1
Lý luận về thị trường Trong tác phẩm “Bàn về cái gọi là vấn đề thị
trường” của V.I.Lênin và sự vận dụng của đảng ta về phát triển thị
trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam
Tác phẩm “Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường” được V.I.Lênin viết
vào mùa thu năm 1893. Tác phẩm ra đời trong bối cảnh những năm cuối
thế kỷ 19, công nghiệp đã phát triển mạnh ở các thành phố lớn và chủ
nghĩa tư bản đã thực sự xâm nhập vào nước Nga; phong trào cách mạng ở
Nga lớn mạnh, chủ nghĩa Mác bắt đầu được du nhập vào Nga. Song cũng
chính thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa Đảng xã hội dân chủ do V.I.Lênin
làm lãnh tụ với các đảng phái khác như Dân túy, Mác xít hợp pháp cũng
diễn ra gay gắt, phái dân túy chủ trương phủ nhận sự áp dụng lý luận chủ
nghĩa Mác vào nước Nga thông qua việc luận giải rằng nước Nga không
thể phát triển chủ nghĩa tư bản do thị trường bị phá hoại, phủ nhận mối
quan hệ giữa hai khu vực của nền sản xuất xã hội.
Trong một cuộc họp của tiểu tổ Mácxít ở Pê-téc-pua khi thảo luận về
bản thuyết trình của G.B.Craxin (Một đại biểu của Dân túy) về đề tài
“Vấn đề thị trường”, V.I.Lênin phát biểu tại phiên họp của tiểu tổ và sau
đó trong bản thuyết trình với nhan đề: “Bàn về cái gọi là vấn đề thị
trường”, V.I.Lênin đã chỉ ra những sai lầm của G.B.Craxin, đồng thời
nghiêm khắc phê phán các quan điểm của phái dân túy tự do chủ nghĩa về
vận mệnh của chủ nghĩa tư bản ở Nga cũng như quan điểm của những
người đại diện cho Chủ nghĩa mácxít hợp pháp đang ra đời.
Tác phẩm “Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường” của V.I. Lênin là một
tác phẩm mẫu mực về sự vận dụng sáng tạo lý luận kinh tế của Mác vào
nghiên cứu chế độ kinh tế xã hội ở nước Nga vào cuối thế kỷ 19, góp phần
phê phán quan điểm của phái dân túy về khả năng và điều kiện phát triển
của chủ nghĩa tư bản ở Nga; chống lại những quan điểm sai trái của phái
2
mác xít hợp pháp và dân túy khi họ cho rằng, cần phải có thị trường ngoài
nước để thực hiện giá trị thặng dư và hai khu vực của nền sản xuất xã hội
không có quan hệ gì với nhau. Đồng thời, thông qua tác phẩm này, V.I.
Lênin đã đấu tranh và bảo vệ những vấn đề lý luận về kinh tế hàng hóa và
về tái sản xuất của C.Mác và phát triển lý luận về thị trường.
I. Lý luận về thị trường của V.I.Lênin trong tác phẩm “bàn về cái
gọi là vấn đề thị trường”
1.1. Về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga
Vào những năm cuối thế kỷ 19 ở Nga, phái dân túy nêu câu hỏi: “Chủ
nghĩa tư bản liệu có thể phát triển được ở Nga không và liệu có thể phát
triển hoàn toàn được không, một khi quần chúng nhân dân thì nghèo khổ
và ngày càng nghèo khổ?”. Sau đó họ lập luận rằng:
- Chủ nghĩa tư bản muốn phát triển thì phải có thị trường rộng lớn ở
trong nước; không có thị trường trong nước cho nên chủ nghĩa tư bản ở
Nga không thể phát triển.
- Còn nguyên nhân làm cho thị trường trong nước bị thu hẹp là do
quần chúng nhân dân bị bần cùng hóa.
V.I.Lênin đã kiên quyết phê phán quan điểm đó và chỉ ra rằng, khi chủ
nghĩa tư bản biến nền kinh tế tự nhiên của những người trực tiếp sản xuất ở
trong nước thành nền kinh tế hàng hoá, thì như thế là nó tạo ra cho nó một thị
trường. Đồng thời trong tác phẩm, Lênin cũng đã đấu tranh chống lại việc các
đại biểu của "chủ nghĩa Mác hợp pháp" xuyên tạc chủ nghĩa Mác theo tinh
thần tư sản. V.I. Lênin đã vận dụng lý luận mác-xít vào việc nghiên cứu đời
sống nông dân một cách khéo kéo, độc lập, sâu sắc và triệt để. Sử dụng những
số liệu thống kê của các hội đồng địa phương được dẫn ra trong cuốn "Kinh tế
nông dân ở miền Nam nước Nga" của Pô-xtơ-ni-xốp đồng thời phê phán tính
không triệt để và những sai lầm về phương pháp luận của tác giả cuốn sách
đó, V.I. Lênin đã đánh giá một cách mácxít tình hình nông thôn, vạch ra
những quá trình và các hình thức phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông
3
nghiệp, và đập tan câu chuyện hoang đường của phái dân tuý nói rằng tuồng
như chủ nghĩa tư bản không đụng chạm đến nông dân "công xã". V.I.Lênin
chứng minh rằng: trái với lý luận của phái dân tuý, chủ nghĩa tư bản ở Nga
vẫn phát triển với một sức mạnh không gì kìm hãm nổi, rằng nông dân thực tế
đã phân chia thành những giai cấp đối địch: giai cấp tư sản nông thôn và giai
cấp vô sản nông nghiệp, là hai giai cấp đã phát triển do sự tan rã của trung
nông dưới chủ nghĩa tư bản. Trên cơ sở tài liệu rất phong phú, V.I.Lênin đã
vạch trần tính chất tiểu tư sản của công xã nông thôn, những quan niệm phi lý
và tai hại của phái dân tuý coi công xã nông dân là nền tảng của chủ nghĩa xã
hội. Người chứng minh rằng các quan hệ kinh tế tư sản đã bám rễ chắc vào
nông dân.
1.2. Lý luận tái sản xuất
Trên cơ sở, thuyết trình viên lấy giả thiết "nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa thống trị khắp nơi và tuyệt đối" để làm tiền đề cơ bản. Xuất phát từ tiền
đề đó, thuyết trình viên trình bày nội dung chương XXI, quyển II, bộ "Tư
bản" (Phần thứ ba: "Tái sản xuất và lưu thông của tổng tư bản xã hội").
V.I.Lênin đã tóm tắt - bằng những nét cốt yếu nhất - những kết quả nghiên
cứu của Mác về vấn đề tái sản xuất tư bản xã hội. Từ sự nghiên cứu đó của
Mác, V.I. Lênin phê phán thuyết trình viên đã không có được những luận cứ
xác đáng, đồng thời không rút ra được những kết luận chính xác. Thông qua
phân tích sơ đồ tái sản xuất của Mác, V.I.Lênin đã đưa ra những kết luận bằng
cách căn cứ vào một số nhận xét không hoàn toàn ăn khớp với nhau mà thuyết
trình viên đưa ra và đi đến khẳng định: trong thực tế thì không thể có tái sản
xuất giản đơn, vì nền sản xuất của toàn xã hội không thể năm nào cũng vẫn
giữ nguyên quy mô cũ, cũng như vì tích luỹ là một quy luật của chế độ tư bản.
