1
Tư tưởng triết học hồ chí minh về con người và vấn đề phát huy vai trò nhân
tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc việt nam xã hội
chủ nghĩa hiện nay
===================
Vấn đề con người và giải phóng con người là một trong những nội dung
cơ bản mà các trào lưu triết học đều tập trung giải quyết. Tuy nhiên, ở mỗi thời
đại lịch sử, mỗi luận điểm triết học vấn đề đó được đặt ra và giải quyết trong
những bối cảnh và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào thế giới quan và nhân sinh
quan của các nhà triết học.
Với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vấn đề con
người và giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công được đặt
trên một nền tảng hiện thực - đó là việc thay thế chế độ chiếm hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất bằng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Tức
chủ nghĩa Mác – Lênin và Hồ Chí Minh không xem xét con người chung
chung, trừu tượng, mà xem xét con người một cách thực tế. C. Mác nói:
“Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của các
nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng
hoà những quan hệ xã hội”[59, tr.11]
I. THỰC CHẤT VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
HỒ CHÍ MINH
Có thể nói, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con người là sự kết tinh
của những quan điểm về con người trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, cả
phương Đông, phương Tây, mà trực tiếp là chủ nghĩa Mác – Lênin được thể
hiện một cách cụ thể, sinh động ở Việt Nam. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
về con người và phát triển con người được hình thành, phát triển và quán
xuyến suốt cuộc đời hoạt động của Người. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
2
viết: “Hồ Chí Minh hết sức coi trọng chiến lược con người. Đối với Hồ Chí
Minh, con người là mục tiêu đồng thời là nhân tố quyết định thành công của
cách mạng. Vì thế Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự cần thiết vũ trang cho giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và dân tộc ta những giá trị đạo đức mới để làm
nên cuộc đổi đời lịch sử…”[60, tr. 179]
Để hiểu rõ vấn đề con người trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, chúng
ta cần nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau:
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con người
Sự ra đời tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con người là tất yếu lịch sử.
Nó là sản phẩm của sự kết hợp hài hoà giữa điều kiện lịch sử – xã hội với phẩm
chất, năng lực của Người, biểu hiện cụ thể đó là:
1.1.1. Xuất phát từ đòi hỏi khách quan của lịch sử – xã hội
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ
nghĩa đế quốc. Cùng với mâu thuẫn giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, chủ nghĩa
đế quốc ra đời đã xuất hiện thêm mâu thuẫn mới: mâu thuẫn giữa các dân tộc
thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc, thực dân.
Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) để chia lại
thuộc địa của các nước đế quốc đã làm cho chủ nghĩa tư bản suy yếu, tạo
điều kiện cho lí tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành hiện thực. Cách
mạng tháng Mười nga dưới sự lãnh đạo của Lênin thành công năm 1917 và
mở ra một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội trên phạm vi toàn thế giới.
Ở trong nước, trong cùng thời điểm ấy, Việt nam bị thực dân Pháp
xâm lược và trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến dưới ách thống trị
của thực dân Pháp. Từ đó cuộc sống của người dân Việt Nam chìm trong
đau khổ và tủi nhục vì mất nước. Nhu cầu tìm ra con đường giải phóng dân
tộc để cứu dân, cứu nước trở thành một nhu cầu cấp bách đối với mọi
3
người dân yêu nước Việt nam. Trong điều kiện ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh
nói chung, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con người nói riêng từng
bước được hình thành và phát triển.
1.1.2. Xuất phát từ văn hoá và truyền thống của người Việt Nam
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, thương dân, ý chí chiến
đấu kiên cường, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống tương thân, tương ái, lạc
quan, yêu đời, cần cù, thông minh, sáng tạo. Truyền thống đó đã hấp thụ trong
tư tưởng Hồ Chí Minh và ngày càng củng cố, bổ sung trong cuộc đời hoạt
động cách mạng của Người.
1.1.3. Xuất phát từ tinh hoa văn hoá của nhân loại
Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng nhiều tinh hoa văn hoá của phương
Đông lẫn phương Tây.
Đối với văn hoá phương Đông, Hồ Chí Minh đã chắt lọc những
tư tưởng tích cực của Nho giáo và Phật giáo như: tinh thần yêu
thương con người, cứu khổ, cứu nạn, rèn luyện tu dưỡng đạo đức,
tinh thần hiếu học v.v..
Đối với văn hoá phương Tây, quá trình bôn ba tìm đường cứu
nước Hồ Chí Minh đã tiếp cận và chịu ảnh hưởng nền văn hoá dân chủ
và cách mạng của phương Tây. Điển hình như tư tưởng về quyền của
con người trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mĩ, hay tư tưởng
về tự do, bình đẳng, bác ái của các nhà Khai sáng Pháp…đã góp phần
quan trọng về mặt lí luận trong việc hình thành tư tưởng dân chủ của
Hồ Chí Minh.
