍNH, LIÊN KẾT VÀ SÁP
NHẬP CỦA CÁC CÔNG TY TRÊN THẾ GIỚI
Xuất phát từ những tổ chức sản xuất độc quyền hình thành trong quá trình tích
tụ và tập trung tư bản, các công ty nói chung và các tập đoàn tài chính và công nghiệp
nói riêng luôn tự điều chỉnh để phát triển. Nhờ đó các hình thức tổ chức hoạt động và
cơ chế quản lý của chúng cũng được hoàn thiện thích ứng với yêu cầu của hệ thống
kinh tế thị trường đang ngày càng được quốc tế hoá. Sự thích ứng đó luôn diễn ra trên
hai mặt điều tiết hoạt động của công ty, đó là điều tiết độc quyền và cạnh tranh.
Những năm 90 của thế kỷ XIX hệ thống các Trust, Cartel và Cyndicat ở Mỹ và các
nước phát triển khác đã hình thành và hoạt động. Điều này có nghĩa là tăng cường
cho tới khống chế xu hướng độc quyền trên thị trường ngành. Dựa vào sức mạnh của
mình, các Trust tiến hành trong phạm vi ngành một chính sách thị trường có lợi cho
họ và buộc những người sản xuất ở các ngành khác phải tuân theo. Điều này có thể
lấy các ngành luyện kim đen, hoá dầu, công nghiệp nhôm, thuốc lá ở Mỹ làm điển
hình. Tại các nước khác, với tính cách là các tổ chức độc quyền có Cartel và cyndicat
là các tổ chức ngành dựa trên những thoả thuận pháp lý giữa tất cả hoặc phần lớn các
công ty của ngành trong quan hệ về mặt này hay mặt khác của chính sách thị trường,
trước hết là giá cả. Tuy nhiên, cơ chế tập trung của các công ty lớn và cơ chế cạnh
tranh của thị trường không phủ nhận lẫn nhau mà luôn luôn cùng tồn tại như hai mặt
của một chỉnh thể. Chúng nương tựa, bổ sung cho nhau, mặt này là tiền đề ra đời,
phát triển của mặt kia và ngược lại. Sự phát triển của các ngành mà ở đó các tổ chức
độc quyền ngành thống trị được xác định bởi sự tác động qua lại phức tạp giữa những
lực lượng độc quyền và cạnh tranh. Thậm chí, trong trường hợp thâu tóm tất cả quá
trình sản xuất của một ngành thì các Trust cũng không thể loại bỏ hoàn toàn cạnh
tranh ra khỏi thị trường của ngành đó. Và một Trust như vậy, khi đã thống trị trong
một ngành vẫn cố đạt tới sự độc quyền cho dù không phải khi nào cũng thành công.
1


Đối với Trust, nguyên nhân quan trọng nhất của sự suy giảm ảnh hưởng của nó là sự
thay đổi xu hướng tập trung tương đối sản xuất và tư bản.


Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vai trò quyết định trong tập trung sản xuất và
tư bản là liên kết theo chiều ngang, điều này quyết định sự thành lập các Trust.
Nhưng đến những năm 20 đã thể hiện tính không hiệu quả về kinh tế của quá trình
liên kết thái quá này. Đặc biệt là sự yếu kém về khả năng thích ứng với những thay
đổi của thị trường, thay đổi chủng loại mặt hàng và chất lượng sản phẩm... trước làn
sóng tích tụ tư bản liên ngành. Quá trình liên kết theo chiều dọc được đưa lên hàng
đầu và sau chiến tranh thế giới lần
thứ hai là quá trình đa dạng hoá, hình thành các công ty lớn kiểu mới. Cái gọi là tập
đoàn thống trị tồn tại dưới hình thức các công ty xuyên quốc gia được đưa ra thay thế
vị trí các Cartel, Cyndicat, Trust với tính chất là một tổ chức thống trị không chỉ của
một ngành. Sự tương quan giữa lực lượng điều
tiết của độc quyền và cạnh tranh luôn thay đổi và phản ánh xu hướng tăng lên của
cạnh tranh. Hơn nữa, sản xuất của các công ty này không chỉ thuộc các ngành công
nghệ cao, mà phương thức tổ chức và cơ chế quản lý của chúng cũng vượt ra khỏi
khuôn khổ truyền thống, đã xây dựng một cơ chế
quản lý mới.
Hai thập kỷ gần đây, ở hầu hết các nước tư bản phát triển đã xuất hiện nhiều
biện pháp kích thích mạnh mẽ vào quá trình tích luỹ tư bản. Do khó khăn về điều
kiện đầu tư tư bản vào thập kỷ 70 và 80, do việc giảm sút tỷ suất lợi nhuận bình quân
dưới tác động của cách mạng khoa học-kỹ thuật đã buộc nhiều công ty lớn phải thu
hút các đối thủ của mình để cùng tồn tại. Chính vì vậy các công ty xuyên quốc gia đã
trở thành hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh quốc tế phổ biến. Chúng như những
dây xích neo chặt các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau lại thành từng khối
trong guồng máy phân công lao động quốc tế. Làn sóng hợp nhất và thôn tính lẫn
nhau giữa các tập đoàn xuyên quốc gia hiện nay thực tế không vượt ra ngoài khuôn
2