Vậy chúng ta hãy xem nền sản xuất xã hội với quy mô không ngừng mở rộng,
hay là sự tích luỹ, đã diễn ra như thế nào. Khi tích luỹ, các nhà tư bản chỉ tiêu
dùng cho nhu cầu cá nhân của họ một phần giá trị thặng dư thôi, còn phần kia
thì tiêu dùng cho sản xuất, tức là được biến thành các yếu tố của tư bản sản
4
xuất để mở rộng sản xuất. Cho nên, khi có tích luỹ thì I (v+m) vμ II c không
thể bằng nhau được, mà I (v+m) phải lớn hơn II c, để cho một phần giá trị
thặng dư trong khu vực I (I m) không phải để đem trao đổi lấy tư liệu tiêu
dùng, mà là để mở rộng sản xuất. Do xã hội luôn vận động và phát triển
không ngừng do đó sản xuất phải liên tục tạo ra những sản phẩm thiết yếu đáp
ứng cho nhu cầu của xã hội. Chính vì vậy, xã hội phải thực hiện tái sản xuất
mở rộng không ngừng, chứ không riêng gì trong phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa.
Trên cơ sở nội dung mà thuyết trình viên trình bày về “tái sản xuất và
lưu thông của tư bản xã hội” trong chương 21, quyển III, Bộ tư bản. Thuyết
trình viên cho rằng: trong quá trình vận động của chủ nghĩa tư bản chỉ có thể
thực hiện tái sản xuất giản đơn, mà không thể thực hiện tái sản xuất mở rộng;
mặt khác thuyết trình viên cho rằng giữa khu vực I và khu vực II trong tái sản
xuất xã hội đứng độc lập, không có quan hệ gì với nhau.
V.I. Lênin đã trình bày tóm tắt tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở
rộng trong sơ đồ tái sản xuất của Mác đã chỉ ra điều kiện để thực hiện tái sản
xuất giản đơn là: Điều kiện thứ nhất: Toàn bộ giá trị mới do lao động sống
tạo ra trong khu vực I phải bằng giá trị bất biến đó hao phí ở khu vực II.
I (v + m) = IIc (1)
Đây là điều kiện cần thiết để có thể thực hiện được tái sản xuất giản
đơn tư bản chủ nghĩa, nó nói lên mối quan hệ giữa hai khu vực trong tái sản
xuất giản đơn.
Điều kiện thứ hai: Toàn bộ giá trị sản phẩm của khu vực I phải bằng giá
trị tư bản bất biến đó hao phí của cả hai khu vực.
I (c + v + m) = Ic + IIc
Điều kiện này nói lên vai trò của khu vực I trong tái sản xuất giản đơn.
Điều kiện thứ ba: Toàn bộ giá trị sản phẩm của khu vực II sẽ bằng giá
trị mới do lao động sáng tạo ra ở hai khu vực:
II (c + v + m) = I (v + m) + II (v + m)
5
Điều kiện này nói lên vai trò của khu vực II trong tái sản xuất giản đơn.
Về điều kiện thực hiện sản phẩm xã hội trong tái sản xuất mở rộng:
Điều kiện Thứ nhất: Tư bản khả biến, tư bản khả biến phụ thêm (v1)
vào gía trị thặng dư cho tiêu dùng của nhà tư bản (m2) của khu vực I phải
bằng giá trị tư bản bất biến v tư bản bất biến phụ thêm (c1) của khu vực II.
I (v + v1 + m2) = II (c + c1)
Điều kiện này nói lên mối quan hệ giữa hai khu vực trong tái sản xuất
mở rộng.
Điều kiện thứ hai: Toàn bộ giá trị sản phẩm của khu vực I phải đủ trang
bị cho tư bản bất biến v tư bản bất biến phụ thêm ở cả hai khu vực.
I (c + v + m) = I (c + c1) + II (c + c1)
Cứ như vậy cả hai khu vực sản xuất của xã hội mới đủ tư liệu sản xuất
v tư liệu sản xuất phụ thêm. Điều kiện này nói lên vai trò của khu vực I trong
tái sản xuất mở rộng.
Điều kiện thứ ba: Toàn bộ giá trị mới của hai khu vực phải bằng giá trị
sản phẩm của khu vực II v tư bản bất biến phụ thêm của cả hai khu vực.
I (v + v1 + c1 + m2) + II (v + v1 + c1 + m2) = I (v + m) + II (v + m)
hay: (I + II) (v + m) = II (c + v + m) + (I + II)c1
Như vậy, việc thực hiện tái sản xuất mở rộng đòi hỏi những tỷ lệ,
những phương trình cân đối giữa hai khu vực. Dưới chủ nghĩa tư bản, những
tỷ lệ đó hình thành một cách tự phát và thường xuyên bị phá vỡ, nên có thể
xảy ra sự mất cân đối giữa các khu vực của nền kinh tế. Nếu sự mất cân đối
này không được điều chỉnh để kiến lập sự cân đối mới, tất yếu sẽ dẫn đến hiện
tượng khủng hoảng kinh tế.
Từ đó V.I. Lênin đưa ra kết luận: sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư
liệu sản xuất tăng nhanh nhất; sau đến sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư
liệu tiêu dùng; và chậm nhất là sự phát triển của sản xuất tư liệu tiêu dùng.
Đặt vấn đề về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga, V,I. Lênin phê
phán quan điểm của phái dân tuý cho rằng: sự phát triển của chủ nghĩa tư bản
6
sẽ lấn át kinh tế tự nhiên và lấn át sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, nếu căn cứ vào
sơ đồ của Mác (sơ đồ tái sản xuất mở rộng mà phái này trình bày). Như vậy,
muốn phát triển chủ nghĩa tư bản phải dựa vào thị trường bên ngoài và tiêu
dùng của quần chúng nhân dân. Nhưng tiêu dùng của quần chúng ngày càng ít
đi nên chủ nghĩa tư bản không thể phát triển hoàn toàn ở Nga được. V.I.Lênin
cho rằng: chủ nghĩa tư bản ở Nga vẫn phát triển với một sức mạnh không gì
kìm hãm nổi, rằng nông dân thực tế đã phân chia thành những giai cấp đối
địch: giai cấp tư sản nông thôn và giai cấp vô sản nông nghiệp, là hai giai cấp
đã phát triển do sự tan rã của trung nông dưới chủ nghĩa tư bản.
1.3. Lý luận về kinh tế hàng hóa
Đề cập đến vấn đề sản xuất hàng hoá. V.I.Lênin đã đưa ra khái niệm:
Sản xuất hàng hoá chính là cách tổ chức của kinh tế xã hội, trong đó sản phẩm
đều do những người sản xuất cá thể, riêng lẻ, sản xuất ra, mỗi người chuyên
làm ra một thứ sản phẩm nhất định, thành thử muốn thoả mãn các nhu cầu của
xã hội thì cần phải có mua bán sản phẩm (vì vậy sản phẩm trở thành hàng
hoá) trên thị trường.
V.I. Lênin chỉ rõ: chủ nghĩa tư bản chính là một giai đoạn phát triển của
sản xuất hàng hoá, trong đó không những sản phẩm lao động của con người
trở thanh hàng hoá, mà ngay cả bản thân sức lao động của con người cũng trở
thành hàng hoá.
Như vậy là trong sự phát triển lịch sử của chủ nghĩa tư bản, có hai
nhân tố quan trọng:
1) sự chuyển hoá nền kinh tế tự nhiên của những người trực tiếp sản
xuất thành nền kinh tế hàng hoá.
