TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------------
ĐỖ THỊ NHINH
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
TRONG NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.s HOÀNG THỊ DUYÊN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận đƣợc
sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên trong khoa Ngữ văn –
Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Hoàng Thị Duyên
ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn để tôi có thể hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, đặc
biệt là các thầy cô trong tổ bộ môn Lí luận văn học đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi để luận văn của tôi đƣợc hoàn thành.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Thị Nhinh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong khóa luận này là
kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của cô giáo
Hoàng Thị Duyên. Những nội dung này không trùng với sự nghiên cứu của
tác giả khác. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Thị Nhinh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 5
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ................................................................. 5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 6
6. Đóng góp luận văn ..................................................................................... 6
7. Cấu trúc luận văn ....................................................................................... 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT TRẦN
THUẬT VÀ ĐÔI NÉT VỀ NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM ........................... 7
1.1. Những vấn đề chung về nghệ thuật trần thuật ........................................ 7
1.1.1. Khái niệm trần thuật ......................................................................... 7
1.1.2. Các yếu tố cơ bản của trần thuật ....................................................... 9
1.2. Vài nét về Nhật ký Đặng Thùy Trâm .................................................... 15
1.2.1. Hoàn cảnh ra đời và quá trình lƣu hành.......................................... 15
1.2.2. Hiệu ứng của cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm ................................ 18
CHƢƠNG 2. NGƢỜI TRẦN THUẬT TRONG NHẬT KÝ ĐẶNG
THÙY TRÂM ................................................................................................... 20
2.1. Ngôi kể .................................................................................................. 20
2.2. Điểm nhìn trần thuật ............................................................................. 24
2.2.1. Điểm nhìn của ngƣời trần thuật ...................................................... 24
2.2.2. Sự kết hợp đan xen điểm nhìn không gian và điểm nhìn thời
gian ......................................................................................................... 28
2.2.3. Sự kết hợp linh hoạt điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên
ngoài ......................................................................................................... 32
2.2.4. Điểm nhìn đánh giá tƣ tƣởng cảm xúc............................................ 36
CHƢƠNG 3. NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT ................... 38
3.1. Ngôn ngữ trần thuật .............................................................................. 38
3.1.1. Ngôn ngữ quy ƣớc, ẩn dụ................................................................ 38
3.1.2. Ngôn ngữ hƣớng nội ....................................................................... 41
3.1.3. Ngôn ngữ trữ tình sâu lắng ............................................................. 43
3.1.4. Ngôn ngữ ngắn gọn, giản dị, gần gũi tự nhiên ............................... 45
3.2. Giọng điệu trần thuật ............................................................................ 48
3.2.1. Giọng điệu di chúc .......................................................................... 48
3.2.2. Giọng điệu thống thiết, chân thành ................................................. 50
3.2.3. Giọng điệu hào hùng, đanh thép ..................................................... 51
3.2.4. Giọng lạc quan, tin tƣởng ............................................................... 53
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhật ký là một thể loại khá đặc biệt trong nền văn học Việt Nam. So
với nhiều thể loại văn học khác, thể loại nhật ký xuất hiện muộn hơn, thành
tựu đạt đƣợc của thể loại này cũng chƣa thật đáng kể. Hơn nữa, số lƣợng nhật
ký đƣợc xuất bản hiện nay ở nƣớc ta còn quá ít ỏi, nên chƣa tạo đƣợc sự quan
tâm của bạn đọc và giới nghiên cứu. Vì vậy, lí thuyết thể loại về nhật ký trong
văn học Việt Nam còn nhiều khoảng trống cần đƣợc bù đắp kịp thời để góp
phần làm phong phú cho diện mạo nền văn học dân tộc.
Trong những năm gần đây, nhật ký đã nhận đƣợc sự quan tâm của dƣ
luận. Và dƣờng nhƣ có sự quan tâm hơn hơn đối với những cuốn nhật ký viết
trong thời kỳ chiến tranh. Cụ thể là cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã cho thế
hệ mai sau biết về chiến tranh một cách chân thực nhất sống động nhất về
những khó khăn gian khổ, những mất mát hy sinh của thế hệ cha anh đã sống
và chiến đấu giành độc lập tự chủ cho Tổ quốc. Hơn thế, đó lại chính là
những trang viết của ngƣời trong cuộc, cho nên những di bút của tác giả rất
chân thực và chính xác, phản ánh đƣợc đời sống tinh thần của thế hệ thanh
niên Việt Nam thời đó và tác động nhất định đến xã hội hiện tại. Vì lẽ đó, việc
nghiên cứu về Nhật ký Đặng Thùy Trâm vừa mang ý nghĩa lý luận vừa mang
ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
Hơn nữa, giá trị của Nhật ký Đặng Thùy Trâm tƣởng chừng nhƣ chỉ
mang tính chất riêng tƣ đối với cá nhân ngƣời viết, song đặt vào những hoàn
cảnh cụ thể, thì cuốn nhật ký bỗng trở thành những kỷ vật vô giá không chỉ
đối với đời sống tình cảm của con ngƣời mà là những hiện vật vô giá trong
nhiều lĩnh vực khác nữa. Trong những trƣờng hợp nhƣ thế, Nhật ký Đặng
Thùy Trâm trở thành những chứng nhân đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối
1
với cuộc đời con ngƣời, đối với lịch sử của một quốc gia. Có khi nó còn vƣợt
ra khỏi khuôn khổ của một quốc gia, xứng đáng là chứng nhân lịch sử quan
trọng của nhân loại trong một giai đoạn lịch sử. Tâm hồn ngƣời viết, nhân
cách ngƣời viết, những biến động của một thời đại lịch sử hiển hiện qua rất
nhiều trang nhật ký. Do đó, khi tiếp nhận nhật ký chúng ta sẽ khám phá đƣợc
nhiều góc khuất chân thực của đời sống và tâm tƣ con ngƣời mà dƣờng nhƣ ở
các thể loại văn học khác, ta không dễ gì bắt gặp.
