Tải bản đầy đủ (.docx) (39 trang)

TÁC ĐỘNG CỦA BĂNG TAN TRÊN DÃY HIMALAYAN ĐẾN CHẾ ĐỘ THỦY VĂN CỦA CÁC SÔNG Ở CHÂU Á

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.81 MB, 39 trang )

Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

MỤC LỤC
A.PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................1
1.Lý do chọn đề tài................................................................................................1
2.Mục tiêu nghiên cứu...........................................................................................1
3.Nhiệm vụ nghiên cứu.........................................................................................2
4.Giới hạn nghiên cứu...........................................................................................2
5.Phương pháp nghiên cứu....................................................................................2
B. PHẦN NỘI DUNG..........................................................................................3
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU...........................3
1.1. Các khái niệm:...............................................................................................3
1.1.1. Khái niệm biến đổi khí hậu:........................................................................3
1.1.2. Khái niệm chế độ thủy văn :........................................................................4
1.2. Bất thường toàn cầu và dãy núi băng Himalayan..........................................5
CHƯƠNG II: BĂNG TAN Ở CÁC SÔNG TRÊN DÃY HIMALAYAN........8
2.1. Khái quát thực trạng.......................................................................................8
2.1.1. Nguyên nhân gây băng tan..........................................................................8
2.1.2. Sông băng trên dãy Himalayan đang tan chảy.............................................9
2.2. Dự báo của các nhà khoa học trong tương lai..............................................12
CHƯƠNG III : TÁC ĐỘNG BĂNG TAN ĐẾN CHẾ ĐỘ THỦY VĂN CÁC
SÔNG Ở CHÂU Á.............................................................................................14
3.1. Các sông ở châu Á :......................................................................................14
3.1.1. Sông Hằng :...............................................................................................14
3.1.2. Sông Indus.................................................................................................16
3.1.3. Sông Mêkông.............................................................................................19
3.1.4. Sông Dương Tử.........................................................................................21
3.1.5. Sông Hoàng Hà..........................................................................................23
3.1.6. Sông Brahmaputra.....................................................................................25
3.1.7. Sông Irrawaddy..........................................................................................27
Trương Thị Thu Hiền– nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến


chế độ thủy văn của các sông Châu Á


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

3.1.8. Sông Salween............................................................................................29
3.2. Những thách thức.........................................................................................30
3.2.1. Nhiệt độ băng keo và nhiệt độ tăng cao....................................................30
3.2.2.Tăng biến đổi gió mùa................................................................................32
C. PHẦN KẾT LUẬN.......................................................................................33
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................34

Trương Thị Thu Hiền– nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

A.PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài.
Khi chúng ta nói về sự thay đổi khí hậu, cuộc trò chuyện thường
liên quan đến việc thảo luận về một bầu khí quyển ấm lên, sự sụt giảm
của băng biển Bắc cực và Nam Cực. Nhưng có một mối đe dọa thậm chí
còn lớn hơn có xu hướng thay đổi khí hậu cũng sẽ ảnh hưởng đến một số
hệ thống sông dài nhất và quan trọng nhất trên thế giới đó chính là băng
tan ở các con sông trên dãy núi Himalayan. Dãy Himalayan, nóc nhà của
Thế Giới, nơi bắt nguồn của 7 con sông lớn nhất châu Á, nơi được xem là
“cực thứ ba” của thế giới hiện đang phải hứng chịu những ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu khi toàn cầu đang ấm dần lên. Các con sông ở châu Á
dựa vào các sông băng ở Hymalaya để cung cấp nhiều nước cho Trung

Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Miến Điện, Nepal, Bhutan và
Pakistan. Những sông băng này có kích thước gấp hai mươi lần các sông
băng ở châu Âu và cung cấp nguồn nước cho sông Hằng, sông Indus,
sông Mê Kông, sông Dương Tử, sông Hoàng Hà (Brahmaputra), sông
Irrawaddy và sông Salween, cung cấp nước uống và tưới tiêu cho 1,5 tỷ
người ở 9 quốc gia. Tuy nhiên, các sông băng trong khu vực đang rút lui
khi đối mặt với sự nóng lên toàn cầu nhanh chóng, và sự mất mát lâu dài
của tự nhiên khi kho chứa nước đang ngày càng cạn kiệt. Bên cạnh đó sự
nóng lên trên toàn cầu đã kéo theo hàng loạt hậu quả nghiêm trọng và ảnh
hưởng đến chế độ thủy văn của các sông ở châu Á. Trước thực tiến đã nêu
trên, để giúp mọi người nhìn nhận rõ những thách thức củng như đưa ra
các giải pháp khắc phục, em quyết định chọn đề tài “ TÁC ĐỘNG CỦA
BĂNG TAN TRÊN DÃY HIMALAYAN ĐẾN CHẾ ĐỘ THỦY VĂN
CỦA CÁC SÔNG Ở CHÂU Á”
2. Mục tiêu nghiên cứu.
• Nhằm hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến các sông
băng ở Himalayan.
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 1