2) sự chuyển hoá nền kinh tế hàng hoá thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Sự chuyển hoá thứ nhất xảy ra là do xuất hiện sự phân công xã hội,
nghĩa là sự chuyên môn hoá những người sản xuất cá thể, riêng lẻ. Đó là điều
kiện không thể thiếu của nền kinh tế hàng hoá, chỉ chuyên về một ngành công
nghiệp mà thôi. Sự chuyển hoá thứ hai xảy ra là do những người sản xuất
7
riêng lẻ, trong khi từng người riêng rẽ sản xuất hàng hoá cho thị trường, thì đã
ở vào các quan hệ cạnh tranh với nhau: người nào cũng cố bán đắt hơn, mà
mua thật rẻ. Kết quả tất yếu của việc đó là người mạnh thì mạnh thêm, người
yếu thì suy sụp đi, một số ít giàu có lên và quần chúng thì bị phá sản, khiến
cho những người sản xuất độc lập biến thành công nhân làm thuê, và số đông
những doanh nghiệp nhỏ biến thành một số ít những xí nghiệp lớn.
Để chỉ rõ cả hai nhân tố đó trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, và
những thay đổi mà sự phát triển đó gây ra cho quy mô của thị trường, nghĩa là
cho số lượng những sản phẩm biến thành hàng hoá. V.I. Lênin đã phân tích
ảnh hưởng của chỉ riêng hai nhân tố đã nói trên của sự phát triển của chủ
nghĩa tư bản đối với thị trường và vạch rõ những sự thay đổi tuần tự xảy ra
trong hệ thống kinh tế của một công xã gồm có 6 nhà sản xuất được khái quát
ra trong 6 thời kỳ thể hiện các giai đoạn chuyển hoá của nền kinh tế tự nhiên
thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
1.4. Những kết luận về thị trường
Từ những vấn đề nêu trên, V.I. Lênin đã đưa ra ba kết luận:
Kết luận thứ nhất: Khái niệm "Thị trường" hoàn toàn không thể tách
rời khái niệm phân công xã hội được, sự phân công này, như Mác đã nói, là
"Cơ sở chung của mọi nền sản xuất hàng hoá" và do đó, chúng tôi xin nói
thêm, là cơ sở của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Hễ ở đâu và khi nào có phân
công xã hội và sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy, có "thị trường".
Quy mô của thị trường gắn chặt với trình độ chuyên môn hoá của lao
động xã hội. "Hàng hoá chỉ mang cái hình thái vật ngang giá chung, được xã
hội thừa nhận, khi nó ở dạng tiền, mà tiền thì lại ở trong túi kẻ khác. Muốn
moi được tiền ở trong túi người khác ra, trước hết hàng hoá phải là giá trị sử
dụng đối với người có tiền, và do đó lao động đã được tiêu phí để sản xuất
hàng hoá đó phải được tiêu phí dưới một hình thức có ích cho xã hội, nói một
cách khác, lao động đó phải là bộ phận cấu thành của phân công xã hội.
Nhưng phân công lao động lại là một cơ thể sản xuất được hình thành một
8
cách tự nhiên, một cơ thể mà những mô của nó đã và tiếp tục chằng chịt với
nhau mà những người sản xuất không hay biết. Có thể, hàng hoá là sản phẩm
của một loại lao động mới, tức là loại lao động nhằm thoả mãn một nhu cầu
mới hoặc do sự ra đời của mình mà tạo ra nhu cầu mới.
Một động tác đặc biệt nào đó trong quá trình lao động, hôm qua còn là
một trong rất nhiều những chức năng của cùng một người sản xuất hàng hoá,
thì có thể hôm nay đã tách ra khỏi quá trình đó, đứng riêng ra, và chính nhờ
vậy mà đem được cái sản phẩm bộ phận của nó ra thị trường làm một hàng
hoá độc lập". Cho nên giới hạn phát triển của thị trường trong xã hội tư bản
chủ nghĩa là do giới hạn chuyên môn hoá lao động xã hội quyết định. Mà sự
chuyên môn hoá đó, xét về bản chất của nó, là vô cùng tận, cũng như sự tiến
bộ kỹ thuật vậy. Muốn nâng cao được năng suất của lao động con người dùng,
chẳng hạn, vào việc làm ra một bộ phận nào đó của một sản phẩm toàn bộ, thì
phải làm cho việc sản xuất bộ phận đó được chuyên môn hoá đi để trở thành
một ngành sản xuất riêng biệt, sản xuất được hàng loạt sản phẩm và vì lẽ đó
có thể (và cần phải) sử dụng máy móc v.v.. đó là một mặt. Mặt khác, trong xã
hội tư bản chủ nghĩa, sự tiến bộ kỹ thuật là ở chỗ xã hội hoá lao động; mà sự
xã hội hoá này tất nhiên đòi hỏi phải chuyên môn hoá các chức năng khác
nhau của quá trình sản xuất, phải biến những chức năng đó từ chỗ là phân tán,
cá thể, lặp đi lặp lại một cách riêng biệt trong từng doanh nghiệp chuyên về
ngành sản xuất ấy, thành những chức năng được xã hội hoá, tập trung vào
trong một doanh nghiệp mới, và nhằm thoả mãn nhu cầu của toàn thể xã hội.
Để làm rõ hơn vấn đề trên V.I. Lênin đã đưa ra ví dụ: "Gần đây, ở Hợp chủng
quốc Bắc Mỹ, các nhà máy chế biến gỗ ngày càng được chuyên môn hoá; có
nhiều nhà máy chẳng hạn, chỉ chuyên làm cán rìu, cán chổi, hoặc bàn xếp...
Ngành máy móc phát triển không ngừng, thường xuyên phát minh ra máy mới
làm giản đơn một mặt sản xuất nào đó và giảm bớt chi phí cho mặt đó... Mỗi
một ngành, ví dụ ngành làm đồ gỗ, trở thành ngành chuyên môn hoá, đòi hỏi
những máy móc chuyên môn và những công nhân chuyên môn... Trong ngành
9
đóng xe ngựa, vành bánh xe được sản xuất trong các như máy chuyên môn (ở
Mít-xu-ri, ác-can-xát, Tê-nét xi); nan hoa thì sản xuất ở In-đi-a-na và Ô-hayô; ổ trục lại sản xuất trong các nhà máy chuyên môn ở Ken-túc-ky và I-li-noa.