Chọn nghiên cứu về Nghệ thuật trần thuật trong Nhật ký Đặng Thùy
Trâm, chúng tôi rất mong muốn đƣợc góp phần vào việc tìm hiểu một cách
chuyên sâu hơn về thể loại nhật ký.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những bài viết đề cập đến một số phương diện của Nhật ký Đặng
Thùy Trâm
Sự ra đời cuốn sách Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã nhận đƣợc sự đồng
tình ủng hộ và sự đón nhận nhiệt thành của độc giả. Phó giáo sƣ - Tiến sĩ Xã
hội học Mai Quỳnh Nam cho biết: “Nhật ký của anh Thạc, chị Trâm và nhiều
liệt sỹ trẻ vô danh khác đã nói lên tiếng nói của cả một thế hệ. Việc xuất bản
các cuốn hồi ký, nhật ký từ thời chiến tranh, cũng nhƣ việc đăng tải các tác
phẩm đó trên báo chí là rất cần thiết. Bởi nó làm cho ngƣời ta có điều kiện
sống lại lịch sử, khẳng định lại giá trị cơ bản của dân tộc. Việc làm đó nên
tiến hành thƣờng xuyên, có hệ thống, và đi vào thế tƣơng đối ổn định, gắn với
giáo dục truyền thống yêu nƣớc, nhân sinh quan, quan niệm lý tƣởng đối với
ngƣời trẻ, đặc biệt là nghĩa vụ của họ đối với đời sống xã hội và quan hệ cá
nhân của họ đối với cộng đồng. Điều này cần đặc biệt nhấn mạnh trong bối
cảnh của nền kinh tế thị trƣờng” [15].
Trang giới thiệu của blogsach. Com cũng đã khẳng định hiện tƣợng kỳ
lạ mà cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã mang đến cho văn hóa đọc hiện nay:
2
“Giờ đây có thể nói gì thêm về Nhật ký Đặng Thùy Trâm? Rằng đó là một
cuốn sách kỳ lạ, phá kỷ lục xuất bản của Việt Nam. Rằng đó là tác phẩm đánh
dấu cả một thời đại trong cách nghĩ và sống? Và chính vì lẽ ấy mà có nguyên
giá trị trong khi dòng đời đã đổi và lòng ngƣời đã khác? Rằng mỗi thế hệ, mỗi
cá nhân vẫn hoàn toàn có thể lật giở những ngày sống của Thùy với những
nhìn nhận riêng và vô cùng khác biệt? Rằng đó là tác phẩm của một thời song
lại nhƣ hƣớng đến một số phận toàn thể và vì thế phi thời?” [9].
Trên khắp các phƣơng tiện thông tin đại chúng trong ba năm 2005 2008, việc giới thiệu sự xuất hiện của các cuốn nhật ký đã trở thành tâm điểm
của nhiều tờ báo, nhiều chƣơng trình phát thanh và truyền hình. Điều này đã
đƣợc công chúng đặc biệt quan tâm và đón nhận.
2.2. Tìm hiểu về giá trị cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm
Từ năm 2005 trở lại đây, nhật ký chiến tranh đã tạo đƣợc ấn tƣợng mạnh
mẽ trong lòng bạn đọc, lý giải về điều này, nhà sử học Dƣơng Trung Quốc
cho rằng: “Nhật ký chiến tranh đang gây cảm xúc mạnh mẽ với thế hệ @. Lý
giải điều này rằng: nhƣ thế nào? Thời đại đã thay đổi rất nhiều, và cuộc sống hiện
tại thì “cuốn” mọi ngƣời theo rất nhanh, sức “cuốn” đó tạo nên những khoảng
trống làm cho các bạn trẻ thấy hẫng hụt. Phải chăng các bạn trẻ đã tìm đƣợc
trong những trang nhật ký chiến tranh những điều thực sự rất gần gũi với
mình và đã chấp nhận ngay?” [15].
Trƣớc hiện tƣợng nhật ký chiến tranh của Đặng Thuỳ Trâm và Nguyễn
Văn Thạc, tác giả Lê Minh Tiến đã bộc lộ rất chân thành suy nghĩ của anh về
hiện tƣợng này: “Từ đây cũng làm nảy sinh một câu hỏi vì sao trong thời buổi
bị phê phán là thực dụng này mà “nhật ký chiến tranh” vẫn có một sức thu hút
lớn đến nhƣ vậy? Có thể là vì trong hai cuốn nhật ký ấy đều “có lửa”, chứa
đựng những giá trị nhân văn cao đẹp làm lay động lòng ngƣời, những thông
điệp “từ trái tim” Nhƣng nếu lý giải nhƣ thế thì hóa ra trƣớc đây chúng ta
3
chƣa có, chƣa đọc đƣợc những cuốn nhật ký chiến tranh nhƣ thế sao?” [24].
Tác giả Tôn Phƣơng Lan trong bài viết Nguồn tư liệu đáng quý qua
nhật ký chiến tranh nhận định: “Cuộc chiến tranh đã đi qua hơn ba mƣơi năm.
Nhiều bức màn bí mật đã đƣợc vén lên cho thấy chiều kích cuộc chiến đấu
một thời cụ thể hơn. Vẫn biết những sáng tác văn chƣơng của ta chƣa thật
xứng tầm với những hy sinh của nhân dân ta và nhật ký chiến tranh chúng ta
thấy rõ hơn điều đó. Đến bây giờ chắc chẳng ai còn ngủ trong hào quang
chiến trận. Nhƣng hãy nhìn vào những gì dân tộc đã trải qua để đốt lên trong
lòng mỗi ngƣời ngọn lửa yêu nƣớc, để đƣa dân tộc ta vƣợt qua đói nghèo là
việc cần làm. Trên ý nghĩa đó, nhật ký chiến tranh sẽ là cơ sở để cho hậu thế
viết lại lịch sử bằng văn. Sâu xa hơn, có thể đó là một bài học kinh nghiệm
trong cuộc hội nhập hôm nay” [10]. Qua những lời nhận định xác đáng, tác
giả Phƣơng Lan đồng thời cũng going lên một hồi chuông cảnh tỉnh mỗi
chúng ta hiện nay: Hãy có cái nhìn đúng đắn về quá khứ của dân tộc ta bởi đó
sẽ là nền tảng cho công cuộc phát triển đất nƣớc trong hiện tại và tƣơng lai
sau này.
Giáo sƣ Phong Lê đã phát hiện ra “sau khoảng lặng ba mƣơi năm”, nhật
ký chiến tranh của Đặng Thuỳ Trâm và Nguyễn Văn Thạc vẫn có một sức sống
kỳ lạ bởi hai cuốn nhật ký này có một giá trị đặc biệt: “Ba mƣơi năm đã qua, tính
từ 30 tháng Tƣ năm 1975, và trƣớc đó là ba mƣơi năm trong chiến tranh, chúng
ta đã có một nền văn học viết về chiến tranh của một đội ngũ ngƣời viết - dẫu
chuyên hoặc không chuyên, đều có chung một tâm nguyện là viết sao cho vừa
chân thực, vừa có đóng góp tích cực cho cuộc chiến đấu đòi hỏi tận cùng
những nỗ lực và hy sinh của toàn dân tộc. Và với hai cuốn nhật ký này, chúng
ta lại có dịp thử nghiệm lại tính chân thực của nền văn học ấy; một thử nghiệm
cho thấy độ tin cậy cao nhất về những gì đã đƣợc viết; cả độ tin cậy về sự đón
nhận, sự bàn luận và đánh giá của các thế hệ đến sau khi chiến tranh đã lùi vào
lịch sử” [11].