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

• Biết được thực trạng băng ở dãy núi Himalayan đang tan chảy một
cách nhanh chống.
• Trước tình hình băng đang tan chảy, nó đã tác động như thế nào đến
chế độ thủy văn của các sông ở châu Á.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
• Nghiên cứu các khái niệm về biến đổi khí hậu, băng tan và chế độ thủy

văn.
• Nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến băng tan ở các sông trên dãy
Himalayan.


Nghiên cứu thực trạng băng tan ở các sông băng trên dãy núi

Himalayan.
• Nghiên cứu tác động của băng tan đến chế độ dòng chảy của các sông
ở châu Á và các thách thức đối với cuộc sống của con người nơi đây.
4. Giới hạn nghiên cứu.
• Trong phạm vi vùng núi Himalayan và khu vực châu Á.
• Đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu thực trạng băng tan ở dãy núi
Himalayan và tác động của nó đến chế độ dòng chảy của các sông ở châu Á.
5. Phương pháp nghiên cứu.
• Phương pháp mô tả : thu thập tài liệu liên quan, lựa chọn hình ảnh
minh họa, lựa chọn thông tin cần thiết.
• Phương pháp phân tích, tổng hợp.
B. PHẦN NỘI DUNG.
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU.
1.1. Các khái niệm:
1.1.1. Khái niệm biến đổi khí hậu:
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí
quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 2


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II


các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ
tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm. Sự biển đổi có thế là thay đổi thời
tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một
mức trung bình. Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất
định hay có thế xuất hiện trên toàn Địa Cầu.
- Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi
trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được
gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu.
- Thay đổi khí hậu trong tương lai và các tác động liên quan sẽ khác
nhau giữa các khu vực trên toàn cầu. Những tác động dự kiến bao gồm nhiệt
độ toàn cầu ấm lên, mực nước biển dâng , lượng mưa giảm , và sự mở rộng sa
mạc trong vùng cận nhiệt đới . Sự nóng lên được cho là lớn hơn đất hơn so
với các đại dương và lớn nhất ở Bắc Cực , với sự rút lui của các sông băng ,
băng tuyết và đá băng . Các thay đổi khác có thể bao gồm các sự kiện thời tiết
cực đoan thường xuyên hơn bao gồm sóng nóng , hạn hán , mưa lớn với lũ lụt
và tuyết rơi dày ; axit hóa đại dương ; Và các loài bị tuyệt chủng do các chế
độ chuyển đổi nhiệt độ. Các tác động có ý nghĩa đối với con người bao gồm
mối đe dọa đối với an ninh lương thực do giảm năng suất cây trồng và việc bỏ
hoang các khu vực dân cư do mực nước biển dâng cao . Bởi vì hệ thống khí
hậu có " quán tính " to lớn và khí nhà kính sẽ ở lại trong không khí trong một
thời gian dài, nhiều tác động này sẽ không chỉ tồn tại trong nhiều thập niên
hoặc nhiều thế kỷ mà còn tồn tại hàng chục ngàn Năm.

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 3


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II


Hình 1 : Sự nóng lên của toàn cầu
1.1.2. Khái niệm chế độ thủy văn :
- Chế độ thủy văn là sự di chuyển, phân phối và chất lượng nước trên
trái đất và các hành tinh khác, bao gồm chu trình nước , tài nguyên nước và
môi trường đầu nguồn bền vững.
- Chế độ thủy văn liên quan chặt chẽ đến sự thay đổi khí hậu theo
mùa.
Ở những vùng có khí hậu ấm áp, chế độ thủy văn bị ảnh hưởng chủ
yếu do lượng mưa và lượng bốc hơitrong khí quyển; Ở những vùng có khí
hậu lạnh hoặc ôn đới, nhiệt độ không khí là yếu tố hàng đầu.
- Chế độ thuỷ văn của các con sông biểu hiện theo biến động hàng
ngày, mười ngày, hàng tháng, theo mùavà dài hạn. Nó bao gồm một số giai
đoạn đặc trưng (các giai đoạn) khác nhau tùy theo sự thay đổi theo mùa trong
điều kiện nuôi con sông. Các giai đoạn này được gọi là nước cao, nước tươi,
và nước thấp.
- Sông được cungcấp một cách không đồng đều trong một năm do
lượng mưa nhiều và sự tan băng khôngđều của băng tuyết và sự xâm nhập của
nước vào sông. Sự dao động quansát thấy ở mực nước chủ yếulà do sự thay

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 4


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

đổi tốc độ dòng chảy, do ảnh hưởng của gió, nước đá và các hoạt động kinh tế
của con người.
1.2. Bất thường toàn cầu và dãy núi băng Himalayan.

