Con đường cách mạng giải phóng dân tộc
phải đi lên từ con đường cách mạng vô
sản.
Nhóm thực hiện: Nhóm 2
Lớp: Kiểm toán 59B CLC
Trường nhóm: Bùi Đăng Hoàng
Thành viên: Đức Huy
Đặng Thanh Hòa
Nguyễn Việt Hoàng
Phạm Hương
Tô Khánh Huyền
Khánh Hưng
Kiều Thế Hưng
Nguyễn Ngọc Hải
Thảo Linh
Ngô Thu Huyền
Trịnh Thị Quế Lan
Vi Linh
Việt Hùng
Nguyên Hoàng
1
Mục Lục
I, Cơ sở lí luận:
1, Tinh hoa văn hóa phương tây:
+ Mĩ
+ Pháp
2, Tư tưởng của Mác
3, Tư tưởng của Lenin.
II, Cơ sở thực tiễn:
1, Tình hình thế giới:
+ Sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc.
+ Cách mạng tháng 10 Nga
2, Tình hình trong nước:
+ Bố cảnh.
+ Sự thất bại của các con đường cách mạng khác.
III, Con đường cách mạng vô sản.
1, Tính chất
2, Nội Dung
IV, Tính đúng đắn.
1, Con đường cách mạng vô sản
2
2, Chính sách của Đảng nhà nước thực hiện
Con đường cách mạng giải phóng dân tộc
phải đi lên từ con đường cách mạng vô
sản.
I, Cơ sở lí luận:
1, Tinh hoa văn hóa phương tây:
Văn hóa phương Tây được Hồ Chí Minh tiếp nhận đồng thời với quá trình tiếp thu
chủ nghĩa Mác- Lênin là một bộ phận hết sức quan trọng trong tư tưởng của
Người, xét cả về bề rộng và về chiều sâu tư tưởng.
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh với
thế giới lại đều tìm thấy trong tinh hoa văn hóa phương Tây mà Người đã tiếp thu
được.
+, Mĩ: Cách mạng giải phóng dân tộc năm 1776
Khi xuất dương, Người đã từng sang Mỹ, đến sống ở Niu Oóc, làm thuê và thường
đến thăm khu ở của người da đen. Trong các bài viết sau này, Người thường nhắc
đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con người được ghi lại
trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ. Người đã tiếp thu giá trị của tư
tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự do cá nhân thiêng liêng trong bản tuyên
ngôn này. Sau này Người đã phát triển nó thành quyền sống, quyền độc lập, quyền
tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc. Nội dung nhân quyền được
Người nâng lên một tầm cỡ mới trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam năm
1945.
Trước đó , bác còn nghiên cứu cách mạng mĩ thế kỉ XVIII, sự khốn khổ của người
dân da đen….
+, Pháp: Cách mạng nhân quyền và dân quyền năm 1789
3
Cuối năm 1917, Người từ Anh sang Pháp và quyết định sống và hoạt động ở thủ đô
nước Pháp có ý nghĩa lịch sử rất lớn, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đời mình.
Là thủ đô của nước Pháp, Pa-ri cũng đồng thời là trung tâm văn hóa - nghệ thuật
của châu Âu. Các trào lưu triết học và các trường phái nghệ thuật nổi tiếng thế giới
phần lớn đều được hình thành và ra mắt tại đây. Sống ở giữa nơi hợp lưu của các
dòng văn hóa thế giới, Người đã có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng chiếm lĩnh
vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống văn hóa dân chủ và tiến bộ của
nước Pháp.
Đến với quê hương của lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, Hồ Chí Minh được tiếp
xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Von-te, Rút-xô, Môngtét-xki-ơ,…những lý luận gia của đại cách mạng Pháp 1789, như Tinh thần pháp
luật của Mông-tét-xki-ơ, Khế ước xã hội của Rút-xô, v.v…tư tưởng dân chủ của
các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người. Ngoài ra, Người còn
hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ của mình
từ trong cuộc sống thực tiễn. Rõ ràng là, ở Pháp, Người đã có thể hoạt động và đấu
tranh cách mạng một cách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình,
dưới chế độ thuộc địa.
Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp
của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M. Ca-sanh, P.V. Cu-tuya-riê, G. Mông-mút-xô…mà Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành. Con người ấy,
trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại,
Đông và Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại
mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.
Kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh của Thiên chúa giáo: Nói đến việc kết hợp văn
hóa Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh, không thể không đề cập đến sự kế
thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị cơ bản của Thiên chúa giáo. Người đã
cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao
động khỏi ách áp bức, bóc lột; đã là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy sinh cao
cả. Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người,
thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận - đó là những tư tưởng thấm đậm
những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn
dạy.
Người lên án gay gắt những kẻ “giả danh Chúa” để thực hiện những “hành vi ác
quỷ”: dẫn đường cho đội quân viễn chinh; cướp của cải, đánh đập, bắt giết người
(đặc biệt là trẻ em); chiếm ruộng đất canh tác, v.v…Người coi những hành động đó
là sự đi ngược lại và phản bội lòng nhân ái cao cả của Chúa, làm hoen ố tư tưởng
lớn của Ngài là muốn mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Người viết: “Nếu Chúa bất
hạnh đã chịu đóng đanh trên cây thánh giá trở về cõi thế này, thì chắc Ngài sẽ vô
4
cùng ngao ngán khi thấy “các môn đồ trung thành” của mình thực hiện đức khổ
hạnh như thế nào”.
Người lên án những giáo sĩ đại diện cho chủ nghĩa tư bản phương Tây, những kẻ
nhân danh Chúa để quan hệ mật thiết với thế lực thực dân, tham gia vào guồng
máy của chủ nghĩa thực dân, xâm nhập về kinh tế và quân sự, áp đặt nền văn hóa
thực dân, làm xuất hiện nguy cơ bá quyền văn hóa, v.v…
Tóm lại, Hồ Chí Minh tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc
rồi vận dụng tinh hoa đó một cách sát hợp vào những điều kiện cụ thể của đất
nước, của dân tộc vì mục đích không chỉ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình
mà còn góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp của các dân tộc khác trên thế giới.
Với cả 2 cách mạng giải phóng dân tộc năm 1776 của Mỹ và cách mạng nhân
quyền và dân quyền Pháp năm 1789, Người rút ra kết luận: cách mạng Pháp và
cách mạng Mỹ là cách mạng tư sản, cách mạng không đến nơi, không giải phóng
những người lao động mà lại đi áp bức các dân tộc khác. Cách mạng Việt Nam
không thể đi theo con đường đó. Do đó, đây là những cuộc cách mạng không triệt
để.
2, Tư tưởng của Mác.
A, Mác về vấn đề dân tộc:
Từ thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản chưa trở thành chủ nghĩa đế quốc, ở châu Âu,
mâu thuẫn cơ bản của xã hội là mâu thuẫn giữa hai giai cấp đối kháng: tư sản và vô
sản. Vào thời C.Mác, hệ thống thuộc địa đã có nhưng các cuộc đấu tranh giành độc
lập chưa phát triển mạnh nên việc xem xét và đưa ra các luận điểm về vấn đề dân
tộc không phải là về con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa mà chủ yếu là
về vấn đề giai cấp. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp
là mối quan hệ chặt chẽ, được C.Mác và Ph.Ăngghen xem xét và giải quyết xuất
phát từ yêu cầu thực tiễn của cách mạng vô sản. Và cách mạng vô sản là điều kiện
cơ bản nhất để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Do vậy, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, hai ông nhấn mạnh đến vấn đề giải
phóng giai cấp công nhân. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Hãy xoá bỏ tình trạng
người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác sẽ được xoá bỏ”
và “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì
sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo.”(“Tuyên ngôn của Đảng
Cộng Sản” – Tháng 2/1848). Như vậy, theo C.Mác, để giải quyết sự đối kháng dân
5
tộc, trước hết phải giải quyết sự đối kháng giai cấp, giải phóng giai cấp là nhiệm vụ
trung tâm, là điều kiện để giải phóng dân tộc.