Các nhà máy chuyên sản xuất toàn bộ bánh xe lại phải mua tất cả các bộ phận
riêng lẻ đó. Như vậy là có đến hàng chục nhà máy tham gia chế tạo một chiếc
xe ngựa rẻ tiền như thế". V.I. Lênin chỉ ra rằng: đó sẽ là một sai lầm khi quả
quyết rằng trong xã hội tư bản chủ nghĩa, sự mở rộng thị trường, do việc
chuyên môn hoá lao động xã hội mà có, tất phải chấm dứt ngay một khi tất cả
những người sản xuất tự cấp tự túc đã biến thành những người sản xuất hàng
hoá. Ngành sản xuất xe ngựa ở Nga từ lâu đã trở thành ngành sản xuất hàng
hoá, nhưng vành bánh xe vẫn do riêng từng xí nghiệp đóng xe (hay làm bánh
xe) tự sản xuất lấy: kỹ thuật thì thấp, sản xuất phân tán cho nhiều người sản
xuất. Tiến bộ kỹ thuật tất phải dẫn đến chỗ chuyên môn hoá và xã hội hoá các
bộ phận sản xuất và do đó đến chỗ thị trường được mở rộng thêm. ở đây cần
phải nói thêm một chút. Tất cả những điều nói trên không hề phủ nhận luận
điểm cho rằng không có thị trường bên ngoài thì một nước tư bản chủ nghĩa
không thể tồn tại được. Trong chế độ sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự thăng bằng
giữa sản xuất và tiêu dùng chỉ có được sau nhiều sự biến động; sản xuất càng
lớn, số người tiêu dùng, mà nền sản xuất đó nhằm phục vụ, càng nhiều, thì
những sự biến động đó càng mạnh. Cho nên dễ hiểu rằng khi nền sản xuất tư
sản đã phát triển đến trình độ cao thì nó không thể chỉ đóng khung trong một
quốc gia dân tộc được nữa: sự cạnh tranh bắt buộc các nhà tư bản phải ngày
càng mở rộng sản xuất và đi tìm những thị trường bên ngoài để tiêu thụ được
thật nhiều sản phẩm của họ. Hiển nhiên là một nước tư bản chủ nghĩa cần
phải có thị trường bên ngoài, điều đó không trái với quy luật là: trong nền
kinh tế hàng hoá, thị trường chẳng qua chỉ là biểu hiện của sự phân công xã
hội, và do đó nó có thể phát triển vô cùng tận, giống như sự phân công vậy,
cũng như những cuộc khủng hoảng không hề trái với quy luật giá trị. Sự lo
lắng về thị trường chỉ xuất hiện trên sách báo Nga khi mà nền sản xuất tư bản
10
chủ nghĩa của nước ta trong một số ngành (như công nghiệp dệt vải chẳng
hạn) đã phát triển đầy đủ, đã bao trùm hầu khắp thị trường trong nước, và đã
tạo thành một số ít xí nghiệp lớn. Bằng chứng xác đáng nhất để cho ta thấy
rằng cơ sở vật chất của những lời bàn bạc về thị trường và của những "vấn
đề" thị trường chính là những lợi ích của nền đại công nghiệp tư bản chủ
nghĩa ở nước ta, bằng chứng đó là: trong các sách báo ở nước ta, chưa có một
người nào tiên đoán rằng ngành thủ công nghiệp nước ta sẽ tiêu vong do chỗ
"thị trường" biến đi, mặc dù ngành thủ công nghiệp này đang sản xuất ra hơn
1 tỷ rúp giá trị và sản xuất cho chính ngay số "nhân dân" đã bị bần cùng hoá
ấy. Những lời kêu gào rằng nền công nghiệp nước ta đang tiêu vong vì thiếu
thị trường, chẳng qua chỉ là một thủ đoạn được che đậy vụng về mà các nhà
tư bản trong nước dùng để gây áp lực đối với chính trị; họ coi lợi ích túi tiền
của họ và lợi ích của "đất nước" là một (họ nhận một cách khiêm tốn là họ
"bất lực"), và lại tỏ ra có năng lực đẩy chính phủ đi theo con đường dùng
chính sách xâm chiếm thuộc địa, thậm chí lôi kéo chính phủ vào chiến tranh
để bảo vệ những lợi ích "quốc gia" kiểu ấy. Đúng là phải mắc cái bệnh quá
không tưởng và ngây thơ như phái dân tuý thì mới có thể coi những lời kêu
gào về thị trường những giọt nước mắt cá sấu đó của cái giai cấp tư sản đã
hoàn toàn được củng cố và ngày nay đã tỏ ra kiêu ngạo là một bằng chứng tỏ
rõ sự "bất lực" của chủ nghĩa tư bản nước ta!
Kết luận thứ hai: V.I. Lênin cho rằng: "sự bần cùng hoá quần chúng
nhân dân" không những không làm trở ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa tư
bản, mà trái lại, chính là biểu hiện của sự phát triển đó, và chính lại là điều
kiện của chủ nghĩa tư bản, và làm cho chủ nghĩa đó mạnh thêm. Chủ nghĩa tư
bản cần có "công nhân tự do", mà sự bần cùng hoá lại chính là ở chỗ những
người sản xuất nhỏ biến thành công nhân làm thuê.
Quần chúng bị bần cùng hoá, một số ít bọn bóc lột thì giàu lên, hai hiện
tượng đó đi đôi với nhau; các xí nghiệp nhỏ phá sản và suy sụp, còn các xí
nghiệp lớn thì mạnh lên và phát triển, hai hiện tượng đó đi đôi với nhau; cả
11
hai quá trình đó đều thúc đẩy thị trường mở rộng: người nông dân "bị bần
cùng hoá" trước kia sống bằng doanh nghiệp của mình, thì ngày nay sống
bằng "đồng lương" của mình, nghĩa là bằng việc bán sức lao động của mình;
hiện nay, họ phải mua những vật phẩm tiêu dùng cần thiết (mặc dầu với số
lượng ít hơn và chất lượng xấu hơn); mặt khác, những tư liệu sản xuất mà
người nông dân đó bị tước mất, đều tập trung vào trong tay một số ít người và
biến thành tư bản, và sản phẩm làm ra thì từ nay được đưa ra thị trường. Chỉ
có điều đó mới giải thích được hiện tượng sau đây: việc nông dân nước ta, sau
thời kỳ xoá bỏ chế độ nông nô, bị tước đoạt hàng loạt, đã không làm giảm bớt
mà còn làm tăng thêm tổng sản lượng trong nước và khiến cho thị trường
trong nước mở rộng thêm: mọi người đều biết rằng sản xuất của các nhà máy
lớn và các công xưởng lớn tăng lên rất nhiều, rằng thủ công nghiệp cũng phát
triển. Điểm đó hoạ chăng chỉ có thể còn là vấn đề tranh luận trong lĩnh vực
sản xuất nông nghiệp thôi.
Kết luận thứ ba: Về ý nghĩa của ngành sản xuất tư liệu sản xuất đòi hỏi
phải sửa chữa lại sơ đồ, V.I. Lênin đã chỉ ra, sơ đồ đó tuyệt nhiên không có ý
định mô tả toàn bộ quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, mà chỉ muốn mô
tả rằng sự thay thế kinh tế tự nhiên bằng kinh tế hàng hoá và sự thay thế kinh
tế hàng hoá bằng kinh tế tư bản chủ nghĩa đã có ảnh hưởng như thế nào đối
với thị trường. Cho nên trong sơ đồ, sự tích luỹ đã không được tính đến;
nhưng trên thực tế, xã hội tư bản chủ nghĩa không thể tồn tại được nếu không
tích luỹ, vì sự cạnh tranh bắt buộc mỗi nhà tư bản phải mở rộng sản xuất, nếu
không sẽ bị phá sản.
