SỞ KHCN TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN KHXH VÙNG NAM BỘ
Đề tài khoa học cấp thành phố :
NGHIÊN CỨU HÔN NHÂN GIỮA PHỤ NỮ
VIỆT NAM VỚI NGƯỜI ĐÀI LOAN – THỰC
TRẠNG XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
(TP.HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC TỈNH NAM BỘ)
Chủ nhiệm : PGS-TS PHAN AN
Thư ký
: Ths. PHAN QUANG THỊNH
Thành phố Hồ Chí Minh, 4/2004
MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................ 1
MỞ ĐẦU
............................................................................................................ 3
1 Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................. 5
2. Vài nét về lòch sử nghiên cứu......................................................................... 8
3. Nguồn tư liệu ................................................................................................ 10
4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 11
Chương I: BỐI CẢNH XUẤT HIỆN HIỆN TƯNG HÔN NHÂN ĐÀI
LOAN - VIỆT NAM......................................................................... 12
Chương II: CÔ DÂU VIỆT NAM VÀ CHÚ RỂ ĐÀI LOAN .............................. 20
1. Cô dâu Việt Nam....................................................................................... 221
1.1. Nhân thân ............................................................................................. 221
1.2. Vì sao các cô gái Việt Nam lại kết hôn với người Đài Loan: ............. 308
2. Chú rể đài loan ........................................................................................... 321
3. Hôn nhân Đài Loan - Việt Nam ................................................................. 409
4. Các cô dâu Việt Nam trên đất người ......................................................... 454
Chương III: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI HÔN NHÂN ĐÀI
LOAN – VIỆT NAM………………………………………………………… ......................... 48
1. Tại sao xuất hiện các hoạt động môi giới? ............................................... 509
2. Những hoạt động môi giới từ phía Đài Loan............................................. 521
3. Những hoạt động môi giới từ phía Việt Nam............................................ 543
4. Các phương thức hoạt động môi giới......................................................... 576
5. Hệ quả việc không kiểm soát được các hoạt động môi giới ở Việt Nam 654
Chương IV: PHÂN TÍCH HIỆN TƯNG HÔN NHÂN ĐÀI LOAN VIỆT NAM ....................................................................................... 67
1. Tóm lược những kết quả nghiên cứu .......................................................... 698
2. Từ những góc nhìn........................................................................................ 70
1
3. Cái nhìn của chúng tôi ................................................................................ 798
4. Những động thái mới trong tình hình lấy chồng Đài Loan........................ 887
Chương V: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP CHO TÌNH HÌNH LẤY
CHỒNG ĐÀI LOAN CỦA CÁC CÔ GÁI VIỆT NAM ................. 910
1. Cải thiện và nâng cao đời sống mọi mặt cho người dân vùng nông thôn
Nam Bộ...................................................................................................... 943
2. Tăng cường và nâng cao trách nhiệm của cộng đồng, xã hội.................... 987
3. Về phía Nhà nước và các cơ quan quản lý................................................ 101
4. Về vấn đề môi giới hôn nhân và con lai .................................................... 106
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 115
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 119
2
MỞ ĐẦU
Trong những năm từ năm 1998 đến năm 2003 có rất nhiều phụ
nữ Việt Nam, tập trung là ở các tỉnh Nam Bộ kết hôn với người Đài Loan.
Hiện tượng hôn nhân Đài Loan – Việt Nam đã tạo nên nhiều hệ qủa về
mặt xã hội, văn hóa, đặc biệt là các hoạt động môi giới hôn nhân mà
nhiều người gọi là “cò”. Báo chí, các phương tiện truyền thông và dư luận
cộng đồng đã nhiều cập đến tình trạng bùng phát hiện tượng hôn nhân
Đài Loan – Việt Nam. Sở khoa học – công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
đã chấp thuận và tài trợ cho một công trình nghiên cứu khoa học của
Thành phố với tên gọi: “Nghiên cứu hôn nhân giữa người Việt Nam với
người Đài Loan – Thực trạng, xu hướng và giải pháp (ở Thành phố Hồ
Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ)”. Tháng 5-2004 đề tài đã được hoàn
thành và nghiệm thu. Ý kiến kết luận của Hội đồng nghiệm thu đã đề nghò
các tác giả sửa chữa, bổ sung một số nội dung và xuất bản để làm tài liệu
tham khảo, nghiên cứu. Trên tinh thần đó, chúng tôi chủ nhiệm đề tài và
các tác giả đã cố gắng hoàn tất bản thảo, bổ sung và sửa chữa theo sự góp
ý của Hội động nghiệm thu đề tài và một số bạn đọc.
Trong thời gian qua, công việc của chúng tôi liên quan đến đề
tài đã được dư luận xã hội chú ý quan tâm. Một số kết qủa nghiên cứu đã
được báo chí, các cơ quan hữu trách tiêp nhận và sử dụng. Sau khi nghiệm
thu bước một, nhiều bài và ý kiến liên quan đến vấn đề “lấy chồng Đài
Loan” đã đăng tải trên các báo, và được dư luận chia xẻ, đặc biệt là có
một cái nhìn thỏa đáng hơn về vấn đề này. Một số bài báo cũng đã đề cập
đến trách nhiệm của xã hội, của cộng đồng đối với hiện tượng lấy chồng
Đài Loan, với thân phận của các em gái Việt Nam “khi mà cộng đồng
chưa có những phản ứng tích cực (…) về vấn đề đặt ra không chỉ là chuyện
kinh tế đơn thuần nữa. Đây còn là vấn đề văn hóa, là nỗi đau nhân tình,
không thể đặt lên bàn nghò sự của những cấp có thẩm quyền…” (Tương Lai
– Nỗi đau từ những con số – Tuổi trẻ 24/12/2003).
Ngày 28/4/2004 trong khuôn khổ việc thực hiện đề tài, chúng tôi
đã tổ chức một cuộc tọa đàm khoa học. Cuộc tọa đàm đã có sự hiện diện
của một số nhà khoa học, nhiều người làm công tác quản lý và một số
phóng viên báo chí. Cuộc tọa đàm xoay quanh vấn đề nhận diện hiện
tượng lấy chồng Đài Loan và những giải pháp đề xuất. Chúng tôi đã nghe
được nhiều ý kiến phát biểu và tranh luận của những người tham dự.
Những ý kiến từ cuộc tọa đàm đó đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc
bổ sung và hoàn tất bản báo cáo của đề tài nghiên cứu.