Trên cơ sở phân tích quy luật kinh tế của sự vận động trong xã hội tư bản chủ
nghĩa, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mà biểu hiện về mặt
xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản - đại diện cho lực lượng sản xuất và giai
cấp tư sản - đại biểu cho quan hệ sản xuất thống trị, chỉ có thể được giải quyết
thông qua một cuộc cách mạng xã hội mới - cách mạng vô sản. Mà lực lượng duy
nhất có sứ mệnh lãnh đạo cuộc cách mạng thực hiện bước chuyển biến lịch sử này
chính là giai cấp công nhân – những người đại diện cho giai cấp vô sản.
B, Con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa:
“Điểm chủ yếu trong học thuyết Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế
giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.”(Lê-nin) Có
nghĩa là, suy cho cùng mục đích của cách mạng vô sản hay vấn đề giải phóng giai
cấp đều hướng đến mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa. Con đường cách mạng vô
sản của Mác cũng nằm trên con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Giải phóng xã hội, giải phóng con người là mục tiêu của giai cấp công nhân, của
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất có tính
xã hội hoá cao với tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất dưới chủ
nghĩa tư bản nghiễm nhiên dẫn đến một cuộc cách mạng để xoá bỏ cái cũ, thay
bằng cái mới. Như vậy, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quy luật tất yếu, xét cả
từ phương diện lý luận lẫn phương diện thực tiễn, mà lịch sử phải trải qua trong
tiến trình vận động, phát triển của mình. Con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa
cũng là con đường cấp thiết và phù hợp nhất lúc bấy giờ.
C, Kết luận:
Con đường mà Mác đưa chúng ta tới đến cùng là con đường cách mạng xã hội chủ
nghĩa không phải là con đường giải phóng dân tộc, tuy nhiên đó là con đường tất
yếu mà chúng ta phải đi, là điều sẽ xảy ra trong tiến trình lịch sử. Và những tư
tưởng, luận điểm của Mác về vấn đề giai cấp cũng như mối quan hệ giữa vấn đề
dân tộc và vấn đề giai cấp đã trở thành điểm tựa, là lý luận căn bản góp phần hình
thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng dân tộc, về con đường cách
mạng vô sản.
6
3, Tư tưởng của Lenin:
+, Cách mạng tư sản kiểm mới:
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nhất là vào những năm cuối thế kỉ XX, trong các
nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã diễn ra một cách sâu rộng cuộc cách mạng
khoa học công nghệ. Việc áp dụng những thành tựu ấy đã làm quan hệ sản suất tư
bản chủ nghĩa có sự biến đổi để thích ứng. Từ đó nẩy sinh ra những biểu hiện mới
đồng thời làm cho mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản thêm gay gắt. Chủ nghĩa
tư bản hiện đại là một nấc thang quan trọng trong quá trình phát triển tư bản độc
quyền.
Khái quát các cuộc cách mạng DCTS thời Cận đại: LSTG Cận đại (Cách
mạng Nedecland đến CM tháng 10 Nga) là lịch sử của cuộc đấu tranh nhằm giải
quyết vấn đề ai thắng ai giữa CNTB với chế độ phong kiến. Cuộc đấu tranh đó
diễn ra quyết liệt dưới nhiều hình thức mà trước tiên là các cuộc cách mạng tư sản.
Những cuộc CMDCTS diễn ra từ thế kỉ XIX trở về trước... là CMDCTS kiểu cũ,
còn những cuộc cách mạng như cuộc CM 1905 – 1907, tháng 2/1917 ở Nga là
CMDCTS kiểu mới...
Khái niệm Cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới: Làm nhiệm vụ của cách
mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, sau khi thắng lợi sẽ chuyển
lên cách mạng xã hội chủ nghĩa
So sánh Cách mạng dân chủ tư sản kiểu cũ và cách mạng dân chủ tư sản
kiểu mới:
Nội dung so sánh
CMDCTS kiểu cũ
CMDCTS kiểu mới
Tính chất, nhiệm vụ
Cách mạng
Lật đổ và xóa bỏ những
tàn tích của chế độ
phong kiến
Giai cấp tư sản, quí tộc
mới, chủ nô,…
Tư sản, nông dân
Giống CMDCTS kiểu
cũ
Giai cấp lãnh đạo Cách
mạng
Động lực Cách mạng
Chính quyền nhà nước
Chuyên chính của tư
sản
Giai cấp vô sản
Công nhân và nông dân
liên minh với nhau
Chuyên chính côngnông
7
Hướng đi lên của Cách
mạng
Xây dựng chủ nghĩa tư
bản
Tiến lên làm cách mạng
XHCN và xây dựng
CNXH
Giải thích:
- Nhiệm vụ chống phong kiến, lật đổ chế độ phong kiến, mở đường cho xã hội
phát triển là nhiệm vụ của giai cấp tư sản. Giai cấp này sinh ra để lật đô chế
độ PK, thiết lập CNTB, mở đường cho XH TBCN phát triển. Giai cấp TS từ
thế kỉ XIX trở về trước đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Sang đầu
thế kỉ XX, CNTB phát triển sang giai đoạn ĐQCN, giai cấp TS không còn
đóng vai trò tiến bộ nữa, trong khi đó, chế độ PK vẫn còn tồn tại ở một số
nước. Sứ mệnh lịch sử đặt lên vai giai cấp mới – giai cấp vô sản.
- Lãnh đạo hai cuộc cách mạng khác nhau, mặc dầu đều nhằm thực hiện
nhiệm vụ chung là chống chế độ phong kiến. Trong CM DCTS mới, giai cấp
vô sản lãnh đạo CM lật đổ chế độ PK, làm thay nhiệm vụ của giai cấp TS.
Sứ mệnh của giai cấp vô sản là lật đổ chế độ TBCN, thiết lập nên chuyên
chính vô sản. Vì thế, sau khi lật đổ chế độ PK, giai cấp vô sản đưa cách
mạng phát triển lên một giai đoạn mới – CMXHCN.
Lênin nêu đường lối sách lược của chính Đảng của giai cấp công nhân
trong cuộc cách mạng tư sản kiểu mới - một sự phát triển chủ nghĩa Mác
trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc
Đại hội III Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga họp vào mùa xuân
1905. Những nghị quyết của Đại hội, kế hoạch chiến lược và sách lược của
Đại hội đề ra là cương lĩnh chiến đấu của Đảng trong cuộc đấu tranh đưa
cách mạng dân chủ đến thắng lợi. Sau Đại hội, nhiệm vụ đặt ra trước Đảng
Bônsêvích là xiết chặt hàng ngũ Đảng xung quanh những Nghị quyết đã
được Đại hội thông qua, hướng công tác của tất cả các tổ chức Đảng vào
việc thực hiện các Nghị quyết ấy đồng thời vạch trần sách lược cơ hội chủ
nghĩa của phái Mensêvích. Các Nghị quyết mà Hội nghị của phái Mensêvích
họp ở Giơnevơ cùng một lúc với Đại hội III Đảng công nhân dân chủ - xã
hội Nga hoàn toàn trái ngược với đường lối, sách lược của những người
Bônsêvích. Điều cần thiết lúc này là phải phê phán phái Mensêvích để thống
nhất hành động của giai cấp vô sản, bảo đảm được sự ủng hộ của giai cấp
công nhân và tất cả những người lao động đối với sách lược của những
8
người Bônsêvích. Trong những điều kiện ấy, giữa năm 1905, Lênin viết tác
phẩm “Hai sách lược của Đảng dân chủ - xã hội trong cách mạng dân chủ”
và đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng công nhân dân chủ - xã hội
Nga cho xuất bản vào tháng 7- 1905 để khẳng định sự đúng đắn trong sách
lược của những người Bônsêvích.