khổ các công ty xuyên quốc gia. Nó bị quy định bởi những điều kiện đặc thù của giá
trị tư bản tự tăng lên và cuộc khủng hoảng cơ cấu kéo dài ngày càng đe doạ các

ngành truyền thống vốn là những ngành chịu sự chi phối và thống trị của các nhóm
công ty khổng lồ đã đặt chúng trước sự diệt vong tất yếu nếu không kịp thời xâm
nhập vào các ngành mũi nhọn có hàm lượng công nghệ cao. Mặt khác, sự suy giảm
hiệu lực rõ rệt trong các điều khoản của luật chống độc quyền ở một số nước này đã
tạo điều kiện cho các công ty xuyên quốc gia ở một số nước khác tăng cường cắm
nhánh bằng con đường hợp nhất.
Ở Mỹ, từ nửa đầu thập kỷ 80 đã diễn ra hàng loạt vụ sáp nhập lớn với số vốn
hàng tỷ USD. Quá trình này bắt đầu từ các công ty hoạt động trong ngành công
nghiệp, sau đó lấn sang toàn bộ nền kinh tế và cuối cùng tràn ra toàn thế giới. Trong
chiến lược chiếm lĩnh và khai thác thị trường quốc tế của các công ty xuyên quốc gia,
việc nhanh chóng mở rộng quy mô bằng cắm nhánh trở thành biện pháp hữu hiệu để
giải toả áp lực khủng hoảng cơ cấu và xu hướng giảm sút tỷ suất lợi nhuận của các
công ty trong nước, đồng thời củng cố vị trí của mình trên thị trường quốc tế.
Từ hơn 10 năm trở lại đây, sự kết hợp vốn của nhiều công ty khác nhau diễn ra
nhanh chóng và sâu rộng. Công ty "Ford" của Mỹ có một phần vốn của "Toyota
Motor" của Nhật Bản, công ty "Genral Motor" của Mỹ kết hợp vốn với công ty
"Isuzi" và "Suzuki" của Nhật Bản, các công ty của CHLB Đức, Pháp, Nhật Bản cũng
bỏ vốn ra mua các doanh nghiệp trong ngành hoá chất, luyện kim, ô tô v.v... của Mỹ.
Đến cuối năm 1985, có tới 10% các công ty Mỹ thuộc sở hữu tư bản nước ngoài. Tỷ
trọng của nó trong giá trị sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến tăng từ 5,1%
năm 1981 lên 8,5% năm 1985. Cuối năm 1988, "Cục thẩm toán chung" của Quốc hội
Mỹ công bố một bản nghiên cứu cho biết số công ty của Mỹ bị tư bản nước ngoài
hợp nhất không ngừng tăng lên, từ 182 công ty với giá trị 8 tỷ USD vào năm 1984
tăng vọt lên 362 công ty với giá trị 42 tỷ USD vào năm 1987.

3


Tình hình từ đầu những năm 90 đến nay cho thấy, trong làn sóng hợp nhất các
công ty lớn diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, các công ty xuyên quốc gia Mỹ đang đi