Toàn bộ tinh thần và tất cả ý nghĩa của cái quy luật nói rằng tư liệu sản
xuất tăng hết sức nhanh hơn, tóm lại là ở chỗ: việc lao động bằng máy móc
thay thế lao động thủ công và nói chung là sự tiến bộ kỹ thuật trong thời công
nghiệp cơ khí, đòi hỏi phải phát triển mạnh ngành khai thác than đá và sắt là
những "tư liệu sản xuất" thật sự "để chế tạo tư liệu sản xuất". V.I. Lênin phê
phán thuyết trình viên đã không hiểu được tinh thần của quy luật đó, chỉ nhìn
12
thấy sơ đồ mô tả quá trình ấy, chứ không nhìn thấy nội dung thật sự của quá
trình ấy. V.I. Lênin cho rằng: những người dân tuý chính là đang ra sức chứng
minh sự phi lý đó của chủ nghĩa tư bản ở nước Nga, vì hình nhà chủ nghĩa tư
bản ở nước Nga làm cho nhân dân phá sản mà không mang lại một tổ chức
sản xuất cao hơn. Dĩ nhiên, đó chỉ là những câu chuyện hoang đường. Lao
động bằng máy móc thay thế lao động thủ công, điều đó không có gì là "phi
lý" cả; trái lại, tất cả tác dụng tiến bộ của kỹ thuật của con người chính là ở
chỗ đó. Kỹ thuật càng phát triển cao thì nó càng lấn át lao động thủ công của
con người và đem những máy móc ngày càng phức tạp để thay thế lao động
thủ công; trong toàn bộ nền sản xuất của đất nước, máy móc và những tư liệu
cần thiết để chế tạo máy móc sẽ ngày càng chiếm địa vị lớn hơn. Như vậy, dĩ
nhiên là chia sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thành sự phát triển về bề rộng
và sự phát triển về bề sâu là không đúng; toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa
tư bản đều là do sự phân công; giữa hai mặt phát triển đó không có sự khác
nhau về "căn bản". Còn về sự khác nhau thật sự giữa hai mặt phát triển đó thì
chung quy chỉ là sự khác nhau giữa những giai đoạn khác nhau của tiến bộ kỹ
thuật. ở những giai đoạn phát triển thấp của kỹ thuật tư bản chủ nghĩa, hợp tác
giản đơn và công trường thủ công thì chưa có sản xuất tư liệu sản xuất để chế
tạo tư liệu sản xuất; chỉ đến giai đoạn cao, giai đoạn đại công nghiệp cơ khí,
ngành sản xuất đó mới xuất hiện và phát triển rất mạnh.
Ngoài ba kết luận nói trên, V.I. Lênin còn đưa ra thêm hai nhận xét:
Một là, những điều nói trên không hề phủ nhận cái "mâu thuẫn trong
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa" mà Mác đã nói tới như sau: "Công
nhân với tính cách là những người mua hàng hoá, thì rất quan trọng đối với
thị trường. Nhưng, về mặt họ là người bán hàng hoá của mình và sức lao động
thì xã hội tư bản chủ nghĩa lại có khuynh hướng hạn chế khoản trả cho công
nhân ở cái giá thấp nhất". Như trên đã nói là trong xã hội tư bản chủ nghĩa,
khu vực sản xuất xã hội làm ra vật phẩm tiêu dùng cũng không thể không phát
triển. Sự phát triển của ngành sản xuất tư liệu sản xuất chỉ đẩy lùi mâu thuẫn
13
nói trên chứ không tiêu diệt được mâu thuẫn đó. Chỉ có tiêu diệt bản thân
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì mới có thể tiêu diệt được mâu
thuẫn đó. Song, cố nhiên là, nếu coi mâu thuẫn đó là một trở ngại cho sự phát
triển đầy đủ của chủ nghĩa tư bản ở Nga (như phái dân tuý thích coi như vậy)
thì thật là hoàn toàn phi lý; vả lại, sơ đồ trên đây cũng đã giải thích đầy đủ
điều đó rồi.
Hai là, khi xét đến mối tương quan giữa sự phát triển của chủ nghĩa tư
bản và sự mở rộng của "thị trường", thì không thể bỏ qua được cái sự thật sờ
sờ là chủ nghĩa tư bản phát triển thì tất nhiên sẽ làm cho mức nhu cầu của
toàn thể dân cư và của giai cấp vô sản công nhân tăng thêm. Sở dĩ có sự tăng
thêm đó thì nói chung là vì sự trao đổi sản phẩm ngày càng diễn ra nhiều hơn,
sự trao đổi này làm cho dân cư ở thành thị và ở nông thôn, dân cư các khu vực
địa lý khác nhau, v.v., càng tiếp xúc với nhau nhiều hơn. Sở dĩ có sự tăng
thêm đó, lại còn là vì mật độ và sự tập trung đông đúc của giai cấp vô sản
công nhân, làm cho trình độ giác ngộ và ý thức về nhân phẩm của giai cấp đó
được nâng cao khiến họ có thể đấu tranh thắng lợi chống những xu hướng
tham tàn của chế độ tư bản chủ nghĩa. Quy luật nhu cầu ngày càng tăng đó đã
biểu hiện rõ rệt trong lịch sử châu Âu. Chính quy luật đó cũng phát sinh tác
dụng cả ở Nga: sau khi chế độ nông nô bị xoá bỏ, nền kinh tế hàng hoá và chủ
nghĩa tư bản phát triển mau chóng cũng đã làm cho mức nhu cầu của "nông
dân" lên cao. V.I. Lênin chỉ rõ: Cái hiện tượng tiến bộ không thể chối cãi đó
phải được coi là công lao của chủ nghĩa tư bản Nga, chứ chả phải của ai khác,
điều đó ít ra cũng được chứng minh bằng sự thật dưới đây mà mọi người đều
biết (sự thật đó đã được tất cả những người nghiên cứu các nghề thủ công
nghiệp nước ta và kinh tế nông dân nói chung, nêu ra) là: nông dân các vùng
công nghiệp sống "sạch sẽ" hơn nhiều so với những nông dân chỉ làm nghề
nông và hầu như không bị chủ nghĩa tư bản đụng chạm tới. Cố nhiên là hiện
tượng đó biểu hiện trước hết và dễ nhất ở việc tiếp thu cái mặt có tính chất
hoàn toàn bề ngoài và phô trương của "văn minh". Nhưng chỉ có những kẻ
14
phản động ra mới đi khóc than hiện tượng đó và chỉ coi đó là một sự "suy
đồi".
Để khẳng định chủ nghĩa tư bản ở Nga không những tồn tại mà nó còn
phát triển mạnh mẽ V.I.Lênin đã đưa ra một một loạt các số liệu về tình hình
kinh tế của nước Nga để đập lại lập luận của phái dân tuý cho rằng: do không
có thị trường nên chủ nghĩa tư bản ở nước Nga không thể phát triển khắp nơi
được. Từ thực trạng nền kinh tế nước Nga V.I.Lênin rút ra: sự phát triển của
chủ nghĩa tư bản cũng như sự bần cùng hoá quần chúng lao động ở Nga
không còn là hiện tượng ngẫu nhiên mà là hiện tượng đó là tất nhiên đi kèm
với sản xuất hàng hoá, phân công lao động xã hội. Như vậy, sẽ không còn tồn
tại vấn đề thị trường do phái dân tuý đưa ra để biện hộ cho sự tồn tại và phát
triển chủ nghĩa tư bản ở Nga.
Cuối cùng V.I.Lênin trình bày những kết luận trên cơ sở phân tích
những luận điểm đầy mâu thuẫn của đại biểu phái dân tuý ở Nga, Họ cho
rằng: Điều "trở ngại" lớn nhất cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga, là
sự "thu hẹp" thị trường trong nước, sự "giảm bớt" sức mua của nông dân.
Qua nghiên cứu tác phẩm “bàn về cái gọi là vấn đề thị trường” cho ta
thấy:
Thứ nhất, tác phẩm “Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường” của V.I.
Lênin, đây là một tác phẩm mẫu mực về sự vận dụng sáng tạo lý luận Học
thuyết kinh tế của C.Mác vào nghiên cứu chế độ kinh tế - xã hội ở nước Nga
cuối thế kỷ XIX.