4
Nhìn chung, đó mới chỉ là những ý kiến, những nhận định mang tính
chất tản mạn, chƣa đƣợc tập hợp lại thành một hệ thống về thể loại nhật ký
chiến tranh, cũng chƣa có bài viết nào nghiên cứu sâu về Nhật ký Đặng Thùy
Trâm. Nhằm mục đích kế thừa và phát huy những đánh giá về Nhật ký Đặng
Thùy Trâm qua những bài viết đã đƣợc tham khảo, chúng tôi mong muốn
đƣợc góp phần vào việc làm rõ hơn những giá trị của cuốn nhật ký trên
phƣơng diện nghệ thuật trần thuật trong văn học Việt Nam hiện đại.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Dƣới lăng kính của văn chƣơng, thể loại nhật ký nói chung đã góp phần
hoàn chỉnh bức tranh hiện thực đời sống của con ngƣời, phản ánh thực tại
cuộc sống trên nhiều bình diện, đa chiều và đa sắc, giúp cho độc giả có cái
nhìn toàn diện hơn về con ngƣời và xã hội. Nhật ký Đặng Thùy Trâm nói
riêng đã mở ra thế giới tâm hồn sâu lắng cảm xúc và chất chứa suy tƣ, tình
cảm của chủ thể sáng tạo khi đánh giá, nhận xét về hiện thực cuộc sống dƣới
cái nhìn trực diện.
Bên cạnh đó, chúng tôi mong muốn với những giá trị tinh thần sâu sắc
mà Nhật ký Đặng Thùy Trâm mang đến sẽ nhắc nhở mọi thế hệ Việt Nam
nhất là thế hệ trẻ về những ngày tháng hào hùng của dân tộc, về lý tƣởng sống
cao đẹp của cha anh… để từ đó hình thành nhân cách sống cao đẹp xứng đáng
với sự hy sinh của lớp cha anh vì sự nghiệp vẻ vang của dân tộc. Thông qua
đề tài nghiên cứu đã giúp cho chúng ta nhận thức đƣợc và có cái nhìn chân
thực, rõ nét hơn về những gì cuộc chiến đã đi qua và ý nghĩa của dòng sách
đặc biệt này trong đời sống văn học Việt Nam.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu cuốn Nhật ký
Đặng Thùy Trâm của liệt sỹ - Anh hùng Đặng Thùy Trâm trên phƣơng diện
nghệ thuật trần thuật.
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm, ngoài ra còn tham
khảo thêm nhật ký chống Mỹ nhằm làm nổi bật ý nghĩa thể loại cũng nhƣ ý
nghĩa xã hội.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp khảo sát, thống kê.
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp.
- Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu.
6. Đóng góp luận văn
Với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm, chúng
tôi mong muốn luận văn sẽ mang lại cái nhìn toàn diện về những đóng góp
của cuốn sách này trên nhiều phƣơng diện nhƣ ngƣời trần thuật, điểm nhìn
trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật cũng nhƣ ý nghĩa hiệu ứng đối với
đời sống tinh thần Việt Nam.
7. Cấu trúc luận văn
Chƣơng 1: Những vấn đề lí luận về nghệ thuật trần thuật và đôi nét về
Nhật ký Đặng Thùy Trâm
Chƣơng 2: Ngƣời trần thuật trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm
Chƣơng 3: Ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật trong Nhật ký Đặng Thùy
Trâm
6
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
VÀ ĐÔI NÉT VỀ NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM
1.1. Những vấn đề chung về nghệ thuật trần thuật
1.1.1. Khái niệm trần thuật
Trần thuật (narration) là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự kiện và
nhân vật theo một thứ tự nhất định, theo một cách nhìn nào đó. Trần thuật
đƣợc sử dụng phổ biến trong các loại thể văn học, song ở tác phẩm truyện,
trần thuật trở thành một tiêu điểm, một nguyên tắc chủ yếu để cấu tạo thế giới
nghệ thuật.
Trần thuật học là hạt nhân cơ bản của tự sự học, bởi vậy ngay từ đầu
thế kỷ XX, trần thuật đã là một vấn đề lý thuyết tự sự thu hút sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia trên thế giới.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, trần thuật là “Phƣơng diện cơ bản của
phƣơng thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với
nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một ngƣời trần thuật
nhất định” [4, 364].
Trong Giáo trình lí luận văn học, Trần Đình Sử (chủ biên) tác giả nêu:
“Trần thuật là kể, thuyết minh, giới thiệu về nhân vật, sự kiện, bối cảnh trong
truyện. Trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự kiện nhân vật theo
một trình tự nhất định” [21, 59].
Nhƣ vậy có thể thấy khái niệm trần thuật đƣợc sử dụng tƣơng đồng với
khái niệm kể chuyện và chúng đều có cách dịch, cách hiểu khác nhau của từ
7
“narrative” trong tiếng Anh. Khái niệm này luôn gắn bó với loại hình tự sự và
đƣợc nhắc nhiều khi nghiên cứu tự sự.
Do đó có thể nhận thấy trần thuật là một vấn đề đƣợc rất nhiều nhà
nghiên cứu trong và ngoài nƣớc quan tâm. Qua việc tìm hiểu những quan
niệm trên chúng tôi thấy rằng: Trần thuật trƣớc hết là một phƣơng thức nghệ
thuật đặc thù trong các tác phẩm thuộc thể loại văn học tự sự, thực chất của
trần thuật là việc kể lại, thuật lại những sự việc, con ngƣời, hoàn cảnh… theo
một trình tự nhất định dƣới một cái nhìn nào đó. Nghiên cứu nghệ thuật trần
thuật giúp chúng ta có cơ sở để khẳng định giá trị của tác phẩm đồng thời
khẳng định tài năng và những đóng góp của nhà văn vào diễn trình tự sự của
đời sống văn học.