hàng đầu với những cuộc mua bán, sáp nhập lớn nhất. "Nếu như làn sóng mua lại tiếp
tục và số những người cạnh tranh không ngừng giảm trên từng thị trường, các doanh
nghiệp có thể hướng vào khai thác các thế mạnh của mình để nâng giá. Đặc biệt trong
các ngành như công nghiệp quốc phòng, đường sắt, ngân hàng phục vụ các cá nhân
và bảo hiểm bệnh tật là những ngành mà những người cạnh tranh nước ngoài không
có bao nhiêu".
Đây là lời nhận xét của tờ Business Week về tình hình đang diễn ra ở Mỹ. Nhưng cần
thấy rằng, quy mô của nó bao trùm cả những ngành công nghệ mũi nhọn và nhiều
ngành khác. Cả một loạt hiệp định hợp nhất được ký kết giữa Chase - Chemical (ngân
hàng) Sandoz - Geigy (dược phẩm) Bell Atlantic - Nynex (viễn thông), British
Telecom - MCI (viễn thông), Boeing - Mc Donnell Douglas (quốc phòng), Morgan
Stanley - Dean Witter (chứng khoán). Người ta đang thực sự chứng kiến một làn sóng
hợp nhất mới chưa từng thấy kể từ. Làn sóng cuồng nhiệt mua lại trong những năm
80, hoặc làn
sóng thành lập những Conglomerat như LTV, Textron... trong những năm 60 dẫn đến
sự sáp nhập hàng chục doanh nghiệp lớn, với những quy mô lớn hơn và động cơ rất
khác nhau. Tạp chí Fortune cho rằng, đây là làn sóng dung hợp lớn nhất trong lịch sử
Hoa Kỳ.
Làn sóng sáp nhập và thôn tính trong những năm 1996 trên thế giới lên đến
1000 tỷ đôla. Trong đó chỉ ở Mỹ đã diễn ra 10.000 vụ với trên 650 tỷ đôla, tức là gấp
hơn hai lần về số vụ và giá trị so với năm diễn ra cao nhất trong thập niên 80 (1989).
Trong số này có những làn sóng khổng lồ: năm 1996 có tới 6 vụ vượt quá 10 tỷ đôla
và theo công ty Security Data of Newark có trên 100 vụ di chuyển ở tầm cỡ trên 100
tỷ đôla. Đây thực sự là những con số kỷ lục chưa từng thấy trong lịch sử nước Mỹ.

4


Mua bán hoặc trao đổi những hoạt động không mang tính chiến lược, hoặc tập
trung trở lại vào những chuyên ngành vốn có để giành lấy tầm cỡ cao nhất, chẳng hạn

tầm cỡ toàn cầu nếu có được, đó là bức tranh mới nhất hiện nay của các tập đoàn lớn
ở Mỹ và châu Âu thể hiện trong làn sóng sáp nhập và thôn tính hiện nay. Người ta đã
thông báo về những vụ sáp nhập lớn mà trong đó có những vụ sáp nhập giữa Morgan
Stanley và Dean Witter Discover hay giữa Big One và First USA (ngân hàng). Cuộc
vận động này đã diễn ra từ năm 1993 và gần đây đã đột nhiên gia tăng mạnh. Những
tài liệu mới nhất cho thấy, trong hầu khắp các ngành kinh tế Mỹ, quý I/1997 giá trị
các hợp đồng sáp nhập các công ty của Mỹ đã lên tới mức kỷ lục là 183 tỷ đôla so với
mức kỷ lục quý I/1996 là 120,6 tỷ đôla.
Đây là biểu hiện mạnh mẽ của quá trình tập trung sản xuất. Song hiện nay có
nhiều nhân tố mới buộc các doanh nghiệp, các công ty xuyên quốc gia phải tìm kiếm
những đối tác thích hợp và thay đổi thực chất các liên minh mong muốn. Những nhân
tố này vừa mang tính tình huống vừa mang tính lâu dài của quá trình có tính quy luật
của tập trung sản xuất TBCN nhất là ở nước Mỹ.
Thứ nhất, mọi tìm kiếm lợi nhuận trong điều kiện lạm phát đã diễn ra yếu.
Trong những năm 90, các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là kinh tế Mỹ đã thoát khỏi
tình trạng lạm phát phi mã, các doanh nghiệp không có mấy khả năng tăng giá và một
giải pháp duy nhất đảm bảo mục tiêu lợi nhuận là làm sao giảm được giá và chiếm
lĩnh được thêm thị phần càng rộng càng tốt.
Thứ hai, sự bốc lên mạnh của thị trường chứng khoán trở thành một điểm tựa
quan trọng của các doanh nghiệp, và giúp chúng có khả năng dùng các cổ phần của
mình để thanh toán cho các vụ mua đoạt quy mô lớn.
Thứ ba, môi trường pháp quy liên quan đến một yếu tố đặc biệt xuất phát từ
luật chống Trust. Nhờ luật này nhiều lĩnh vực mới đã mở cửa cho cạnh tranh và việc
tập hợp lại các tập đoàn cũng được khuyến khích trong một số trường hợp.

5


Thứ tư, do điều kiện môi trường cạnh tranh kinh doanh cực kỳ khốc liệt, không
một ai có thể lường trước điều gì có thể xảy ra, nên một nhu cầu bức bách nẩy sinh là