Bất thường toàn cầu: Sự biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang
diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái
đất là băng tan, nước biển dung cao; là các hiện tượng thời tiết bất thường,
bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán và giá rét kéo dài…dẫn đến thiếu
lương thực, thực phẩm xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người và gia
cầm.
Có thể thấy tác hại theo hướng nóng lên toàn cầu thể hiện ở 10 điều
tồi tệ sau đây: gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về hai cực, những đợt
sóng, bão tố và lũ lụt, khô hạn tai biến, suy thoái kinh tế, xung đột và
chiến tranh, mất đi sự đa dạng sinh học và phá hủy hệ sinh thái. Những
chứng ming cho các vấn đề này được biểu hiện qua hàng loạt tác động
cực đoan của khí hậu trong thời gian gần đây như đã có khoảng 250 triệu
người bị ảnh hưởng bởi những trận lũ lụt ở Nam Á, Châu Phi và Mexico.
Các nước Nam Âu đang đối mặt nguy cơ bị hạn hán nghiệm trọng dễ dẫn
tới những trận cháy rừng, sa mạc hóa, còn các nước Tây Âu thì đang đe
doạ xảy ra những trận lũ lụt lớn, do mực nước biển dâng cao cũng như
những đợt băng giá mùa đông khốc liệt. Những dữ liệu thu được qua vệ
tinh từng năm cho thấy số lượng các trận bão không thay đổi, nhưng số
trận bão lốc độ mạnh sức tàn phá lớn đã tăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, tây
nam Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Đại Tây Dương. Một nghiên
cứu với xác suất lên tới 90% cho thấy sẽ có ít nhất 3 tỷ người rơi vào cảnh
thiếu lượng thực vào năm 2100, do tình trạng ấm lên của trái đất.

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 5


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II


Hình 2: Xu hướng tăng nhiệt qua các năm
Dãy núi băng Himalayan : Trên Thế giới, dãy Himalayan chiếm
0,7% diện tích đất liền được bao phủ bởi tuyết. Himalây có nồng độ tối đa
của sông băng. 9,04% của dãy Himalaya được bao phủ bởi các sông băng,
với 30-40% diện tích bổ sung được phủ tuyết. Các sông băng của dãy
Himalaya được xem là cực Ba của thế giới. Chúng nuôi sống những con
sông khổng lồ của châu Á và hỗ trợ một nửa nhân loại. Tuy nhiên, theo
các kết quả nghiên cứu được Trung tâm Phát triển vùng núi quốc tế
(ICIMOD) công bố tại Hội nghị Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc tại
Durban, Nam Phi vào tháng 12 năm 2011, các sông băng ở Himalaya đã
bị thu hẹp đến 20% trong 30 năm qua do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Trong số này, các sông băng ở Nepal và Bhutan lần lượt bị thu hẹp 21%
và 22%. Một cuộc nghiên cứu kéo dài 3 năm của ICIMOD, có trụ sở ở
thành phố Kathmandu (Nepal) và được Thụy Điển tài trợ cho thấy toàn bộ
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 6


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

10 sông băng được khảo sát đều đang bị thu hẹp. Một nghiên cứu khác
phát hiện lượng tuyết bao phủ Himalaya cũng giảm đáng kể trong 10 năm
qua.
Theo các nhà khoa học, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên dãy
Himalaya có thể gây những hậu quả nặng nề do khu vực này là nguồn
cung cấp lương thực và năng lượng cho 1,3 tỉ người tại các vùng hạ lưu.
Cụ thể là sự tan chảy của các dòng băng đang tạo ra những hồ khổng lồ,
đe dọa vỡ bờ, tàn phá những cộng đồng ở các vùng hạ lưu. Ngoài ra, các
nhà hoạt động môi trường cho rằng những sông băng tan chảy ở Himalaya

- được xem là “cực thứ 3” của thế giới - đang góp phần làm tăng mực
nước biển, tương tự Nam cực và Bắc cực.