Đây là nội dung chính của tác phẩm:
A. Quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trong cách mạng dân chủ tư sản
Bằng quan điểm duy vật về lịch sử, Mác và Ăngghen trước đây đã
khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng vô sản
lật đổ chế độ tư sản. Nhưng trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản thì vai trò
lãnh đạo của giai cấp vô sản, Mác và Ăngghen chưa nêu. Trong thời đại đế
quốc chủ nghĩa, Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác, Người cho rằng, giai cấp
vô sản chẳng những không xa lánh cách mạng tư sản, mà phải tham gia cách
mạng ấy một cách hết sức kiên quyết, hơn thế nữa còn phải lãnh đạo cuộc
cách mạng dân chủ tư sản. Lênin lý giải rằng, cuộc cách mạng ở Nga lúc này
là cuộc cách mạng đầu tiên trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, tính chất,
động lực và phương pháp của nó khác cuộc cách mạng trước đây. Cách
mạng tư sản là biểu hiện nhu cầu phát triển chủ nghĩa tư bản nhưng nó cũng
có yêu cầu quan trọng đối với giai cấp vô sản. Giai cấp vô sản Nga “khổ vì
chủ nghĩa tư bản ít hơn khổ vì chủ nghĩa tư bản không được phát triển đầy
đủ”. Cách mạng dân chủ tư sản là bước quá độ để giai cấp vô sản làm tiếp
cuộc cách mạng vô sản của mình. Giai cấp vô sản lãnh đạo là điều kiện
quyết định sự thành bại của cách mạng dân chủ tư sản vì điều đó quy định
tính chất, nội dung của cách mạng, và nó quy định phương pháp tiến hành
cuộc cách mạng, đó là phương pháp cách mạng của quần chúng – phương
pháp nhanh và đỡ đau khổ nhất - còn con đường cải lương (thường giai cấp
tư sản hay dùng) “là con đường trì hoãn, khất lần, và là sự chết dần chết mòn
và đau đớn của những bộ phận thối nát trong cơ thể nhân dân. Giai cấp vô
sản và nông dân là những người đầu tiên phải chịu đau khổ hơn hết vì sự
thối nát đó”.
Do đó, “chính bản thân địa vị của tư sản, với tư cách là một giai cấp
trong xã hội tư bản, tất nhiên sẽ gây ra cho nó tính không triệt để trong cuộc
cách mạng dân chủ. Chính bản thân địa vị của vô sản, với tư cách là một giai
cấp, buộc họ phải trở thành những người dân chủ triệt để”.
9
B. Vấn đề nông dân và liên minh công – nông trong cách mạng dân chủ tư
sản
Vấn đề này Mác và Ăngghen đã đề cập trong nhiều tác phẩm và Lênin
đã phát triển nó phù hợp với hoàn cảnh nước Nga. Vấn đề nông dân được
đại hội của những người Bônsêvích và cả hội nghị của phái Mensêvích nêu
ra, nhưng quan điểm hoàn toàn khác nhau. Đại hội thảo ra nghị quyết nói về
“thái độ đối với phong trào nông dân”, còn hội nghị thì thảo ra nghị quyết về
“công tác trong nông dân”. Theo nghị quyết của phái Bônsêvích thì nhiệm
vụ đặt lên hàng đầu là lãnh đạo toàn bộ phong trào dân chủ cách mạng rộng
lớn chống chế độ Nga hoàng, do đó phải tổ chức ngay tức khắc những ủy
ban nông dân cách mạng để thi hành tất cả những cải cách dân chủ. Còn phái
Mensêvích thì vấn đề chung quy chỉ là “công tác” trong một tầng lớp đặc
biệt, do đó “yêu sách đòi thành lập các ủy ban” phải được trình bày lên Quốc
hội lập hiến. Phái Mensêvích phủ nhận vai trò của giai cấp vô sản trong cuộc
đấu tranh của nông dân, làm cho giai cấp vô sản đứng ngoài rìa cách mạng
tư sản và theo đuôi giai cấp tư sản. Lênin cho rằng: “Tại sao chúng ta lại
nhất thiết phải chờ đợi ở cái Quốc hội lập hiến đó? Quốc hội đó sẽ thực sự là
Quốc hội lập hiến chăng? Nếu không thành lập ra trước và cùng một lúc
những ủy ban nông dân cách mạng, thì Quốc hội lập hiến đó liệu có thật
vững chắc không?”.
Về sự cần thiết và khả năng liên minh công - nông trong cách mạng dân
chủ tư sản, Lênin cho rằng, giai cấp vô sản chỉ có thể thắng lợi trong cuộc
chiến đấu ấy một khi giai cấp nông dân tham gia cuộc chiến đấu của giai cấp
vô sản, vì trong cuộc đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng, có thể có
sự thống nhất ý chí giữa giai cấp vô sản và nông dân vì họ có sự thống nhất
về quyền lợi. Song muốn liên minh với nông dân, giai cấp vô sản phải một
mặt giáo dục nâng cao trình độ giác ngộ của nông dân lên ngang với trình độ
của cách mạng dân chủ tư sản, mặt khác phải có cương lĩnh ruộng đất đồng
thời giải quyết những quyền lợi hàng ngày của nông dân.
C. Vấn đề chính phủ cách mạng lâm thời và vấn đề chuyên chính công –
nông
Vấn đề chính phủ cách mạng lâm thời là điểm trung tâm của vấn đề
sách lược của Đảng dân chủ - xã hội và là vấn đề chính trị cấp bách nhất mà
có nhiều ý kiến khác nhau. Chính phủ Nga hoàng thừa nhận là cần phải triệu
tập các đại biểu nhân dân, nhưng dù sao cũng không muốn cho Quốc hội ấy
10
trở thành cơ quan quyền lực có tính chất toàn dân và lập hiến mà chỉ mang
tính chất tư vấn và khi bầu thì không được tự do cổ động mà phải theo một
chế độ tuyển cử hạn chế theo suất hoặc đẳng cấp. Giai cấp tư sản tự do
không đòi hỏi đánh đổ Nga hoàng, không nêu khẩu hiệu thành lập chính phủ
lâm thời, không yêu cầu có những đảm bảo thực sự cho cuộc bầu cử hoàn
toàn tự do và đúng thủ tục. Giai cấp vô sản cách mạng do Đảng dân chủ - xã
hội lãnh đạo, đòi hỏi chuyển toàn bộ quyền bính vào tay Quốc hội lập hiến,
nhằm mục đích ấy, một mặt phải thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu,
quyền tự do cổ động, mặt khác còn phải lật đổ ngay chính phủ Nga hoàng và
thay thế bằng một chính phủ cách mạng lâm thời. Trong khi đó, phái
Mensêvích cho rằng, không thể thi hành được một cương lĩnh tích cực nào.
Họ đòi phải cướp chính quyền, lập công xã - tức là lập chính phủ công nhân.
Họ lẫn lộn cách mạng dân chủ tư sản với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây
là một sai lầm “tả khuynh” nguy hiểm. Trong tác phẩm này, Lênin đã trình
bày ý kiến quan trọng của việc lập chính phủ cách mạng lâm thời trong cách
mạng dân chủ tư sản.
Chính phủ đảm bảo đầy đủ tự do chính trị “cả về phương diện lợi ích
trực tiếp của giai cấp vô sản cũng như về phương diện “mục đích cuối cùng
là chủ nghĩa xã hội”. Mà muốn có tự do chính trị đầy đủ thì phải thay thế chế
độ chuyên chế Nga hoàng bằng chế độ cộng hoà dân chủ”.
Muốn lập một chế độ cộng hoà dân chủ thì tuyệt đối phải có một hội
nghị đại biểu nhân dân, nhất thiết do toàn dân bầu ra (trên cơ sở phổ thông
đầu phiếu, bình đẳng, trực tiếp bỏ phiếu kín) và có quyền lập hiến.
Muốn thiết lập một chế độ thật sự biểu hiện cho ý chí của nhân dân cần
phải làm sao cho Quốc hội đó có quyền hành và sức mạnh để “lập hiến”,
phải có những điều kiện vật chất nhất định để Quốc hội làm trọn nhiệm vụ
của mình.