3
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ cuả một số cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước quan tâm
đến vấn đề hôn nhân Đài Loan – Việt Nam. Công trình đã được xuất bản,
chúng tôi xin chân thành cảm ơn GS. TS Phan Xuân Biên - Trưởng Ban Tư
Tưởng Văn Hóa Thành y TP.HCM, TS Nguyễn Minh Hòa – Giám đốc
Trung Tâm Nghiên Cứu Đô Thò và Phát Triển Cộng Đồng, ThS Võ Trung
Tâm – Sở Lao Động Thương Binh và Xã Hội TP.HCM, TS Phan Đình
Khanh – Viện Kiểm Sát Nhân Dân TP.HCM, CN Ngô Minh Hồng – Phó
Giám Đốc Sở Tư Pháp TP.HCM, Trung tá Đoàn Văn Chín – Phó Văn
phòng Công An TP.HCM, ThS Nguyễn Thò Thanh Bình – Phó Trưởng
Phòng Quản Lý Nghiên Cứu Khoa Học Sở Khoa Học và Công Nghệ
TP.HCM, GS TS Nguyễn Thế Nghóa – Viện Trưởng Viện KHXH Vùng
Nam Bộ, Ông David Ngô – Chủ nhiệm văn Phòng Kinh tế và Văn hóa
Đài Bắc tại TP.HCM, và nhiều người khác nữa….
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6-2004
Các tác giả
4
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một thống kê mới nhất của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Đài Bắc tại TP.
Hồ Chí Minh cho biết từ năm 1995 đến tháng 1 năm 2004 đã có tổng cộng
75.251 cô gái Việt Nam kết hôn với đàn ông đến từ Đài Loan.
Bảng 1:
Số phụ nữ Việt Nam
Năm
kết hôn với người Đài Loan
1995
1.476 người
1996
3.351
1997
4.827
1998
5.035
1999
8.482
2000
13.863
2001
12.417
2002
13.743
2003
11.358
2004 (tính đến tháng 1)
699
Tổng cộng:
75.251 người
Nguồn: Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Đài Bắc tại TP. Hồ Chí Minh – 04/2004.
Đối chiếu số liệu trên đây với số liệu của Văn phòng Cục Lãnh sự - Bộ
Ngoại giao Đài Loan có một vài khác biệt. Theo Văn phòng Cục Lãnh sự – Bộ
Ngoại giao Đài Loan, số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan
như sau:
Bảng 2:
Năm
Số phụ nữ VN kết hôn với Tỷ lệ cô dâu VN/ cô dâu Đông
người Đài Loan (người )
Nam Á ở Đài Loan(%)
1994
530
10,8
1995
1.969
26,0
1996
4.113
36,7
1997
9.060
56,6
1998
4.644
52,3
1999
6.790
54,8
5
20001
4.492
61,6
Nguồn: Thái Nhã Ngọc – Sơ bộ nghiên cứu hiện tượng hôn nhân xuyên quốc
gia Việt Nam – Đài Loan, 1.2001. Dẫn lại từ Cục Lãnh sự Bộ Ngoại
giao Đài Loan tính đến tháng 5/2000.
Số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan đã được Văn
phòng Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao Đài Loan thống kê sớm nhất là vào năm
1994 với 530 người, và những con số từ năm 1997 trở về trước của Cục Lãnh sự
cao hơn khá nhiều so với số liệu của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Đài Bắc ở
TP. Hồ Chí Minh. Trái lại các số liệu từ năm 1998 đến năm 2000, số liệu của
Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Đài Bắc ở TP. Hồ Chí Minh lại cao hơn khá nhiều
so với số liệu của Cục Lãnh sự. Riêng số liệu của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa
Đài Bắc đã có số liệu khá đầy đủ tình hình phụ nữ Việt Nam kết hôn với người
Đài Loan cho đến tháng 1-2004. Từ các bảng thống kê này cho thấy số lượng
phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan tăng cao nhất vào năm 2000 và
các năm tiếp theo 2001, 2002, 2003 vẫn tiếp tục giữ ở mức cao trên 11.000 mỗi
năm. Tháng 4 năm 2000 có số các cuộc kết hôn cao nhất với 1.412 đôi. Tháng
3, 4, 5 năm 2002 mỗi tháng có khoảng trên dưới 1350 cặp kết hôn, tháng 1.2004
có 699 cặp kết hôn, thấp hơn cùng kỳ năm trước gần 100 cặp.
Bảng 3: Số Visa của Đài Loan đã cấp cho những người hôn phối di trú đến Đài Loan
Năm
Thái Lan Malaysia
Philippine
Indonesia
Singapore
& Myama
Trung
Việt
Quốc
Nam
1994
870
55
1183
2247
14
7885
530
1995
1301
86
1757
2409
52
9180
1969
1996
1973
73
2085
2950
18
9349
4113
1997
2211
96
2128
2464
50
8951
9060
1998
1173
102
544
2331
85
10528
4644
1999
1184
106
603
3643
12
13046
6790
2000
1259
65
487
4381
3
15769
12327
Tổng số
9971
583
878
20425
234
74708
39433
Nguồn: Văn phòng Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại giao Cộng hòa Trung Hoa (Đài Loan)–
1994 – 1998 và 1999 – 2000 (theo Wang Hong Zen)2
1
2
Về số liệu năm 2000 trong Bảng 2 chỉ tính đến tháng 5. Theo Wang Hong Zen trong: Hàng
hóa hôn nhân quốc tế: Kinh doanh hôn nhân xuyên biên giới ở Đài Loan và Việt Nam. Đại
học Quốc gia Chung Hsing. Đài Loan tháng 12/ 2002.
Wang Hong Zen – xem tài liệu tham khảo
6
Theo con số của các cơ quan thông tấn, và Văn phòng Kinh tế - Văn hóa
Việt Nam tại Đài Bắc, tính đến tháng 1 năm 2003 có khoảng 30.000 lao động
Việt Nam đang làm việc tại Đài Loan. Như vậy cộng đồng người Việt ở Đài
Loan lên đến hơn 100.000 người, trong đó số phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài
Loan đông gấp hai lần rưỡi số người lao động làm thuê. Từ những năm sau năm
1998, số lượng các cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan đột ngột tăng cao, ở
một vài đòa phương của Nam Bộ đã rộ lên những “cơn sốt”, hoặc “phong trào”
lấy chồng Đài Loan, như từ ngữ thường dùng của vài tờ báo.(1)
Tình trạng lấy chồng Đài Loan trong những năm qua của các cô gái Việt
Nam, đã dẫn đến một số hệ quả:
-
Mục đích của các cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan không hoàn
toàn xuất phát từ tình yêu, mà phần nhiều từ mục đích kinh tế, lấy
chồng ngoại với hi vọng có tiền giúp đỡ gia đình lúc khó khăn. Nhưng
thực tế không ít người không đạt được hoặc thất bại, kéo theo sự đổ
vỡ, và người chòu thiệt thòi, đau khổ là các cô gái Việt Nam.