Trần thuật gắn liền với toàn bộ công việc bố cục, kết cấu tác phẩm. Tác
phẩm dù kể theo trình tự nhân quả, hay liên tƣởng, kể nhanh hay chậm, kể
ngắt quãng rồi bổ sung, thì trần thuật là cả một hệ thống tổ chức phức tạp
nhằm đƣa hành động, lời nói nhân vật vào đúng vị trí của nó để ngƣời đọc có
thể lĩnh hội theo đúng ý định tác giả (mối quan hệ giữa câu chuyện và cốt
truyện). Ở đây có sự khác biệt về thời gian, sự tổ chức trật tự sự kiện và nhịp
điệu câu chuyện. Khoảng cách, góc độ của lời kể đối với cốt truyện tạo thành
cái nhìn.
Mối quan hệ giữa thái độ của ngƣời kể đối với các sự kiện đƣợc kể
cũng nhƣ ngƣời nghe, ngƣời kể ở “trong truyện” hay “ngoài truyện”, ở giữa
ngƣời nghe gần hay cách xa họ tạo thành giọng điệu của trần thuật. Bố cục
của trần thuật hình thành với sự triển khai cái nhìn, đan cài, phối hợp, luân
phiên các điểm nhìn. Có điểm nhìn gần gũi với sự kiện, lại có điểm nhìn cách
xa trong không gian và thời gian. Có điểm nhìn ngoài, hoặc nhìn xuyên qua
nội tâm nhân vật. Có cái nhìn nhân vật, sự kiện từ một nền văn hóa khác.
8
Từ thế kỉ XIX về trƣớc thịnh hành kiểu trần thuật khách quan, do một
ngƣời trần thuật biết hết sự việc tiến hành theo ngôi thứ ba. Sang thế kỉ XX,
ngoài truyền thống ấy, còn có thêm kiểu trần thuật theo ngôi thứ nhất do nhân
vật trong truyện đảm nhiệm. Sự trần thuật có khi biến thành “dòng ý thức”,
lời độc thoại nội tâm. Sự đổi mới quan điểm trần thuật nhƣ vậy đánh dấu ý
thức về lập trƣờng, sắc thái, khả năng nhận thức của chủ thể trần thuật, đồng
thời cũng thể hiện sự đổi thay bình diện miêu tả, lớp ý nghĩa của hiện thực
đƣợc phản ánh.
Trần thuật là phƣơng diện cấu trúc của tác phẩm tự sự thể hiện mối
quan hệ chủ thể - khách thể trong loại hình nghệ thuật này. Nó đánh dấu sự
đổi thay điểm chú ý của ý thức văn học từ hệ thống sự kiện “thắt nút”, “mở
nút”, sang chủ thể thẩm mĩ của tác phẩm tự sự.
Trần thuật đòi hỏi phải có ngƣời kể. Chủ thể của lời kể, khi trần thuật
phải xử lí mối quan hệ giữa chuỗi lời kể với chuỗi sự kiện và nhân vật. Nhƣ
vậy, có hai nhân tố quy định trần thuật: ngƣời kể và ngôn từ. Các yếu tố của
trần thuật đều thuộc về hai nhân tố cơ bản này.
1.1.2. Các yếu tố cơ bản của trần thuật
1.1.2.1. Ngôi kể
Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà ngƣời kể sử dụng khi kể chuyện, ngƣời kể
chuyện có thể kể theo ngôi thứ nhất, thứ hai và thứ ba ngƣời kể chuyện chỉ có
thể kể đƣợc khi nào họ cảm thấy nhƣ ngƣời trong cuộc, đang chứng kiến sự
việc xảy ra bằng tất cả các giác quan của mình. Do đó, về căn bản, mọi ngƣời
kể chuyện đều kể theo ngôi thứ nhất.
Cái gọi là ngôi thứ ba thực chất là hình thức kể khi ngƣời kể chƣa đƣợc
ý thức nhƣ trong các truyện dân gian hoặc là đã đƣợc ý thức nhƣng cố ý giấu
mình đi (nhƣ trong các truyện hiện đại). Ngôi thứ nhất là hình thức lộ diện,
ngôi thứ ba là ẩn mình đi. Sự phân biệt trên chỉ mang tính chất quy ƣớc, cho
9
dù mỗi sự lựa chọn hình thức kể cũng có khả năng tạo nghĩa nhất định cho
trần thuật.
Ngƣời kể chuyện ngôi thứ ba là hình thức trần thuật ngự trị trong văn
học cổ trung đại. Hình thức kể này cho phép ngƣời kể có thể kể tất cả những
gì họ biết.
Hình thức kể ngôi thứ nhất là một nhân vật trong truyện, chứng kiến
các sự kiện đứng ra kể. Hình thức này xuất hiện muộn (ở Châu Âu từ đầu thế
kỷ XIX). Lƣu ý trƣờng hợp kể chuyện ngôi thứ nhất xƣng “chúng tôi” (số
nhiều) có xuất hiện nhƣng rất ít.
Ngƣời kể chuyện ngôi thứ hai cũng mang tôi của ngƣời kể song nó tạo
đƣợc một không gian gián cách: một cái tôi khác, một cái tôi đƣợc kể ra chứ
không phải một cái tôi tự kể nhƣ ngôi thứ nhất.
1.1.2.2. Điểm nhìn trần thuật
Vấn đề điểm nhìn đã đƣợc đã đƣợc nghiên cứu từ lâu đầu thế kỷ XIX
với Anna Barbauld, cuối thế kỷ XIX với Henri James (1884), đầu XX với
Fnied man, Faster, Tomasevski, từ những năm 1940 trở đi đƣợc nghiên cứu
sâu hơn với Todorov, Genette, Lotman, Bakhtin...
Trong các tài liệu, thuật ngữ điểm nhìn đƣợc định danh bằng nhiều từ
khác nhau ví dụ nhƣ viewpoint, view, point of view… Cũng có những nhà
nghiên cứu cho rằng khái niệm điểm nhìn quá rộng, quá chung nên đề xuất
khái niệm nhãn quan (vision), có ngƣời đề xuất khái niệm điểm quan sát (post
of observation), có ngƣời đề nghị dùng tiêu cự trần thuật (focus of
narrative)…
Điểm nhìn trần thuật (tiếng Nga: khudojestvennaya tochka zreniya;
tiếng Anh: point of view) là “vị trí từ đó ngƣời trần thuật nhìn ra và miêu tả sự
vật trong tác phẩm. Không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn, bởi nó
thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn
10
nghệ thuật. Giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại
cho ngƣời thƣởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống. Sự đổi thay của
nghệ thuật bắt đầu từ đổi thay điểm nhìn” [4].