Song, yếu tố giữ vai trò quyết định về mặt thế giới quan và phương
pháp luận đối với việc hình thành tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con
người là quan niệm về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đặc biệt, khi
Người bắt gặp Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, tưu
4
tưởng triết học về con người của Hồ Chí Minh càng được định hướng đúng
đắn, Người nói: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho
mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bình đẳng, bác ái,
đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm
vui, hoà bình, hạnh phúc”[31, tr. 461]. Với niềm vui sướng ấy, Người nói to
lên: “Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây
là con đường giải phóng chúng ta!”[56, tr. 127].
1.1.4. Vai trò nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu
nước, thương dân, học cao, hiểu rộng; trong hoàn cảnh quê hương
đất nước bị ngoại bang nô dịch. Cái nhục mất nước không chỉ đối
với các thần dân mà cả đối với những ông vua, quan có lòng yêu
nước, thương dân.
Bản thân Hồ Chí Minh đã từng theo học đạo làm người của Khổng
giáo, và cũng đã từng nghe những từ “tự do, bình đẳng, bác ái” của chủ
nghĩa nhân đạo tư sản khi còn học ở trường Quốc học Huế, nhưng ông
nhận thấy những điều đã học trái với thực tế phủ phàng của dân tộc
mình. Một dân tộc đã mất độc lập thì những con người của dân tộc đó,
trước hết là những người lao động, làm gì có được tự do, bình đẳng và
bác ái. Chính vì thế, con người trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
trước hết và chủ yếu là những con người bị áp bức, bóc lột của dân tộc
mình. Hồ Chí Minh cảm nhận rất sâu sắc điều đó và nó trở thành ngọn
lửa hun đúc tinh thần yêu nước, thôi thúc Người rời khỏi quê hương ra đi
tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, đem đến
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người.
1.2. Nội dung cơ bản tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con người
5
Mặc dù Hồ Chí Minh không có tác phẩm lí luận riêng về con người, song
tất cả các bài viết, bài nói và cả cuộc đời hoạt động của mình là vì con người. Tư
tưởng này được thể hiện trên một số nội dung chính sau đây:
1.2.1. Khái niệm con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là gì? Đây là một vấn đề rất
khó. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này dưới những gốc
độ tiếp cận khác nhau. Để có một khái niệm đúng đắn về con người theo
tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, chúng ta cần nghiên cứu một số điểm
chủ yếu sau:
Khái niệm con người được Hồ Chí Minh sử dụng rất linh hoạt và
sáng tạo, tuỳ điều kiện, hoàn cảnh, lịch sử cụ thể Người sử dụng cho phù
hợp. Chẳng hạng, có lần Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm về chữ Người:
“Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa
rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”[41, tr. 644]. Với ý
nghĩa này, khái niệm con người đã mạng trong nó bản chất xã hội, phản
ánh các quan hệ xã hội, quan hệ gần là gia đình, anh em, họ hàng, bầu
bạn; quan hệ xa là làng xóm, quê hương, đồng bào cả nước, và xa hơn
nữa là nhân loại.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có con người chung chung, trừu
tượng mà chỉ có con người cụ thể, con người với ý nghĩa đầy đủ nhất, đó
là con người có cuộc sống riêng của họ, có những mối quan hệ riêng của
họ gắn với gia đình, người thân, quê hương, làng xóm, đồng bào, nhân
loại. Đó là người bản xứ, người cùng khổ, người nô lệ, người da vàng,
người da trắng hay là tên thực dân, bọn ăn bám v.v.. Tức con người trong
tư tưởng Hồ Chí Minh bao giờ cũng gắn với xã hội, có vị trí trong xã hội.
Còn nếu xét trong quan hệ với dân tộc, Tổ quốc thì gọi là nhân dân, quần
6
chúng, đồng bào. Hay là công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội nếu đặt
trong mối quan hệ giai cấp.
Với cách quan niệm đó, Hồ Chí Minh vừa cho chúng ta thấy rõ tính
chất giai cấp và tính chất lịch sử của khái niệm con người, vừa hướng vào
những giá trị chung của con người, như: tự do, dân chủ, bình đẳng…để vươn
tới chân, thiện, mĩ, đạt tới lí tưởng nhân bản.
Từ sự phân tích trên cho thấy, Hồ Chí Minh quan niệm con người
dưới gốc độ triết học vừa là một con người cá thể, cụ thể, vừa là một
cộng đồng gia đình, giai cấp, xã hội ,nhân loại. Đó là con người gắn liền
với hoạt động thực tiễn đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội. Con người
thống nhất giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội, giữa cá nhân và cộng
đồng, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Con người vừa là sản phẩm, vừa
là chủ thể tích cực của hoàn cảnh. Con người vừa là động lực, vừa là mục
tiêu của sự phát triển lịch sử, chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị vật
chất, văn hoá, tinh thần trong xã hội.