-
Cũng không phải không có những trường hợp thông qua kết hôn với
phụ nữ Việt Nam, một số kẻ xấu lợi dụng để mua bán phụ nữ Việt
Nam vào mục đích vụ lợi như bắt ép các cô làm gái mại dâm, bóc lột
thân xác phụ nữ và người chòu thiệt thòi, đau khổ là các cô gái Việt
Nam.
-
Đáng chú ý là từ các “phong trào lấy chồng Đài Loan” và người Đài
Loan đổ xô sang Việt Nam tìm chọn vợ, đã tạo nên một lớp người
chuyên môi giới, trung gian, những người được gọi là “cò” hoạt động.
Hậu quả là gây nên một tình trạng lộn xộn, bát nháo, không chỉ bóc
lột các cô gái Việt Nam, mà góp phần làm rối loạn an ninh, trật tự xã
hội.
Việc kết hôn giữa người Việt Nam và người nước ngoài trong tình hình
hiện nay là điều bình thường, khi xu hướng Việt Nam mở rộng các quan hệ
ngoại giao, kinh tế và văn hóa với các nước, các lãnh thổ cũng như xu thế toàn
cầu hóa. Tuy nhiên, trường hợp kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và người Đài
Loan cho thấy có sự không bình thường không chỉ vì số lượng tăng ồ ạt trong
(1)
Một thông tin chưa được kiểm chứng khác, cho biết, hiện nay ở Đài Loan cứ 80 gia đình thì
có 1 gia đình có con dâu là người Việt Nam.
7
thời gian ngắn, lại tập trung ở các tỉnh Nam Bộ mà còn vì nhiều hệ quả khác.
Đó là những chuyện ngược đãi, lợi dụng phụ nữ Việt Nam, dưới danh nghóa hôn
nhân Đài Loan - Việt Nam, là sự hoạt động của lớp người gọi là “cò”, nhằm
kiếm chác, lừa đảo v.v…
Chúng tôi cho rằng, hiện tượng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và người
Đài Loan trong những năm gần đây là một hiện tượng xã hội đáng quan tâm và
cần lưu ý đến những hệ quả của nó, nhất là những hệ quả tiêu cực trên nhiều
mặt. Tuy nhiên, để nhận thức được vấn đề, cần có một công trình nghiên cứu
mang tính khoa học, có sự nhìn nhận vừa thực tế vừa khách quan. Và cũng từ
kết quả nghiên cứu đó, có thể có những dự báo và đề xuất những giải pháp cần
thiết, không chỉ cho hiện tượng hôn nhân Việt Nam – Đài Loan; mà cả những
vấn đề liên quan rộng hơn trong quan hệ hôn nhân giữa người nước ngoài với
người Việt Nam.
2. Vài nét về lòch sử nghiên cứu
Việc nghiên cứu hôn nhân dò tộc, hoặc hôn nhân hỗn hợp xuyên quốc gia,
đã được các nhà khoa học trên thế giới đề cập khá nhiều. Tuy nhiên, trường hợp
hôn nhân Đài Loan – Việt Nam, do mới xuất hiện trong thời gian gần đây nên
chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ. Việt
Nam, trước khi chúng tôi tiến hành công trình nghiên cứu nầy hầu như chỉ có
các thông tin, một số bài báo trên các báo và tạp chí trong nước đề cập đến vấn
đề lấy chồng Đài Loan của các cô gái Việt Nam. Trong số đó, nhiều bài đã nêu
lên những mặt tiêu cực, những thiệt thòi mà các cô gái Việt Nam phải chòu
đựng, như sự tan vỡ gia đình, bóc lột lao động, lạm dụng tình dục v.v… Gần đây,
một số sinh viên ở các trường Đại học tại thành phố Hồ Chí Minh đã chọn đề tài
hôn nhân Đài Loan – Việt Nam làm luận văn tốt nghiệp. Một vài sinh viên cũng
đã chòu khó thâm nhập thực tế tìm kiếm tư liệu và nhận dạng những kẻ môi
giới. Gần đây nhất, một cuộc hội thảo quốc tế giữa trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh và trường Đại học Quốc gia
Chinan Đài Loan về “Hoạt động kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam và Đài Loan”
đã có một số bài nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và Đài Loan đề
cập đến tình trạng hôn nhân Đài Loan – Việt Nam. Trước đó vào tháng 7 / 2002
tại các tỉnh Vónh Long, Cần Thơ và Tây Ninh với sự giúp đỡ của CARAM Việt
Nam (Chương trình can thiệp cùng với cộng đồng) đã tổ chức các cuộc hội thảo
8
với nội dung “Phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài”, mà phần nhiều
tập trung vào trường hợp hôn nhân Đài Loan – Việt Nam. Cũng cần đề cập đến
một chương trình nghiên cứu mang tên “Vấn đề kết hôn của phụ nữ Việt Nam với
người nước ngoài – Thực trạng, hệ quả giải pháp” do Toyota Foundation tài trợ
đang tiến hành. Một phần quan trọng của đề tài này được đề cập đến hôn nhân
Đài Loan - Việt Nam. Tháng 8 năm 2002 một đề tài nghiên cứu khoa học “Hôn
nhân có yếu tố nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng, vấn đề đặt ra
và phương hướng đổi mới”, do nhiều cơ quan như: Sở Tư pháp, Hội Liên hiệp
Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, Báo Pháp luật thành phồ Hồ Chí Minh đã triển
khai các cuộc điều tra và tháng 10/2003 đã tổ chức một cuộc hội thảo khoa học.