Thứ hai, là tác phẩm V.I. Lênin tập trung phê phán quan điểm của phái
dân tuý về khả năng, điều kiện phát triển chủ nghĩa tư bản ở nước Nga là
không có khả năng phát triển được. Lý do họ đưa ra là: do thị trường bị thu
hẹp, những người sản xuất nhỏ bị phá sản bởi công nghiệp phát triển, dẫn đến
không có nới tiêu thụ hàng hoá dẫn đến phá sản. Do đó, để phát triển được
chủ nghĩa tư bản phải phát triển sản xuất nhỏ và chiếm thị trường ngoài nước
thì mới phát triển được thị trường.
15
Thứ ba, tác phẩm tập trung đấu tranh chống phái “Mác xít hợp pháp”
và phái “Dân tuý” khi hai phái này cho rằng: Cần phải phát triển thị trường
ngoài nước để thực hiện giá trị thặng dư; rằng hai khu vực sản xuất xã hội
không có quan hệ với nhau.
Thứ tư, thông qua tác phẩm, V.I. Lênin đấu tranh, bảo vệ, phát triển
những ván đề lý luận về: tái sản xuất của Mác và về kinh tế hàng hoá. V.I.
Lênin đã đề cập đến mối tương quan giữa hai khu vực sản xuất có mối quan
hệ khăng khít với nhau; V.I. Lênin cũng chỉ rõ: ưu tiên khu vực I đối với khu
vực hai đó là: sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh
nhất; sau đến sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu tiêu dùng; và chậm
nhất là sự phát triển của sản xuất tư liệu tiêu dùng. V.I. Lênin cũng phát triển
lý luận về tái sản xuất của Mác khi cấu tạo hữu cơ thay đổi.
Thứ năm, tác phẩm để lại cho chúng ta bài học sâu sắc trong việc đấu
tranh, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Ăngghen trong giai đoạn mới.
Thấy được Học thuyết của Mác là một học thuyết mở, cho nên chúng ta phải
tiếp tục bổ sung, phát triển phù hợp với sự vận động của tình hình thế giới và
thực tiễn đất nước trong giai đoạn cách mạng mới.
II. vận dụng của đảng ta về phát triển thị trường trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam
Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển sang vận hành theo cơ chế mới
từ năm 1986. Sự kiện đánh dấu bước chuyển này là việc Hội nghị Trung ương
sáu khoá VI khẳng định đường lối đổi mới kinh tế của Đảng: Phát triển nền
kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội,
coi chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần là vấn đề có ý nghĩa chiến
lược, lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đường
lối kinh tế ấy được tiếp tục khẳng định tại các kỳ Đại hội VII, VIII, IX, X của
Đảng và trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.
16
2.1. Nhận thức của Đảng ta về phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội VI của Đảng đã xác định dứt khoát phải từ bỏ nhận thức sai
lầm, những quan điểm lỗi thời, lạc hậu về chủ nghĩa xã hội, đặt vấn đề phải
nhận thức lại cho đúng những quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội; phải căn cứ vào những điều kiện lịch sử
mới của Việt nam và thời đại để vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trọng tâm là phải vượt qua mô hình
chủ nghĩa xã hội cũ để xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội mới ở Việt Nam - mô
hình hướng sự phát triển của đất nước đi tới thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
Như vây, để khắc phục được khuyết điểm, chuyển biến được tình hình đất
nước, trước hết Đảng phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy. Sự khẳng định
ấy là hết sức quan trọng và có ý nghĩa quan trọng nhất đối với công cuộc đổi
mới kinh tế ở Việt nam. Thực tiễn đổi mới kinh tế ở Việt Nam từ đại hội VI
đến nay cho thấy, Đảng, Nhà nước ta đã có sự đổi mới tư duy về nhiều vấn đề
trên những lĩnh vực quan trọng, đặt nền tảng cho sự hình thành, phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trước đây, ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa (trong đó có Vịêt Nam) đã có
quan điểm sai lầm; đối lập một cách máy móc chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa
tư bản, đối lập chủ nghĩa xã hội với kinh tế thị trường, đồng nhất kinh tế thị
trường với chủ nghĩa tư bản và coi nó là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản.
Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở nước ta đã có sứ mệnh lịch
sử quan trọng, nhất là thời kỳ động viên toàn bộ sức lực của nền kinh tế để
thực hiện hiệm vụ hàng đầu là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,
nhưng mô hình kinh tế ấy ngày càng bộc lộ rõ nhiều khuyết điểm và tỏ ra kém
hiệu quả. Thực tế đó không những đòi hỏi, mà còn thúc đẩy nhanh quá trình
nhận thức lại về chủ nghĩa xã hội, về kinh tế kế hoạch hoá tập trung và về
kinh tế thị trường. Sự nhận thức lại đó được thể hiện ở chỗ không còn đồng
17
nhất kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản nữa, chính vì vậy mà đã xoá bỏ
dần thái độ định kiến, kỳ thị đối với các học thuyết kinh tế thị trường.
Khi coi kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa
tư bản và nhìn nhận chủ nghĩa tư bản có những thành công trong phát triển
kinh tế thị trường thì vấn đề đặt ra là chủ nghĩa xã hội phải sử dụng tốt kho
tàng lý luận về kinh tế thị trường và vận dụng hợp lý các quy luật của kinh tế
thị trường mới nhanh chóng đạt được mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh” một cách lâu bền.
Kinh tế thị trường không phải là vấn đề hoàn toàn mới và càng không
phải xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên một phương diện nào đó, xây dựng
và phát triển kinh tế thị trường là sự trở lại với chủ nghĩa Mác- Lênin chân
chính, xoá đi những giải thích lệch lạc, vận dụng không đúng hoặc cố tình
xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng đã đề ra
đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội đưa ra những niệm mới về con
đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong thơì kỳ quá độ; về cơ cấu kinh tế;
thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và thị trường; phê
phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp và khẳng định chuyển hẳn
sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp
lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy
nhân tố con người; có nhận thức mới về chính trị - xã hội.
Hội nghị Trung ương sáu khoá VI (3-1989) phát triển thêm một bước,
đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều
thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi chính sách kinh tế nhiều thành phần có
ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã
18
hội. Từ đó, các khái niệm, phạm trù của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường
như: cung - cầu, giá cả, thị trường, lỗ, lãi bắt đầu được làm quen và sử dụng.
Thừa nhận trong nền kinh tế thời kỳ quá độ có nhiều hình thức sở hữu,
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được thừa nhận trên thực tế và có những
chính sách khuyến khích phát triển. Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu,
bao cấp dần dần được loại bỏ và thay thế bằng cơ chế quản lý hạch toán kinh
doanh. Các chỉ tiêu, kế hoạch pháp lệnh và chế độ phân phối theo chế độ tem
phiếu dần dần được loại bỏ. Có thể nói, sự đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta
tại Đại hội VI về kinh tế thị trường đặt nền tảng ban đầu cho toàn bộ tiến trình
đổi mới và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội VII của Đảng tiếp tục làm rõ hơn chủ trương, đường lối của
Đại hội VI và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Cương lĩnh năm 1991 của Đảng khẳng định: “Phát triển một nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa”1.