1.2.2. Nguồn gốc con người
Con người trong quan niệm Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất
về thể lực, tâm lực, trí lực và sự hoạt động. Nói cách khác, con người là một
hệ thống cấu trúc bao gồm nhiều yếu tố: sức khoẻ, đời sống vật chất, văn hoá
tinh thần, tri thức… các yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau, là tiền đề, điều
kiện cho nhau, ảnh hưởng và qui định lẫn nhau.
Hồ Chí Minh nhìn nhận con người trong sự thống nhất của hai mặt
đối lập: người đời không phải là thánh thần, ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai
cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác… Các mặt đối lập đó không đơn
thuần có nguồn gốc từ xã hội, mà còn có căn nguyên từ yếu tố sinh vật
của con người.
7
Hồ Chí Minh vừa thấy được yếu tố sinh vật, vừa thấy được yếu tố xã
hội ảnh hưởng đến hành vi và đời sống của con người. Đây là một sự kết hợp
hài hoà, sáng tạo khi đòi hỏi quá trình cải tạo xã hội phải đồng thời và trước
hết là cải tạo bản thân mỗi con người, hai quá trình này vừa là điều kiện, vừa
là kết quả của nhau. Hồ Chí Minh nói: “Con người ta để ra, ai cũng lớn lên,
già đi rồi chết”[57, tr. 469]. Đó là qui luật sinh học của con người.
1.2.3. Bản chất con người
Đứng vững trên quan điểm duy vật Mác xít, Hồ Chí Minh khẳng
định bản chất con người mang tính xã hội – lịch sử. Con người vừa là sản
phẩm, vừa là chủ thể của lịch sử, con người vừa là động lực, vừa là mục
tiêu của sự phát triển xã hội. Hồ Chí Minh cho rằng: con người ta muốn
sống thì phải có ăn, mặc, ở, đi lại, muốn như vậy thì phải lao động. Muốn
lao động sản xuất thì con người phải liên kết với nhau trong tập thể, cộng
đồng. Mà sản xuất thì luôn biến đổi, do đó tư tưởng của con người, chế độ
xã hội cũng biến đổi và phát triển theo, ý thức và nhận thức của con người
cũng vậy. “Do sự sản xuất vật chất mà người ta hiểu biết dần dần các hiện
tượng, các tính chất, các qui luật và mối quan hệ giữa người với giới tự
nhiên. lại do hoạt động sản xuất mà dần dần hiểu rõ mối quan hệ giữa
người này với người khác”[46, tr. 247].
Như vậy, “xã hội có cơm ăn , áo mặc, nhà ở là nhờ lao động. Xây
nên giàu có, tự do, dân chủ cũng là nhờ lao động. Trí thức mở mang
cũng nhờ lao động. Vì vậy lao động là sức chính của sự tiến bộ loài
người”[42, tr. 420]. Con người là sản phẩm lịch sử – cụ thể, do đó
muốn nhận thức đúng về con người thì phải nhận thức đúng những điều
kiện xã hội mà họ đang sống.
Với tư duy đó, Hồ Chí Minh trong khi tìm câu giải đáp cho những vấn
đề lớn của thời đại đã biết kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố dân tộc và quốc tế,
8
giữa truyền thống và hiện đại, giữa cá nhân và cộng đồng. Nói khác đi, bản
chất con người không chỉ là sự thống nhất hữu cơ giữa cái chung, cái riêng và
cái đặc thù; giữa cá nhân và xã hội, mà bản chất người theo tư tưởng triết học
Hồ Chí Minh còn đặt trong mối quan hệ biện chứng với giai cấp, dân tộc và
nhân loại, nhưng Người lưu ý không được đồng nhất bản chất người với bản
chất giai cấp, đặc biệt không được căn cứ vào thành phần xuất thân của họ để
đánh giá bản chất con người.
1.2.4. Vai trò con người
Kế thừa tư tưởng “dân vi bản” của Nho giáo và “vai trò của quần chúng
nhân dân trong lịch sử”, Hồ Chí Minh không chỉ thương yêu nhân dân mà còn
nhìn thấy sức mạnh của nhân dân, thật sự kính trọng nhân dân, coi việc phục
vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao
động khác là điều tốt đẹp, vẻ vang nhất. Người nói: “Trong bầu trời không gì
quí bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết
của nhân dân”[54, tr. 276].
Với nhận thức “tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục
đích chung là thoát khỏi ách áp bức bóc lột, được sống sung sướng tư do, tức là
thực hiện chế độ cộng sản”[45, tr. 209], Hồ Chí Minh luôn coi con người vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng.
Quan điểm này của Hồ Chí Minh cho thấy độc lập, tự do chưa đủ
mà còn phải xây dựng một xã hội, một nhà nước của dân, vì dân. Người
giải thích “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích
của dân”[38, tr. 439], “Bất kì ở địa vị nào, làm công tác gì, chúng ta
đều là đầy tớ của nhân dân. Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu
chúng ta dùng đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”[49, tr. 392]
và “ tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra.
Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống và phát
9
triển”[52, tr. 203]. Do vậy, Người căn dặn: “Chúng ta phải hiểu rằng, các
cơ quan Chính phủ từ toàn quốc cho đến làng, đều là công bộc của dân,
nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân
như trong thời kì dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”[39, tr. 56].
Người coi tất cả hành động làm hại đến dân là những hành động trái với
đạo đức, những hành động xấu xa của con người và coi những người
thực hiện những hành động ấy là những con sâu, con mọt.
Hồ Chí Minh không chỉ thương yêu nhân dân mà còn nhìn thấy
sức mạnh của nhân dân, thật sự kính trọng nhân dân, coi việc phục
vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là công nhân, nông dân và các
tầng lớp lao động khác là điều tốt đẹp, vẻ vang nhất. Người cho
rằng, trong bầu trời không có gì quí bằng nhân dân, trong thế giới
không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân.
Người nói: “dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu
cũng xong”[58, tr. 212].
Hồ Chí Minh nhận thức rất sâu sắc về cách mạng, về con người
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Không có chế
độ nào tôn trọng con người , chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng
đắn và đảm bảo cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và
cộng sản chủ nghĩa”[53, tr. 291]. Nhưng theo Người cuộc cách mạng xã
hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất, một
xã hội chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Do vậy cần phải có một
lực lượng cách mạng, Người nói: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì
phải có những con người xã hội chủ nghĩa”[49, tr. 303]. Từ đó, Người
khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác
ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người”[48, tr.
495]. Như vậy, theo Hồ Chí Minh nhân dân là lực lượng, là động lực
10
của cách mạng. Người nói: “Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách
nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ
trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực
lượng đều ở nơi dân”[43, tr. 698].
1.3. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về giải phóng con người
Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về giải phóng con người được thể hiện
ở một số nội dung chính sau đây:
1.3.1. Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
nhân dân lao động
Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân
lao động thường xuyên được Hồ Chí Minh đề cập qua các bài viết, bài nói của
mình. Một số luận điểm cơ bản nổi lên, đó là:
- Độc lập, tự do là quyền bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc
Tư tưởng độc lập, tự do ra đời rất sớm, được thể hiện rõ nét nhất trong
tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Hồ Chí Minh đánh giá đây là tư
tưởng bất hủ và phải được áp dụng với mọi quốc gai, dân tộc. Chính vì thế,
ngay trong ngày khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Hồ Chí Minh
đã khẳng định trước toàn thể nhân dân thế giới rằng: “Nước Việt Nam có
quyền hưởng tư do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc
lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính
mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”[35, tr. 4] và “khi cần
dân tộc Việt Nam thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,
không chịu làm nô lệ”[36, tr. 480]. Và Người còn giải thích rõ thêm: độc lập
của Tổ quốc và tự do của nhân dân mặc dù là hai thành tố khác nhau, nhưng
luôn gắn kết chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Vì vậy, Người
11
khẳng định: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập
cũng chẳng có ý nghĩa gì”[37, tr. 56].
Với tư tưởng ấy, có thể nói độc lập, tự do là quyền bất khả xâm
phạm của các dân tộc, là điểm xuất phát cho những tư tưởng khác về
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động
của Hồ Chí Minh.
- Giải phóng dân tộc trước hết phải do chính các dân tộc thực hiện
Từ việc nghiên cứu cách mạng dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh rút
ra kết luận: giải phóng dân tộc trước hết là quá trình tự giải phóng, là nhiệm
vụ của chính bản thân các dân tộc. Năm 1921, trong Tuyên ngô của Hội Liên
hiệp thuộc địa, Hồ Chíu Minh viết: “Hỡi anh em ở các thuộc địa! Anh em
phải làm thế nào được giải phóng? Vận dụng công thức của Các mác, chúng
tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện
được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”[34, tr. 127-128]. Còn đối với cách
mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: “Người ta sẽ không làm gì được
cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của
đời sống xã hội của họ”[32, tr. 467].
- Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng
nhân dân lao động
Theo Hồ Chí Minh, quyền lợi của dân tộc, quyền lợi của giai cấp và
quyền lợi của nhân dân lao động luôn thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau,
nên giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động
không tách rời nhau. Trong cuộc đấu tranh đó, giai cấp công nhân chẳng
những đấu tranh giải phóng mình mà còn giải phóng cả loài người khỏi áp
bức, bóc lột, và cách mạng Việt Nam cũng không nằm ngoài mối liên hệ ấy.
Hồ Chí Minh khẳng định: “Sự nghiệp của người dan bản xứ gắn mật thiết với
sự nghiệp của vô sản trên toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành
12
được thắng lợi cho dù ở một nước nào đó thì nó cũng là thắng lợi cho cả
chúng ta”[33, tr. 469]. Như vậy, con đường bảo đảm cho sự thắng lợi của giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động là cách
mạng vô sản – cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất để xây dựng chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. và chỉ khi nào hoàn thành cuộc cách mạng
này thì giai cấp bị bóc lột, các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên
toàn thế giới mới thoát khỏi ách nô lệ.
