1
Đề cương Triết học Mác – Lênin
Câu 1: Định nghĩa vật chất của Lênin
* Định nghĩa vật chất của Lênin:
- Các nhà bác học trước Mác:
+ Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy vật siêu hình định nghĩa vật
chất là hạt nhỏ, là động vật đầu tiên cấu tạo nên thế giới. Họ đồng nhất vật chất với
nước (Talét), lửa(Hêraclít), không khí (Anaximen), hay nguyên tử phân tử
(Đêmôcrít), ngũ hành (Trung Quốc).
+ Ưu điểm: Lấy chính bản thân vật chất để giải thích khái niệm vật chất.
+ Hạn chế: Đồng nhất vật chất với những vật cụ thể nên:
dễ dàng bị chủ nghĩa duy tâm tấn công bằng truy nguyên
đưa thế giới vào fạm vi hẹp
không thể định nghĩa vật chất vì thiếu logic
- Chủ nghĩa duy tâm: Vật chất do thế giới ý niệm sinh ra và chỉ là làm phong phú
thêmthế giới í niệm mà thôi
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Vật chất không có thật mà chỉ là sự fức hợp các
cảmgiác mà thôi.
- Mác và Ăngghen:chưa có định nghĩa cụ thể về vật chất nhưng đã nêu lên đc
những đặcđiểm cơ bản và quan trọng về fạm trù vật chất - Vật chất là cái có trước,
ý thức là cái có sau. Bản chất thế giới là vật chất - Theo Ăngghen, thành fần bản
chất tự nhiên là : “Vật chất với tư cách là vật chất làmột sáng tạo thuần túy của tư
duy và là một điều trừu tượng thuần túy – chúng ta bỏ quanhững sự khác nhau về
chất của những sự vật khi chúng ta gặp chúng với tư cách là nhữngtồn tại hữu hình
vào khái niệm vật chất. Do đó, khác với những vật chất nhất định, vật chấtvới tư
cách là vật chất không có sự tồn tại cảm tính”.
- Lênin: Sự phát triển của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX đầu XX, đặc biệt là
nhữngphát minh của Rơnghen (tia X-quang), Bécơren (tia phóng xạ), Tôm xơn
(điện tử),… và từ nhucầu của cuộc đấu tranh chống CNDT đã hình thành nên định
nghĩa về vật chất: “Vật chất làphạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
đc đem lại cho con ng trong cảm giác, đccảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.Trong khái niệm này cần lưu ý: Phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất phản ánh những chuyển biến của
thếgiới hiện thực. Những khái niệm chung nhất là những khái niệm phản ánh
những đặc tính cơbản của một nhóm sự vật hiện tượng, tồn tại bởi 1 từ hoặc 1 tập
hợp từ. - “Thực tại khách quan”:
+ Vật chất tồn tại, vận động và fát triển theo những quy luật vốn có của nó.
+ Tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức.Phân tích khái niệm của Lênin:
- Thứ nhất, vật chất là cái có thật, hiện thực và tồn tại bên ngoài ý thức. Vật
chất không fải là cái tha hóa từ ý niệm tuyệt đối, cũng k fải vật tự nó mà t k biết đc.
Vật chất luôn có khảnăng tác động tới giác quan của con ng từ đó trong nhận thức
của con ng mới hiểu đc, mớinắm bắt đc đối tượng vật chất đó. Bên cạnh đó, cùng 1
lúc LN đã giải quyết đc 2 mặt cơ bảncảu vấn đề triết học.
2
- Thứ hai, LN muốn nhấn mạnh mặt thứ nhất của Triết học và LN khẳng
định con ng cókhả năng nhận thức đc thế giới thông qua fản ánh thế giới đó. LN
không chỉ khắc fục đc những hạn chế về quan điểm vật chất của CNDV trước Mác
và CNDT với cn bất khả tri, màcòn khắc fục đc quan điểm của trường phái nhị
nguyên.
* Ý nghĩa của định nghĩa:
- Trong định nghĩa, LN khẳng định “Vật chất là thực tại khác quan đc đem
lại cho conng trong cảm giác, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Về mặt nhận
thức luận, LN cònkhẳng định: “Vật chất có trc, YT có sau” đây là mối quan hệ
tuyệt đối. LN còn khẳng định:Trong họat động thực tiễn phải hiểu mối quan hệ
trong sự tác động biện chứng lẫn nhau đây là mối quan hệ tương đối.
- LN đã bác bỏ những quan niệm sai lầm về vật chất của Triết học trc Mác
và đặc biệtlà LN đã khắc fục đc những khiếm khuyết trong các quan điểm siêu
hình, máy móc về vật chất,từ đó định hướng các khoa học cụ thể để tìm kiếm các
dạng, các hình thức mới cảu vật thểtrong thế giới.
- Khi nhận thức các hiện tượng trong đời sống xã hội, định nghĩa vật chất
của LN đãcho fép xác định là cái gì để từ đó giúp các nhà khoa học có cơ sở lí luận
nhằm để giải thíchnhững nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, trên cơ sở
đó đưa ra các phương pháptối ưu để hoạt động và thúc đẩy xã hội phát triển.
Câu 2: Ý thức là gì? Đồng chí hãy phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức
theo quan điểm…
* Ý thức là gì?
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng về bản chất, ý thức là sự phản ánh
khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Thể hiện rằng nội dung
của ý thức do thế giới khách quan quy định. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan vì nó nằm trong bộ não con người. Ý thức là cái phản ánh thế giới
khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ quan, là thực tại chủ quan. Ý thức
không có tính vật chất, nó chỉ là hình ảnh tinh thần, gắn liền với hoạt động khái
quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có lựa chọn. ý thức à sự phản ánh thế giới
bởi bộ não con người.
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách
quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tuy
nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở
thành ý thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do
nhu cầu của việc con người cải biến giới tự nhiên quyết định và được thực hiện
thông qua hoạt động lao động.
Sự phản ánh sáng tạo của ý thức biểu hiện ở sự cải biến cái vật chất di chuyển
vào trong bộ não con người thành cái tinh thần, thành những hình ảnh tinh thần.
Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở của phản ánh, trong
khuôn khổ và theo tính chất, quy luật của phản ánh.
Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái
đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái
không có trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra
3
những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu
tượng và có tính khái quát cao.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người, song đây là
sự phản ánh đặc biệt – phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới. Quá
trình ý thức là quá trình thống nhất của 3 mặt là: trao đổi thông tin giữa chủ thể và
đối tượng phản ánh. Tiếp đến là mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng
hình ảnh tinh thần và cuối cùng là chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách
quan.