phải thực hiện những thay đổi về mặt chiến lược, chính sách, càng nhanh càng tốt,
thậm chí ngay cả khi điều này có nghĩa là lao vào
một cuộc chiến tranh thù địch.
Thứ năm, để thích ứng được với quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra với cường
độ cao chưa từng thấy, các doanh nghiệp cần phải có tầm vóc đủ sức cạnh tranh toàn
cầu, và phương sách phù hợp là mua thêm hoặc mua lại bằng những con đường nào
đó.
Như vậy, làn sóng hợp nhất hiện nay bắt nguồn chủ yếu từ những vấn đề có
tính chất chiến lược. Nó khác hẳn làn sóng tập trung trong những năm 80 ở chỗ, trong
những năm này những người được lợi thường là những nhà tài chính tìm kiếm những
chứng khoán hạ giá có khả năng được bán lại với giá hời. Nó cũng khác với giai đoạn
hình thành những Conglomerat thuộc thế hệ đầu (đa dạng hóa) đầu những năm 60,
khi những người cầm đầu các doanh nghiệp đã tiến hành đa dạng hóa các doanh
nghiệp vào các lĩnh vực hoạt động mới lạ đối với chúng, nhằm đối phó với nguy cơ
lặp lại của chu kỳ kinh doanh. Chính vì vậy mà ITT đã định vị vào công nghiệp chế
tạo ôtô, bột giấy, bảo hiểm và công nghiệp chế biến bánh mỳ. Các doanh nghiệp tham
gia vào làn sóng tập trung hiện nay theo đuổi những mục đích khác nhau bằng cách
sáp nhập lại những công ty mà hoạt động của chúng đồng nhất hoặc bổ sung cho
nhau, và đôi khi chúng tự giải ước vì cho rằng sự tồn tại của chúng không có ý nghĩa
chiến lược. Những cuộc dung hợp này ít rủi ro nhất. Người mua thông thường là một
doanh nghiệp chứ không phải "những tay đầu cơ" "đón lõng". Những công ty tài
chính kiểu này (đầu tư đón lõng) chỉ chiếm khoảng 5% các vụ giao dịch so với 30%
trong những năm 80. Trong thực tế, hiện nay các doanh nghiệp hoàn toàn có thể tiến
hành hợp nhất bằng cách dùng các cổ phần được đánh giá cao của mình để mua
những đối tượng nhằm tới.
6


Làn sóng hợp nhất hiện nay còn tuân thủ mục tiêu hiệu quả và thống nhất thị
trường. Hãy xem một ví dụ điển hình năm 1996. Đó là cuộc hợp nhất của ngân hàng

Chemical và Chase Manhattan. Trước khi sáp nhập, có hai ngân hàng, hai chủ tịch,
hai cơ sở phục vụ các doanh nghiệp cần vay với khoảng 600 đại lý và trên 75.000
nhân viên. Nay không chỉ còn một ngân hàng, một chủ tịch và một cơ sở phục vụ các
doanh nghiệp cần vay, mà đồng thời hàng trăm đại lý bị xóa bỏ và 12.000 chỗ làm
việc phải biến mất. Kết quả là khu vực ngân hàng mang tính không định hình hơn và
thực thể này được tăng trưởng hết mức.
Nhiều doanh nghiệp khác tìm phương thức phát triển bằng cách làm phát triển
khả năng sinh lợi ở những kênh phân phối tiêu thụ hiện có. Công ty Gillette là một
điển hình. Nó đã mua lại Duracell International, một công ty dẫn đầu trên thị trường
pin điện bằng 9 tỷ đôla cổ phiếu. Những vụ hợp nhất rất thường hay xảy ra vì một
mục tiêu rõ rệt là đạt được quy mô nhất định. Bằng cách để cho British Telecom mua
lại 25 tỷ đôla, MCI Comunication có thể theo đuổi được chiến lược xâm nhập trên
quy mô toàn bộ một vùng và không phải lo ngại tác động ngắn hạn đối với kết quả
hoạt động của nó.
Làn sóng hợp nhất cũng bao trùm cả những ngành công nghệ mũi nhọn, tức là
lĩnh vực mà doanh nghiệp ở đó có ưu thế quen thuộc về tăng trưởng nội tại nhờ sự
cho ra đời những sản phẩm mới. Cisco Systems có cơ tăng rất mạnh kể từ đầu những
năm 90, năm 1996 đã đầu tư một bộ phận cực nhỏ trong kho vũ khí của nó vào
Granite Systems, một doanh nghiệp còn chưa có tiếng tăm nhưng đã đề ra chương
trình chế tạo một hệ thống điều tiết giao thông đầy hứa hẹn - một bộ phận quyết định
của trò chơi chắp hình mạng trong tương lai. Cisco muốn đáp ứng được ý định nêu ra
được cho khách hàng những giải pháp toàn diện và không để mất thời gian. "Hành
động hay là chết" đã trở thành khẩu hiệu trong một số trận chiến đấu gần đây. Chẳng
hạn sự khôi phục hoạt động trong lĩnh vực quân sự của Hughes Electronic, một chi
nhánh của General Motors. Trong mỗi trường hợp như vậy người chiến thắng quyết
7