Hình 3 : Cao nguyên Tây Tạng và các nhánh sông
CHƯƠNG II: BĂNG TAN Ở CÁC SÔNG TRÊN DÃY HIMALAYAN.
2.1. Khái quát thực trạng.
2.1.1. Nguyên nhân gây băng tan.
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 7


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

Trong hàng thập kỷ qua, gió mùa ở Ấn Độ, vốn mang tuyết xuống
vùng phía nam của Tây Tạng và vùng phía đông và trung bộ của dãy
Himalaya, đã trở nên yếu hơn dù không rõ tại sao. Tuy nhiên, gió tây
mang tuyết đến Karakoram và Pamirs lại trở nên mạnh hơn.
Gió tây được tạo ra bởi khí nóng bốc lên từ các đại dương và di
chuyển về phía bắc (khí nóng di chuyển từ vùng ấm sang vùng lạnh) và về
phía đông (vì lực Coriolis được sinh ra từ sự quay vòng của Trái đất).
Tình trạng ấm lên toàn cầu cũng đồng nghĩa với việc nhiều khí nóng bốc
lên hơn, do đó gió tây cũng mạnh hơn.
Gió mùa đến vào mùa hè, gió tây đến vào mùa đông. Khí hậu ấm
hơn dường như ngăn cản tuyết mùa hè tích tụ hơn là tuyết mùa đông. Tóm
lại, thay đổi trong sức mạnh của gió và nhiệt độ không khí giải thích cho
những gì đang diễn ra. Và không chỉ các sông băng đang tan chảy.
Theo nhà nghiên cứu Vũ Khánh Bách thuộc Viện Nghiên cứu môi
trường và cấu tạo các khu vực lạnh giá và khô cằn ở Lan Châu (Trung
Quốc), băng vĩnh cửu ở Tây Tạng cũng đang tan nhanh trong vòng hai

thập kỷ qua.
Giảm tuyết rơi cũng có nghĩa là ít tuyết hơn trong sông băng, và ít
dòng suối chảy. Khoảng thời gian tuyết rơi ngắn hơn ngăn không cho
tuyết biến thành tinh thể băng cứng. Do đó nhiều sông băng có thể bị tan
chảy khi mùa hè đến. Thay đổi khí hậu cũng đã dẫn đến mưa, chứ không
phải tuyết, rơi xuống ngay cả ở độ cao lớn hơn. Điều này cũng đẩy nhanh
sự tan chảy của sông băng.
Không những thế sự nóng lên toàn cầu dường như đang đẩy nhanh
tốc độ tăng nhiệt độ ở các khu vực cao độ nhất định, đặc biệt là các khu
vực gần đường xích đạo, bao gồm vùng Greater Himalaya. Loại khác là
ảnh hưởng của bồ hóng từ hàng triệu gỗ củi và bếp than đốt ở Ấn Độ và
Trung Quốc và sự đốt cháy nhiên liệu diesel và than, làm cho bề mặt của
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 8


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

các sông băng ở dãy Himalaya trở nên hấp thụ nhiệt hơn là phản chiếu
nhiệt, Địa mạo, chỉ làm tăng thêm quá trình nóng lên.
2.1.2. Sông băng trên dãy Himalayan đang tan chảy.
Himalayas có nồng độ các sông băng lớn nhất bên ngoài vùng cực.
Những Sông băng là một khu bảo tồn nước ngọt; nó cung cấp đầu nguồn
cho chín hệ thống sông lớn trong châu Á - một cuộc sống của gần một
phần ba nhân loại. Các báo cáo chỉ ra rằng các sông băng ở dãy Himalaya
đang tan chảy với tốc độ chưa từng có trong những thập niên gần đây. Sự
gia tăng băng tan có thể gây ra sự gián đoạn đáng kể đối với an ninh nước,
đa dạng sinh học, thủy điện, công nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác
trong tương lai của vùng. Các quốc gia phụ thuộc phần lớn vào nguồn

nước từ cao nguyên Tây Tạng là Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Ấn
Độ, Myanmar, Nepal, Pakistan, Thái Lan và các nước thuộc tiểu vùng
Mekong, Lào và Việt Nam…

Hình 4: Các lưu vực sông hình thành ở vùng HKH miền núi cao, làm nổi
bật các lưu vực sông Hằng, sông Indus và Brahmaputra (bản đồ do
Hammad Gilani, bản đồ của ICIMOD)
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 9


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

Các bản đồ cập nhật mới nhất (9/2012) cho đến nay dựa trên dữ
liệu vệ tinh cho thấy các sông băng ở dãy Himalaya và Karakoram có diện
tích khoảng 40.800 km². Mặc dù gấp khoảng hai mươi lần lớn hơn tất cả
các sông băng của dãy núi Alps ở châu Âu, nhưng nó nhỏ hơn 20% so với
trước đây.