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo, vì phản ánh đó dù trực tiếp hay gián tiếp, dù
dười dạng ý tưởng thì bao giờ củng phải dựa vào những tiền đề vật chất, dựa trên
hoạt động thực tiễn nhất định. Sự sáng tạo của ý thức không đối lập, loại trừ, tách
rời sự phản ánh mà ngược lại thống nhất với phản ánh, trên cơ sở của phản ánh.
Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức. Ý thức – trong bất
kỳ trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo
ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc.
Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính xã
hội: Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng
xã hội. ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội
khách quan.
* Nguồn gốc và bản chất của ý thức
a. Nguồn gốc của ý thức
Ý thức có hai nguồn gốc là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức được thể hiện qua sự hình thành của bộ óc
con người và hoạt động của bộ óc đó cùng với mối quan hệ giữa con người với thế
giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra
quá trình phản ánh sáng tạo, năng động.
Về bộ óc người: Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là
bộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ
óc. Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả,
ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc. Điều này lý giải tại sao quá trình
tiến hóa của loài người cũng là quá trình phát triển năng lực của nhận thức, của tư
duy và tại sao đời sống tinh thần của con người bị rối loạn khi sinh lý thần kinh của
con người không bình thường do bị tổn thương bộ óc.
Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình
phản ánh năng động, sáng tạo: Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là
quan hệ tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện. Trong mối quan hệ này, thế giới
khách quan, thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc người,
hình thành nên quá trình phản ánh.
Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất
khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng. Những đặc điểm được
tái tạo ở dạng vật chất chịu sự tác động bao giờ cũng mang thông tin của dạng vật
chất tác động. Những đặc điểm mang thông tin ấy được gọi là cái phản ánh. Cái
phản ánh và cái được phản ánh không tách rời nhau nhưng không đồng nhất với
nhau. Cái được phản ánh là những dạng cụ thể của vật chất, còn cái phản ánh chỉ là
4
đặc điểm chứa đựng thông tin của dạng vật chất đó (cái được phản ánh) ở một
dạng vật chất khác (dạng vật chất nhận sự tác động).
Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất, song phản ánh được thể
hiện dưới nhiều hình thức. Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa
của vật chất.
Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô
sinh. Phản ánh vật lý, hóa học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa khi có sự
tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh. Hình thức phản ánh này
mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động.
Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự
nhiên hữu sinh. Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh,
phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ. Tính
kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều
hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc…khi nhận sự tác
động trong môi trường sống. Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần
kinh tạo ra năng lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình
thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi
trường lên cơ thể sống.
Phản ánh tâm lý là phản ứng của động vật có hệ thần kinh trung ương được
thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ có điều kiện.
Phản ánh năng động sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình
thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất có tổ chức cao nhất, có tổ
chức cao nhất là bộ óc người. Phản ánh năng động, sáng tạo được thực hiện qua
quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan tác
động lên các giác quan của con người. Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa
chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của
thông tin. Sự phản ánh sáng tạo năng động này được gọi là ý thức.
- Nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động và ngôn ngữ. hai yếu tố này vừa
là nguồn gốc, vừa là tiền đề của sự ra đời ý thức.
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên
nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình
trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất
giữa mình với giới tự nhiên. Đây cũng là qúa trình làm thay đổi cấu trúc cơ thể,
đem lại dáng đi thẳng bằng hai chân, giải phóng hai tay, phát triển khí quan, phát
triển bộ não,… của con người. Trong quá trình lao động, con người tác động vào
thế giới khách quan làm cho thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những
kết cấu, những qui luật vận động của nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất
định mà con người có thể quan sát được. Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt
động của các giác quan, tác động vào bộ óc người, thông qua hoạt động của bộ não
con người, tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói
chung.
Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách
quan thông qua quá trình lao động.
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý
thức. Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện. Sự ra đời của ngôn
5
ngữ gắn liền với lao động. Lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể. Mối quan
hệ giữa các thành viên trong lao động nảy sinh ở họ nhu cầu phải có phương tiện
để biểu đạt. Nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình
lao động. Nhờ ngôn ngữ con người đã không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái
quát, tổng kết đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế
hệ này sang thế hệ khác.
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát
triển của ý thức là lao động. Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ;
đó là hai chất kích thích chủ yếu làm cho bộ óc vượn dần dần chuyển hóa thành bộ
óc người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức.
b)Bản chất của ý thức
- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tuy nhiên, không phải cứ thế giới
khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức. Ngược lại, ý
thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu của việc con người
cải biến giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua hoạt động lao động.
Vì vậy, ý thức ... là cái vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và
được cải biến đi ở trong đó”.
Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những
cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những
cái không có trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo
ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu
tượng và có tính khái quát cao.
- Tuy nhiên, sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, bởi vì ý thức bao
giờ cũng chỉ là sự phản ánh tồn tại.
- Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có
tính xã hội.
Câu 3: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
* Khái niệm:
- Liên hệ: trc hết là sự fụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, tương tác và chuyển
hóa lần nhaugiữa các sự vật hiện tượng trong thế giới hoặc là giữa các mặt, các yếu
tố, các quá trình của1 sự vật hiện tượng trong thế giới.
- Liên hệ fổ biến nói lên rằng:
+Thế giới (con ng và sự vật hiện tượng) dù rất fong fú, đa dạng nhưng đều
tồn tạitrong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác, đều chịu sự tác động, sự
quy định của các sựvật hiện tượng khác. Không sự vật hiện tượng nào tồn tại biệt
lập ngoài mối liên hệ với cácsvht khác.
+ Các bộ fận, yếu tố, giai đoạn fát triển khác nhau của cùng 1 sự vật đều có
sựtác động, quy định lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình.
- Mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật hiện
tượng của thếgiới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu cảu fép biện chứng. Đó là mối
liên hệ giữa : các mặt đốilập, lượng và chất, khẳng định và fủ định, cái chung và
cái riêng, bản chất và hiện tượng…
6
* Vai trò: Tòan bộ những mối liên hệ đặc thù và fổ biến đó tạo nên tính
thống nhất vàtrong tính đa dạng, và ng lại, tính đa dạng trong tính thống nhất của
các mối liên hệ tronggiới tự nhiên, xã hội, và tư duy.
* Tính chất của các mối liên hệ:
- Tính khách quan:
+ Liên hệ là cái vốn có của svht, k fụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con
ng, vàlà đk tồn tại và phát triển của svht.
+ Con ng không thể sáng tạo ra svht, con ng chỉ có thể nhận thức và vận
dụngcác mối liên hệ giữa các svht đó.
- Tính đa dạng, nhiều vẻ:
+ Svht trong thế giới rất đa dạng và fong fú mối liên hệ giữa các svht ấy
cũngrất đa dạng và phong phú.