Ở Đài Loan, vấn đề kết hôn giữa người Đài Loan với các cô gái Việt Nam
cũng được một số nhà nghiên cứu chú ý, đặc biệt là sự hội nhập văn hóa của
các cô gái Việt Nam vào Đài Loan. Một trong những công trình nghiên cứu
đáng chú ý của Đài Loan trên lónh vực này là báo cáo “Nghiên cứu về sự thích
ứng với xã hội của các cô dâu nước ngoài – lấy cô dâu Việt Nam làm dẫn chứng”
của bà Lý Bình, Tổng thư kí hiệp hội nữ thanh niên Cơ đốc giáo – Đài Loan
tháng 9 – 2002. Báo cáo của bà Lý Bình đã dựa trên một số cuộc khảo sát về cô
dâu Việt Nam ở Đài Loan dã nêu ra những số liệu đáng chú ý. Giáo sư We Hui
và Giáo sư Soong Jenn Của Đại học Thành công Đài Loan có công trình nghiên
cứu “Bước đầu tìm hiểu hiện tượng cô dâu Việt Nam trong xu hướng toàn cầu
hóa”. Công trình nghiên cứu của hai vò giáo sư này cũng nêu lên những ý kiến
về xu thế của hôn nhân Đài Loan - Việt Nam, những mặt tích cực và tiêu cực
của những cuộc hôn nhân này. Các tác giả đã có những cuộc khảo sát thực tế về
các cặp vợ chồng Đài – Việt ở Đài Loan. Thái Nhã Ngọc, một nghiên cứu sinh
của trường Đại học Quốc lập Thành công, Đài Loan đãhoàn tất một luận văn
Thạc só váo tháng 01 / 2001 với đề tài “Sơ bộ nghiên cứu hiện tượng hôn nhân
xuyên quốc gia Đài – Việt”. Nội dung luận văn đã nêu được phần nào thực trạng
của tình hình hôn nhân Đài Loan – Việt Nam trong các năm qua. Tác giả, từ kết
quả nghiên cứu đã đề xuất một số kiến nghò với chính quyền Đài Loan để giúp
đỡ các cô dâu Việt Nam trên đất Đài Loan. Một luận văn của một người Đài
Loan khác (Trương Minh Thư) với tựa đề “Phân tích thò trường hôn nhân xuyên
quốc gia Đài - Việt : Sự vận hành môi giới đối với “cô dâu Việt Nam”” - được
trình bày tại Trường Đại học Đạm Giang - Đài Bắc năm 2002. Trong công trình
nghiên cứu này, tác giả tập trung xem xét hiện tượng hôn nhân Đài Loan – Việt
9
Nam ở góc độ môi giới, và thò trường môi giới của hôn nhân xuyên quốc gia Đài
Loan – Việt Nam. Tác giả cũng đã cố gắng làm rõ quan hệ và thân phận của
các “cô dâu Việt Nam” trong hôn nhân xa xứ.
3. Nguồn tư liệu:
Để thực hiện đề tài “Nghiên cứu hôn nhân giữa người Việt Nam và người
Đài Loan: thực trạng, xu hướng và giải pháp (ở thành phố Hồ Chí Minh và các
tỉnh Nam bộ)”, chúng tôi đã tiến hành thu thập các tư liệu sau:
-
Điều tra bằng bảng hỏi với 200 trường hợp các cô gái Việt Nam xin kết
hôn với người Đài Loan trong thời gian tháng 3 – 4 năm 2003. Cuộc
phỏng vấn này được tiến hành tại văn phòng Kinh tế Văn hóa Đài Bắc
tại thành phố Hồ Chí Minh.
-
Xử lý 200 phiếu sưu tra, lưu lại cơ quan xuất nhập cảnh các tỉnh Tây
Ninh, Bình Dương, Kiên Giang với 200 cặp vợ chồng Đài – Việt.
-
Khảo sát thực đòa tại các tỉnh Tây Ninh, Vónh Long, Cần Thơ, Sóc
Trăng nơi có nhiều cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan. Tại các đòa
phương này, chúng tôi đã có các cuộc tiếp xúc với các gia đình, cá nhân
có con em lấy chồng Đài Loan, một số cô gái có chồng và bỏ chồng từ
Đài Loan trở về. Chúng tôi cũng đã tổ chức các cuộc tọa đàm với chính
quyền cấp xã, huyện, cơ quan Công An, Hội Phụ nữ,… của các đòa
phương trên đây.
-
Chúng tôi đã thu thập tài liệu qua các cuộc hội thảo, các cuộc điều tra
của các cơ quan ban ngành ở các tỉnh Tây Ninh, Vónh Long, Sóc Trăng,
Cần Thơ về các nội dung có liên quan đến vấn đề lấy chồng Đài Loan
của phụ nữ đòa phương.
-
Chúng tôi cũng đã thu thập được khá nhiều bài báo của các báo ở thành
phố Hồ Chí Minh và Trung ương viết về chuyện lấy chồng Đài Loan.
-
Chúng tôi cũng đã gặp gỡ với văn phòng Kinh tế Văn hóa Đài Bắc ở
thành phố Hồ Chí Minh để trao đổi ý kiến, sưu tầm tư liệu, số liệu liên
quan đến đề tài.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, cá
nhân mà chúng tôi đã tiếp xúc, nhờ vả trong quá trình thu thập ý kiến, tư liệu
cho việc thực hiện đề tài như đã nêu trên. Điều khó khăn của chúng tôi trong
10
việc thực hiện đề tài này là chưa có nhiều cơ hội để tiếp xúc với những người
Đài Loan sang Việt Nam để lấy vợ, mặc dù ông Davit Ngô, chủ nhiệm văn
phòng Kinh tế - Văn hóa Đài Bắc tại Thành phố Hồ Chí Minh hứa sẽ giúp đỡ.
Mặt khác, chúng tôi không thể đến Đài Loan để tìm hiểu đời sống, tâm tư
nguyện vọng của các cô dâu Việt Nam trên đất Đài Loan, cũng như tìm hiểu gia
đình của họ. Rõ ràng điều đó sẽ hạn chế cho sự hiểu biết của chúng tôi khi thực
hiện đề tài. Những tư liệu về các chú rễ Đài Loan, chúng tôi dựa chủ yếu vào
nguồn tư liệu ở Đài Loan và các thông tin khác.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi quan niệm thực trạng hôn nhân Đài Loan – Việt Nam, việc các
cô gái Việt Nam kết hôn với người Đài Loan trong những năm gần đây là một
hiện tượng xã hội. Một hiện tượng xã hội có những nét đặc biệt và được xã hội
quan tâm, bởi những hệ quả của nó. Tiếp cận một hiện tượng xã hội, có thể từ
nhiều góc độ khác nhau. Ở đây là trường hợp hôn nhân xuyên quốc gia, vì vậy
cần có cái nhìn toàn diện. Trước hết là cần phân tích bối cảnh, những nguyên
nhân dẫn đến hôn nhân, thực chất hôn nhân đó là gì, quá trình diễn biến cùng
những hệ quả của nó v.v… Hiện tượng hôn nhân Đài Loan – Việt Nam, theo
chúng tôi cần phân tích kỹ góc độ trên đây và cũng cần có cái nhìn khách quan
tránh những đònh kiến và cảm xúc chủ quan. Dù sao dư luận và báo chí cũng đã
đề cập, phản ảnh quá nhiều mặt tiêu cực, ít nhiều cũng đònh hướng cho một cái
nhìn nào đó, đôi khi có cả sự thái quá. Vì vậy thái độ của người nghiên cứu cần
có sự khách quan và nhạy cảm. Chúng tôi phải dựa vào hệ thống phân tích và
số liệu điều tra, cũng như những thông tin có được để đưa ra những kết quả
mang tính đònh lượng cho sự nhận xét. Mặt khác, với những cuộc phỏng vấn ,
trao đổi ý kiến rộng rãi sẽ giúp chúng tôi có sự đònh tính cho nhiều nội dung
được đề cập trong công trình. Kết quả của công trình cũng hướng tới dự báo và
những kiến nghò, giải pháp cho hiện trạng hôn nhân Đài Loan – Việt Nam. Để
đạt được mục đích đó, trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi đã tiến
hành các cuộc điều tra xã hội học, các cuộc trao đổi, phỏng vấn với các cộng
đồng mang tính đánh giá có sự tham gia của nhiều người trong và ngoài cuộc.