Từ ý nghĩa quan trọng đó, Lênin đã khẳng định: “Chỉ có một chính phủ
cách mạng lâm thời… mới có thể đảm bảo cho việc cổ động tuyển cử được
hoàn toàn tự do và triệu tập được một Quốc hội thật sự biểu hiện cho ý chí
của nhân dân”. Đề cập đến vấn đề chính phủ lâm thời, Lênin cũng xác định
Đảng phải tham gia chính phủ cách mạng lâm thời, vì trong chính phủ có
nhiều thành phần tham gia thì Đảng tham gia để lãnh đạo hành động từ trên
xuống kết hợp từ dưới lên của quần chúng.
Vấn đề chuyên chính dân chủ cách mạng của hai giai cấp công nhân và
11
nông dân là một yêu cầu khách quan nó đảm bảo tạo điều kiện cho sự
chuyển biến cách mạng từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Theo Lênin, chuyên chính công - nông chỉ là tạm thời, chốc lát
nhưng nếu quên đi là có hại cho cách mạng, không tạo được tiền đề cho sự
chuyển biến cách mạng.
.
+, Cách mạng vô sản:
A,Thực tiễn:
Chúng ta đều biết Mác và Ăngghen sống trong thời đại chủ nghĩa tư bản đang phát
triển đi lên, những mâu thuẫn của xã hội tư bản đã bộc lộ, cuộc đấu tranh giai cấp
của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản đã trở thành cuộc đấu tranh chủ nghĩa
trong xã hội. Công lao vĩ đại của Mác, Ăngghen là đã nghiên cứu sâu sắc và toàn
diện các quy luật của chủ nghĩa tư bản, từ đó đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa tư bản nhất
định sẽ bị diệt vong, chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thắng lợi. Mác, Ăngghen đã
vạch ra rằng sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là người đào mồ chôn chủ nghĩa
tư bản và xây dựng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa. Muốn hoàn thành sứ
mệnh lịch sử đó, giai cấp vô sản phải có chính đảng tiên phong của mình, phải tiến
hành cách mạng vô sản và thiết lập chuyên chính vô sản.
Nhưng trong thời kỳ Mác, Ăngghen sống và hoạt động, điều kiện khách quan
chưa chín muồi để cho cách mạng vô sản có thể trực tiếp nổ ra. Cho nên, suốt đời
mình, Mác, Ăngghen đã tập trung sức lực vào việc tuyên truyền giác ngộ giai cấp
công nhân, vạch trần và đánh bại các học thuyết phản động trong phong trào công
nhân, tổ chức ra các quốc tế của giai cấp công nhân, chuẩn bị cho cuộc cách mạng
của giai cấp công nhân lật đổ chủ nghĩa tư bản. Sau khi Mác, Ăngghen qua đời,
bọn lãnh tụ cơ hội chủ nghĩa thống trị Quốc tế thứ hai đã xuyên tạc thực chất cách
mạng của chủ nghĩa Mác, tuyên truyền chủ nghĩa cải lương và lý luận điều hòa giai
cấp, hướng phong trào công nhân đi vào con đường thỏa hiệp với giai cấp tư sản.
Vào cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển
thành chủ nghĩa đế quốc; độc quyền đã thay thế tự do cạnh tranh. Để thu được lợi
nhuận tối đa, bọn tư bản độc quyền không những tăng cường bóc lột công nhân và
nhân dân lao động trong nước mà còn tiến hành xâm lược thuộc địa, xuất cảng tư
bản, biến các nước nhỏ yếu và lạc hậu thành nguồn cung cấp nguyên liệu rẻ mạt và
thị trường tiêu thụ hàng hóa thừa của chúng. Sau khi hoàn thành việc phân chia thế
giới, các công ty độc quyền của các nước đế quốc không ngừng giành giật thuộc
địa và khu vực ảnh hưởng của nhau, cho nên cứ từng thời gian một, chúng lại gây
ra chiến tranh đế quốc, đẩy nhân loại vào con đường chết chóc khủng khiếp.
12
Chủ nghĩa đế quốc đặt nhân dân thế giới trước hai con đường: hoặc là cam
chịu sự thống trị và bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, do đó, sẽ bị đẩy vào hố diệt
vong; hoặc là phải vùng lên lật đổ chủ nghĩa đế quốc và đưa xã hội loài người tiến
lên một chế độ mới, xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Bối cảnh lịch sử đó đòi hỏi phải phát triển chủ nghĩa Mác lên một bước mới
để hướng dẫn cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và các dân tộc bị áp bức trên thế giới thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế
quốc và đi vào con đường xã hội chủ nghĩa.
B, Tư tưởng về con đường cách mạng vô sản của lenin:
Lênin đã sống và hoạt động trong thời đại đó. Công lao vĩ đại của Lênin là đã
nhìn thấy và đáp ứng được yêu cầu cấp bách của lịch sử. Xem xét quy luật tiến hóa
của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn tột cùng của nó, vận dụng học thuyết thiên tài
của Mác vào thực tiễn cách mạng, Lênin đã gạt bỏ những quan điểm sai lầm của
bọn cơ hội chủ nghĩa, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác, làm cho chủ nghĩa
Mác phong phú thêm bằng những lý luận mới.
_ Cống hiến quan trọng đầu tiên của Lênin là lý luận về chủ nghĩa đế quốc và cách
mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa
Lênin đã nghiên cứu sâu sắc, toàn diện các đặc điểm và quy luật của chủ nghĩa đế
quốc và nhận định rằng chủ nghĩa đế quốc là "giai đoạn phát triển cao nhất đồng
thời cũng là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản". Trong giai đoạn này, các mâu
thuẫn của xã hội tư bản chủ nghĩa đã sâu sắc đến tột bậc. Kết quả của sự phát triển
các mâu thuẫn sâu sắc ấy là phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động trong các nước đế quốc cũng như phong trào giải phóng ở các nước
thuộc địa và phụ thuộc bùng lên rầm rộ chưa từng thấy; cả hai hợp thành một làn
sóng cách mạng mạnh mẽ làm lung lay chủ nghĩa đế quốc đến tận gốc. Mặt khác,
mâu thuẫn giữa các đế quốc với nhau gay gắt đến cao độ đã làm cho những cuộc
chiến tranh đế quốc bùng nổ; những cuộc chiến tranh này lại làm sâu sắc thêm các
mâu thuẫn vốn có trong xã hội tư bản chủ nghĩa và đẩy chủ nghĩa đế quốc vào một
cuộc tổng khủng hoảng trầm trọng. Trong những điều kiện đó, Lênin đã nhận định:
chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản giãy chết, là đêm trước của cách mạng vô
sản.
Từ việc nghiên cứu đặc điểm và tính chất của chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã
nêu ra lý luận mới về cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trước kia, Mác cho rằng cách
mạng vô sản muốn thắng lợi phải đồng thời nổ ra cùng một lúc ở khắp các nước tư
bản tiên tiến, hoặc ít nhất trong đại đa số các nước ấy; nếu cách mạng vô sản chỉ nổ
ra trong một nước thì nhất định không thể tránh khỏi thất bại. Kết luận của Mác
thích hợp với thời kỳ chủ nghĩa tư bản đang phát triển đi lên, nhưng đến khi nó
chuyển thành chủ nghĩa đế quốc thì kết luận đó không còn thích hợp nữa. Lênin đã
13
chỉ rằng: "Chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành một hệ thống có tính chất toàn thế
giới của một nhúm nhỏ các nước "tiên tiến" đi áp bức thuộc địa và dùng tài chính
để bóp nghẹt đại đa số nhân dân thế giới"
*. Mâu thuẫn và sự suy yếu của chủ nghĩa đế quốc đến nay không phải biểu hiện
trong một nước riêng rẽ mà biểu hiện trong phạm vi toàn thế giới, cho nên theo
Lênin thì "cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ không phải chỉ là và chủ yếu là một cuộc
đấu tranh của giai cấp vô sản cách mạng ở từng nước chống lại giai cấp tư sản ở
nước mình; không phải thế, đó sẽ là cuộc đấu tranh của tất cả các thuộc địa và tất
cả những nước bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, của tất cả các nước phụ thuộc chống
lại chủ nghĩa đế quốc quốc tế.