+ Ng ta có thể fân loại các mlh căn cứ vào vị trí, vai trò của nó hoặc fạm vi
tácdụng và tính chất fức tạp của nó.
- Tính phổ biến:
+ Không có bất cứ svht nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các svht khác.
+ Không có bất cứ svht nào k fải là một cấu truc hệ thống, bao gồm những
yếu tốcấu thành những mlh bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là
một hệ thống,hơn nữa là một hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với các hệ
thống khác, tương tác và làmbiến đổi lẫn nhau.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quan điểm toàn diện:
+ Yêu cầu: Khi nghiên cứu xem xét các svht thì chúng ta fải nghiên cứu xem
xéttất cả các yếu tố, bộ fận, khía cạnh của svht, nghiên cứu cả quá trình đấu tranh
của các mặtđối lập. Từ đó rút ra đc: mối liên hệ là cơ bản, chủ yếu quy định sự vận
động và fát triển củasự vật hiện tượng.
+ Cơ sở lí luận: tính khách quan và tính fổ biến của các mặt đối lập
+ Cách xem xét đối lập: một mặt, một chiều, thái độ cục bộ địa fương.
- Quan điểm lịch sử - cụ thể:
+ Yêu cầu: Khi nghiên cứu xem xét svht thì chúng ta fải đặt nó trong điều
kiện,không gian, thời gian, đk hoàn cảnh cụ thể để xem xét. Cần fải fân tích cặn kẽ
đến từng chitiết, từng mối liên hệ cấu thành nên svht đó.
+ Cơ sở lí luận: tính nhiều vẻ của mlh
+ Cách xem xét đối lập: hời hợt chung chung, quan liêu, k sát với fong trào.
Câu 4: Quy luật riêng – chung:
* Phạm trù cái riêng cái chung:
- Cái riêng: là fạm trù triết học dùng để chỉ 1 sự vật, 1 hiện tượng, 1 quá
trình riêng kẻnhất định.
- Cái chung: đc dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính k những có ở 1 kết
cấu vậchất nhất định mà còn đc lặp lại ở nhiều svht hoặc quá trình riêng lẻ khác
nữa.
- Cái đơn nhất: là các đặc tính cơ bản vốn có àm k bị lặp lại ở bất kì svht nào
khác. Lưu ý: - Cái riêng là cái cụ thể, tồn tại 1 cách có thể cảm thụ đc.
7
- Cái chung là kết quả của quá trình khái quát trừu tượng nhưng mà nó k tồn
tại biệtlập tách rời với cái cụ thể or cái riêng. Vật chất chỉ có thể tồn tại thông qua
các svht cụ thể.
- Khi chúng ta xem xét mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng thì k đc hiểu
là mqhgiữa cái tòan bộ và cá bộ fận vì:
+ Cái chung k fải là cái tòan bộ vì nó đc rút ra từ nhiều cái riêng
+ Cái chung cũng k fải là cái bộ fận vì các thuộc tính đưa vào cái chung có
tínhbao quát trừu tượng.
* Mqh biện chứng giữa cái riêng và cái chung:
- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng thông qua cái riêng, điều đó có nghĩa
là cáichung thực sự tồn tại nhưng k tồn tại biệt lập, lơ lửng bên ngòai cái riêng.
- Cái chung và cái riêng:
+ Cái riêng tồn tại trong mối liên hệ giữa cái chung
cái riêng tồn tại độc lậpnhưng k đc hiểu là cô lập, bởi vì nếu hiểu theo
nghĩa cô lập thì svht k có mối liên hệ
-> svht kvận động và fát triển
-> svht k tồn tại.
+ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với những cái riêng khác. Ví dụ: sự
vậtliên hệ với môi trường.
+ Cái riêng luôn bị tác động và chi fối bởi các quy luật chung. Ví dụ: con
ngườichịu sự chi fối của các quy luật xã hội, quy luật tự nhiên…
- Cái chung đc xem là bộ fận của cái riêng, cái riêng k gia nhập hết vào cái
chung. Lúcnày xuất hiện 2 tình trạng:
+ Cái riêng có thể gia nhập vào rất nhiều cái chung thậm chí vào cả những
cáichúng đối lập. Ví dụ: trong gai đình 3 thế hệ, thế hệ thứ 2 là con của thế hệ thứ
nhất nhưngvừa là cha của thế hệ thứ 3.
+ Cái riêng phong phú hơn cái chung, cái chung sâu sắc hơn cái riêng, vì nó
gạtbỏ đi những đặc tính k cơ bản của svht ra, nó chỉ tập trung hướng vào phản ánh
một khíacạnh, 1 bản chất của thế giới hiện thực.
- Bất cứ cái chung nào cũng mang tính bao quát nhưng k có cái chung nào
bao quát hếttòan bộ tất cả các mặt riêng lẻ: bên cạnh cái chung là những thuộc tính
đc lặp đi lặp lại trongcác svht thì bất cứ cái riêng nào cũng chứa đựng cái đơn nhất.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Cái chung sâu sắc hơn cái riêng nên khi hoạt động, nghiên cứu cải tạo sự
vật chúng tanên xuất fát từ quy luật chung, các tính chúng cơ bản của sự vật, k đc
bắt đầu hoạt động khi kcó sự chỉ đạo của các nguyên tắc lý luận.
- Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng nên chúng ta có thể rút ra 2 kết luận
sau đây:chúng ta k thể tìm cái chung trong ý nghĩa chủ quan mà fải tìm trong từng
sự vật cụ thể; cầnfải vận dụng cái chung trong những điều kiện, hòan cảnh cụ thể.
- Không đc tuyệt đối hóa cái chung or cái riêng bởi vì nếu như chúng ta
tuyệt đối hóacái chung thì gây ra bệnh giáo điều, sách vở, và cũng k đc tuyệt đối
hóa cái riêng vì sẽ gây rabệnh kinh nghiệm.
- Vì cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa cho nhau nênn fải chú ý fát
huy nhữngnhân tố tiến hóa cách mạng vì có thể lúc đầu nó còn là cái riêng lẻ, cái
yếu nhưng chúng tafải chú ý đến cái chọn điển hình, người điển hình.
8
Câu 5, 6: Phân tích thực tiễn, những hình thức của thực tiễn, vai trò của thực
tiễn với nhận thức?