định "bộ mặt" kẻ sống sót trong khi đó tương lai của kẻ bại trận là sự nhân nhượng.
Ông Dennis Kozlowski, chủ tịch của Tyco nhận xét rằng "Dù thị trường ra sao, cần

phải trở thành khổng lồ đã. Theo quan điểm của tôi, trong thực tế các ông chủ tịch
đều thực hiện các cuộc hợp
nhất hoặc thôn tính theo tinh thần dù là doanh nghiệp của họ có tầm cỡ như thế nào".
Phương thức hợp nhất này dù có những biểu hiện và quy mô khác trước nhưng
tính chất tập trung tư bản để tăng khả năng độc quyền lại giống điều đã từng xảy ra từ
một thế kỷ ở Hoa Kỳ đã nêu trên. Thời bấy giờ, những viên chức chịu trách nhiệm
trong cuộc đấu tranh chống Trust đã tuyên chiến với những các cartels có mưu đồ
kiểm soát các thị trường. Làm như vậy, họ đã muốn hợp nhất thành những cartels cho
ra đời những công ty khổng lồ như General Electric, U.S.Steel, Du Pont, International
Harvester và Nabisco. Suốt thế kỷ XX, các đạo luật chống Trust đã ngăn cản những
vụ hợp nhất có khả năng dẫn đến độc quyền trên thị trường. Nhưng kể từ những năm
80 chính quyền Reagan đã nới lỏng những ràng buộc pháp quy chống Trust. Trong
thời gian gần đây, mặc dù có một số vụ cấm, như vụ Rite - Aid và Revco, vụ
Microsoft và Intuit, chính quyền Clinton không ngăn cản các vụ giao dịch có tính
chất tập trung. Đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự, Tổng thống Clinton còn tỏ ra
khuyến khích các vụ hợp nhất.
Một trong những biểu hiện quan trong của đợt sóng hợp nhất hiện nay ở Mỹ,
bên cạnh việc mở rộng quy mô tư bản và sản xuất, chiếm lĩnh thị trường, các công ty
xuyên quốc gia đã mở rộng lĩnh vực hoạt động của mình, đặc biệt là trong lĩnh vực
dịch vụ công nghệ cao. Những công ty nổi tiếng của Mỹ như General Electric, Wang
laboratories, Xerox, Hewlett- Packard... trước đây hầu như hoàn toàn kiếm được lợi
nhuận từ việc bán các sản phẩm vật chất vật thể của mình. Hiện nay những công ty
này đều đang nhanh chóng sắp xếp, tổ chức lại thành những công ty cung cấp dịch vụ
bên cạnh cơ sở hoạt động nghề nghiệp truyền thống của chúng. Một số lượng ngày
càng tăng các công ty Mỹ đang đi theo hướng này. Việc bảo trì, thiết kế, quản lý các
8


hệ thống thông tin, tài trợ cho các dự án..., đang trở thành hướng thời thượng. Các
công ty công nghệ thông tin như Unisys và IBM đã thiết kế, lắp đặt và quản lý các hệ

thống công nghệ thông tin của nhiều công ty khác. Đến lượt mình, những công ty chế
tạo vật tư thiết bị văn phòng như Xerox và Pitney Bowes lại đảm nhiệm tổ chức dịch
vụ thư tín và các trung tâm kỹ thuật in, sao, đảm bảo truyền tải điện các văn kiện tài
liệu. Hewlett - Packard
không chỉ thiết kế, quản lý các hệ thống thông tin mà còn tài trợ tạo dựng một tổng
thể các dịch vụ và sau đó cho thuê. ông Ann Livemore, phó chủ tịch phụ trách các
dịch vụ này của Hewlett - Packard giải thích rằng "Các khách hàng tìm kiếm sự tài
trợ cho một giải pháp toàn cục, không phải chỉ cho sự khởi động của giải pháp".
Khi phát triển các hoạt động dịch vụ, các công ty Mỹ đều chấp nhận những
chiến lược đang được ưa chuộng nhất. Chúng phản ứng nhanh với những thay đổi đặc
thù của lĩnh vực sản xuất và do cạnh tranh khốc liệt giới hạn về thiết bị thu hẹp mạnh,
đồng thời các khách hàng lại có khuynh hướng đặt thầu nhiều dịch vụ trước đây chỉ là
hoạt động nội bộ. Giá cả dịch vụ vì vậy leo thang mạnh cần phải được giám định.
Gần đây các nhà sản xuất nhấn mạnh vào các dịch vụ là một nguy cơ thực sự
đối với công ty Electronic Data System (EDS), Andersen Consulting và những
chuyên gia tư vấn công nghệ khác. Không có những tài liệu thống kê đầy đủ về các
kiểu loại dịch vụ khác nhau. Nhưng theo nhiều chuyên gia, dịch vụ kỹ thuật thông tin
nói chung được hiểu là một tổng thể dịch vụ thiết kế, bảo trì lắp đặt các hệ thống kỹ
thuật thông tin là lĩnh vực hoạt động dịch vụ chủ yếu. Theo hãng Dataquest chuyên
môn nghiên cứu thị trường, doanh số của lĩnh vực này lên đến 234 tỷ đôla năm 1996
và sẽ vượt 400 tỷ đôla từ nay đến năm 2000. Người ta dự báo chắc chắn rằng, những
công ty tư vấn độc lập sẽ tiếp tục thống trị thị trường, nhưng các nhà sản xuất tiếp tục
ở thế thượng phong.