Hình 5. Hầu hết các sông băng ở Himalaya cho thấy sự rút lui từ giữa thế
kỷ 19, trừ các sông băng tại Nanga Parbat ở phía tây bắc (RA, CL) và sông
băng ở Karakoram, cho thấy một hành vi phức tạp (4).
Nhiệt độ trung bình toàn cầu dự kiến sẽ tăng từ 1,4 đến 5,8 o C
trong thời gian tới một trăm năm. Hậu quả của sự thay đổi này trong khí
hậu toàn cầu đã được chứng kiến ở dãy Hymalaya, nơi sông băng và hồ
băng đang thay đổi với tốc độ đáng báo động. Dãy núi Himalaya các sông

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á

Trang 10


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

băng đang rút lui với tốc độ từ 10 đến 60 m / năm và nhiều sông băng nhỏ
(<0,2 Sq.km) đã biến mất.
- Các nghiên cứu cho thấy rằng điểm cuối của hầu hết các độ cao
sông băng thung lũng ở Bhutan, Trung Quốc, và Nepal đang rút lui rất nhanh;
Sự thay đổi theo chiều dọc và 100m đã được ghi lại trong năm mươi năm qua
và tỷ lệ rút lui là 30m / năm là chung. Khi sông băng rút lui, các hồ băng đang
phát triển, và nhiều lưu vực Himalayan đang báo cáo Hồ đang phát triển
nhanh.
Một ví dụ đáng chú ý là Hồ Imja Tsho trong lưu vực phụ Dudh
Koshi
(Khu vực Khumbu-Everest); Trong khi hồ này hầu như không tồn
tại vào năm 1960, bây giờ nó bao phủ gần 1 km2 và sông băng Imja nuôi
nó đang rút lui ở mức 74m / năm chưa từng thấy (Giữa năm 2001 và năm
2006). Các quan sát tương tự đã được thực hiện ở lưu vực Phủ Chu của
Bhutan
- Himalaya, nơi mà sự thay đổi kích thước của một số hồ băng đã tăng
lên đến 800 phần trăm trong 40 năm qua. Hiện nay, một số hồ Supraglacial
trên sông băng Thorthormi đang phát triển nhanh chóng và sáp nhập.

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 11


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II


Hình 6 : Thay đổi giới hạn băng giá giữa năm 1962, 1999 và
2008.

Hình 7 : Tỷ lệ phần trăm dự báo của băng tan ở các lưu vực Himalayan
(Nguồn: dữ liệu tỷ lệ phần trăm dự đoán từ Xu và những người
khác năm 2008 (44) Các tệp hình dạng chồng lên hình nền từ ESRI
ArcGlobe 10.0).
2.2. Dự báo của các nhà khoa học trong tương lai.
Theo Ủy ban liên Chính phủ về Thay đổi Khí hậu (IPCC), "sông băng
ở Himayalas đang giảm nhanh hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới và nếu tỷ lệ
hiện tại tiếp tục, khả năng chúng biến mất vào năm 2035 và có lẽ sớm hơn
rất cao Nếu trái đất tiếp tục nóng lên với tốc độ hiện tại ". Theo báo cáo của
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 12


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

IPCC tổng diện tích sông băng ở Himalaya sẽ giảm từ 1930051 dặm vuông
để 38.000 dặm vuông vào năm 2035. Các nhà khoa học lo ngại rằng nếu
không có những giải pháp ứng phó kịp thời, các dòng sông băng ở Himalaya
sẽ biến mất trong những thập kỷ tới, gây ra hạn hán cho nhiều vùng của châu
Á.
- Bên cạnh đó Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi Khí hậu (IPCC) có
báo cáo mới nhất (2014) dự đoán rằng các sông băng ở Hymalaya có thể mất
từ 1/3 đến 1/2 khối lượng của chúng vào năm 2100. Theo IPCC, nhiệt độ bề
mặt trung bình tăng 1.8 độ Celsius từ năm 2006, sẽ làm co ngót băng đá lên
tới 45% vào năm 2100; Với mức tăng 3,7 độ, mức giảm sẽ là gần 68%. Các

nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng trong ba hoặc bốn thập kỷ qua, sự nóng
lên ở dãy Himalaya đã cao hơn mức trung bình 0,75% trong thế kỷ trước. Một
số đã xác nhận rằng nó đang nóng lên 5-6 lần nhanh hơn mức trung bình toàn
cầu.
- Dựa trên một dự đoán tốt nhất về khu vực sông băng vào năm 2050,
bảng số liệu ( bảng 1) cho thấy số người ở khu vực Himalayan có thể bị đe
dọa vì mất an ninh lương thực do sự thay đổi của sông băng ở dãy Himalaya.
Lượng mưa thượng lưu tăng lên một phần bù đắp cho tổn thất nước thượng
lưu, mặc dù nhu cầu tưới tiêu có thể gây căng thẳng hơn đối với an ninh
lương thực trong khu vực. Lưu vực sông Hoàng Hà chỉ phụ thuộc vào băng
tan; Do đó có sự gia tăng đáng kể 9,5% về năng suất nước thượng lưu trong
lưu vực với ước tính tăng 3,0 ± 0,6 triệu người có thể được cho ăn trong lưu
vực sông Hoàng Hà.
Bảng 1:
Thông số
Indus
Ganges Brahmaputra Yangtze Yellow
Tổng số dân(triệu người)
209.619 477.937
62.421
586.006 152.718
Nhu cầu nước tưới
908
716
480
331
525
tiêu(mm/năm)
Số người bị đe dọa do 26.3 ± 3.0 2.4 ± 0.2
34.5 ± 6.5

7.1 ± 1.3
mất an ninh lương thực
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 13


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

(triệu người )
Tỉ lệ giảm cấp nước cấp
8.4*
17.6
19.6
5.2
thượng nguồn
Tỉ lệ tăng lương thực ở
25
8
25
5
14
thượng nguồn
- 1/5 số dân ở Nam Á không có nước uống an toàn và 1,8 tỷ người
không có điều kiện vệ sinh cơ bản. Với dân số trong khu vực dự kiến sẽ vượt
quá 2,2 tỷ người vào năm 2050, việc mở rộng tiếp cận các nguồn nước an
toàn sẽ chứng tỏ đầy thách thức. Sự suy giảm dự đoán về khả năng cung cấp
nước do biến đổi khí hậu gây ra sẽ chỉ làm trầm trọng thêm tình hình
CHƯƠNG III : TÁC ĐỘNG BĂNG TAN ĐẾN CHẾ ĐỘ THỦY VĂN
CÁC SÔNG Ở CHÂU Á

3.1. Các sông ở châu Á :
3.1.1. Sông Hằng :
Còn được gọi tại Ganga, trải dài 2.525 km (hơn 1.500 dặm) với
diện tích lưu vực 1.080.000 km2 (416.990 dặm vuông). Con sông chính
bắt nguồn từ nước chảy của sông băng Gangotri ở tây nam Hy Mã Lạp
Sơn và chảy theo hướng nam và đông thông qua một vùng đồng bằng
ngập nước to lớn đến đồng bằng của nó trên vịnh Bengal. Tại Bangladesh,
dòng sông được nối với nhánh chính của nó là Brahmaputra. Ganges vượt
qua phần lớn miền Bắc Ấn Độ và Bangladesh. Một số chi nhánh nhỏ hơn
có nguồn gốc từ Nepal. Các chi lưu chính của sông là : Yamuna, Rama
Ganges, Gomti, Ghagra, Sone, Gandak, Burhi Gandak, Koshi,
Mahananda[12] Đây là con sông lớn thứ ba trên thế giới.
Lưu vực sông Hằng là vùng đất nông nghiệp của cả Ấn Độ và
Bangladesh và lưu vực sông đông dân nhất trên thế giới. Con sông đã
được xây đập để sản xuất thủy điện. Phần lớn nó phụ thuộc vào gió mùa
theo mùa, mực nước sông biến động mạnh. Nước cũng được rút ra để tưới
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 14


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

tiêu. Đây là nguồn nước cho các thành phố nằm dọc theo tuyến đường của
nó. Các ngành công nghiệp rút ra từ nó. Và nó là thiêng liêng đối với
người Hindu.
Ngày nay, con sông đang phải đối mặt với những thách thức
nghiêm trọng từ việc sử dụng nước quá mức với một số khu vực khô cằn.
Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu các sông băng của dãy Himalaya phương Tây
trải qua tình trạng tan chảy chuyên sâu? Sông Hằng, nơi khô cằn ở nhiều

nơi, sẽ không còn tồn tại trong một khoảng thời gian. Đối với 655 triệu
người phụ thuộc vào nó, điều này thể hiện một thảm hoạ sắp xảy ra.

Hình 8 : Sông băng Gangotri, nguồn của sông Hằng, là một
trong những sông băng lớn nhất ở dãy Himalaya. Nó đã được rút đi
từ năm 1780 và trong những năm gần đây tốc độ rút lui đã tăng
nhanh. (Ảnh: NASA Earth Observatory, Jesse Allen).