* Thực tiễn: Là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sửxã hội của conngười nhằm cải biến tự nhiên và xã hội. Thực tiễn đóng vai trò rất
quan trọng đối với nhận thức. Trước hết, thực tiễn là cơ sở của nhận thức vì mọi
nhận thức của con người xét đếncùng là có nguồn gốc từ thực tiễn. Thực tiễn cung
cấp tài liệu, đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cáchthức và khuynh hướng vận động, phát
triển của nhận thức. Chính con người có nhu cầu tấtyếu khách quan là phải giải
thích thế giới và phải cải tạo thế giới nên con người tất yếu làphải tác động vào các
sự vật hiện tượng bằng hoạt động thực tiến của mình, buộc chúng bộclộ ra những
thuộc tính, đặc tính, những quy luật vận động, phát triển, những mối liên hệ vàkhác
nhau giữa chúng. Nhờ đó con người có được tri thức về đối tượng, biết được mọi
đặcđiểm của sự vật.
Thực tiễn phát triển, những tài liệu do thực tiễn mang lại ngày càng
phongphú tạo điều kiện cho con người có tri thức ngày càng đầy đủ hơn về thế
giới. Có thể thấyrằng mọi thành tựu phát triển xã hội đều phải dựa trên cơ sở tổng
kết thực tiễn để khẳng địnhthực tiễn là cở của nhận thức. Hoạt động thực tiễn giúp
con người phản ánh chính xác về thếgiới. Cũng trong quá trình đó, con người cần
biết chế tạo ra những công cụ hiện đại như kínhthiên văn, kính hiển vi, máy tính…
Thực tiễn là động lực, mục đích của nhận thức vì nhờ có hoạt động thực tiễn
mà cácgiác quan của con người ngày càng được hoàn thiện; năng lực tư duy logic
ko ngừng được củng cố, phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại,
có tác dụng “nối dài” cácgiác quan của con người trong việc nhận thức thế
giới.Thực tiễn là động lực vì thực tiễn luônvận động, phát triển, luôn đặt ra những
nhu cầu mới đòi hỏi nhận thức phải vận động. Qua đónhận thức ko ngừng vận
động, biến đổi và phát triển.
Thực tiễn cũng là mục đích vì mọi hoạtđộng bao giờ cũng cần có mục tiêu,
phương hướng, biện pháp. Những điều này ko phải là cáicó sẵn mà là kết quả của
nhận thức. Nếu mục tiêu, phương hướng , biện pháp đúng thì thựctiễn thành công.
Ngược lại, nếu ko đúng thì thực tiễn thất bại. Nhận thức của con người xétđến
cùng là phản ánh đúng hiện thực khách quan để đề ra mục tiêu, phương hướng biện
phápđúng đắn để chỉ đạo. Vì thế, thực tiễn chính là mục đích của nhận thức. Thực
tiễn còn đóng vai trò là tiêu chuẩn của chân lí, kiểm tra tính chân lí trong quátrình
nhận thức. Điều này có nghiã là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được
trongnhận thức. Không thể lấy nhận thức để kiểm tra nhận thức. Không thể lấy sự
thừa nhận củađa số để kiểm tra đúng hay sai. Không thể lấy lợi ích làm tiêu chuẩn.
Thực tiễn cũng khôngngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi, phát triển và hoàn
thiện nhận thức. C.Mac đã từng khăngđịnh “ vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con
người có thể đạt đến chân lí khách quan hay khônghoàn toàn không phải là một
vấn đề lí luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễnmà con người phải
chứng minh chân lí”. Để kiểm tra tiêu chuẩn chân lí chỉ có một con đườngduy nhất
là thông qua hoạt động thực tiễn. Như vậy, thực tiễn chẳng những là điểm xuất
phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai tròquyết định đối với sự hình thành và phát
triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức phảiluôn luôn hướng tới để thể hiện
9
tính đúng đắn của mình cảm giác về sự vật. So với cảm giác, tri giác là hình thức
nhận thức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn.
Câu 7: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sảnxuất?
Lực lượng sản xuất là toàn bộ những nhân tố thuộc về người lao động (như
năng lực,kĩ năng, trí thức của người lao động) cùng các tư liệu sản xuất nhất
định( như đối tượng laođộng, công cụ lao động, các tư liệu phụ trợ của quá trình
sản xuất…) Như vây, lực lượng sảnxuất chính là toàn bộ các nhân tố vật chất, kĩ
thuật của quá trình sản xuất, chúng tồn tại trongmối quan hệ biện chứng với nhau
tạo ra sức sản xuất làm cải biến các đối tượng trong quátrình sản xuất, tức là tạo ra
năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tựnhiên theo nhu
cầu nhất định của con người và xã hội. Vì thế, lực lượng sản xuất là nhữngnhân tố
có tính sáng tạo và tính sáng tạo đó có tính lịch sử.
Trong các nhân tố tạo thành lựclượng sản xuất, nhân tố người lao động là
nhân tố giữ vai trò quyết định bởi vì công cụ laođộng dù có hiện đại thì cũng do
con người sáng tạo ra. Nếu chỉ có công cụ hiện đại mà thiếuvắng con người thì
công cụ lao động cũng không thể phát huy tác dụng. Sự đổi mới của côngnghệ đã
giúp tăng năng suất lao động. “NSLD được xem là yếu tố cuối cùng quyết định
sựthắng lợi của một trật tự xã hội mới” (Lênin).
Ngày nay, trước sự phát triển của khoa học công nghệ, khoa học kĩ thuật,
công nghệtrực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và trở thành lực lượng sản xuất.
Do vậy, kết cấu củalực lượng sản xuất có sự thay đổi: người lao động phải có trí
lực cao và thể lực.
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất. Quanhệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu đối với TLSX, quan hệ trong tổ
chức-quản lí quá trìnhsản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình
sản xuất. Những quan hệ này tồntại trong mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác
động lẫn nhau trên cơ sở quyết định củaquan hệ sở hữu về TLSX. Sở hữu TLSX có
3 quyền: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Trongnền SX, con người có 2 hình thức
sở hữu TLSX. Nếu một số người sở hữu TLSX sẽ hình thànhquan hệ người bóc lột
người với mục đích là tạo lợi nhuận tối đa, tương ứng với những xã hộicó sự phân
chia giai cấp. Nếu TLSX thuộc về xã hội, hình thành nên quan hệ bình đẳng,
tươngtrợ giúp đỡ lẫn nhau, ko ngừng nâng cao NSLD để thõa mãn nhu cầu vật chất
và tinh thầncủa con người. Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX.
- Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ thống nhất biện chứng,
trong đóLLSX quyết định QHSX và QHSX tác động trở lại LLSX. LLSX và
QHSX là 2 mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất. Trong một phương thứcsản
xuất, LLSX là một yếu tố động cách mạng, nó xuất phát từ nhu cầu khách quan
nảy sinhtrong quá trình sản xuất vật chất. LLSX là nội dung xã hội của quá trình
sản xuất vật chất xãhội. QHSX là hình thức xã hội của quá trình sản xuất vật chất.
Nó chỉ được hình thành vàphát triển dưới sự hình thành, phát triển của lực lượng
sản xuất.