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đứng ở góc độ thi pháp cho rằng: “Điểm
nhìn văn bản là phƣơng thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách
nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả. Khái niệm điểm nhìn mang tính ẩn dụ,
bao gồm một nhận thức, đánh giá, cảm thụ của chủ thể đối với thế giới. Nó là
cái vị trí dùng để quan sát, cảm nhận, đánh giá bao gồm cả khoảng cách chủ
thể và khách thể, cả phƣơng diện vật lý, tâm lý, văn hóa” [17, 149]. Nhƣ vậy
tác giả đã cho rằng khái niệm điểm nhìn dễ hiểu hơn và nội dung phong phú
hơn bởi nó không chỉ là điểm nhìn thuần túy quang học nhƣ khái niệm tiêu
cự, tụ tiêu mà còn mang nội dung quan điểm, lập trƣờng tƣ tƣởng, tâm lý của
con ngƣời.
Theo PGS Nguyễn Thái Hòa: “Điểm nhìn của lời nói giao tiếp là tọa độ
của hai trục: lời nói hiển ngôn và hành vi giao tiếp và do thao tác suy ý ngƣời
nhận có thể tiếp nhận đƣợc” [7, 88]. Còn “điểm nhìn nghệ thuật trong truyện về
cơ bản cũng là đƣợc suy ý từ văn bản và hành động kể (phát ngôn) cũng thể
hiện ở nhiều thủ pháp khác nhau. Tuy vậy, đó là mối quan hệ giữa ngƣời viết –
văn bản – ngƣời nhận ở cả hai bậc hiển ngôn và hàm ngôn” [7, 95-96].
Giáo sƣ Phùng Văn Tửu cho rằng: “Điểm nhìn đƣợc xác nhận trong hệ
đa phƣơng không gian, thời gian tạo thành góc nhìn. Điểm nhìn là kỹ thuật
chọn chỗ đứng để nhìn và kể” [26, 178].
Điểm nhìn trần thuật là vị trí để từ đó ngƣời kể chuyện nhìn và kể, miêu
tả các sự kiện, hiện tƣợng hành vi của đời sống. Điểm nhìn là khởi điểm mà
việc trần thuật trải ra trong không gian và thời gian.
Nhìn chung, nhà văn khi sáng tạo thƣờng sử dụng luân phiên, hay di
chuyển linh hoạt các điểm nhìn để tránh sự đơn điệu, tạo hiệu quả thẩm mỹ.
11
Điểm nhìn trần thuật gắn bó chặt chẽ với ngôi kể, nhƣng rộng hơn ngôi kể.
Ngƣợc lại, mỗi ngôi kể ít nhất tạo ra một điểm nhìn, song một điểm nhìn thì
hoàn toàn có thể không có ý nghĩa nhƣ một ngôi kể.
Tóm lại, điểm nhìn trần thuật là một phạm trù của thi pháp học lịch sử,
khái niệm điểm nhìn giúp ngƣời ta giải phẫu cấu trúc nội tại của tác phẩm,
phân tích cách cảm thụ, miêu tả và thái độ tƣ tƣởng của tác giả trong tác phẩm.
1.1.2.3. Ngôn ngữ trần thuật
Văn học là nghệ thuật ngôn từ nhƣng không chỉ là ngôn từ. Ngôn từ
văn học là ngôn từ đƣợc lựa chọn, đƣợc tổ chức thành văn bản cố định, sao
cho nói một lần có thể giao tiếp mãi mãi.
M. Bakhtin cũng cho rằng thật là ngây thơ nếu cho rằng: nghệ sỹ chỉ
cần một ngôn ngữ nhƣ là ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ của nhà ngôn ngữ. Thực
ra, nghệ sỹ gia công ngôn ngữ, nhƣng không nhƣ ngôn ngữ; bởi vì anh ta khắc
phục ngôn ngữ nhƣ là ngôn ngữ để biến nó thành phƣơng tiện biểu hiện nghệ
thuật [13, 167].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Ngôn ngữ mang tính nghệ thuật đƣợc
dùng trong văn học”. Vì vậy văn học mới đƣợc gọi là loại hình nghệ thuật
ngôn từ.
M. Gorki cũng khẳng định: “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”
và một nhà văn đích thực phải tự ý thức về mình nhƣ nhà ngôn ngữ vì ngôn
ngữ là “yếu tố đầu tiên quy định cung cách ứng xử” [4, 35]; là phƣơng tiện
bắt buộc để nhà văn giao lƣu với độc giả. Đối với văn chƣơng, ngôn ngữ
không chỉ là cái vỏ tƣ duy mà còn là tài năng, cá tính và quan điểm nghệ
thuật. Do đó giọng điệu tác phẩm trƣớc hết là giọng điệu ngôn ngữ.
Văn học sử dụng ngôn ngữ, nhƣng văn học và ngôn ngữ là hai loại hình
ký hiệu khác nhau, bởi vậy không thể suy trực tiếp đặc điểm của ngôn từ nghệ
thuật từ đặc điểm của ngôn ngữ. Mặt khác, ở mỗi thể loại văn học, ngôn ngữ
12
lại có những đặc trƣng riêng. Nếu nhƣ thơ trữ tình dùng ngôn ngữ để bộc lộ
những cung bậc cảm xúc khác nhau, kịch dùng ngôn ngữ đối thoại là chủ yếu
thì văn xuôi tự sự là ngôn ngữ trần thuật. So sánh với ngôn ngữ thơ ca và
ngôn ngữ kịch, chúng ta thấy ngôn ngữ trần thuật của văn xuôi có phạm vi
hoạt động tự do, dân chủ và linh hoạt hơn.
Khi nói tới ngôn ngữ trần thuật chúng ta có thể hình dung ngay ra các
yếu tố của nó là ngôn ngữ của ngƣời trần thuật, ngôn ngữ nhân vật và lời nói
nƣớc đôi. Trong đó, ngôn ngữ ngƣời trần thuật, ngôn ngữ nhân vật giữ vai trò
quyết định tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
Ngƣời trần thuật hay ngƣời kể chuyện là khái niệm trung tâm của trần
thuật học. Andrew H. Plaks cho rằng vấn đề ngƣời trần thuật là vấn đề trung
tâm, còn giọng điệu trần thuật lại là vấn đề trung tâm của trung tâm. Song cho
đến nay khái niệm này còn nhiều điểm chƣa thật rõ. Nhà lý luận Mỹ Jonathan
Culler cho rằng: “Bất cứ trần thuật nào đều phải có ngƣời trần thuật, bất kể
ngƣời trần thuật ấy có đƣợc xác nhận rõ ràng hay không. Bởi vì vấn đề trung
tâm của chủ đề mỗi câu chuyện đều là mối quan hệ giữa ngƣời trần thuật hàm
ẩn (phạm vi tri thức, quan niệm giá trị) với câu chuyện mà nó kể ra. Do đó,
muốn giải thích một đoạn tự sự bắt buộc phải xác định ngƣời kể chuyện hàm ẩn
trong đó, xác nhận các bộ phận thuộc về cái nhìn của nó, phân biệt bản thân
hành động và sự quan sát của ngƣời trần thuật với hành động đó” [19, 189].