Phương pháp phân tích và hệ thống sẽ là những cách cần thiết để nhận biết hiện
tượng hôn nhân Việt – Đài một cách tối ưu và hiệu quả. Những mong muốn và
cố gắng của chúng tôi, những người thực hiện đề tài này thì rất nhiều, nhưng
gặp không ít khó khăn vì nhiều lẽ. Vì vậy kết quả nghiên cứu không thể không
11
tránh khỏi những khiếm khuyết và hạn chế. Rất mong có sự thông cảm và bổ
khuyết
của
người
đọc.
12
Chương I
BỐI CẢNH XUẤT HIỆN HIỆN TƯNG
HÔN NHÂN ĐÀI LOAN – VIỆT NAM
13
Những thống kê trong phần Mở đầu, cho thấy số lượng các đôi kết hôn Đài
Loan – Việt Nam bắt đầu tăng lên một cách đáng kể vào năm 1994 với hơn từ
500 cô gái Việt Nam. Trước đó số lượng các cô gái Việt Nam lấy chồng Đài
Loan không đáng kể, mà phần nhiều hơn là với những Việt kiều về từ phương
Tây, hoặc người phương Tây. Từ những năm 1998 đến 2003, các cuộc kết hôn
Đài Loan – Việt Nam đã lên tới đỉnh điểm, có năm gần 14000 đôi như năm
2000, hoặc 2002, trung bình mỗi tháng trong năm có khoảng hơn 1000 cô gái
Việt Nam theo chồng về Đài Loan.
Việc gia tăng các cuộc hôn nhân Đài Loan - Việt Nam từ sau năm 1994 có
những lý do, đó là sự đẩy mạnh các hoạt động giao thương của Đài Loan ở Việt
Nam, sự mở rộng quan hệ giữa Việt Nam và Đài Loan trên nhiều lónh vực.
Những số liệu nghiện cứu của nhiều nguồn, cho thấy sự gia tăng của vốn đầu tư
từ Đài Loan vào Việt Nam, liên quan đến sự gia tăng các cặp hôn nhân Đài
Việt.
Bảng 4: Thống kê số vốn đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam:
Năm
Vốn
đầu
tư
% so với các nước trong
(triệu đô la Mỹ)
khu vực Đông Nam Á
1991
171,39
2,43
1992
201,67
6,50
1993
1583,96
36,52
1994
1083,78
27,24
1995
1081,46
33,16
1996
1004,76
17,11
1997
854,14
13,30
1998
1000,78
21,41
294,19
7,98
1999 đến tháng 9
Nguồn: Ministry of Economic Affairs, ROC, dẫn lại từ Chao – Jen Huang –
Analyses on Economic Interactions between Taiwan and VietNam –
Taiwan Institute of Economic Research.
Từ năm 1990 Đài Loan đã bắt đầu có sự đầu tư vào Việt Nam, nhưng chỉ từ
năm 1993 việc đầu tư được đẩy mạnh nhanh chóng cùng với chính sách “Hướng
Nam” (Southward Policy) của Đài Loan1. Tháng 7 . 1993 Việt Nam thành lập
1
Xem thêm Pei Hsiu Chen: Taiwan – Vietnam Ralations: A reappraisal of Taiwan’s
“Southward Policy” – Chinan University – Taiwan.
14
“Văn phòng Kinh tế - Văn hóa tại Đài Bắc”, trước đó, tháng 11 – 1992, một tổ
chức tương tự “Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội” và “Văn
phòng Kinh tế - Văn hóa Đài Bắc tại thành phố Hồ Chí Minh” cũng đã được
thành lập. Quan hệ kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam và Đài Loan được mở rộng
và tăng cường. Từ đó cho đến những năm đầu của những năm 2000, Đài Loan là
một trong những nhà đầu tư lớn hàng đầu vào Việt Nam (cùng với Singapore)
Bảng 5: Thứ tự mức vốn đầu tư vào Việt Nam của một số quốc gia và
vùng lãnh thổ trong khoảng 1998 – 9/1999
Tên các nước và vùng lãnh
thổ
Tổng mức đầu tư
Tỷ lệ %
(triệu đô la)
Singapo
5736
7,95
Đài Loan
4510
6,25
HongKong
3600
4,99
Nhật Bản
3333
4,62
Hàn Quốc
3124
4,33
Thiên đường miễn thuế (các
2122
2,94
Pháp
2035
2,82
Nga
1418
2,1
Mỹ
1253
1,74
Anh
1166
1,62
Malaixia
1115
1,55
Australia
1095
152
Thái Lan
1058
1,47
Còn lại
40501
56,12
Tổng số
72166
100
quần đảo thuộc Anh)
Nguồn: Thái Nhã Ngọc – Sơ bộ nghiên cứu hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia
Đài – Việt – Luận văn Thạc só Trường Đại Học Quốc Lập Thành Công –
Đài Loan 2001.1
Quan hệ kinh tế giữa Đài Loan và Việt Nam phát triển trong chiều hướng
khá tích cực. Đến năm 2000 đã có hơn 2000 các công ty và đơn vò kinh doanh
sản xuất của Đài Loan đến Việt Nam hợp tác, đầu tư làm ăn. Các cơ sở sản xuất
kinh doanh của Đài Loan tại Việt Nam đã sử dụng hơn 35.000 công nhân lao
1
Số liệu này, Thái Ngọc Nhã dẫn từ The Economist Intelligence Unit (EIU) Country Report Viet
Nam – Lon don (1999,4th). Chúng tôi chưa có điều kiện kiểm chứng.
15
động Việt Nam. Số lượng những nhà kinh doanh, thương mại Đài Loan đi đến
làm việc, nghiên cứu thò trường tăng lên không ngừng. Chỉ riêng sáu tháng cuối
năm 1998 đã có 27,500 lượt người Đài Loan đến Việt Nam1. Kim ngạch mậu
dòch giữa Đài Loan với Việt Nam gia tăng qua các năm như sau.