Trong đời sống hiện thực, kothể có sự kết hợp các nhân tố của quá trình sản
xuất để tạo ra năng lực thực tiễn cải biến cácđối tượng vật chất tự nhiên lại có thể
10
diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất định.Ngược lại, cũng ko có một quá
trình SX nào có thể diễn ra trong đời sống hiện thực chỉ vớinhững QHSX ko có nội
dung vật chất của nó.
Như vậy, LLSX và QHSX tồn tại trong tính quyđịnh lẫn nhau, thống nhất
với nhau. Đây là yêu cầu tất yếu, phổ biến diễn ra trong mọi quátrình sản xuất hiện
thực của xã hội. Mỗi quan hệ giữa LLSX và QHSX tuân theo nguyên tắc khách
quan: QHSX phải phụthuộc vào thực trạng phát triển của LLSX trong mỗi giai
đoạn lịch sử xác định; bởi vì QHSXchỉ là hình thức KT-XH của quá trình SX, còn
LLSX là nội dung vật chất, kĩ thuật của quátrình đó. Tuy nhiên, QHSX với tư cách
là hình thức KT-XH của quá trình SX, nó luôn luôn cókhả năng tác động trở lại sự
vận động, phát triển LLSX. Sự tác động này có thể diễn ra chiềuhướng tích cực
hoặc tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào tính phù hợp của QHSX với thực trạngvà nhu
cầu khách quan của sự vận động, phát triển LLSX. Nếu phù hợp thì sẽ có tác dụng
tíchcực và ngược lại, ko phù hợp sẽ có tác dụng tiêu cực.
- Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ thống nhất có bao hàm
khả năngchuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn. Trong phạm vi
tương đối ổn định của một hình thức kinh tế xã hội xác định, LLSX củaXH được
bảo tồn, ko ngừng được khai thác, sử dụng và phát triển trong quá trình SX và
táiSX của XH. Tính ổn định, phù hợp của QHSX đối với LLSX càng cao thì LLSX
càng có khảnăng phát triển nhưng chính sự phát triển của LLSX lại luôn luôn tạo
ra khả năng phá vỡ sựthống nhất của những quan hệ SX từ trước đến nay đóng vai
trò là hình thức KT-XH cho sựphát triển của nó.
Những quan hệ này, từ chỗ là những hình thức phù hợp và cần thiết cho
sựphát triển của các LLSX đã trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó,
nó tạo ramột mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX. Khi phân tích sự vận động của mâu
thuẫn này, C.Macđã từng chỉ ra rằng “ tới một giai đoạn phát triển nào đó của
chúng, các LLSX vật chất củaXH mâu thuẫn với những QHSX hiện có…, trong đó
từ trước đến nay các LLSX vẫn pháttriển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của
LLSX, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của LLSX. Khi đó bắt đầu
thời đại một cuộc CMXH”.
Như vậy, mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ mâu thuẫn biện
chứng giữanội dung vật chất, kĩ thuật với hình thức kinh tế XH của quá trình SX.
Sự vận động của mâuthuẫn này là một quá trình đi từ sự thống nhất đến những
khác biệt và đối lập, xung đột, từ đólàm xuất hiện nhu cầu khách quan phải được
giải quyết theo nguyên tắc QHSX phải phù hợpvới sự phát triên của LLSX.
Câu 8: Cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, mối quan hệ biện chứng
giữa kiến trúcthượng tầng và cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng dùng để chỉ toàn bộ những QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế
của XH. Cơsở hạ tầng của một XH, trong toàn bộ sự vận động của nó, được tạo
nên bởi các QHSX thốngtrị, QHSX tàn dư và QHSX mới tồn tại dưới hình thái
mầm mống, đại biểu cho sự phát triểncủa XH tương lai, trong đó QHSX thống trị
chiếm địa vị chủ đạo, chi phối các QHSX khác,định hướng sự phát triển của đời
sống KT-XH và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độ kinh tếcủa một XH nhất định.
11
Sự tồn tại của 3 loại hình QHSX cấu thành cơ sở hạ tầng của một XHphán
ánh tính chất vận động, phát triển liên tục của LLSX với các tính chất kế thừa, phát
huyvà phát triển. Trong XH có sự phân chia giai cấp thì CSHT cũng có sự đối
kháng giai cấp.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức XH
cùng vớicác thiết chế chính trị- xã hội tương ứng, được hình thành trên một cơ sở
hạ tầng kinh tế nhấtđịnh.
Kiến trúc thượng tầng của mỗi XH là một kết cấu phức tạp, có thể được
phân tích từnhững giác độ khác nhau, từ đó cho thấy mối quan hệ đan xen và chi
phối lẫn nhau củachúng. Từ giác độ chung nhất, có thể thấy kiến trúc thượng tầng
của một XH bao gồm: hệthống các hình thái ý thức XH( hình thái ý thức chính trị,
pháp quyền, tôn giáo…) và các thiếtchế chính trị- xã hội tương ứng của chúng(nhà
nước, chính đảng, giáo hôi…Mỗi yếu tố trong kiến trúc thượng tầng có những đặc
điểm riêng nhưng ko biệt lập, độc lập với nhau mà cácyếu tố ấy tác động biện
chứng lẫn nhau và hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định. TrongXH có sự
phân chia giai cấp, Nhà Nước thường là bộ phận quan trọng nhất. Nhiều khi
ngườithường đồng nhất Nhà Nước với kiến trúc thượng tầng mà bỏ qua các yếu tố
còn lại trongkiến trú thượng tầng.
Trong XH có sự phân chia giai cấp, kiến trúc thượng tần cũng mangtính đối
kháng giai cấp nhưng chỉ phản ánh tính đối kháng giai cấp trong cơ sở hạ tầng.
Quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT:CSHT và KTTT là hai phương diện cơ
bản của đời sống XH- đó là phương diện kinh tế vàphương diện chính trị-XH.
Chúng tồng tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau,tác động lẫn
nhau, trong đó CSHT đóng vai trò quyết định đối với KTTT và đồng thời
KTTTthường xuyên có sự tác động trở lại CSHT kinh tế của XH.
- Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT. Vai trò quyết định của CSHT
đối với KTTT được thể hiện trên niều phương diện: tươngứng với một CSHT sẽ
sản sinh ra một KTTT phù hợp, có tác dụng bảo vệ CSHT đó. Đặc điểmcủa CSHT
ra sao thì KTTT sinh ra cũng như thế, giai cấp nào giữ vai trò thống trị kinh tế
thìgiữ địa vị thống trị trong Nhà Nước.