1.3.2. Tư tưởng về phát triển con người toàn diện
Phát triển con người toàn diện là vấn đề có ý nghĩa chiến lược
trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh. Theo Người sự hưng thịnh hay
suy tàn của một dân tộc, một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào khả
năng giải quyết nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho họ như thế nào mà còn là
việc họ chuẩn bị con người cho tương lai ra sao. Người nói: “Vì lợi
ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng
người”[50, tr. 222]. Hồ Chí Minh xác định: “Trồng người là quá trình
xây dựng con người toàn diện, quá trình làm phát triển hoàn toàn
những năng lực sẵn có của con người”[40, tr. 32].
Nội dung phát triển con người toàn diện được Hồ Chí Minh đề cập
rất cụ thể, đó là:
- Tiêu chuẩn cơ bản hàng đầu của con người toàn diện là đức và tài, trong
đó đức là gốc
Đức và tài là hai tiêu chuẩn cơ bản kết hợp hài hoà với nhau, nhưng
nhìn chung Hồ Chí Minh nói nhiều đến đức và trong diễn đạt của Người, đức
luôn được đề cập đến trước.
Đức là đạo đức, nhưng “đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là
đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích
chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”[44, tr. 252]. Người chỉ rõ nội dung
13
của đức là: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm,
chính, chí công, vô tư; có tinh thần quốc tế vô sản.
Tài là năng lực của con người để giải quyết nhiệm vụ được giao.
Năng lực thể hiện tập trung ở trình độ văn hoá, khoa học, kĩ thuật và lí
luận.
- Nguyên tắc cơ bản để xây dựng con người toàn diện là tu dưỡng, rèn
luyện trong hoạt động thực tiễn, thực hiện đồng bộ quá trình giáo dục và tự
giáo dục
Hồ Chí Minh quan niệm phẩm chất, năng lực của con người không phải
sẵn có, cũng không phải “từ trên trời rơi xuống” mà “nó do đấu tranh, rèn
luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố”[53, tr. 293]. Quá trình đấu
tranh, rèn luyện ấy cũng chính là quá trình giáo dục, tự giáo dục trong hoạt
động thực tiễn. Trong giáo dục, Người coi việc đào tạo, bồi dưỡng những con
người thuộc thế hệ trẻ, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng là vấn đề có ý nghĩa
chiến lược to lớn và lâu dài. Vì theo Người, thanh niên là lực lượng xung
phong đi đầu trong mọi công việc chiến đấu giành độc lập tự do và xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Còn thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước
nhà. Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng,
toàn dân. Công tác đó phải làm kiêm trì và bền bỉ.
Với tư duy ấy, Người luôn nhắc nhở mọi người là phải học, học nữa,
học mãi. Nhưng học để làm gì? Người khẳng định: “Học để làm việc, làm
người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc
và nhân loại”[45, tr. 684].
Bên cạnh giáo dục, Hồ Chí Minh cho rằng tự giáo dục là vấn đề
hết sức cơ bản, đó là quá trình mình giáo dục mình, mình cải tạo mình,
mình thực hiện cuộc cách mạng trong chính bản thân mình. Hồ chí Minh
nói thêm, thực hiện cuộc cách mạng ngoài xã hội khó khăn như thế nào
14
thì thực hiện cuộc cách mạng trong bản thân mình cũng khó như thế.
Song, không thể thực hiện được cuộc cách mạng ngoài xã hội nếu không
thực hiện được cuộc cách mạng trong bản thân mình và cũng không thể
thực hiện được cuộc cách mạng trong bản thân mình nếu không thực
hiện được cuộc cách mạng ngoài xã hội
Mẫu hình con người toàn diện với những tiêu chuẩn chung nhất trong
toàn bộ tư tưởng triết học Hồ Chí Minh được đề cập đến không nhiều mà Hồ
Chí Minh thường nói đến từng đối tượng cụ thể, như: công nhân, nông dân,
bộ đội, công an, thiếu niên, nhi đồng v.v.. trong từng hoàn cảnh cụ thể tương
ứng với yêu cầu cách mạng trong hoàn cảnh ấy. Điều này không chỉ phản
ánh biện chứng của quá trình phát triển con người toàn diện trong hiện thực
mà còn phản ánh con người toàn diện được phát triển biện chứng trong tư
tưởng triết học Hồ Chí Minh.
II. VẤN ĐỀ PHÁT HUY VAI TRÒ NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ
NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
HIỆN NAY
Nghiên cứu quan điểm triết học Mác – Lênin về con người nói chung,
tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con người nói riêng có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, đặc biệt là trong giáo
dục và đào tạo. Đây là cơ sở khoa học cho quan điểm xem xét con người
phải xuất phát từ tính hiện thực và toàn diện; khắc phục tính trừu tượng,
chung chung xa rời thực tiễn và duy tâm, siêu hình. Đồng thời, đây còn
là cơ sở để quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng ta về con người và
phát huy vai trò nhân tố con người trong quá trình lãnh đạo cách mạng,
nhất là trong sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa hiện nay.