*. Điều kiện cho cách mạng vô sản nổ ra trong thời đại đế quốc chủ nghĩa đã chín
muồi trên phạm vi toàn thế giới. Lênin đã phát hiện quy luật phát triển không đều
về kinh tế giữa các nước đế quốc. Đó là một quy luật tuyệt đối, cho nên mâu thuẫn
giữa đế quốc với đế quốc không bao giờ chấm dứt, sự đấu tranh giành giật quyền
lợi giữa bọn đế quốc với nhau càng thêm quyết liệt. Giai cấp vô sản có thể lợi dụng
mâu thuẫn ấy mà chiến thắng chủ nghĩa đế quốc ở nơi này hay nơi khác.
Vì vậy, cách mạng vô sản không nhất thiết phải nổ ra cùng một lúc trong tất
cả các nước tư bản tiên tiến, ở đó giai cấp vô sản phải chiếm đa số trong nhân dân,
mà cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi trong một nước, nếu nơi đó là nơi
tập trung những mâu thuẫn giữa bọn đế quốc với nhau và trở thành khâu yếu nhất
trong sợi dây chuyền đế quốc chủ nghĩa.
Lý luận cách mạng mới trên đây của Lênin có một ý nghĩa vô cùng lớn lao.
Nó vạch ra một triển vọng hoàn toàn mới cho cách mạng vô sản, làm cho giai cấp
công nhân và nhân dân mỗi nước không phải bị động ngồi chờ cách mạng thế giới
nổ ra mà khuyến khích họ phát huy tính chủ động, tích cực tạo điều kiện để trực
tiếp tiến công vào chủ nghĩa đế quốc trong nước mình.
Lênin cũng đồng thời vạch ra sách lược bảo đảm cho cách mạng vô sản
đi đến thắng lợi. Điểm chủ yếu nhất trong sách lược này là phải bảo đảm quyền
lãnh đạo tuyệt đối và không thể chia sẻ của giai cấp vô sản trong cuộc cách
mạng. Mấu chốt để thực hiện quyền lãnh đạo đó là giai cấp vô sản phải lôi cuốn
được người bạn đồng minh đông đảo nhất là nông dân đứng vào trận tuyến cách
mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo. Trái với bọn cơ hội chủ nghĩa phủ nhận khả
năng cách mạng to lớn của nông dân, Lênin đã nói rằng nếu không có khối liên
minh công nông vững chắc thì không thể có thắng lợi cách mạng vô sản. Muốn
tranh thủ được nông dân đi theo cách mạng vô sản, thì giai cấp vô sản phải ủng hộ
nông dân đấu tranh chống chế độ phong kiến và chống áp bức, bóc lột theo lối tư
bản chủ nghĩa ở nông thôn.
14
Ngoài việc liên minh với nông dân, giai cấp vô sản còn phải thực hiện khối
liên minh giữa các dân tộc. Bọn cơ hội trong Quốc tế thứ hai chỉ hạn chế vấn đề
dân tộc trong phạm vi các nước văn minh ở châu Âu; trái lại, Lênin đã mở rộng
vấn đề dân tộc thành vấn đề giải phóng các dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ
thuộc khỏi ách áp bức đế quốc chủ nghĩa. Vấn đề giải phóng dân tộc trở thành một
bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới. Lênin là người đầu tiên đề
xướng quyền dân tộc tự quyết, chủ trương các dân tộc hoàn toàn bình đẳng và mỗi
dân tộc có toàn quyền định đoạt vận mệnh của mình, có quyền tự do liên hiệp với
các dân tộc khác hoặc có quyền tự do phân lập. Giai cấp vô sản có nhiệm vụ phải
ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc. Chỉ có ủng
hộ và liên minh với phong trào giải phóng dân tộc thì cách mạng vô sản mới có thể
thắng lợi; ngược lại, phong trào giải phóng dân tộc, nếu không được sự ủng hộ của
giai cấp vô sản thế giới, cũng không thể thành công được.
Một cống hiến quan trọng nữa của Lênin là lý luận về chuyên chính vô sản, lý luận
về xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trước đây, Mác đã dự đoán: "Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản
chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích
ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy
không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô
sản"3*.
Bọn cơ hội chủ nghĩa đã ra sức xuyên tạc quan điểm đó của Mác về vấn đề nhà
nước. Đập tan những luận điểm sai lầm của chúng, Lênin đã khẳng định rằng thắng
lợi của cách mạng vô sản nhất định sẽ dẫn đến chuyên chính vô sản và bắt đầu thời
kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Lênin vạch rõ chuyên chính
vô sản là điểm chủ yếu nhất trong học thuyết của Mác, là linh hồn của chủ
nghĩa Mác. Thái độ đối với chuyên chính vô sản là hòn đá thử vàng để phân biệt
người cách mạng chân chính với bọn cơ hội. Chuyên chính vô sản không những
cần thiết để trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bóc lột đã bị lật đổ và sự tiến
công của thế lực đế quốc bên ngoài mà quan trọng hơn nữa là để động viên, tổ
chức quần chúng lao động tiến hành xây dựng kinh tế và phát triển văn hóa. Nó là
công cụ chủ yếu trong tay giai cấp vô sản và nhân dân lao động để cải tạo xã hội
cũ và xây dựng xã hội mới.
Lênin nhấn mạnh chuyên chính vô sản có nghĩa là sự lãnh đạo của một giai
cấp, là giai cấp vô sản đối với chính quyền nhà nước, nhưng không phải chỉ có một
giai cấp tham gia chính quyền; trái lại, chuyên chính vô sản là nhà nước của đại đa
số nhân dân chống lại thiểu số bọn áp bức, bóc lột. Chuyên chính vô sản là hình
thức liên minh giai cấp đặc biệt giữa giai cấp vô sản và các tầng lớp nhân dân lao
động khác, lấy liên minh công nông làm cơ sở, làm nguyên tắc cao nhất. Đồng
15
thời, chuyên chính vô sản cũng là nền dân chủ cao nhất, rộng rãi nhất trong xã hội
có giai cấp, dân chủ của đại đa số nhân dân lao động. Chỉ có dưới chuyên chính vô
sản thì giai cấp công nhân và nhân dân lao động mới thật sự tham gia đông đảo vào
công việc quản lý nhà nước, mới phát huy được đầy đủ tinh thần tích cực và sáng
tạo của mình trong sự nghiệp xây dựng đất nước.
Lênin cũng chỉ ra rằng trong thời kỳ quá độ, chính quyền nhà nước có thể
mang nhiều hình thức khác nhau, nhưng về thực chất đều là chuyên chính vô sản.
Ngày nay, bên cạnh chế độ xôviết của Liên Xô, chúng ta còn thấy hình thức chính
quyền dân chủ nhân dân ở các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu và châu Á; những
chính quyền này đang thực hiện có kết quả các nhiệm vụ và chức năng của chuyên
chính vô sản.
Lênin dạy chúng ta, thắng lợi của cách mạng vô sản và sự thiết lập chuyên
chính vô sản không có nghĩa là cách mạng đã kết thúc mà chính là cách mạng mới
bắt đầu. Chúng ta còn phải bắt tay vào một nhiệm vụ mới mẻ, nặng nề và phức tạp
hơn nhiều là xây dựng lại toàn bộ đời sống xã hội theo những nguyên tắc hoàn toàn
mới.
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lịch sử,
trong đó diễn ra cuộc đấu tranh sâu sắc "ai thắng ai" giữa chủ nghĩa tư bản đã bị lật
đổ nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn và chủ nghĩa xã hội mới ra đời nhưng chưa
được củng cố vững mạnh. Muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh ấy thì,
về mặt chính trị, phải giữ vững vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản thông qua Đảng
của nó, phải củng cố chuyên chính vô sản, củng cố liên minh công nông, củng cố
khối đoàn kết giữa các dân tộc trong nước và tăng cường đoàn kết quốc tế. Mặt
khác, phải xây dựng nền kinh tế mới, xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kỹ thuật hiện
đại để làm nền tảng vật chất cho xã hội mới.