Những biến đổi trong cơ sở hạ tầng tạo ra nhu cầu kháchquan phải có sự
biến đổi tương ứng trong KTTT. Khi CSHT thay đổi thì sớm muộn KTTT mànó
sinh ra cũng thay đổi nhưng sự biến đổi diễn ra trong phạm vi, hình thái KT-XH
nhất địnhhoặc sự biến đổi diễn ra từ hình thái KT-XH này sang hình thái KT-XH
khác.
Tính chất mâuthuẫn trong CSHT được phản ánh thành mâu thuẫn trong hệ
thống KTTT. Sự đấu tranh tronglĩnh vực ý thức XH và những xung đột lợi ích
chính trị-XH có nguyên nhân sâu xa từ mâuthuẫn và cuộc đấu tranh giành lợi ích
trong cơ sở kinh tế của XH. Giai cấp nắm giữ quyền sởhữu TLSX của XH đồng
thời cũng là giai cấp nắm được quyền lực Nhà Nước trong KTTT còncác giai cấp
và tầng lớp XH khác ở vào địa vị phụ thuộc đối với quyền lực Nhà Nước.
Cácchính sách và pháp luật của Nhà Nước, suy đến cùng chỉ là phản ánh nhu cầu
thống trị vềkinh tế của giai cấp nắm giữ quyền sở hữu những TLSX chủ yếu của
XH…
12
Như vậy, CSHTquyết định KTTT, còn KTTT là sự phản ánh đối với CSHT,
phụ thuộc vào CSHT. Tính chấtphụ thuộc của KTTT vào CSHT có nguyên nhân từ
tính tất yếu kinh tế đối với toàn bộ các lĩnhvực sinh hoạt của XH.
- Vai trò tác động trở lại của KTTT đối với CSHT. Với tư cách là các hình
thức phản ánh và được xác lập do nhu cầu phát triển của kinhtế, các yếu tố thuộc
KTTT có vị trí độc lập tương đối của nó và thường xuyên có vai trò tácđộng trở lại
CSHT của XH. Sự tác động của KTTT đối với CSHT có thể thông qua
nhiềuphương thức. Điều đó tùy thuộc vào bản chất mỗi nhân tố trong KTTT, phụ
thuộc vào vị trí,vai trò của nó và những điều kiện cụ thể. Tuy nhiên trong điều kiện
KTTT có yếu tố Nhà Nướcthì phương thức tác động của các yếu tố khác tới cơ sở
KT của XH thường phải thông quanhân tố Nhà Nước mới có thể thực sự phát huy
mạnh mẽ vai trò thực tế của nó.
Nhà Nước là nhân tố có tác động trực tiếp nhất và mạnh mẽ nhất tới CSHT
kinh tế của XH. Sự tác động của các nhân tố thuộc KTTT có thể diễn ra theo nhiều
xu hướng, thậm chícá xu hướng ko chỉ khác nhau mà còn có thể đối lập nhau, điều
đó phản ánh tính chất mâuthuẫn lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp XH khác
nhau và đối lập nhau.
Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT thể hiện ở chức năng XH của
KTTT: đó làduy trì, củng cố CSHT sinh ra nó đồng thời đấu tranh để xóa bỏ CSHT
và KTTT cũ để lại vàxác lập một cơ sở kinh tế khác, xây dựng một chế độ XH
khác. Sự tác động có thể diễn ra theo hai xu hướng tích cực hoặc tiêu cực, điều đó
phụ thuộcvào sự phù hợp hay ko phù hợp của các yếu tố thuộc KTTT đối với nhu
cầu khách quan của sựphát triển kinh tế.
Nếu phù hợp, nó sẽ có tác dụng tích cực, kìm hãm và phá hoại sự phát
triểnkinh tế trong một phạm vi và mức độ nhất định. Tuy nhiên sự tác động của
KTTT đối vớiCSHT dù diễn ra với những xu hướng khác nhau, mức độ khác nhau
nhưng nó cũng ko thể giữvai trò quyết định đối với CSHT kinh tế của XH.
Câu 9: Đấu tranh giai cấp
Khái niệm: Theo V.I lê nin: Khái niệm đấu tranh giai cấp dùng để chỉ
"cuộc đấu tranh của quầnchúng nhân dân bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động,
cuộc đấu tranh của những côngnhân làm thuê hay những người vô sản chống lại
những người hữu sản hay giai cấp tưsản..." Theo khái niệm này, thực chất của cuộc
đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh củanhững người lao động làm thuê, những
người nô lệ bị áp bức về chính trị - xã hội và bị bóclột về kinh tế chống lại sự áp
bức và bóc lột của nó.
Tuỳ theo những điều kiện lịch sử khác nhau, các cuộc đấu tranh có thể diễn
ra dướinhiều hình thức khác nhau với những phạm vi và trình độ kkhác nhau như:
đấu tranh kinhtế, đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị ... trong lịch sử cuộc đấu
tranhh còn mang hìnhthức đấu tranh tôn giáo, văn hoá và có thể có nhiều hình thức
đa dạng khác.
Để khống chế ,đàn áp các cuộc đấu tranh đó, nhằm duy trì và thực hiện được
sự bóclột của nó, các giai cấpthống trị trong lịch sử tất yếu phải sử dụng đến sức
mạnh bạo lực cótổ chức - đó là nhà nước với đội vũ trang đặc biệt và hệ thống
phápluật nhằm duy trì sự trậttự của sự thống trị giai cấp.
13
Vì vậy vấn đề chính quyền nhà nươc, quyền lực nhà nước là vấnđề trung
tâm và cơ bản của các cuộc đấu tranh gai cấp trong xã hội. Bất cứ cuộc đấu
tranhgiai cấp nào chưa giải quyết dc vấn đề nhà nước thì chưa giai quyết dc vấn đề
cơ bản vàtrung tâm của cuộc đấu tranh giai cấp.
Tuy nhiên k phải mọi cuộc đấu tranh đều xác địnhvấn đề chính quyền, quyền
lực nhà nước là vấn đề trung tâm của nó mà chỉ có sự phát triểncủa cuộc đấu tranh
giai cấp đến trình độ đấu tranh chính trị thì vấn đề đó mới trở thànhvấn đề trung
tâm cơ bản của nó. đó cũng là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hộivới tư
cách là đỉnh cao của sự phát triển đấu tranh giai cấp.