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa ngôn ngữ ngƣời trần thuật: “phần
văn độc thoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm ngƣời kể chuyện (sản
phẩm sáng tạo của tác giả) đối với cuộc sống đƣợc miêu tả, có những nguyên
tắc thống nhất trong việc lựa chọn và sử dụng các phƣơng tiện tạo hình và biểu
hiện ngôn ngữ” [4, 212]. Ngôn ngữ ngƣời trần thuật là “yếu tố cơ bản thể hiện
phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính tác giả” [4, 212].
13
Nhƣ vậy, ngôn ngữ trần thuật vừa mang tính chính xác, tính cá thể hóa
do đặc trƣng của ngôn ngữ ngƣời kể chuyện (ngƣời trần thuật) và ngôn ngữ
nhân vật trong tác phẩm văn học quy định. Ở tác phẩm tự sự, ngôn ngữ ngƣời
trần thuật giữ vai trò quan trọng nhất. Khi ngôn ngữ đa thanh thì lời văn trần
thuật sẽ đa giọng, điều này sẽ làm nên tính đối thoại của tác phẩm tự sự.
1.1.2.4. Giọng điệu trần thuật
Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trƣờng đạo đức của nhà văn đối với
các hiện tƣợng đƣợc miêu tả trong lời văn quy định cách xƣng hô, gọi tên,
dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay
suồng sã, ngợi ca hay châm biếm. Giọng điệu phản ánh lập trƣờng xã hội, thái
độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo
thành phong cách của nhà văn và có tác dụng truyền cảm cho ngƣời đọc.
Giọng điệu là phạm trù thẩm mỹ của tác phẩm văn học khác với giọng
(voice) thƣờng đƣợc nhìn từ góc độ vật lý (cƣờng độ, trƣờng độ, cách phối
âm, âm lƣợng), giọng điệu (tone) là phạm trù đƣợc xét từ góc độ tâm lí, biểu
hiện các thái độ (vui, buồn, giận…). Giọng điệu giúp ta nhận ra tác giả.
Không nên đồng nhất giọng điệu nghệ thuật với giọng điệu tác giả vốn có
ngoài đời. Cũng không nên lẫn lộn giọng điệu với ngữ điệu là phƣơng tiện
biểu hiện của lời nói, thể hiện qua cách lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh,
nhịp điệu,... chỗ ngừng. Giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm
văn học. Nó đòi hỏi ngƣời trần thuật, kể chuyện hay nhà thơ trữ tình phải có
khẩu khí, có giọng điệu. Giọng điệu trong tác phẩm gắn với cái giọng “trời
phú” của mỗi tác giả, nhƣng mang nội dung khái quát nghệ thuật, phù hợp với
đối tƣợng thể hiện. Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị thƣờng đa dạng, có
nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo, chứ không đơn điệu.
Giọng điệu luôn mang nội dung tình cảm, thái độ, ứng xử trƣớc các hiện
tƣợng đời sống đƣợc miêu tả.
14
Cở sở của giọng điệu
Cở sở chủ quan của giọng điệu xuất phát thứ nhất từ cảm hứng chủ đạo
của nhà văn: lòng yêu say lí tƣởng, yêu cái đẹp, niềm vui, nỗi đau, lòng căm
giận. Nếu nhà văn có cảm hứng chính luận, phê phán, bất mãn với thực tại thì
anh ta sẽ có giọng điệu lên án, tố cáo, lúc đó anh ta sẽ sử dụng các biện pháp
mỉa mai, châm biếm, nhại… Thứ hai là từ vị thế của nhà văn nhà văn tự coi
mình là ai (khách bộ hành, nhà tiên tri, truyền đạo, quan tòa, ngƣời tố cáo…)
Cở sở khách quan của giọng điệu xuất phát từ chính các đặc tính thẩm
mĩ cụ thể của đối tƣợng miêu tả. Truyện đau thƣơng đòi hỏi giọng buồn,
ngậm ngùi, truyện hài hƣớc cần giọng đùa cợt, giễu nhại, miêu tả ngƣời anh
hùng cần có giọng thành kính, ngợi ca…
1.2. Vài nét về Nhật ký Đặng Thùy Trâm
1.2.1. Hoàn cảnh ra đời và quá trình lưu hành
So với những cuốn nhật ký chiến tranh khác, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm
là một cuốn nhật ký có số phận kỳ lạ nhất trong số những cuốn nhật ký đã
đƣợc công bố. Sau một trận càn quét của quân đội Mỹ vào một bệnh viện nhỏ
ở vùng quê Đức Phổ năm 1970, Frederic Whitehurst (Fred) nguyên là một sĩ
quan quân báo Mỹ tham gia ở chiến trƣờng Đức Phổ, Quảng Ngãi từ năm
1967 đến năm 1971 có nhiệm vụ thu thập các thông tin, tài liệu có giá trị quân
sự để phân tích tình hình, truy tìm dấu tích quân giải phóng, định hƣớng tập
kích hay càn quét. Nhiệm vụ đó đã khiến cho Fred có thể nhìn cận cảnh cuộc
chiến tranh và chứng kiến tận mắt những mất mát khủng khiếp cả đối với phía
Việt Nam lẫn phía Mỹ. Theo quy định của quân đội Mỹ, mọi tài liệu thu đƣợc
trên chiến trƣờng phải chuyển lại cho bộ phận quân báo nghiên cứu. Những
lần đó, sau khi thu nhặt tài liệu, Fred chỉ giữ lại những tài liệu cần thiết, số
còn lại đều đốt. Trong lúc Fred đang đốt những tài liệu loại bỏ thì thƣợng sĩ
Nguyễn Trung Hiếu - thông dịch viên của đơn vị cầm một cuốn sổ nhỏ đến
15
bên anh và nói: “Frederic, đừng đốt cuốn sổ này. Bản thân trong nó đã có lửa
rồi”. Fred chƣa hiểu đó là cuốn sổ gì, nhƣng vẻ xúc động của Hiếu và việc
Hiếu có thể kính trọng cả đối phƣơng tác động rất mạnh đến ông nên Fred
liền bỏ cuốn sổ vào túi. Nhiều đêm sau đó, với sự giúp đỡ phiên dịch của
Nguyễn Trung Hiếu, Fred đã cùng Trung Hiếu đã đọc hết cuốn sổ. Đó là cuốn
nhật ký của một nữ Việt Cộng - bác sĩ đứng đầu bệnh viện nhỏ ở Đức Phổ. Và
nhƣ một định mệnh đã đƣợc sắp đặt sẵn, mấy tháng sau Fred lại nhận đƣợc
một cuốn sổ nhật ký nhỏ cũng của ngƣời nữ bác sĩ đó do Nguyễn Trung Hiếu
mang về. Fred vô cùng xúc động khi nghe Nguyễn Trung Hiếu dịch vội cuốn
nhật ký. Ông nhận thấy đằng sau những dòng chữ mềm mại, đầy nữ tính kia
chất chứa lòng căm thù cao độ đối với quân Mỹ nhƣng đằng sau những dòng
chữ đó còn chất chứa lòng yêu thƣơng, niềm hy vọng về một ngày mai tƣơi
sáng của dân tộc Việt Nam. Cũng từ đó, cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm mới
đƣợc Fred nâng niu, gìn giữ lại và đã đƣợc “sống lại” nhƣ ngày hôm nay.