9


Tầm quan trọng của hoạt động dịch vụ còn nổi bật hơn nữa trong các doanh
nghiệp kỹ thuật thông tin, là những doanh nghiệp ngày càng hướng vào việc thiết kế
và quản lý toàn bộ các hoạt động đã được thông tin hóa của khách hàng từ việc thanh

toán cho đến việc theo dõi các hợp đồng đặt hàng. Đối với công ty Hewlett - Packard,
doanh thu về dịch vụ này lên tới 5,3 tỷ đôla năm 1996, tăng 20% từ dịch vụ này. Theo
Lloyd Waterhouse, Tổng giám đốc của IBM Global Services, những dịch vụ này tăng
tiến nhanh hơn là sản xuất và cung ứng vật tư. Năm 1995 General Electric chiếm
được 7 tỷ đôla trong 70 tỷ đôla doanh số nhờ các dịch vụ như sửa chữa và bảo trì đầu
máy xe lửa, động cơ máy bay, các trung tâm điện và thiết bị y khoa. Nó dự tính, nhờ
các dịch vụ này từ nay đến năm 2000 có thể kiếm 15 tỷ đôla. Mới đây, công ty này đã
lập một Uỷ ban để các đại biểu của tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất của nó có
thể cùng nhau trao đổi ý kiến phát triển các hoạt động dịch vụ. Chẳng hạn, "Ban y
khoa" của GE chuyên phục vụ thiết bị đặc biệt để giải thích các thông tin được truyền
bằng điện, giúp cho việc chẩn đoán đã học "Ban động cơ máy bay" trong việc phục
vụ bằng cùng một công nghệ ấy, để xác định sự cố của máy bay đậu tại một sân bay
cách xa hàng ngàn kilômét. John Welch, chủ tịch của GE giải thích rằng "Phương
thức tốt nhất đảm bảo mở rộng mạnh mẽ hoạt động của tôi là cải tiến thiết bị mà tôi
đã lắp và đảm bảo bảo trì nó hơn là bán nhiều vật tư, những dịch vụ liên quan đến sản
phẩm phát triển với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng sản phẩm từ 2-3 lần". Như vậy đối
với GE, dịch vụ rõ ràng là một thủ đoạn để bành trướng. song đối với nhiều công ty
kỹ thuật thông tin thì đó là chiến lược để sống sót. Bởi vì cạnh tranh diễn ra mạnh
mẽ, thời hạn sinh tồn của sản phẩm rút ngắn và sự xuất hiện "các nhà kiến trúc mới"
(tức là những hệ thống máy linh hoạt cho phép các doanh nghiệp có thể xáo trộn các
cấu kiện của các nhà sản xuất kình địch và lắp ghép chúng lại với nhau), các khách
hàng có thể chọn người cung cấp khi họ muốn cải tiến thiết bị của họ hay muốn mua
thêm vật tư bổ sung.

10


Tình hình hiện rất khó khăn cho những doanh nghiệp chế tạo máy tính cá nhân,
những hệ thống máy lớn và các loại thiết bị khác đã được tiêu chuẩn hóa đến nỗi
"Những phương án của chúng ít lợi hơn rất nhiều so với những dịch vụ liên kết chúng