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 15


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

Theo Arora và Boer, năm năm 2001 , dự báo tăng 5% theo dòng
chảy trung bình hàng năm vào năm 2070-2100 đối với sông Hằng , nhưng
phương pháp chỉ đánh giá các biến đổi khí hậu, không tính đến thay đổi
nhiệt độ. Immerzeel và cộng sự (2010) dự báo sự thay đổi dòng chảy vào
năm 2050 cho toàn bộ khu vực thượng nguồn với độ cao hơn 2000 masl,
và trong kịch bản có khả năng nhất giảm lượng nước tràn xuống trung
bình là 17,6% được dự báo, kết quả kết hợp giảm lượng mưa và Băng tan.
Tuy nhiên, ở các lưu vực nhỏ ở độ cao tương đối cao được mô tả (
Immerzeel và cộng sự, năm 2012 ). Mô phỏng các lưu vực dọc theo hồ
Ganges của Rees và cộng sự (2004) cho thấy sự thay đổi tỷ lệ độ che phủ
của sông băng ở vùng thượng lưu sẽ có ảnh hưởng đến dòng chảy trong
các lưu vực đầu nguồn, với sự gia tăng lưu lượng trung bình trong những
thập kỷ đầu tiên. Trong khi ở hạ lưu, các tác động đã không mấy rõ ràng.
Những kết luận này được xác nhận bởi các nghiên cứu khác ( Jain 2008 ).
3.1.2. Sông Indus.

Gần 40% lượng nước chảy vào sông Indus đến từ các sông băng
của Cao nguyên Tây Tạng làm cho nó dễ bị tổn thương hơn nhiều đối với
bất kỳ sự thay đổi nào về tốc độ tan băng ở Hymalaya. Trải dài 2.900 km
(1.800 dặm) nó là nguồn chính của Pakistan về nước ngọt để sử dụng đô
thị và nông nghiệp và một phao cứu sinh cho 300 triệu người sống trên bờ
hoặc gần nó. Là một trong những con sông dài nhất châu Á, nó xuất phát
từ phần phía tây của Tây Tạng trong vùng lân cận Núi Kailash và Hồ
Manasarovar, dòng sông chảy qua Ladakh , Gilgit-Baltistan và Khyber
Pakhtunkhwa , và sau đó chảy dọc theo toàn bộ chiều dài của Punjab để
nhập vào biển Ả Rập gần thành phố Thatta ở Sindh . Đây là sông dài nhất
và sông quốc gia của Pakistan.
Phần lớn đất nước qua dòng chảy Indus là cực kỳ khô cằn và khác
với gió mùa có lượng mưa ít. Điều này làm cho nó trở thành nguồn tưới
tiêu quan trọng và thậm chí còn dễ bị biến đổi khí hậu hơn. Lịch sử của
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 16


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

thung lũng sông cho thấy có bao nhiêu sự biến đổi nhỏ trong lượng mưa
có thể xác định một con số to lớn đối với những người sống phụ thuộc
vào dòng sông với bằng chứng của một nền văn minh trước đây phải đối
mặt với các sự kiện khí hậu trong quá khứ.
Thompson, cơ quan đứng đầu trên các sông băng cao độ ở vùng
nhiệt đới và gần các vùng nhiệt đới, chỉ ra rằng sông băng Naimona'nyi,
nguồn cung cấp cho sông Indus, đã thu hẹp 155m trong vòng 30 năm từ
năm 1976 đến năm 2006, với tốc độ Năm mét / năm. [10]
David Gray, cố vấn cấp cao của Ngân hàng Thế giới tại Nam Á,

nói: "Không có đủ dữ liệu để nói điều gì sẽ xảy ra với Indus". "Nhưng tất
cả chúng ta đều có những nỗi sợ hãi khủng khiếp rằng dòng chảy của
Indus có thể bị ảnh hưởng nặng nề, bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi băng
tan do hậu quả của sự thay đổi khí hậu" và có thể giảm tới 50%. "Bây giờ
điều đó có ý nghĩa gì đối với một dân cư sống trong sa mạc, nơi mà không
có dòng sông, sẽ không có cuộc sống? Tôi không biết câu trả lời cho câu
hỏi đó", ông nói. "Nhưng chúng ta cần phải lo lắng về điều đó, sâu sắc,
quan tâm sâu sắc" [9]

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 17


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

Hình 9: Ảnh vệ tinh của thung lũng sông Indus trên, so sánh mực nước vào
1/8/2009 ( ảnh trên ) và 31/7/2010 ( ảnh dưới)

Chế độ sông Indus bị ảnh hưởng bởi một loạt các vùng khí hậu
phân tầng, từ các lưu vực cao độ với các khu vực rộng lớn bao phủ bởi
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 18