Năm 1972, rời Việt Nam, Fred trở về Mỹ, trong hành lý của ông, ngoài
những đồ tƣ trang cá nhân, còn có những kỷ vật nặng trĩu của chiến tranh: Hai
cuốn nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm, hơn 50 tấm ảnh chụp những ngƣời
dân Quảng Ngãi trong chiếc máy ảnh Canon bị bắn thủng lấy đƣợc trên xác
một phóng viên Việt Cộng - liệt sĩ Nguyễn Văn Giá, một chiếc đục nhỏ rơi
trên xác một ngƣời thợ mộc già bị giết hại. Những kỷ vật này luôn khiến cho
Fred day dứt một nỗi ám ảnh về Việt Nam. Fred đã nhiều lần tìm gia đình nữ
bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm, qua những địa chỉ, tên tuổi ngƣời thân mà chị nhắc
đến trong nhật ký nhƣng không thành. Đƣợc sự giúp đỡ tận tình và sự động
viên chân thành của ngƣời anh trai là Robert Whitehurst (Rob) cũng là một
cựu chiến binh ở chiến trƣờng Việt Nam, trung tuần tháng 3 năm 2005, một
cuộc hội thảo thƣờng niên về chiến tranh Việt Nam đƣợc tổ chức tại Trung
tâm Việt Nam – Đại học Texas, Mỹ rất nhiều ngƣời đến dự. Tại hội thảo,
16
ngƣời ta thảo luận về chiến tranh Việt Nam ở nhiều khía cạnh khác nhau. Fred
và Robert đã đến với bài nói về nhật ký của một nữ bác sĩ Việt cộng mà Fred
nhận đƣợc khi tham gia chiến tranh ở Việt Nam. Sự kiện thu hút đƣợc sự chú
ý của ngƣời nghe qua lời kể xúc động của Fred về quá trình từ lúc nhận đƣợc
cuốn nhật ký cho tới lúc quyết định tặng nó cho viện lƣu trữ về Việt Nam ở
Lobbock, cũng nhƣ qua những trang nhật ký đầy tình yêu thƣơng và khát
vọng hoà bình đã đƣợc Robert dịch sang tiếng Anh. Trong niềm xúc động sâu
sắc, Fred và Rob đã đƣa cho nhiều ngƣời đĩa CD có chứa bản sao cuốn nhật
ký với mong muốn cuốn nhật ký sẽ tìm đƣợc về với quê hƣơng, về với gia
đình ngƣời nữ bác sĩ mà họ ngƣỡng mộ nhƣ một anh hùng.
Ted Engelmann (Ted) là một trong những ngƣời có mặt ở hội thảo. Ba
ngày sau khi hội thảo kết thúc, Ted sang Việt Nam. Ở Hà Nội, anh đã nhờ
một ngƣời bạn làm ở văn phòng Quaker Hà Nội tìm giúp gia đình bác sĩ Đặng
Ngọc Khuê. Theo lời kể của Hiền Trâm - em gái Đặng Thùy Trâm cho biết:
Những nhân viên ở đây rất nhiệt tình, lần theo manh mối ít ỏi có trong cuốn
nhật ký, họ đã tìm sang tận Đông Anh, nơi bố tôi làm việc từ gần 50 năm
trƣớc. Nhƣng ở đó, ngƣời duy nhất làm việc cùng thời với bố tôi cũng đã nghỉ
hƣu từ năm 2000. Bệnh viện Đông Anh cử ngƣời về tận quê ông để hỏi địa
chỉ gia đình tôi. Ông lại chỉ sang Trƣờng đại học Dƣợc Hà Nội, nơi mẹ tôi
công tác trƣớc khi về nghỉ hƣu từ 20 năm trƣớc. Cứ nhƣ thế, bao trái tim nhân
hậu đã chuyển tiếp cho nhau tín hiệu để cuối cùng giúp Ted tìm đƣợc gia đình
tôi và trao lại chiếc đĩa CD chứa đựng tâm huyết của ngƣời viết nhật ký 35
năm về trƣớc.
Ngày 15/8/2005, đƣợc sự nhất trí của gia đình bà Doãn Ngọc Trâm mẹ
của liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm, Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Công ty Nhã Nam
đã xin giấy phép xuất bản cuốn nhật ký, đồng thời đƣợc chấp thuận con số
100.000 cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm đƣợc xuất bản. Cuốn nhật ký đƣợc
coi là cơn chấn động của ngành xuất bản Việt Nam trong khoảng chục năm
17
qua (bán đƣợc năm triệu bản trong hai năm). Cuốn sách đã đoạt giải Giải đặc
biệt Giải thƣởng sách Việt Nam năm 2006. Hiện nay Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm
đã đƣợc dịch ra 16 thứ tiếng và đƣợc xuất bản tại 22 nƣớc trên thế giới. Tại Lào
có tổ chức cuộc thi đọc Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm bằng tiếng Lào. Xoay quanh
Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm đã có sự ra đời của một số cuốn sách khác: 35 năm
và 7 ngày (Nhiều tác giả), 7 ngày và 35 năm (Nhiều tác giả), Bí mật cuộc đời
người Mỹ làm “sống lại” Đặng Thuỳ Trâm (Frederic Whitehurrst và nhóm tác
giả),
1.2.2. Hiệu ứng của cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm
Cũng giống nhƣ sự kiện sau khi cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi
của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc đƣợc xuất bản, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm đã có
tác động khá lớn đến đời sống văn hoá - xã hội của nƣớc ta. Đặc biệt là văn
hóa đọc, tƣởng chừng sách in đã bị xem nhẹ khi có sự xuất hiện của các
phƣơng tiện thông tin đại chúng hiện đại, cuốn sách đã đƣợc tái bản rất nhiều
và sự ảnh hƣởng sâu rộng của nó khiến các nhà nghiên cứu văn chƣơng buộc
phải có cái nhìn nghiêm túc về thể loại văn học đặc biệt này để giúp độc giả
nhận thức đƣợc vấn đề của thời đại, của lịch sử, những gì mà quá khứ đã đi
qua cùng những dƣ âm của nó còn đọng lại đến tận hôm nay.