lại với nhau...". Do vậy, giới hạn sản xuất trước đây của chúng lên đến 75%, nay ít
khi vượt quá 30%. Vậy mà đối với dịch vụ, con số này đôi khi vượt quá 50%. Công
ty Unisys nhờ điều chỉnh định hướng từ hệ thống máy lớn và máy tính cá nhân sang
dịch vụ thông tin, nên dịch vụ này chiếm đến 63% doanh số của nó và hy vọng chẳng
bao lâu sẽ lên đến 100%, nghĩa là nó sẽ sống hoàn toàn bằng hoạt động dịch vụ.
Xu hướng điều chỉnh ở các công ty Mỹ cũng xuất hiện ở các nước châu Âu
khác. Chẳng hạn điển hình là sự điều chỉnh hướng hoạt động của những công ty sản
xuất máy công cụ của Đức (xem Courier International, N. 326, 1997). Tình hình liên
kết, hợp nhất trên đây là biểu hiện cụ thể của quá trình tích tụ và tập trung sản xuất
trong điều kiện sức sản xuất phát triển nhảy vọt của những năm cuối cùng của thế kỷ
XX, đã làm cho hai hình thức cơ bản trong kết cấu TNC là Conglomerate và Concern
có sức sống mạnh mẽ hơn và làm xế chiều nhanh chóng các hình thức cổ điển kiểu
Cartel, Cyndicat, Trust, do đó hình thức tồn tại phổ biến của TNC hiện đại là Concern
và Conglomerate. Sự phân định giữa hai hình thức này chỉ có tính khái quát lý thuyết
dựa trên những nét đặc thù về nguồn gốc hình thành, cơ cấu điều khiển, quản lý và
địa bàn tác nghiệp, chủ yếu xuất phát từ hình thức liên kết đặc thù cơ bản. Trong thực
tế, do điều kiện tác nghiệp thay đổi, do mối tương quan giữa cạnh tranh, độc quyền
và vai trò điều khiển kinh tế vĩ mô của nhà nước ở các vùng và khu vực mà TNC tác
nghiệp, thì các hình thức liên kết theo chiều dọc hoặc ngang trong nội bộ công ty
được biến dạng, đan xen nhau, tạo nên kiểu kinh doanh đa dạng hóa. Tuy nhiên, vẫn
có thể trừu tượng hóa những biểu hiện phụ, phức tạp để mô tả một kiểu tổ chức TNC
đặc thù.
Trong thập kỷ qua, phần lớn sự phát triển của hoạt động sản xuất quốc tế là do
các hoạt động sáp nhập và thôn tính xuyên quốc gia hơn là do các hoạt động đầu tư
11


mới trên thế giới. Tổng giá trị các vụ sáp nhập và thôn tính tăng từ mức chưa đến 100
tỷ USD năm 1997 lên tới 720 tỷ USD năm 1999. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng
những số liệu về các vụ sáp nhập và thôn tính xuyên quốc gia cũng như giá trị các

luồng FDI không được so sánh hoàn toàn chính xác bởi những lý do như cách thức
cấp vốn của các vụ sáp nhập và thôn tính hay việc sử dụng phương pháp cán cân
thanh toán để tính các luồng FDI hiện nay không phù hợp với chúng. Song bất kể là
hoạt động đầu tư trên thế giới hiện nay thông qua tăng lượng đầu tư mới hay thông
qua các vụ sáp nhập và thôn tính thì chúng đều làm tăng quy mô của lực lượng sản
xuất quốc tế. Chưa đầy 3% trong tổng số các vụ sáp nhập và thôn tính xuyên quốc gia
trên thế giới được chính thức gọi là những vụ sáp nhập (mặc dù rất nhiều trong số này
chỉ trên danh nghĩa là sáp nhập), số còn lại đều là thôn tính lẫn nhau. Những vụ thôn
tính toàn bộ chiếm 2/3 trong tổng số các vụ thôn tính. Các vụ thôn tính từ 10 - 49%
giá trị tài sản của công ty chiếm 1/3 trong tổng số các vụ thôn tính tại các nước đang
phát triển. Con số này tại các nước phát triển là 1/5. Các vụ sáp nhập và thôn tính
xuyên quốc gia có thể phân loại theo chức năng bao gồm theo chiều ngang và theo
chiều dọc như trên đã đề cập. Các vụ sáp nhập và thôn tính theo chiều dọc chiếm
50% tổng số và 70% tổng giá trị các vụ sáp nhập và thôn tính. Những năm gần đây
loại hình sáp nhập và thôn tính này ngày càng gia tăng. Khác với thời kỳ cuối những
năm 1980, khi các vụ sáp nhập và thôn tính thường hướng tới lợi ích về tài chính
ngắn hạn, hiện nay các vụ sáp nhập và thôn tính lại mang tính chiến lược và kinh tế.
Do đó, gần đây phần lớn chúng không mang chất đối địch. Trong năm 1999, số vụ
sáp nhập và thôn tính mang tính chất đối địch chỉ chiếm gần 5% tổng giá trị và 0,2%
tổng số lượng các cụ sáp nhập và thôn tính.
Trong giai đoạn 1980-1999, tổng số các vụ sáp nhập và thôn tính tăng trung
bình 42% /năm. Tổng giá trị của chúng tăng từ mức 0,3% GDP thế giới năm 1980 lên
mức 8% GDP trên thế giới năm 1999. Trong giai đoạn này diễn ra hai làn sóng sáp
nhập và thôn tính mạnh mẽ nhất: đợt một từ 1988-1990, đợt hai từ 1995 đến nay. Đợt
12


hai diễn ra chủ yếu là sự bùng nổ các vụ sáp nhập và thôn tính trong nước. Kết quả là,
trong suốt thập kỷ 90 tỷ trọng các vụ sáp nhập và thôn tính xuyên quốc gia trong tổng
số các vụ sáp nhập và thôn tính diễn ra trên thế giới là không thay đổi, chiếm khoảng