Đại hội VIII của Đảng đưa ra một kết luận mới rất quan trọng: “Sản
xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển
của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng” 2. Tuy
nhiên, lúc đó cũng mới nói kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trường, chưa dùng
khái niệm “kinh tế thị trường”.
Đại hội IX của Đảng (4-2001) đã chỉ rõ: “Thực hiện nhất quán và lâu
dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá hiều thành phần vận động theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”3.
1
Đảng Cọng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb,
Sự thật, H, 1991, tr 11.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb, Chính trị quốc gia, H,
1996, tr.97.
3
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb, Chính trị quốc gia, H,
2001, tr.86.
19
Đại hội X của đảng tiếp tục khẳng định: “Thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng, thị trường hàng hoá
phát triển tương đối nhanh; một số thị trường mới đã hình thành” 4 và “Tiếp
tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”5.
Đại hội XI của đảng tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; đổi mới mô hình tăng trưởng
và cơ cấu kinh tế; đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển nhanh, bền vững
nền kinh tế”. Trong đó, Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh
tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, là một trong ba đột
phá chiến lược trong 10 năm tới.
Nhận thức và lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị
trường và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế khách quan
của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Chính là trên cơ sở nhận thức
tính quy luật phát triển của thời đại và khát quát, đúc rút kinh nghiệm phát
triển kinh tế thị trường thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam và Trung Quốc, Đảng ta đưa ra chủ trường phát triển thị
trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với
xu thế hội nhập, hợp tác khu vực và thế giới.
2.2. Thực tiễn xây dựng và phát triển thị trường trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Nước ta hơn 20 năm qua
Như chúng ta đã biết, chuyển sang xây dựng và phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải thay đổi nhận thức về
quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thị trường. Sự thay đổi đó là sự đổi mới
nhận thức lý luận rất quan trọng. Bởi lẽ, sự thừa nhận tính hàng hoá, các yếu
4
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb, Chính trị quốc gia, H, 2006,
tr.57.
5
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb, Chính trị quốc gia, H, 2006,
tr.77.
20
tố cơ bản của quá trình sản xuất sẽ mở đường cho sự tự do kinh doanh, cho sự
đổi mới các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ, giá cả.
Hội nghị Trung ương sáu khoá VI thật sự hình thành tư duy mới về
kinh tế hàng hoá, thừa nhận tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và dịch vụ đều
là hàng hoá, được mua, bán tự do theo giá cả thoả thuận trên trị trường. Đại
hội VII của Đảng khẳng định rõ hơn: từng bước hình thành đồng bộ các thị
trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, dịch vụ, thị trường vốn, thị trường
tiền tệ, thị trường ngoại hối, thị trường sức lao động. Đến đại hội X Đảng ta
khẳng định: “Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bước
đầu được xây dựng. Thị trường hàng hoá phát triển tương đối nhanh; một số
loại thị trường mới được hình thành” 6 và “ Tiếp tục hoàn thiện thể chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa”7.
Đại hội XI, tiếp tục khẳng định: “Phát triển đồng bộ các yếu tố thị
trường và các loại thị trường”. Trong đó, phát triển đa dạng, đồng bộ, ngày
càng văn minh, hiện đại các thị trường hàng hóa, dịch vụ. Phát triển vững
chắc thị trường tài chính với cơ cấu hoàn chỉnh, vận hành an toàn, được quản
lý giám sát hiệu quả. Phát triển và kiểm soát có hiệu quả thị trường chứng
khoán …Đồng thời Đảng ta cũng khẳng đinh rõ: “Nâng cao vai trò lãnh đạo
của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN”.
Tuy nhiên, trong thời gian đầu của công cuộc đổi mới, sự thừa nhận sự
tồn tại của một số loại thị trường về yếu tố sản xuất (thị trường sức lao động,
thị trường bất động sản, thị trường tài chính) vẫn còn dè dặt và trên thực tế đã
xuất hiện nhưng còn ở dạng sơ khai, trình độ phát triển còn thấp. Đến nay,
chúng ta đã xây dựng được một hệ thống thị trường đầy đủ, đáp ứng yêu cầu
hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với tình hình đất nước hiện nay. Trong đó:
- Thị trường hàng hoá - dịch vụ
6
7
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.57.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.77.
21
Trong khuôn khổ pháp lý đã có, thị trường hàng hoá - dịch vụ của Việt
Nam đang ngày càng phát triển, thu hút các chủ thể dựa trên các hình thức sở
hữu khác nhau tham gia, dần dần chuyển thị trường của Việt Nam vốn là
người bán, nay thành thị trường của người mua và ngày càng gắn chặt hơn với
thị trường khu vực và quốc tế. Có thể nói, thị trường hàng hoá - dịch vụ đã có
bước chuyển biến sâu sắc về tính thông thoáng, tính thống nhất, tính cạnh
tranh, sôi động và phát triển nhanh, góp phần quan trọng vào thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế quốc dân.
- Thị trường bất động sản
Sau khi luật đất đai (1993) thừa nhận đất có giá, thừa nhận quyền sử
dụng lâu dài về đất đai được Nhà nước giao cho các chủ thể, thừa nhận quyền
sử dụng ấy là hàng hoá đặc biệt đã tạo ra sự đột phá trong nhận thức về thị
trường bất động sản và đã thật sự khai thông các mối quan hệ về thị trường
bất động sản, trong đó có đất đai. Từ đó đến nay, đặc biệt trong những năm
gần đây, các quan hệ mua bán bất động sản, quan hệ chuyển đổi quyền sử
dụng đất diễn ra khá sôi động, nhất là ở các thành phố lớn, các khu công
nghiệp . Song thị trường bất động sản chính thức mới được hình thành và phát
triển trong thời gian gần đây.
- Thị trường sức lao động
Thị trường sức lao động - theo cách nói thông thường là thị trường lao
động. Đó là một trong những loại thị trường cơ bản và có vị trí quan trọng
trong hệ thống các loại thị trường ở Việt Nam và cũng là loại thị trường hình
thành muộn so với các loại thị trường khác, vì có liên quan tới việc có thừa
nhận hay không hàng hoá sức lao động. Từ khi Bộ luật lao động ra đời (61994) đến nay đã tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển các hợp đồng lao động:
quan hệ kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm
có trả công. Cũng từ đây dần dần hình thành thị trường tìm việc làm và thị
trường tìm người làm việc. Các trung tâm giới thiệu việc làm của các tổ chức
(được Nhà nước cho phép) dần trở thành chủ thể kinh doanh trên thị trường
22
tìm việc làm và tìm người làm việc. Song song với các tổ chức đó, các trung
tâm dạy nghề, các trường kỹ thuật đã hình thành ở nhiều địa phương trong cả
nước, góp phần nâng cao số lượng và chất lượng lao động qua đào tạo lên
bước mới.
Trong những năm gần đây, việc cho phép một số doanh nghiệp có khả
năng, điều kiện tổ chức ký hợp đồng lao động với các công ty nước ngoài tổ
chức xuất khẩu lao động đã trở thành một chính sách lớn của Nhà nước. Có
thể nói, thị trường lao động đã hình thành, nhưng còn ở trình độ thấp. Tuy
vậy, nó đã tác động tích cực tới tốc độ phát triển kinh tế -xã hội của đất nước.