Đây là những cuốn nhật ký riêng tƣ đƣợc viết ra chỉ phục vụ mục đích
cá nhân ngƣời viết chứ không hề có ý định phát thành sách phục vụ công
chúng. Nhƣng trên thực tế, sự xuất hiện của cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm
đã tạo tiếng vang lớn trong xã hội, sức lan tỏa của nó vƣợt qua không gian,
phạm vi lãnh thổ đất nƣớc nhờ có sự giúp sức của các phƣơng tiện thông tin
đại chúng hiện đại, các bài viết trên báo mạng, báo giấy đã mở đƣờng cho
việc xuất bản sách có cùng đề tài.
Ngay sau khi cuốn nhật ký đƣợc ra mắt công chúng, một loạt các công
trình, phong trào mang tên Đặng Thuỳ Trâm hoặc gắn với tên tuổi Đặng Thuỳ
18
Trâm đƣợc xuất hiện: Bệnh xá Đặng Thùy Trâm đƣợc xây dựng tại thôn Nga
Mân - xã Phổ Cƣờng - huyện Đức Phổ - tỉnh Quảng Ngãi, Bệnh viện đa khoa
Đặng Thùy Trâm đƣợc xây dựng tại thị trấn Đức Phổ - huyện Đức Phổ - tỉnh
Quảng Ngãi, Trƣờng Cao đẳng y tế thuộc tỉnh Quảng Ngãi đƣợc mang tên
Đặng Thùy Trâm, tua du lịch Đặng Thùy Trâm đƣợc khánh thành ở Quảng
Ngãi, quỹ Đặng Thùy Trâm đƣợc phát động ở Khánh Hòa, ngành y tế phát
động phong trào học tập tấm gƣơng Đặng Thùy Trâm,
Dựa vào cuốn nhật ký của nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm, đạo diễn Đặng
Nhật Minh dựng thành bộ phim nhựa Đừng đốt. Bộ phim đã đạt nhiều giải
cao trong các liên hoan phim: Giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim Việt
Nam lần thứ XVI, giải Cánh diều vàng năm 2009, giải Nhất tại Liên hoan
phim Fukuoka lần thứ XIX tổ chức tại Nhật Bản (tháng 9/2009).
Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt của những
ngƣời làm nghệ thuật sân khấu và nghệ thuật thứ bảy. Đạo diễn Doãn Hoàng
Giang và Nhà hát kịch Quân đội đã cho công diễn vở kịch Những linh hồn
thức, kịch bản của vở kịch đƣợc xây dựng từ cuốn nhật ký đặc biệt này và Mãi
mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc. Nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm và
nghệ sĩ ƣu tú Hữu Mƣời đã chính thức khởi quay bộ phim Mùi cỏ cháy vào
ngày 25/12/2010. Bộ phim đƣợc xây dựng dựa trên tinh thần các cuốn nhật ký
Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc, Tài hoa ra trận của Hoàng
Thƣợng Lân và Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm.
Nhƣ vậy, Nhật ký Đặng Thùy Trâm không những có đóng góp lớn về
mặt thể loại mà còn mang đến sự mới lạ cho đời sống văn học, tác động mạnh
mẽ và ảnh hƣởng sâu sắc đến tâm hồn con ngƣời với hiệu ứng xã hội tích cực
đặc biệt là trong nhận thức giới trẻ hiện nay.
19
CHƢƠNG 2
NGƢỜI TRẦN THUẬT TRONG NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM
2.1. Ngôi kể
Nói đến thể loại nhật ký chủ yếu sử dụng hình thức ngôi kể thứ nhất
xƣng “tôi”, “mình” hoặc “chúng tôi”. Hình tƣợng cái “Tôi” tác giả trong nhật
ký không gì có thể phủ nhận đƣợc yếu tố tâm tình, trò chuyện là yếu tố quan
trọng nhất trong nhật ký. Hơn nữa, đó lại là những lời tâm sự, trò chuyện của
ngƣời viết với chính bản thân họ nên việc ai là đối tƣợng tiếp nhận nhật ký
không phải là vấn đề đáng quan tâm. Vì vậy, sức thu hút của một cuốn nhật
ký phụ thuộc rất nhiều vào cảm xúc sâu sắc của cái “Tôi” tác giả trƣớc đời
sống, phụ thuộc vào khuynh hƣớng thẩm mỹ và phẩm chất đạo đức của ngƣời
viết nhật ký. Bởi vậy, độ dày giá trị của nhật ký do độ dày của đời sống nội
tâm ngƣời viết quyết định nên. Điều đó cũng tạo nên chiều sâu nhân văn của
tác phẩm. Cái “Tôi” trong nhật ký không ghi chép hoặc phản ánh một cách
thụ động, máy móc hiện thực về cuộc sống và con ngƣời mà phải tái tạo, biểu
đạt một cách chủ động, sáng tạo trƣớc hình thức đó. Cái “Tôi” đó không chỉ
đảm bảo tính xác thực của đối tƣợng miêu tả mà còn phải bằng tiếng nói của
cảm xúc bồi đắp cho hình tƣợng nghệ thuật thêm phong phú, sống động. Sự
tinh nhạy của ngƣời viết trong việc chọn lựa chi tiết, sự việc, hiện tƣợng để
đƣa vào nhật ký sẽ quyết định thêm nhiều giá trị khác nữa của nhật ký.
Theo Từ điển thuật ngữ văn hoc: “Nhật ký là hình thức tự sự ở ngôi thứ
nhất đƣợc thực hiện dƣới dạng những ghi chép hàng ngày theo thứ tự ngày
tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả hoặc nhân vật chính là ngƣời
trực tiếp tham gia hay chứng kiến, khác với hồi ký, nhật ký chỉ ghi lại những
sự kiện, những cảm nghĩ “vừa mới xảy ra chƣa lâu” [4, 237].
Trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm nhân vật trung tâm là tác giả nhật ký
gắn với ngôi kể thứ nhất. Mọi việc đƣợc ghi chép ra đều đƣợc soi ngắm qua
20