II, Cơ sở thực tiễn:
1, Tình hình thế giới:
A, Sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc:
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển qua hai giai đoạn: tự do cạnh
tranh và đế quốc chủ nghĩa. Gìai đoạn đế quốc chủ nghĩa còn gọi là độc quyền, là
giai đoạn cao nhất và là giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa tư bản,
*.Sự hình thành của chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Khi nghiên cứu bản chất của chủ nghĩa đế quốc Lênin đã nói “… tự do canh tranh
đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này khi phát triển tới một mức đọ
nhất định lại dẫn tới độc quyền. ..”
16
Như vậy sự hình thành của chủ nghĩa tư bản độc quyền là một tất yếu vì : do thành
tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho lực lứợng sản xuất phát triển, hình thành
ngày càng nhiều nghành mới, có trình độ tích tụ cao, đòi hỏi những hinh thức kinh
tế tổ chức mới, đó là những xí nghiệp lớn, do năng súât đã nâng cao tỷ suất và khối
lượng giá trị thặng dư nên đã mỏ rộng khả năng tích luỹ tư bản, thúc đẩy sưj phát
triển sản xuất lớn, tăng tích luỹ tư bản và sản xuất. Hơn nữa khả năng cạnh tranh
để giành lợi nhuận cao được đo bằng sự tiến bộ của khoa học, các xí nghiệp lớn ra
sức cải tiến kỹ thuật, làm cho các xí nghiệp nhỏ phá sản, các xí nghiệp có trình độ
kỹ thuật kém phát triển liên kết với nhau, do vậy chỉ còn một số ít những nhà tư
bản lớn lắm điạ vị thống trị trong nghành hay trong một số nghành công nghiệp.
Cùng với quá trình tập trung sản xuất thì tín dụng tư bản chủ nghĩa mở rộng hình
thành công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đời của tổ chức độc quyền. Mặt khác
các công ty, xí nghiệp có tiềm lực kinh tế mạnh tiếp tục cạnh tranh với nhau thì vô
cùng khốc liệt, khó phân thắng bại mà hậu quả thiệt hại về kinh tế là rất lớn, vì thế
nẩy sinh xu hướng thoả hiệp, từ đó hình thành các tổ chức độc quyền.
*. Đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Như đã phân tích ở trên chủ nghĩa tư bản là sự tập trung sản xuất và các tổ chức
độc quyền với hình thức kinh tế thống trị là công ty cổ phần, hình thành sở hữu tập
thể của chủ nghĩa tư bản. Nhờ lắm được địa vị thống tri trong lĩnh vực sản xuất và
lưu thông, các tổ chức độc quyền có khả năng định giá cả độc quyền cao hơn giá cả
sản xuất đối với những hàng hóa mà họ bán ra và giá cả độc quyền thấp dưới gía cả
sản xuất đối với những hàng hoá mà họ mua, qua đó mà họ thu được lợi nhuận độc
quyền. Những gía cả độc quyền cũng gặp phải giới hạn kinh tế đó là sự tồn tại của
cạnh tranh nói chung, độc quyền vả cạnh tranh tồn tại song song và thống nhất với
nhau một cách biện chứng
Cùng với quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong công nghiệp, cĩng diễn ra quá
trình tích tuj và tập trung tư bản trong ngân hàng dẫn đến hình thành các tô chức
độc quyền trong ngân hàng. Ngân hàng đã chi phối toàn bộ hoạt động kinh tế, xã
hội , nó kết hợp với tư bản công nghiệp do có cùng lợi ích kinh tế hình thành nên
tư bản tài chính. Sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến sư hình thành một nhóm
nhỏ độc quyền chi phối toàn bô đời sống kinh tế và chinh trị của xã hội tư bản
Mặt khác ở các nước tư bản phát triển đã tích lữy được một khối lượng tư bản lớn
và nảy sinh tình trạng “thưa tư bản”, do không tìm được ơi đâu tư có lợi nhuận cao
ở trong nước. Tiến bộ kỹ thuật ở các nước này đã dẫn đến tăng cấu tạo hữu cơ của
tư bản và hạ thấp tỷ suất lợi nhuận, trong khi ở các nước kém phát triển dồi dào
nhiên liệu, nhân công rẻ nhưng lại thiếu vốn và kỹ thuật nên đã hình thành sự xuất
khẩu tư bản tư nước tư bản phát triển sang nước kém phát triển. Làm mở rộng quan
17
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài, các nước tư bản phát triển ra sức bóc
lột nền kinh tế ở các nước kem phát triển. Việc xuất khẩu về tư bản tang nên và mở
rộng phạm vi tất yếu dẫn đến phân chia thế giới về mặt kinh tế nghĩa là phân chia
lĩnh vực đầu tư tư bản dẫn đến cuộc đấu tranh giành thị trường tiêu thụ, nguồn
nguyên liẹu và lĩnh vực đầu tư có lợi nhuận cao, cuộc đấu tranh khốc liệt tất yếu
dẫn đến thoả hiệp để củng cố địa vị độc quyền của chúng, từ đó hình thành các liên
minh độc quyền quốc tế. Chủ nghĩa tư bản cũng do đó mở rộng lãnh thổ để khai
thác và đầu tư dẫn đến sự phân chia thế giới giữa các cường quốc lớn về lãnh thổ
và thị trường.
*. Chủ nghĩa Tư bản là chủ nghĩa ăn bám thối nát
Sự thống trị của các tổ chức độc quyền đới với toàn xã hội làm cho chủ nghĩa đế
quốc co đặc tính ăn bám hay thối nát. Đặc tính đó một số biểu hiện sau:
Thứ nhất :xu hướng kìm hãm sự tiến bộ, các tổ chức độc quyền có thể không cần
cải tiến kỹ thuật mà vẫn thu được lợi nhuận độc quyền cao.Trong nhiều trường
hợp, bon độc quyền sợ các phát minh sáng chế làm cho chúng, mất địa vị độc
quyền hoặc phải đầu tư thêm nhiều tư bản, hoặc làm cho tư bản đô sộ của chúng
mất giá vì hao mòn vô hình, nên đã tìm cách bác bỏ hoặc thủ tiêu cấc phát minh
sáng chế. Nhưng trong từng nghành, từng thời kỳ, ở những nước nhất định kỹ
thuậth vẫn phát triển do việc theo đuổi lợi nhuận độc quyền cao, và việc chạy dua
vũ trang.
Thứ hai :tầng lớp ăn bám và số ngưòi không lao động ngày càng tăng. Do sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật, do nền sản xuất đựoc xã hội hoá cao, nên trực tiếp quản
lý sản xuất dần dần được giao cho một số đốc công, kỹ sư, nhân viên kỹ thuật làm
thêu đảm nhiệm, còn hầu hết bọn tư bản trờ thành kẻ thụ lợi, nghĩa là những kẻ
chuyên sống vè tiền lãi cổ phần. Mặt khác, việc xuất khẩu tư bản, những số tiền lời
khổng lồ từ các nơi ùn ùn chày về chính quốc, làm cho các tầng lớp htực lợi tăng
nên. Bọn này ăn không ngồi rồi biến thành ký sinh trùng ăn bám vào các dân tộc bị
áp bức.
Thứ ba : quân sự hoá nền kinh tế, chạy đua vũ trang đe.Để đàn áp các phong trao
tiến bộ cuả dân nhân, để cướp giật thị trường và lãnh thổ thế giới bọn tư bản tài
chính ra sức chạy đua vũ trang, quân sự hoá nền kinh tế và phát triển chủ nghĩa
quân phiệt. Do đó các nghành công nghiệp trực tiếp phục vụ chiến tranh tăng
nhanh, các nghành sản xuất dân dụng giảm bớt, khiến nền kinh tế cang mất cân
đối.
18
Thư tư : sự phản động toàn diện về chính trị tư tưởng. ở đâu có sự thống trị của tư
bản độc quyền thì ở đó quyền sống của con người chủ nghĩa của các dân tộc bị chà
đạp. Chúng đã chia rẽ giai cấp công nhân bằng cách tạo ra một tầng lớp công nhân
quý tộc, làm suy yếu phong trào cách mạng vô sản
Tất cả những biẻu hiện trên đây chưng tỏ rằng chủ nghĩa đế quốc đã trở thành lực
lượng kìm hãm sự tiến bộ của loài người.
*. Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản gây chết.
Độc quyền chẳng những làm cho chủ nghĩa tư bản trỏ thành ăn bám hay thối nát
mà còn dẫn chủ nghĩa tư bản đến chỗ gây chết do những mâu thuẫn xã hội của nó
phát triển cực kỳ gay gắt,
– Mâu thuẫn giữa tư bản v à vô sản.
Đây là mâu thuẫn giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản,. Dưới ách thống trị của tư
bản tài chính, giai cấp vô sản ngày càng bị bóc nột nặng nề về kinh tế và bị bóc nột
tàn nhẫn về chính trị và tinh thần. Chính phủ các nước đế quóc không ngừng tiến
công vào quyền dân sinh dân chủ của giai cấp công nhân, đàn áp và tìm cách thủ
tiêu phong trào đấu tranh của họ. Tình hình đó làm cho mâu thuẫn giai cấp ngay
cangs sâu sắc, đấu tranh ngày càng quyết liệt. Cách mạng vô sản, về khách quan
trở thành nhiệm vụ trực tiếp trước mắt của giai cấp vô sản.
– Mâu thuẫn giữa một nhóm bọn đế quốc và đông đảo quần chúng bị áp bức trong
hệ thống thuộc địa.
Sự thống tri và bóc lột tàn bạo của các nước đế quốc đối với hệ thống thuộc địa
làm cho quần chúng lao động và các dân tộc bị áp bức ngày câng không chuị nổi,
phải đứng dậy đấu tranh. Cách mạng giải phóng dân tộc xuất hiện và phát triển
không sức gì ngăn cản được. Cách mạng giải phóng dan tộc biến thuộc địa từ chỗ
là hậu bị quân của chủ nghĩa đế quốc thành hậu quân của cách mạng vô sản, làm
cho hậu phương của chủ nghĩa đế quốc bị lung lay.
-Mâu thuẫn giữa đế quốc và đế quốc.
Khi nghiên cứu đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc ta đã thấy rằng
trong quá trình xuất khẩu tư bản, giành giật nguyên vật liệu cùng với việc phân
chia thi trường “khu vực ảnh hưởng “ và phân chia lãnh thổ thế giới, các tập đoàn
tư bản tài chính và các nhà nước độc quyền đã mâu thuân với nhau hết sức gay gắt.
Trong những điều kiện nhất định những cuộc đấu tranh gay gắt đó dẫn đến chiến
tranh thế giới, gây nhiều đau khổ cho nhân loại.
19
Như vậy, ba mâu thuẫn này có những biểu hiện khác nhau, nhưng đều phát triển
cực kỳ gay gắt, tác động lẫn nhau, đang thúc đẩy chủ nghĩa đế quốc đi vào con
đường suy sụp và không gì cứu vãn nổi.
B, Cách mạng tháng 10 Nga
Thực tiễn:
Đầu năm 1917, nước Nga lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Quần chúng
nhân dân tin rằng lúc này chỉ có một lối thoát là lật đổ chế độ Nga hoàng phản
động.
Tình thế cách mạng đã chín muồi, ngày 26-2-1917, theo lịch cũ nước Nga (tức
ngày 11-3-1917), dưới sự lãnh đạo của Đảng Bolshevik, công nhân tiến hành khởi
nghĩa vũ trang. Cuộc khởi nghĩa do Xô viết đại biểu công nhân và binh lính
Petrograd (nay là thành phố Saint Petersburg) lãnh đạo giành thắng lợi, chế độ
quân chủ chuyên chế Nga hoàng hoàn toàn sụp đổ.
Sau cách mạng dân chủ tư sản tháng 2-1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính
quyền song song, một bên là Chính phủ lâm thời tư sản và một bên là Xô viết các
đại biểu công nhân và binh sĩ, đứng đầu là Xô viết Petrograd. Trước tình hình đó,
V.I.Lenin và Đảng Bolshevik đã xác định cách mạng Nga là chuyển từ cách mạng
dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Tối ngày 3-4-1917, theo lịch cũ nước Nga (tức 16-4-1917), Lenin về nước để trực
tiếp lãnh đạo cách mạng Nga. Đêm 24-10-1917 (tức đêm 6-11-1917), khởi nghĩa
vũ trang nổ ra ở thủ đô Petrograd. Ngày 25-10-1917 (tức ngày 7-11-1917), các lực
lượng khởi nghĩa đã làm chủ tình hình ở Petrograd, trừ Cung điện Mùa Đông và
một vài nơi. Tới 2 giờ 10 phút, rạng sáng 26-10-1917, Cung điện Mùa Đông được
giải phóng, các bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời bị bắt giữ. Cuộc khởi nghĩa vũ
trang tại Petrograd kết thúc thắng lợi.
Ngày 25-10-1917, theo lịch cũ nước Nga (tức ngày 7-11-1917) đã được ghi vào
lịch sử là ngày thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại.
Ý nghĩa:
Ý nghĩa lịch sử và thời đại
Cách mạng tháng Mười Nga là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX,
20
đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Nó đã xóa bỏ các giai
cấp bóc lột, tư sản, địa chủ và chế độ người bóc lột người, đưa giai cấp vô sản bị áp
bức, bóc lột nặng nề thành giai cấp đứng đầu và làm chủ xã hội; giải phóng nhân
dân lao động, đưa người lao động từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất
nước; ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên
trong lịch sử loài người và làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực
trong đời sống chính trị thế giới. Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra một bước
ngoặt căn bản trong lịch sử loài người, từ thế giới tư bản chủ nghĩa sang thế giới xã
hội chủ nghĩa, mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Cách mạng tháng Mười Nga đánh đổ chủ nghĩa đế quốc ở ngay “chính quốc”, đồng
thời đánh vào hậu phương của nó là các nước thuộc địa của Nga hoàng; cổ vũ, lôi
cuốn mạnh mẽ phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của những nước thuộc địa
ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latin. Cách mạng tháng Mười Nga có ý nghĩa lịch sử
và tính chất quốc tế vô cùng sâu rộng; không một cuộc cách mạng nào trong thời
đại ngày nay lại không chịu ảnh hưởng sâu xa của Cách mạng tháng Mười. Nó cho
thấy: trong thời đại ngày nay, sự kết hợp tất yếu và tự nhiên giữa cuộc đấu tranh vì
dân chủ và cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội
chẳng những là mục tiêu mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội, đưa
xã hội loài người vươn tới tự do, công bằng, bình đẳng và văn minh.
Ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và cách mạng Việt Nam
Cách mạng tháng Mười Nga đã chỉ ra con đường giải phóng dân tộc Việt
Nam
Đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam đều bị thất bại vì
không có đường lối cứu nước đúng đắn. Giữa lúc đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh, sau gần 10 năm bôn ba tìm con đường cứu nước đã tiếp thu được ánh
sáng của Cách mạng tháng Mười. Tháng 7-1920, khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất
những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lenin, Nguyễn Ái
Quốc sớm nắm bắt được cốt lõi trong tư tưởng của Lênin: vô sản tất cả các nước và
các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại. Người khẳng định rằng, muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Đó là
con đường gắn mục tiêu độc lập dân tộc với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, gắn cách
mạng Việt Nam với xu thế thời đại.
Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), Đảng đã khẳng định đường
21
lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi đó là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Dưới ánh sáng soi đường của Cách
mạng tháng Mười Nga, với đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh
đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua
muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của
Cách mạng tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến,
lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc
lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là
chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước; thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây
Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc; làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả; tiến
hành công cuộc đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa
lịch sử.
Cách mạng tháng Mười Nga khởi đầu sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn và toàn diện của
Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đối với cách mạng Việt Nam
Cách mạng tháng Mười Nga đã cổ vũ nhân dân ta đứng lên đấu tranh giải phóng
dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam). Cũng từ đó, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam Liên Xô không ngừng củng cố và phát triển.