Bảng 6: Xuất và nhập khẩu của Đài Loan với Việt Nam
Đơn vò: triệu USD
Năm
Xuất khẩu
Nhập khẩu
1992
278,485
122,911
155,574
1993
501,307
154,149
347,159
1994
742,614
218,962
523,652
1995
1.013,694
207,295
743,399
1996
1.175,306
316,733
858,653
1997
1.297,245
391,431
905,814
1998
1.213,353
343,027
870,326
1999
1.341,589
387,792
953,797
222,817
66,996
155,821
2000 (tháng 1 – 2)
Xuất (nhập) siêu
Nguồn: Trung Hoa Dân quốc tài chính bộ thống kê xử biên ấn Trung Hoa
Dân quốc Đài Loan đòa khu tiến xuất khẩu mậu dòch thống kê
nguyệt báo. Số 366 – tháng 2 năm 20002
Trên lónh vực kinh tế, thực trạng đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam là khá
lớn, là một trong 10 nước hàng đầu đầu tư vào Việt Nam. Đầu tư của Đài Loan
ở Việt Nam trên nhiều lãnh vực từ công nghiệp tiêu dùng, thương mại, xây dựng
cơ sở hạ tầng ... Đến năm 2001, Đài Loan có 665 dự án đang hoạt động với tổng
số vốn đầu tư là 5.004 triệu đôla. Riêng ở thành phố Hồ Chí Minh có 253 dự án
với tổng số vốn 2066 triệu đôla1. Ngoài khu vực thành phố Hồ Chí Minh, các dự
án đầu tư của Đài Loan tập trung phần nhiều ở các tỉnh phía Nam như Đồng
Nai, Bình Dương, Long An, ...
1
2
Nguồn: dẫn từ Pei Hsiu Chen – Bài đã đẫn.
Tập san thống kê xuất nhập khẩu mậu dòch Đài Loan Trung Hoa dân quốc. Sở Thống kê, Bộ Tài
chính, số 366, tháng 2/2000
3
Xin xem Đào Duy Huân – Đầu tư của Đài Loan vào Viẽt Nam thực trạng và triển vọng – Kỷ
yếu Hội thảo khoa học quốc tế Hoạt động kinh tế văn hóa giữa Việt Nam và Đài Loan thực
trạng và triển vọng.
16
Việc gia tăng những hoạt động kinh tế của Đài Loan ở Việt Nam đã dẫn
đến việc mở rộng hợp tác trên các lónh vực khác như văn hóa, du lòch, ... Số
lượng những người Đài Loan đến làm ăn, buôn bán, du lòch cũng tăng lên theo
từng năm. Sự gia tăng những quan hệ kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam và Đài
Loan, như đã đề cập trên đây, đã đưa đến những ảnh hưởng xã hội ở hai nơi
chủ thể, và hôn nhân Đài Loan – Việt Nam là một trong những ảnh hưởng đó.
Những quan hệ kinh tế, văn hóa tăng trưởng đã thúc đẩy sự gia tăng số lượng
các cặp hôn nhân Đài Loan – Việt Nam.
Tuy nhiên, ở một góc độ khác, cũng cần thấy rằng tình trạng hôn nhân Đài
Loan - Việt Nam., diễn ra phần nhiều ở vùng Nam Bộ Việt Nam là chính. Số
lương các cặp kết hôn Đài Loan – Việt Nam ở phía Bắc và Trung Bộ lại không
đáng kể so với khu vực Nam Bộ. Điều này có thể lý giải bởi những lí do sau.
Trước hết là, Nam Bộ, mà các đòa phương tập trung quanh thành phố Hồ Chí
Minh, có một tỉ lệ khá đông cơ sở đầu tư kinh doanh sản xuất của Đài Loan ở
Việt Nam1. Tỷ lệ vốn đầu tư của Đài Loan cũng tập trung và có từ khá sớm ở
khu vực một số tỉnh Đông Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh. Điều đó đã dẫn tới
sự tập trung một số lượng đông đảo các nhà doanh thương, kỹ nghệ gia, các
nhân viên, viên chức, ... của Đài Loan ở Nam Bộ, mà phần nhiều là thành phố
Hồ Chí Minh. Một số khảo cứu , cho thấy hôn nhân Đài Loan – Việt Nam, xuất
hiện khá sớm trong số những người Đài Loan đến làm ăn ở Việt Nam. Sự quen
biết giữa những nhà doanh nghiệp, nhân viên Đài Loan này với các thiếu nữ
làm công trong các cơ sở của họ mở đầu cho quan hệ hôn nhân Đài Loan – Việt
Nam.
Một lý do khác, làm cho những cuộc hôn nhân Đài Loan - Việt Nam trở
nên nhộn nhòp hơn ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ, đó là
nơi có đông người Hoa sinh sống. Hiện nay, trên nước ta có khoảng trên 1 triệu
người Hoa, là công dân Việt Nam, và khoảng hơn 5000 Hoa kiều tập trung ở
thành phố Hồ Chí Minh và Nam Bộ. Hiện có hơn 450,000 người Hoa đang sinh
sống tại thành phố Hồ Chí Minh và hơn 400.000 người Hoa sinh sống ở các tỉnh
thuộc Nam Bộ. Các tỉnh người Hoa chiếm tỉ lệ đáng kể như Sóc Trăng, Cần
Thơ, Đồng Tháp, Bình Dương, ... Sự đồng thuận về ngôn ngữ, văn hóa giữa Đài
17
Loan và người Hoa, khiến một tỷ lệ đáng kể người Hoa đã trở nên người trung
gian, hoặc trợ giúp kó thuật cho việc xác lập các thủ tục hôn nhân. Một số khảo
sát cho biết có khoảng gần 25% số phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan là
người Hoa2. Một báo cáo khoa học khác, cho biết ở thành phố Hồ Chí Minh có
41,18% phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan là người Hoa, và tập trung tại các
quận 5, 8, 113,...
Một lý do khác, nhìn từ góc độ đòa lý và văn hóa. Về mặt đòa lý, Việt Nam
gần Đài Loan hơn so với một số nước ở Đông Nam Á. Ngay từ thời phong kiến,
đã có những cuộc di dân từ vùng biển Nam Trung Hoa theo đường biển để đến
Nam Bộ. Có những đoàn người tò nạn chính trò do Trần Thượng Xuyên và
Dương Ngạn Đòch vào thế kỷ XVIII, từ duyên hải Nam Trung Hoa đến Đài
Loan, và họ tiếp tục cuộc hành trình từ Đài Loan đến đònh cư ở Nam Bộ. Từ
năm 1995 ttrở lại đây đường bay từ thành phố Hồ Chí Minh đến các thành phố
của Đài Loan là Đài Bắc và Cao Hùng đã được các hãng máy bay của Việt
Nam và Đài Loan thiết lập với nhiều chuyến đi trong ngày. Sự thuận tiện của
giao thông đã tạo cho quan hệ kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam vài Loan,
cũng như quan hệ hôn nhân Đài Loan – Việt Nam được dễ dàng hơn.