Sự ra đời và tồn tại của nhà nước là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp
trong xã hộicó đối kháng giai cấp.khi các mâu thuẫn xã hội đã bị đẩy đến chỗ ko
thể giải quyết dc thì tấtyếu giai cấp thống trị cần đến sức mạnh baọ lực đặc biệt để
duy trì xã hội trong vòng 1 trậttự theo ý của nó. sự ra đời và tồn tại của nhà nước
ko phải để giải quyết mâu thuẫn mà đểduy trì xã hôi trong điều kiện mâu thuẫn ko
thể giải quyết dc.trong lịch sử hàng ngìn nămqua đã tồn tại các kiểu nhà nước: Nhà
nước chủ nô thời cổ đại, nhà nước phong kiến thờitrung cổ và nhà nước tư sản ở
các nước tư bản từ thời cận đại đến nay. Đây là kiểu nhànước dùng công cụ bạo lực
có tổ chức nhằm khống chế các cuộc đấu trah giai cấp của giaicấp lao động. Cho
dù hình thức của mỗi kiểu nhà nước đó khác nhau nhưng bản chất củachúng chỉ là
công cụ chuyên chính giai cấp của các giai cấp bóc lột trong lịch sử đối với nôlệ
hay lao động làm thuê. Khác với các kiểu nhà nước nói trên, nhà nước chuyên
chính vôsản là nhà nước kiểu mới, là “ nửa nhà nước” là nhà nước tồn tại trong
thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là công cụ bạo lực có tổ chức và công cụ quản
lý kinh tế - xã hội của giaicấp công nhân và nhân dân lao động.
Vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự vận động, phát triển của xã hội có
đối kháng giaicấp. Đấu tranh giai cấp giữ vai trò là 1 trong những phương thức,
động lực của sự tiến bộ,phát triển xã hội trong điều kiện xã hội có sự phân hoá
thành đối kháng giai cấp. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lịch sử
nhân loại từ khi có sự phân hoágiai cấp đến nay về thực chất chỉ là những cuộc đấu
tranh giai cấp được biểu hiện dứơinhiều hình thức đa dạng với những mức độ khác
nhau và mang sắc thái khác nhau. Đó làcuộc đấu tranh của những người nô lệ
chống lại áp bức của giai cấp chủ nô, cuộc đấu tranhcủa những nông nô, những
người nông dân làm thuê chống lại sự áp bức và bóc lột của bọnchúa đất địa chủ,
cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê chống lại sự áp bứccủa giai
cấp tư sản. kết quả cuối cùng của những cuộc đấu tranh đó đêu dẫn đến sự ra
đờicủa phương thức sản xuất mới thông qua đỉnh cao của nó là cuộc cách mạng xã
hội.
Như vậy trong điều kiện xã hôi có đối kháng giai cấp thì sự phát triển của xã
hôi chỉcó thể thực hiện được thông qua những cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải
quyết nhữngmâu thuẫn đối kháng trong đời sống kinh tế và chính trị - xã hội. Lúc
này đấu tranh giai cấpko chỉ động lực của sự phát triển mà còn là phương thức của
sự tiến bộ xã hội.
Theo lý luận hình thái kinh tế- xã hội, phương thức và động lực cơ bản nhất
của sựtiến bộ, phát triển xã hội là sự vận động của mâu thuẫn trong phương thức
sản xuất, trongbản thân nền sản xuất vật chất của xã hội. Nhưng trong điều kiên xã
14
hội có sự phân hoá giaicấp thì mâu thuẫn đó lại được bộc lộ và biến thành mâu
thuẫn đối kháng giữa các giai cấptrong xã hội. Trong trường hợp này, mâu thuẫn
đối kháng trong đời sống kinh tế chỉ đượcgiải quyết thông qua việc giải quyết mâu
thuẫn đối kháng giai cấp trên lĩnh vực chính trị -xã hội. như vậy mâu thuẫn giai cấp
và đấu tranh giai cấp đã trở thành cơ chế chính trị - xãhội để giải quyết mâu thuẫn
trong phương thức sản xuất, thực hiện nhu cầu khách quan củasự phát triển lực
lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Câu 10: Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
Nội dung của tíh độc lập tương đối của ytxh được phân tích trên các phương
diện chính sauđây:
Thứ nhất, ý thức xh thường lạc hậu so với tồn tại xã hội. Theo nguyên lý
tồn tại xh quyết định ý thức xh thì khi tồn tại xh biến đổi tất yếu sẽ dẫnđến sự biến
đổi của ý thức xh.
Tuy nhiên ko phải trong mọi trường hợp,sự biến đổi của tồn tại xh đều ngay
lập tức dẫn đến sự biến đổi của ý thức xh, trái lại nhiều yếu tố của ý thức xhcó thể
tồn tại rất lâu dài ngay cả khi cơ sở tồn tại xh sản sinh ra nó đã được thay đổi
cănbản. sở dĩ như vậy là vì: một là do bản chất của ýtxh chỉ là sự phản ánh của tồn
tại xh chonên nói chũng ý thức xh chỉ có thể biến đổi sau khi có sự biến đổi của tồn
tại xh. mặt khácsự biến đổi của tồn tại xh do sự tác động mạng mẽ thương xuyên
và trực tiếp của hoạt độngthực tiễn diễn ra với tốc độ nhah mà ý thức ko thể phản
ánh kịp.
Hai là: do sức mạnh củathói quen, truyền thống tập quán cũng như do tính
lạc hậu bảo thủ của 1 số hình thái ý thứcxh.
Ba là ý thức xh luôn gắn với lợi ích của những nhóm những tập đoàn người
những giaicấp nhất định trong xh. vì vậy những tư tưởng cũ lạc hậu thường dc các
lực lượng xh phảntiến bộ lưu giữ và truyền báo nhằm chống lại các lực lượng tiến
bộ xh.Thứ 2 ý thức xh có thể vượt trước tồn tại xh Khi khẳng định tính thường lạc
hậu hơn của ytxh so với tồn tại xh, cndv lịch sử đãđồng thời thừa nhận rằng trong
những điều kiện nhất định tư tưởng của con người, đặc biệtnhững tư tưởng khoa
học tiên tiến có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báođược tương
lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người, hướnghoạt
động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới do sự phát triển chín muồi của
đờisống vật chất của xã hội đặt ra.
Khi nói tư tưởng tiên tiến có thể đi trước tồn tại xã hội, dựkiến được quá
trình khách quan của sự phát triển xã hội thì không có nghĩa nói rằng trongtrường
hợp này ý thức xã hội không còn bị tồn tại xã hội quyết định nữa. Tư tưởng khoa
họctiên tiến không thoát ly tồn tại xã hội, mà phản ánh chính xác, sâu sắc tồn tại xã
hội.
Thứ 3 ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình Lịch sử
phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng, những quan điểm lýluận của
mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra trên cơ
sởkế thừa những tài liệu lý luận của các thời đại trước.
Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển, nên không thể giải thích được
một tưtưởng nào đó nếu chỉ dựa vào những quan hệ kinh tế hiện có, không chú ý
15
đến các giai đoạnphát triển tư tưởng trước đó. Lịch sử phát triển của tư tưởng cho
thấy những giai đoạn hưngthịnh hoặc suy tàn của triết học, văn học, nghệ thuật,
v.v. nhiều khi không phù hợp hoàntoàn với những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy
tàn của kinh tế.