15
2.1. Quan điểm của Đảng ta về con người và phát huy vai trò nhân
tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa hiện nay
Vận dụng quan điểm triết học Mác – Lênin nói chung, tư tưởng
triết học Hồ Chí Minh về con người nói riêng vào trong quá trình lãnh
đạo cách mạng, Đảng ta ngày càng nhận thức sâu sắc hơn vai trò nhân tố
con người đối với sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
Ngay trong bản chính cương vắn tắt đầu tiên năm 1930, Đảng cộng
sản Việt Nam đã khẳng định: mục đích tiến hành cách mạng là để “đánh
đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”, giải phóng dân tộc, giải
phóng những người cần lao khỏi ách áp bức, bóc lột. Và cương lĩnh còn
xác định “đi tới xã hội cộng sản” là điều kiện thực tế để thực hiện đ ược sự
giải phóng ấy.
Tại Đại hội III (1960), Đảng ta xác định “con người là vốn quí nhất”,
đến Đại hội IV (1976), Đảng ta đưa ra luận điểm “con người mới – con người
làm chủ tập thể”. Đây là sự vận dụng sáng tạo và cụ thể hoá quan điểm về
“quyền con người” và “quyền công dân” trong tư tưởng triết học Hồ Chí
Minh. Đến Đại hội V (1981), Đảng ta tiếp tục phát triển luận điểm con người
mới, đồng thời nhấn mạnh lòng nhân ái là truyền thống đặc trưng của nhân
dân ta. Tại Đại hội VI (1986), Đảng ta khẳng định vai trò quan trọng của nhân
tố con người trong toàn bộ sự phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt, tại Đại hội
VII (1991), cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội được thông qua, trong đó, vấn đề con người được Đảng ta đặt vào vị trí
trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Cương lĩnh xác định:
“Nguồn lực lớn nhất, quí báu nhất của chúng ta là tiềm lực con người Việt
Nam”. Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương (khoá VII), nhận thức
16
về vai trò nhân tố con người của Đảng ta được nâng lên một tầm cao mới.
Đảng ta cho rằng: “Sự phát triển con người quyết định mọi sự phát triển như
sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế, phát triển văn hoá…”. Và cũng tại Hội
nghị này, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nói: “Chúng ta cần hiểu sâu sắc
những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của
mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của
quốc gia”. Đây chính là sự cụ thể hoá sâu sắc tư tưởng con người lịch sử, con
người xã hội trong triết học Mác vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Đến Đại
hội VIII (1996), Đảng ta khẳng định: “phát triển đất nước theo hướng đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước
công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”[4, tr. 80]. Tư tưởng đó không chỉ
thể hiện ước mơ, khao khát, nguyện vọng chính đáng bao đời nay của dân tộc
ta, mà hơn thế nữa nó hoàn toàn phù hợp với xu thế và qui luật phát triển của
thời đại. Đối với nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, việc đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá chính là thực hiện một cuộc cách mạng toàn diện và
sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, là con đường tất yếu để đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và nguy cơ tụt hậu xa hơn về
kinh tế so với các nước trong khu vực. Đồng thời, đây còn là cơ sở vật chất tốt
nhất để nước ta có điều kiện giải phóng triệt để và phát triển con người một cách
toàn diện. Đây là công việc vô cùng khó khăn, gian khổ, thành công của nó phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó Đảng ta “lấy việc phát huy nguồn lực con người
làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”[5, tr. 85]. Trên nền tảng
tư duy đó, Đại hội xác định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực
17
to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá”[6, tr. 21].
Tại Đại hội IX (2001), Đảng ta tiếp tục khẳng định những quan
điểm cơ bản về con người và phát huy vai trò nhân tố con người trong sự
nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Đại hội xác định, con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của phát
triển kinh tế – xã hội.
Xác định con người là động lực phát triển kinh tế – xã hội, Đại hội
chỉ rõ: “Nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững”[9, tr. 108-109], và Đại hội còn khẳng
định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân
trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh
đạo kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phát huy mọi tiềm
năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của xã hội”[10, tr. 86]. Đại
hội cũng chỉ rõ, nguồn lực hàng đầu là năng lực trí tuệ: “Phát huy nguồn
lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo
dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”[11, tr. 91]. Do vậy, có thể nói, cùng
với việc phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, việc khai
thác, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng góp phần
thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa trong điều kiện hội nhập và phát triển.
Xác định con người là mục tiêu của phát triển kinh tế – xã hội, trên
cơ sở nhất quán những nội dung cụ thể được trình bày trong Nghị quyết
Trung ương 5 khoá VIII, Đại hội IX xác định: “Mọi hoạt động văn hoá
nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư
tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng,
18
lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan
hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội, kế thừa truyền thống cách
mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc”[12, tr. 114].