Cũng cần lưu ý thêm, từ sau năm 1986, với đường lối đổi mới của Đảng
Cộng Sản Việt Nam, đã tạo nên những quan hệ cởi mở hơn với thế giới bên
ngoài Việt Nam. Sự thúc đẩy quan hệ kinh tế, văn hóa với Đài Loan là một
trong những chiều hướng đó. Quan hệ giao tiếp với người nước ngoài thông
thoáng hơn, nên số lượng hôn nhân giữa người Việt Nam với người nước ngoài
có sự gia tăng rõ rệt. Một thống kê, chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy
từ năm 1993 đến hết năm 2002 có 39.325 người Việt Nam kết hôn với người
nước ngoài. Và số công dân nước ngoài này đến từ 52 quốc gia và vùng lãnh thổ
1
Xem Trònh Thò Bích – Thực trạng các quyết đònh pháp luật về hôn nhân có yếu tố người nước
ngoài ở nước ta và việc vận dụng tại thành phố Hồ Chí Minh, những khó khăn và vướng mắc –
Sở Tư pháp thành phố HCM – 2003.
2
Theo Wang Hong Zen – Hàng hóa hôn nhân quốc tế ... Đại học quốc gia Chung Hsing Đài
Loan. 2002
3
Trònh Thò Bích – Tài liệu đã dẫn.
18
trên thế giới1. Tình trạng gia tăng trong quan hệ hôn nhân Đài Loan – Việt
Nam, trong một chừng mực nào đó cũng nằm trong chiều hướng chung đó.
Về góc độ văn hóa, cũng cần có sự lưu ý nhất đònh. Văn hóa của cư dân
Nam Bộ về cơ bản thống nhất trong văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên do hoàn cảnh
lòch sử, đòa lý, văn hóa của cư dân Nam Bộ có sự thoáng và mở hơn. Tác động
của văn hóa truyền thống và ảnh hưởng của Nho giáo không như ở phía Bắc.
Trong hôn nhân, người Nam Bộ không quá câu nệ vào chuyện tuổi tác, gia thế,
đồng tộc nhiều lắm. Hiện tượng hôn nhân hỗn hợp nhiều tộc người Việt,
Kh’mer, Hoa ... khá phổ biến ở Nam Bộ. Có lẽ, ở góc độ này, nhiều gia đình ở
Nam Bộ không khó khăn mấy để chấp thuận cho cuộc hôn nhân Đài Loan –
Việt Nam, họ không quá lên án chuyện hôn nhân khác dân tộc hoặc khác quốc
gia, lãnh thổ.
Một bối cảnh quan trọng khác, khi nghiên cưú quan hệ hôn nhân Đài Loan
- Việt Nam, đó là tình hình phát triển nhiều mặt của đất nước ta, cùng những hệ
quả của nó. Từ sau năm 1975, đất nước ta bước vào một thời kì phát triển mới.
Hơn hai mươi năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được
thống nhất, kinh tế, xã hội nước ta có những thay đổi lớn lao, đời sống người
dân được cải thiện. Tuy nhiên hậu quả chiến tranh vẫn còn, tình trạng đói nghèo
chưa phải đã được giải quyết triệt để. Thu nhập đầu người (GDP) cho đến trước
năm 2000 của Việt Nam vẫn bình quân khoảng 300 USD, và tỷ lệ đói nghèo ở
Nam Bộ còn chiếm đến 35 - 40% số hộ gia đình1. Quá trình phát triển trong
những năm qua cũng dẫn đến sự phân tầng trong xã hội, trong cộng đồng dân
cư, khoảng cách giàu nghèo, đô thò và nông thôn càng nới rộng thêm. Nghèo đói
nghiêng về phía nông thôn, nhất là những vùng sâu, vùng xa, không ít nơi vốn
trước đây là căn cứ cách mạng qua hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.
Tỷ lệ đói nghèo ở một số vùng sâu, vùng xa có nơi vượt quá con số 50%, các
hoạt động kinh tế ở đây rất yếu kém, chủ yếu là độc canh cây lúa, năng suất
hạn chế. Đây cũng là khu vực dư thừa lao động, năng suất lao động thấp, chất
lượng lao động kém. Một số đáng kể trong độ tuổi lao động không có nghề
nghiệp, chuyên môn, trình độ văn hóa trung bình là cấp I phổ thông. Bình quân
1
1
Theo Nguyễn Triều Lưu – Thống kê phân tích tình hình kết hôn có yếu tố người nước ngoài
tại thành phố Hồ Chí Minh – Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh – 2002.
Ở Việt Nam năm 1993 có 58%, năm 1998 có 37% dân số sống trong sự nghèo đói - Dẫn từ:
Nghèo - Báo cáo phát triển Việt Nam 2004 (Hà Nội, 12/2003).
19
một ngày công lao động ở nhiều vùng nông thôn Nam Bộ chỉ từ 15 – 20. 000
đồng cho một công cấy, gặt, làm đất, ... (nếu ăn cơm nhà thì thêm 5.000 đồng /
ngày). Cơ sở hạ tầng ở những vùng nông thôn phần nhiều còn thiếu thốn nhất là
đường giao thông, lưới điện, nguồn nước, điều kiện giáo dục và y tế. Chính vì
vậy, tiềm năng kinh tế những nơi này chưa được khai thác, phát huy.
Cùng với sự đói nghèo về vật chất, thu nhập là sự thiếu thốn về đời sống
tinh thần, về học vấn, nguồn thông tin đại chúng. Không ít đòa phương vùng sâu,
vùng xa ở Nam Bộ chỉ tiếp nhận thông tin bên ngoài qua radio và truyền miệng.
Báo chí các loại, sách, thường rất khan hiếm và người dân ở các đòa phương nầy
không được tiếp cận cũng như quan tâm nhiều. Hệ thống giáo dục ở các nơi này
cũng còn nhiều thiếu sót và chắp vá do điều kiện học và dạy còn rất hạn chế.
Sự thiếu thốn đời sống tinh thần, việc học tập đã khiến cho mặt bằng dân trí ở
các đòa phương nghèo đói còn rất thấp. Họ tập trung cho nhu cầu kiếm sống
nhiều hơn quan tâm đến các mặt khác của cuộc sống, của cộng đồng đòa
phương.
Việc phân tích bối cảnh diễn ra các cuộc hôn nhân Đài Loan - Việt Nam,
có ý nghóa cần thiết để hiểu rõ hơn thực trạng cũng như thực chất của hiện
tượng lấy chồng Đài Loan của các cô gái ở Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh.
Ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh đến việc tăng trưởng đầu tư của Đài Loan ở
Việt Nam, nhất là từ sau khi phía chính quyền Đài Loan đưa ra chính sách
“Hướng Nam”. Mặt khác là tình trạng nghèo đói, những hậu quả sau chiến tranh
của vùng nông thôn Nam Bộ. Việc tìm hiểu những lý do trực tiếp dẫn đến việc
kết hôn của các bên Đài – Việt sẽ được chúng tôi phân tích trong các chương
tiếp theo.
20
Chương II
CÔ DÂU VIỆT NAM VÀ CHÚ RỂ ĐÀI LOAN
21
1. Cô dâu Việt Nam
Trong phần này chúng tôi sẽ cố gắng phác họa tình trạng và thân phận các
cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan trong thời gian qua. Từ những thông tin
trên báo chí và phương tiện thông tin đại chúng, hơn nữa, chúng tôi đã tiến hành
phỏng vấn 200 cô gái Việt Nam sắp theo chồng về Đài Loan, để có thể hiểu rõ
hơn những gì liên quan đến họ khi họ chọn lựa giải pháp lấy chồng Đài Loan.
Cuộc điều tra tiến hành vào tháng 3-2003.
1.1. Nhân thân
a/ Độ tuổi:
Trước hết, nói về độ tuổi của các cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan.
Kết quả cuộc điều tra của chúng tôi cho kết quả sau đây:
Bảng 71:
- Từ 18 đến
21 tuổi chiếm 60,1%
- Từ 22 đến 25 tuổi chiếm 27,1%
- Từ 26 đến 29 tuổi chiếm
4,9%
- Trên 30 tuổi chiếm
7,9%
Một khảo sát khác của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cần Thơ2, tiến hành vào
tháng 12.2001 đã đưa ra kết quả về độ tuổi của các cô dâu Việt Nam:
Bảng 8:
Nguồn:
- Từ 18 đến 21 tuổi chiếm
78,77%
- Dưới 18 tuổi chiếm
10,60%
Báo cáo kết quả nghiên cứu dư luận xã hội về tình hình Phụ nữ
Cần Thơ lấy chồng Đài Loan. Ngày 27/2/2002 - Ban Tuyên
giáo Tỉnh ủy Cần Thơ.
Theo một thống kê về tình hình nhân khẩu học của các cô dâu Việt Nam
và đàn ông Đài Loan của Văn phòng Kinh tế Văn hóa Đài Bắc tại thành phố Hồ
Chí Minh, tuổi bình quân của các cô dâu Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2000
như sau:
1
Những bảng nào không ghi xuất xứ, là kết quả điều tra do nhóm nghiên cứu đề tài thực hiện.
2
Tỉnh Cần Thơ trong đề tài này được hiểu khi chưa chia tách thành tỉnh Hậu Giang và thành
phố Cần Thơ.
22
Bảng 9:
Năm
Tuổi bình quân
1996
25
1997
24,5
1998
23,9
1999 (từ tháng 1 đến tháng 5)
23,8
2000 (từ tháng 1 đến tháng 4)
23,2
Nguồn: Từ “Thống kê về hôn nhân Đài Loan - Việt Nam” - Trích dẫn lại
của Wang Hong Zen - Đại học quốc gia Chung Hsing - Đài Loan.
(Có thể tham khảo thêm: Văn phòng Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm
2000, độ tuổi kết hôn trung bình của phụ nữ Việt Nam năm 1999 là 23,9)
Những số liệu thống kê được dẫn ra từ nhiều nguồn trên đây cho thấy độ
tuổi kết hôn của các cô dâu Việt Nam lấy chồng Đài Loan chiếm phần lớn là từ
18 đến 25 tuổi (khoảng 80 - 85%). Độ tuổi kết hôn bình quân có xu hướng giảm
và thấp hơn ở Việt Nam.
Theo tài liệu lưu trữ của công an các tỉnh Tây Ninh, Kiên Giang, Bình
Dương, chúng tôi khảo sát 200 trường hợp. Kết quả gần phù hợp với các thống
kê đã dẫn và làm rõ hơn nhận đònh của chúng tôi:
Bảng 10:
Độ tuổi cô dâu
1999
2000
2001
2002
Tổng hợp
18 - 21
49,0%
62,7%
63,0%
63,0%
59,5%
22 - 25
27,4
31,3
24,4
26,5
27,5
26 - 30
21,5
4,0
12,2
10,2
12,0
Trên 30
1,9
1,9
0,0
0,0
1,0
Nguồn: Tổng hợp số liệu tra cứu tàng thư của công an các tỉnh Tây Ninh, Kiên
Giang, Bình Dương từ 1999 đến 2002.
Theo Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Đài Bắc tại thành phố Hồ Chí Minh,
độ tuổi của các cô dâu Việt Nam trong năm 2003 như sau:
23
Bảng 11:
- Dưới 20 tuổi
3.723 người
- 20 đến 30
5.030 -
54,57 -
- 31 đến 40
396 -
4,30 -
- 41 đến 50
65 -
0,71 -
3 -
0,03 -
9.217 -
100 -
- trên 50
Nguồn:
tỷ lệ
40.39%
Phòng Thống kê - Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Đài Bắc tại TP. Hồ
Chí Minh tháng 11-2003.
* Thống kê trên đây chỉ sử dụng số liệu của các tháng từ 1 đến 10.
Với số liệu thống kê năm 2003, tỷ lệ các cô dâu tuổi dưới 30 chiếm tỷ lệ
khoảng 95%. Điều đó cũng phù hợp với các nghiên cứu, khảo sát của chúng tôi
đã trình bày bên trên
b/ Quê quán:
Kết quả khảo sát của những tác giả và cộng tác viên đề tài cho biết quê
quán của các cô dâu như sau:
Bảng 12:
- Tây Ninh:
23,2%
- Đồng Tháp:
14,8%
- Cần Thơ:
12,3%
- Bạc Liêu:
7,9%
- Vónh Long:
6,4%
- TP. Hồ Chí Minh:
9,4%
- Các tỉnh khác:
Dưới 5%
Kết quả điều tra này chỉ dựa vào một thời điểm là tháng 3.2003, và điều
đó khó khẳng đònh tỉnh nào có nhiều cô dâu Việt Nam. Tuy nhiên tham khảo
các báo cáo thống kê của cơ quan xuất nhập cảnh Tây Ninh, Vónh Long, Cần
Thơ, Sóc Trăng, Đồng Tháp thì chúng tôi cho rằng các tỉnh ở Nam Bộ có nhiều
cô gái đi lấy chồng Đài Loan là Cần Thơ, Vónh Long, Tây Ninh, Đồng Tháp...
Một thống kê khác của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Đài Bắc ở thành
phố Hồ Chí Minh nêu ra số liệu khá cụ thể quê quán của 9.217 cô gái Việt Nam
kết hôn với người Đài Loan trong 10 tháng đầu năm 2003 như sau:
24