Tính chất kế thừa trong sựphát triển của tư tưởng là một trong những nguyên
nhân nói rõ vì sao một nước có trình độphát triển tương đối kém về kinh tế nhưng
tư tưởng lại ở trình độ phát triển cao. Thí dụ,nước Pháp thế kỷ XVIII có nền kinh
tế phát triển kém nước Anh, nhưng tư tưởng thì lại tiêntiến hơn nước Anh; so với
Anh, Pháp thì nước Đức ở nửa đầu thế kỷ XIX lạc hậu về kinh tế,nhưng đã đứng ở
trình độ cao hơn về triết học. Trong xã hội có giai cấp, tính chất kế thừacủa ý thức
xã hội gắn với tính chất giai cấp của nó. Những giai cấp khác nhau kế thừanhững
nội dung ý thức khác nhau của các thời đại trước. Các giai cấp tiên tiến tiếp
nhậnnhững di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại. Thí dụ, khi làm cách mạng
tư sản chốngphong kiến, các nhà tư tưởng tiên tiến của giai cấp tư sản đã khôi phục
những tư tưởng duyvật và nhân bản của thời cổ đại.
Ngược lại, những giai cấp lỗi thời và các nhà tư tưởng của nó thì tiếp thu,
khôiphụcnhững tư tưởng, những lý thuyết xã hội phản tiến bộ của những thời kỳ
lịch sửtrước.Giai cấp phong kiến các nước Tây Âu trung cổ ở thời kỳ suy thoái đã
ra sức khai tháctriết học của Platôn và những yếu tố duy tâm trong hệ thống triết
học của Arixtốt thời kỳ cổđại Hy Lạp, biến chúng thành cơ sở triết học của các
giáo lý đạo Thiên chúa; hoặc vào nửasau thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX các thế lực
tư sản phản động đã phục hồi và phát triển những trào lưu triết học duy tâm, tôn
giáo dưới những cái tên mới như chủnghĩa Cantơ mới, chủ nghĩa Tômát mới, v.v.
để chống lại phong trào cách mạng của giaicấp công nhân và hệ tư tưởng của nó là
chủ nghĩa Mác.
Quan điểm của triết học Mác - Lênin về tính kế thừa của ý thức xã hội có ý
nghĩa tolớn đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá tinh thần của xã hội xã hội chủ
nghĩa. V.I. Lêninnhấn mạnh rằng, văn hoá xã hội chủ nghĩa cần phải phát huy
những thành tựu và truyềnthống tốt đẹp nhất của nền văn hoá nhân loại từ cổ chí
kim trên cơ sở thế giới quan mácxít.
Người viết: "Văn hoá vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số
những kiến thứcmà loài người đã tích luỹ được dưới ách thống trị của xã hội tư
bản, xã hội của bọn địa chủvà xã hội của bọn quan liêu".
Nắm vững quan điểm trên đây của triết học Mác - Lênin vềtính kế thừa của
ý thức xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc đổi mới ở nước tahiện nay
trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng, Đảng ta khẳng định, trong điều kiện kinh tế
thịtrường vàlực lượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống lại các
lực lượngxã hội tiến bộ. Những ý thức lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ
dàng. Vì vậy, trongsự nghiệp xây dựng xã hội mới phải thường xuyên tăng cường
công tác tư tưởng, đấu tranhchống lại những âm mưu và hành động phá hoại của
những lực lượng thù địch về mặt tưtưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn dư ý thức cũ,
đồng thời ra sức phát huy những truyền thốngtư tưởng tốt đẹp.
Thứ 4 Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát
triển củachúng Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội làm cho ở mỗi
16
hình thái ý thức cónhững mặt, những tính chất không thể giải thích được một cách
trực tiếp bằng tồn tại xã hộihay bằng các điều kiện vật chất.
Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy, thông thườngở mỗi thời đại,
tùy theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái ý thức nào đó nổilên
hàng đầu và tác động mạnh đến các hình thái ý thức khác.
Ở Hy Lạp cổ đại, triết học vànghệ thuật đóng vai trò đặc biệt to lớn; còn ở
Tây Âu trung cổ thì tôn giáo ảnh hưởng mạnhmẽ đến mọi mặt tinh thần xã hội như
triết học, đạo đức, nghệ thuật, chính trị, pháp quyền. ởgiai đoạn lịch sử sau này thì
ý thức chính trị lại đóng vai trò to lớn tác động đến các hìnhthái ý thức xã hội khác.
Ở Pháp nửa sau thế kỷ XVIII và ở Đức cuối thế kỷ XIX, triết học vavăn học
là công cụ quan trọng nhất để tuyên truyền những tư tưởng chính trị, là vũ đài
củacuộc đấu tranh chính trị của các lực lượng xã hội tiên tiến. Trong sự tác động
lẫn nhau giữacác hình thái ý thức, ý thức chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng, ý
thức chính trị của giaicấp cách mạng định hướng cho sự phát triển theo chiều
hướng tiến bộ của các hình thái ýthức khác.
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, những hoạt động tư tưởng như triết
học,văn học nghệ thuật, v.v. mà tách rời đường lối chính trị đúng đắn của Đảng sẽ
không tránhkhỏi rơi vào những quan điểm sai lầm, không thể đóng góp tích cực
vào sự nghiệp cáchmạng của nhân dân.
Thứ 5 ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội Chủ nghĩa duy vật lịch sử
không những chống lại quan điểm duy tâm tuyệt đối hóa vaitrò của ý thức xã hội,
mà còn bác bỏ quan điểm duy vật tầm thường, hay chủ nghĩa duy vậtkinh tế phủ
nhận tác dụng tích cực của ý thức xã hội trong đời sống xã hội. Ph.Ăngghenviết:
"Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật v.v.
đềudựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn
nhau và ảnhhưởng đến cơ sở kinh tế"
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển xã hội phụthuộc vào
những điều kiện lịch sử cụ thể; vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên
đó tư tưởng nảy sinh; vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng; vào mức
độ phảnánh đúng đắn của tư tưởng đối với các nhu cầu phát triển xã hội; vào mức
độ mở rộng củatư tưởng trong quần chúng. Cũng do đó, ở đây cần phân biệt vai trò
của ý thức tư tưởng tiếnbộ và ý thức tư tưởng phản tiến bộ đối với sự phát triển xã
hội. Như vậy, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối
của ý thứcxã hội chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển của ý thức xã hội
và của đời sốngtinh thần xã hội nói chung; nó bác bỏ mọi quan điểm siêu hình,
máy móc, tầm thường về mốiquan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội/.