Như vậy, trên cơ sở nhất quán với những nội dung cụ thể được trình bày
trong Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII, Đại hội IX nêu lên một cách khái quát
về mô hình con người Việt Nam trong thời kì mới, trong đó Đại hội bổ sung, làm
rõ thêm về con người phát triển toàn diện, có yếu tố mới như: trí tuệ, thể chất,
năng lực sáng tạo, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội, ý chí tự
lực tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trên cơ sở nhất quán với quan điểm của các kì đại hội, nhất là
quan điểm của Đại hội IX, qua tổng kết thực tiễn qua 20 năm đổi mới đất
nước và những bài học của các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, tại
Đại hội X (2006), Đảng ta xác định những đặc trưng cơ bản của mô hình
xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là: “một xã hội dân giàu, n ước
mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân lao động làm chủ; có
nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan
hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có
nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải
phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát
triển toàn diện…”[22, tr. 68]. Với các tiêu chí này, chúng ta có thể nhận
thấy rằng, con người – tức toàn thể nhân dân, dân tộc, hiện diện như mục
đích chủ yếu, như yêu cầu trung tâm, có ý nghĩa quyết định. Các đặc tr ưng này đã thể hiện rõ sự vận dụng sáng tạo quan điểm về vai trò của
con người trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh của Đảng ta một cách
sâu sắc và chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực, để từng bước thực hiện mục
tiêu giải phóng và phát triển con người toàn diện.
19
Để phát huy tốt vai trò nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc việt nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, Đảng ta xác định các giải
pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để
phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội; tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”[13, tr. 108-109].
Thứ hai, “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”[14, tr. 112].
Thứ ba, “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…
Mọi hoạt động văn hoá nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn
diện”[15, tr. 114].
Thứ tư, “Giải quyết các vấn đề xã hội…thực hiện công bằng trong phân
phối tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất tăng năng suất lao động xã hội,
khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp…giải quyết việc làm, chăm lo cải
thiện điều kiện làm việc, mở rộng hệ thống bảo hiểm và an ninh xã hội; xây
dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệp; cải
cách cơ bản chế độ tiền lương cán bộ công chức theo hướng tiền tệ hoá đầy đủ
tiền lương; thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo; thực hiện đồng bộ chính
sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân”[16, tr. 104].
Trên nền tảng định hướng của Đại hội IX, Đại hội X đưa ra các quan
điểm chỉ đạo mới cho phù hợp với tình hình thực tiễn đất n ước hiện nay,
bao gồm:
Một là, “Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân,
phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn,
nhạy bén với cái mới”[23, tr. 71].
20
Hai là, “Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát
triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội,
tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi
đôi với xoá đói, giảm nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển
giữa các vùng. Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay
trong từng bước phát triển”[24, tr. 178-179].
Ba là, “Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao”[25, tr. 95].
2.2. Quan điểm của Đảng ta về phát huy vai trò nhân tố con
người trong lực lượng vũ trang
Là lực lượng chính trị, lực lượng cách mạng tin cậy của Đảng, Nhà
nước và nhân dân, lực lượng vũ trang nhân nói chung, quân đội nhân dân
nói riêng phải được xây dựng ngày càng thiện chiến và hiện đại cả về chính
trị và quân sự, cả về kĩ thuật và chiến thuật…đảm bảo khả năng sẵn sàng
đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược dưới bất kì quy mô và hình thức nào, hoàn
thành tốt chức năng đội quân chiến đấu, lao động sản xuất và công tác
trong thời kì mới.
Trên nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta xác định, “Tăng cường quốc
phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng
yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó quân
đội và công an nhân dân là lực lượng nòng cốt”[17, tr. 40, 117]. Vì vậy,
việc xây dựng quân đội nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ nói riêng
có ý nghiã hết sức quan trọng cả trước mắt và lâu dài. Quan điểm đó
được thể hiện rõ nét qua các kì Đại hội như sau:
Tại Đại hội VI, Đảng ta xác định: “Xây dựng quân đội nhân dân chính
qui ngày càng hiện đại có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức hợp
21
lí, cân đối, gọn và mạnh, có kỉ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu và
sức chiến đấu cao”[1, tr. 38].
Đến Đại hội VII và Đại hội VIII, Đảng ta tiếp tục xác định: “Xây dựng các
lực lượng vũ trang nhân dân có chất lượng ngày càng cao, xây dựng quân đội nhân
dân cách mạng chính qui, từng bước hiện đại, tinh nhuệ, với cơ cấu tổ chức và quân
số hợp lí, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu”[2, tr. 85-86], “Xây
dựng lực lượng quân đội và công an nhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại”[7, tr .119].