2, Tình hình trong nước:
+ Bố cảnh.
Sự thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp:
Đêm 31/8/1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Tháng 6/1884, triều đình nhà
Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt, từ đó Pháp thiết lập sự thống trị ở toàn Việt Nam.
+ Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp ở Đông Dương.
Chúng dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù thủ tiêu mọi quyền dân chủ, đàn áp,
khủng bố mọi sự chống đối; dùng chính sách “chia để trị”, chia nước ta thành ba
kỳ với ba chế độ thống trị khác nhau. Thực dân Pháp duy trì triều đình phong kiến
nhà Nguyễn và giai cấp địa chủ làm công cụ tay sai để áp bức về chính trị và bóc
lột kinh tế. Nhân dân ta mất nước trở thành nô lệ, bị đàn áp, bóc lột, cuộc sống vô
cùng khổ cực.
22
+ Về kinh tế, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương lần
thứ nhất (1897 – 1914); khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919- 1929), trong đó lấy
Việt Nam là trọng điểm.
Tư bản Pháp bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp (lập các đồn điền cao su, cà phê,
chè…) và ngành khai mỏ (chủ yếu là than, sẳt, thiếc, vàng…) để thu lợi nhuận
nhiều và nhanh. Tư bản Pháp xây dựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường
sắt, phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến; độc quyền ngoại thương. Ngân hàng
Đông Dương của Pháp độc quyền tài chính, đặt ra hàng trăm thứ thuế, tàn ác nhất
là thuế thân; thi hành rộng rãi chính sách cho vay nặng lãi.
Kết quả là nền kinh tế nước ta có sự phát triển mức độ nào đó theo hướng tư bản
chủ nghĩa nhưng là nền kinh tế thuộc địa, mất cân đối, phụ thuộc vào Pháp.
+ Về văn hoá, thực dân Pháp thực hiện chính sách nô dịch văn hoá; xoá bỏ hệ
thống giáo dục phong kiến, thay bằng chế độ giáo dục thực dân hạn chế. Pháp mở
nhà tù, trại giam nhiều hơn trường học; khuyến khích các hoạt động mê tín, các tệ
nạn cờ bạc, rượu chè, hạn chế xuất bản sách báo, gây tâm lý tự ti dân tộc.
Kết quả là hơn 90% nhân dân ta bị mù chữ, bị bưng bít mọi thông tin tiến bộ từ bên
ngoài.
Sự thay đối tính chất xã hội và cơ cấu giai cấp xã hội Việt Nam:
Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, tính chất xã hội Việt Nam đã thay đổi. Việt
Nam từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến.
Giai cấp địa chủ, đa số là địa chủ nhỏ và vừa có tinh thần yêu nước, căm ghét, vừa
có tinh thần dân tộc chống Pháp, số đại địa chù, tay sai, chỗ dựa của thực dân Pháp
là đối tượng của cách mạng.
Giai cấp nông dân chiếm hơn 90% dân số, bị đế quốc, địa chủ, phong kiến bóc lột,
cuộc sống cực khổ nên rất tích cực chống đế quốc và phong kiến.
Tầng lớp tiểu tư sản gồm người buôn bán nhỏ, viên chức, trí thức, học sinh, sinh
viên… phát triển khá nhanh. Họ nhạy cảm trước thời cuộc, đời sống rất bấp bênh
nên hăng hái đấu tranh và là lực lượng quan trọng của cách mạng.
23
Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực
dân Pháp. Một bộ phận tư sản mại bản có quyền lợi gắn với Pháp, trở thành tay sai
của chúng. Bộ phận tư sản còn lại, thế lực kinh tế nhỏ bé, bị tư sản nước ngoài
chèn ép nên có tinh thần dân tộc, dân chủ, có thể đi với cách mạng.
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của
thực dân Pháp (1897 – 1914) và phát triển khá nhanh. Năm 1914 khoảng 10 vạn,
đến năm 1929 tăng lên 22 vạn. Giai cấp công nhân Việt Nam tuy số lượng ít, ra đời
muộn so với công nhân nhiều nước nhưng mang đầy đủ đặc điểm chung của giai
cấp công nhân quốc tế là có tính chất tiên tiến, triệt để cách mạng, tính kỷ luật và
tính chất quốc tế.
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, vừa lớn lên đã
tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, rất kiên quyết cách mạng và đã nhanh chóng trở
thành lực lượng chính trị độc lập. Công nhân Việt Nam đa số xuất thân từ nông
dân, bị bần cùng hoá nên có quan hệ gần gũi với nông dân, rất thuận lợi cho liên
minh công nông. Trong các giai cấp ở Việt Nam lúc đó “Chỉ có giai cấp công nhân
là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc
thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản
quốc tế, giai cấp công nhân ta tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin
cậy nhất của nhân dân Việt Nam”’.
Trong xã hội Việt Nam nối lên hai mâu thuẫn cơ bản. Mâu thuẫn cơ bản thứ nhất
đồng thời là mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với
thực dân Pháp. Mâu thuẫn cơ bản thứ hai giữa nhân dân Việt Nam, đa số là nông
dân với địa chủ phong kiến.
Hai mâu thuẫn này gắn bó, tác động lẫn nhau đòi hỏi đồng thời giải quyết. Độc lập
dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam nhưng
độc lập dân tộc là yêu cầu cơ bản, chủ yếu nhất vì phản ánh nguyện vọng bức thiết
của cả dân tộc Việt Nam ở đầu thế kỷ XX.
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản:
+ Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến:
24
Tiêu biểu nhất là phong trào cần Vương do vua Hàm Nghi phát động. Phong trào
cần Vương diễn ra từ năm 1885 đến năm 1896 với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa
vũ trang.
Nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885 –
1896); cuộc khởi nghĩa Ba Đình do Phạm Bành và Đinh Công Tráng tổ chức (1885
– 1886); cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật đứng đầu (1885 – 1892).
Kéo dài và quyết liệt nhất là phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám
lãnh đạo (1884 — 1913) v.v…
Các cuộc khởi nghĩa vũ trang đó tiếp tục khẳng định tinh thần yêu nước, ý chí bất
khuất chống xâm lược của dân tộc ta và làm cho thực dân Pháp tổn thất nặng nề,
không ổn định thống trị hàng chục năm trời.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của phong trào yêu nước theo khuynh
hướng phong kiến do thiếu đường lối đúng đắn. Giai cấp phong kiến đã không đủ
sức lãnh đạo phong trào yêu nước Việt Nam đi đến thành công.
– Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dẫn chủ tư sản:
Đầu thế kỷ XX chịu ảnh hưởng các cuộc cách mạng tư sản bên ngoài, phong trào
yêu nước Việt Nam diễn ra sôi nổi theo hai khuynh hướng chính:
Khuynh hướng bạo động vũ trang do Phan Bội Châu lãnh đạo. Ông tổ chức phong
trào Đông Du (1906 — 1908) chủ trương nhờ Nhật Bản giúp đỡ. Phong trào du
học diễn ra gần hai năm, Pháp – Nhật Bản thoả hiệp trục xuất Phan Bội Châu và du
học sinh Việt Nam. Phong trào Đông Du thất bại.
Sau khi cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) thắng lợi, Phan Bội Châu về
Trung Quốc thành lập Việt Nam Quang phục Hội, chủ trương vũ trang chống Pháp
ở trong nước, khôi phục độc lập dân tộc.
Khuynh hướng cải cách dân chủ do Phan Châu Trinh (1782 – 1926) tổ chức.
Những năm 1906 – 1908, ông chủ trương cải cách dân chủ nâng cao dân trí, cổ vũ
tinh thần, cải thiện đời sống nhân dân bằng con đường bất bạo động, công khai
khai hoá cải cách, chấn hưng văn hóa, công nghệ, chống mê tín dị đoan.
Các phong trào khác như phong trào dạy học theo lối mới ở Trường Đông Kinh
Nghĩa Thục, Hà Nội (1907); phong trào biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ (1908);
25