25% cả về giá trị lẫn số lượng. Ngoài các khoản vay ngân hàng truyền thống, sự phát
triển của các cơ chế cung cấp tín dụng như phát hành và trao đổi chứng khoán trên
các thị trường chứng khoán phổ biến và nợ công ty đã làm bùng nổ các hoạt động sáp
nhập và thôn tính. Cùng với các khoản vay ngân hàng truyền thống, các quỹ đầu tư
rủi ro cũng là một kênh cung cấp vốn quan trọng cho các công ty mới thành lập hoặc
các công ty vừa và nhỏ tham gia vào hoạt động sáp nhập và thôn tính.
Theo xu hướng đó trong năm 1999, các vụ sáp nhập và thôn tính xuyên quốc
gia tăng khoảng 35%, theo đánh giá của UNCTAD tổng giá trị của hơn 6.000 vụ sáp
nhập trong năm đạt 720 tỷ USD. Khoảng 1/6 các vụ này liên quan tới các chi nhánh
nước ngoài đã có mặt tại các nước nhận đầu tư. Các vụ sáp nhập và thôn tính xuyên
quốc gia tiếp tục tăng trong năm 2000, và một số vụ lớn đã được công bố hoặc thực
hiện xong (ví dụ như vụ Vondafone, Air - Touch - Mannesmam). Năm 2000, tổng giá
trị các vụ sáp nhập và thôn tính xuyên quốc gia có thể vượt mức 1.000 tỷ USD.
Giá trị các vụ sáp nhập và thôn tính xuyên quốc gia chiếm 80% tổng giá trị FDI
thế giới trong năm 1999. Có thể nói các vụ này là nguồn FDI chủ yếu đối với các
nước phát triển. Còn đối với các nước đang phát triển, các nguồn vốn FDI mới vẫn là
chủ yếu. Tuy nhiên, các luồng FDI có liên quan đến hoạt động sáp nhập và thôn tính
chảy vào các nước đang phát triển cũng tiếp tục tăng. Từ cuối những năm 1980 đến
cuối những năm 1990 tỷ trọng của các luồng FDI vào các nước đang phát triển đã
tăng từ 10% lên 30%. Tại Trung và Đông Âu do sự biến động của các vụ sáp nhập và
thôn tính xuyên quốc gia có liên quan đến quá trình tư nhân hoá tại khu vực nên tỷ
trọng của chúng so với tổng các luồng FDI thường xuyên thay đổi qua các năm.
So với sự bùng nổ các hoạt động sáp nhập và thôn tính đã từng diễn ra tại Mỹ
vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mà đỉnh điểm là giai đoạn 1898-1902, thì sự
13


bùng nổ hiện nay có cả những điểm tương đồng và những điểm khác biệt. Cả hai đợt
bùng nổ đều do sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ, những công cụ cung cấp
tín dụng mới cho hoạt động sáp nhập và thôn tính, và những thay đổi về cơ cấu.

Nhưng sự bùng nổ hiện nay mang tính chất quốc tế, trong khi đó sự bùng nổ trước
đây chỉ bó hẹp trong phạm vi nước Mỹ. Sự bùng nổ các vụ sáp nhập và thôn tính
trước đây tại Mỹ đã góp phần phát triển thị trường hàng hoá- dịch vụ và hệ thống sản
xuất quốc gia tại Mỹ, bằng sự hình thành nên một thị trường mua bán các công ty trên
quy mô toàn cầu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. UNCTAD, World Invertment Report 1996 đến 2000.
2. Chủ nghĩa tư bản hiện đại. Nxb. KHXH, 1997, t.1,2,3.
3. Vai trò và ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia trong
các bước chuyển dịch toàn cầu ở cuối thế kỷ XX. Viện Thông
tin KHXH. Tài liệu phục vụ ngiên cứu, 2000, N.25.
4. Nguyễn Thiết Sơn.- Các công ty xuyên quốc gia với đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Châu Mỹ ngày nay, 1999, N.6, tr. 3-7.
5. Báo cáo đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam
(1988-1999).
6. Tổng quan tình hình FDI trên thế giới gần đây. Thời báo
kinh tế, năm 2000.
7. Nguyễn Thị Luyến.- Các công ty xuyên quốc gia với tiến
trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. In trong đề tài cấp
bộ "Toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới", Viện Thông tin
KHXH, năm 2000.

14



×