Trong văn kiện Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định ph ương
hướng xây dựng quân đội và công an nhân dân cách mạng, chính qui, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại. Đồng thời, Đại hội đặt ra một số tiêu chí cơ bản
trong xây dựng quân đội để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, đó là: “Có bản lĩnh chính
trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân;
có trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao; quí trọng và
hết lòng phục vụ nhân dân; có phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh,
giản dị, kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang; có năng lực chỉ huy và
tác chiến thắng lợi trong bất cứ tình huống nào; có trình độ sẵn sàng chiến
đấu và sức chiến đấu ngày càng cao, thường xuyên cảnh giác, kịp thời đập
tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc và an ninh quốc gia, ngăn chặn và đẩy lùi các tội
phạm nguy hiểm và các tệ nạn xã hội, bảo đảm tốt trật tự an toàn xã
hội”[18, tr. 40-41, 118].
Để tăng cường sức mạnh chiến đấu cho quân đội ta hiện nay, tại
Đai hội VII Đảng ta đa ra giải pháp xây dựng lực lượng dự bị động viên
ngày càng hùng hậu: “Nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến
đấu của quân đội. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu được
22
huấn luyện và quản lí tốt…”[3, tr. 85-86]. Đến Đại hội VIII Đảng ta nhấn
mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội: “Thường xuyên chăm
lo xây dựng Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và
công an…”[8, tr. 120]. Kế thừa tư tưởng đó, Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục
khẳng định: tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội ta hiện nay là
một yêu cầu vừa cơ bản, vừa cấp thiết. Để có được điều đó, cần tập trung
thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:
+ Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
“Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của
Đảng đối với quân đội nhân dân và công an nhân dân, đối với sự nghiệp quốc
phòng và an ninh”[19, tr. 40-41, 119].
+ Xây dựng bản lĩnh chính trị, trình độ tổ chức chỉ huy cho cán bộ các cấp,
trước hết là cán bộ lãnh đạo. “Không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học vấn,
chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức lãnh đạo, quản lí và công tác vận động nhân dân,
phát huy vai trò tiên phong gương mẫu”[20, tr .53-54], “Xây dựng đội ngũ cán bộ,
trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lí ở các cấp, vững vàng về chính trị, g ương
mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động
thực tiễn sáng tạo, gắn bó với nhân dân”[21, tr .141].
Nhất quán với các quan điểm trên đây, căn cứ vào yêu cầu của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, văn kiện Đại hội X khẳng
định: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn
diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an
ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá và an ninh xã hội; duy
trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước,
ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch,
không để bị động, bất ngờ”[26, tr. 108-109].
23
Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh
tế toàn cầu, nhất là sau khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới và
được bầu là uỷ viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hợp
quốc (nhiệm kỳ 2008-2009), nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của chúng ta có
thêm thuận lợi mới, nhưng đồng thời cũng thêm khó khăn, thách thức mới.
Trước tình hình đó, để thực hiện thắng lợi mục tiêu đặt ra, Đại hội X xác
định các nhiệm vụ và giải pháp cơ bản sau đây:
Một là, “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi
dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, công chức và cho toàn dân,
có nội dung phù hợp với từng đối tượng và đưa vào chương trình chính khoá
trong các nhà trường theo cấp học, bậc học”[27, tr. 109].
Hai là, “Kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường sức mạnh quốc
phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước”[28, tr. 110].
Ba là, “Xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng,
chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức
chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững
mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân,
được nhân dân tin cậy, yêu mến”[29, tr. 110].
Bốn là, “Xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý của
Nhà nước đối với hoạt động quốc phòng, an ninh. Thực hiện chế độ một
người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên, tăng cường
công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội”[30, tr. 111].
Những quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp về quốc phòng và an ninh nói
chung và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ lực lượng vũ trang nói riêng do
các kì Đại hội, nhất là Đại hội IX và Đại hội X của Đảng ta đề ra mang nhiều
nội dung và tư tưởng mới, ngày càng thể hiện rõ nét tư duy mới của Đảng ta
về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đó là kết quả biện chứng,
24
tổng hợp từ những đánh giá tổng quát của Đảng ta về tình hình thế giới, khu
vực và đất nước trong thế kỷ 20, dự báo tình hình những năm đầu thế kỷ 21.
Đặc biệt, những quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp ấy được rút ra trực tiếp từ
những đánh giá của Đảng ta về kết quả 20 năm đổi mới toàn diện đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa vừa qua, đồng thời dự báo những âm mưu,
thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng
nước ta trong những năm tới.
Quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm chỉnh những quan điểm,
nhiệm vụ và giải pháp về quốc phòng và an ninh do các kì Đại hội, nhất
là Đại hội IX và Đại hội X đề ra là nghĩa vụ thiêng liêng, là trọng trách
nặng nề của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Mỗi cán bộ, chiến sĩ
nỗ lực thực hiện đầy đủ những quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp ấy là
thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo về
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình mới.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1986.
2. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
25
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1991.
3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1991.
4. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996.
5. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996.
6. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996.
7. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996.
8. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996.
9. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
10. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
11. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
12. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
13. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
14. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
15. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.