- Thị trường tài chính
Cùng với việc tái cơ cấu lại ngân hàng nhà nước (thành ngân hàng nhà
nước và ngân hàng thương mại); việc ban hành Luật ngân hàng, Luật Các tổ
chức tín dụng, Pháp lệnh về trái phiếu; việc ban hành và hoàn thiện thường
xuyên các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ trong những
năm qua đã thúc đẩy thị trường tài chính thật sự hình thành và phát triển, bao
gồm: thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán. Hoạt động
của các thị trường này ngày càng hướng vào mục tiêu huy động vốn phục vụ
cho đầu tư phát triển, cho các mục tiêu kinh tế - xã hội đất nước.
Tuy nhiên, thị trường vốn cũng còn rất sơ khai. Hoạt động của các
ngân hàng thương mại nhà nước còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tính cạnh tranh
trên thị trường tiền tệ - tín dụng còn yếu. Thị trường chứng khoán hoạt động
chưa hiệu quả, xuất hiện tình trạng “đầu cơ”, sự tham gia của các doanh
nghiệp lớn còn hạn chế.
- Thị trường khoa học và công nghệ
Quá trình hình thành và phát triển thị trường khoa học và công nghệ
của Việt Nam được đặc biệt coi trọng khi thực hiện đường lối công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, khi Đảng và Nhà nước coi phát triển khoa học và
công nghệ là quốc sách hàng đầu và khẳng định vai trò then chốt của khoa
học và công nghệ trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ
23
khi Luật khoa học và công nghệ được ban hành (năm 2000), các cơ quan khoa
học và các đơn vị sản xuất đã bắt đầu có sự hợp tác, liên kết, hợp đồng với
nhau để chuyển giao kết quả nghiên cứu; các hoạt động dịch vụ khoa học, tư
vấn và thông tin khoa học và công nghệ cũng được hình thành và phát triển.
Tuy vậy, thị trường khoa học và công nghệ phát triển còn chậm và còn nhỏ
bé, nhiều yếu tố thị trường này vẫn đang cần được thúc đẩy hình thành, chẳng
hạn: các vấn đề nhà kinh doanh khoa học và công nghệ biến sản phẩm nghiên
cứu khoa học thành hàng hoá.
2.3. Tích cực mở rộng thị trường ra bên ngoài theo quan điểm:
Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo phương châm Việt Nam sẵn sàng
là bạn, là đối tác tin cậy, tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Mở cửa nền kinh tế, hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế là sự
đổi mới mang tính bước ngoặt trong tư duy kinh tế của Đảng và Nhà nước
Việt Nam. Cùng với sự đổi mới tư duy về kinh tế, nhận thức về vai trò, vị trí
cũng như cách thức quản lý các quan hệ kinh tế đối ngoại cũng đã có từng
bước thay đổi. Trước hết là sự thay đổi quan niệm về độc lập tự chủ trong
kinh tế. Trước đây, độc lập tự chủ được hiểu là phải tự sản xuất lấy những sản
phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, hợp tác với nước ngoài hạn
chế ở mức độ cần thiết và với chỉ một khu vực kinh tế là các nước xã hội chủ
nghĩa. Nói cách khác, độc lập tự chủ khi ấy được đồng nghĩa với “bế quan toả
cảng, tự cấp tự túc”.
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, chúng ta đã ý thức được sự
bất hợp lý của quan niệm cũ về độc lập tự chủ trong kinh tế, cũng như sự bất
lợi của lệ thuộc vào bên ngoài, nhất là vào một khu vực kinh tế duy nhất và
thấy rõ ràng, kinh tế mạnh là tiền đề, điều kiện đảm bảo cho sự độc lập tự
chủ; giữ vững độc lập tự chủ không chỉ bằng cách phát triển kinh tế theo kiểu
“khép kín, đóng cửa”, trái lại bằng chủ trương xây dựng nền kinh tế mở.
Trong điều kiện một nền kinh tế thế giới thống nhất, xu hướng toàn
cầu hoá kinh tế, phân công lao động quốc tế sâu rộng thì sự giao lưu kinh tế
24
tăng vọt, trình độ phát triển kinh tế cao, buôn bán vật tư, kỹ thuật, vốn, hợp
tác quốc tế diễn ra hết sức sôi động, khiến cho các nền kinh tế dân tộc lệ
thuộc lẫn nhau và không một nền kinh tế nào phát triển một cách cô lập,
“đóng cửa”. Hơn nữa, do yêu cầu phát triển kinh tế của mình, mỗi nước cần
tiếp cận với thế giới bên ngoài, thực thi nền kinh tế mở nhằm tranmh thủ mọi
nguồn lực (vốn, khoa học -công nghệ hiện đại, kinh nghiệm tổ chức và quản
lý tiên tiến) cùng với những ưu thế của phân công lao động quốc tế để khai
thác và phát huy các nguồn lực trong nước xây dựng và phát triển kinh tế là
tất yếu và hợp quy luật.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác
định: “ Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ
hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ
lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất", “Chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ
nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020”8.
Nghị quyết Đại hội XI khẳng đinh: “Mở rộng hoạt động đối ngoại,
chủ động và tích cực hội nhập quốc tế…Tham gia các cơ chế hợp tác chính
trị, an ninh, kinh tế song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia trên cơ
sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế…”
Kết quả là, từ chỗ bị bao vây, cấm vận, đến nay Việt Nam đã có quan
hệ kinh tế - thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên
của hiệp hội các nước Đông - Nam á; tham gia vào khu vực mậu dịch tự do
châu (AFTA); tham gia diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) mà Việt Nam là một
sáng lập viên; là thành viên của (APEC); trở thành thành viên chính thức của
tổ chức thương mại thế giới WTO.
Kết luận
8
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.113.
25
Trung thành lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
nghiên cứu kế thừa có chọn lọc Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lê nin;
nghiên cứu các mô hình kinh tế thị trường trên thế giới trong đó mô hình kinh
tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc. Đảng và Nhà nước ta đã vận
dụng linh hoạt, sáng tạo và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lê nin lên một
tầm cao mới, trong thời kỳ mới, phù hợp với xu thế hiện nay trong khu vực,
thế giới và điều kiện thực tiễn đất nước. Đảng chủ trương xoá bỏ cơ chế kế
hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển hẳn sang phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quyết định táo bạo, sáng suốt,
đúng đắn và khoa học, một quyết định mang tính bước ngoặt của cách mạng
Việt Nam trong thời kỳ mới.
Quá trình phát triển tư duy lý luận và phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa trong hơn 20 năm qua, nhân dân Việt Nam dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan
trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị , văn hoá - xã
hội, quốc phòng - an ninh. Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, từ khi bước vào
thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế
nước ta đã đạt được nhều kết quả và thành tựu đáng kể, làm thay đổi khá rõ
tình hình đất nước đó là: Trong đổi mới tư duy lý luận hình thành tư duy kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thoát ra khỏi tình trạng
trì trệ, khủng hoảng, làm thay đổi căn bản vị thế, tầm vóc và tình trạng của nó,
tạo nên thế và lực mới; kinh tế tăng trưởng nhanh, giảm và kiềm chế lạm phát
ở mức một con số; tích luỹ tiêu dùng được cải thiện đáng kể; của cải của xã
hội ngày càng nhiều, hàng hoá phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của nhân
dân. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, từng bước hiện
đại hoá, phát huy lợi thế so sánh ngành và vùng lãnh thổ. Chuyển nền kinh tế
từ khép kín, bị bao vây, cấm vận sang nền kinh tế mở và tăng cường hội nhập
kinh tế quốc tế. Phúc lợi xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của người dân
được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh, thu nhập quốc dân bình