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

các sông băng kiểm soát lượng nước chảy qua nhiệt độ theo mùa, đến các
lưu vực giữa lòng sông với lưu lượng mùa hè bị tràn ngập bởi lượng mưa

mùa đông trước, Được kiểm soát bởi lượng mưa cả mùa đông và vào mùa
mưa ( Archer 2003 ). Tuyết và băng tan được coi là động lực chính của
chế độ thủy văn ( Mukhopadhyay và Dutta 2010 ). Mô phỏng của Ấn Độ
Thượng bởi Immerzeel và cộng sự (2010) chỉ ra rằng có khoảng 34%
dòng chảy dòng chảy trong khu vực này được tạo ra bởi tuyết, 26% từ
băng tan chảy, Và những phát hiện này được chứng thực bởi Bookhagen
và Burbank (2010) - chỉ ra các chế độ cực kỳ nhạy cảm với sự thay đổi
nhiệt độ. Sử dụng chỉ số nóng chảy bình thường để định lượng được tầm
quang trọng của băng tan, Immerzeel và cộng sự (2010) chỉ ra rằng dòng
chảy Indus phát sinh từ băng tuyết và băng tan cao hơn 15% so với lưu
lượng được tạo ra ở các khu vực hạ lưu. Tuy nhiên, dữ liệu quan sát thấy
có thể cho thấy các mô hình biến đổi, với Winiger et al (2005) cho thấy
khoảng 70% lượng nước chảy tràn hàng năm vào đồng bằng được bắt
nguồn từ mưa gió mùa theo mùa ở phần dưới và Singh và Bengtsson
(2005) nhận thấy trung bình tương đối Đóng góp hàng năm của tuyết và
băng tan chảy trên sông Chenab tại Akhnoor là 49%.
Mô hình thủy văn của thượng lưu sông Indus sử dụng mô hình
thoát nước của Snowmelt do Immerzeel và cộng sự (2009) phát hiện ra
rằng sự nóng lên của khu vực đang ảnh hưởng đến việc xả nước trong lưu
vực vì sự tan chảy nhanh chóng của sông băng. Theo Báo cáo đặc biệt về
Kịch bản Khí thải (SRES) A2 cho năm 2071-2999, sử dụng Cung cấp
Nghiên cứu Tác động Khí hậu Khẩn cấp cho các Nghiên cứu Tác động
(PRECIS), với giả định giảm 50% diện tích trên sông băng, tổng lượng
nước tràn xuống sông băng đã giảm 22% ; Tuy nhiên, điều này đã được
bù đắp bởi sự gia tăng lượng mưa 53%, dẫn đến tổng số dòng chảy tăng
7%. Các dòng chảy vào cuối mùa xuân và mùa hè dự kiến sẽ giảm đáng
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 19



Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

kể vào khoảng năm 2050 và trong các thập kỷ tới ( Immerzeel và cộng sự
2010 )
3.1.3. Sông Mêkông.
Con sông đặc biệt này trải dài 4.350 kilômét với diện tích lưu vực
795.000 km2, nguồn gốc của nó ở dãy Himalaya phía Đông đến vùng
đồng bằng của nó ở cực Nam của Việt Nam. Ở Trung Quốc, nó được gọi
là Lancang. Sông chứa cá nước ngọt lớn thứ hai trên thế giới với cá đại
diện cho đóng góp protein lớn nhất cho 60 triệu người sống dọc theo bờ
sông và các chi lưu. Sông Meekong vượt qua các quốc gia : Lào (25%),
Thái Lan (23%), Trung Quốc (21%), Campuchia (20%), Việt Nam (8%)
và Myanmar (3%). Sông có các chi lưu chính: Nam Khan, Tha, Nam Ou,
Mun, Tonle Sap, Kok, Rual.

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 20


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

Hình 10: Lưu vực sông Mê Công
Sự thay đổi khí hậu với lượng mưa theo mùa thay đổi và nhiệt độ
tăng cao ở các cao nguyên của dãy Himalaya ảnh hưởng đến sự đóng
băng, và sông có thể gặp nhiều biến động lớn. Các sông băng tan chảy
nhanh chóng làm cho lưu vực sông có sự biến đổi mạnh và làm gia tăng
dòng chảy mặt của sông. Điều này khiến cho các nước trong khu vực sông
Mê Kong phải chịu nhiều thiệt hại nặng nề như lũ quét, sạt lở đất, biến

động nguồn nước,…
Trung Quốc đang xây dựng nhiều đập ở thượng lưu sông Mêkông
và Lào có kế hoạch đầu tư tương tự. Các đập đáp ứng nhu cầu về thủy
điện. Các đập đã được xây dựng đang tác động đến các dòng sông hạ lưu
đáng kể. Nếu có nhiều (tất cả trong giai đoạn lập kế hoạch) xây dựng hạ
lưu sông Mê Công có thể bị khô. Bây giờ hãy thêm vào sự thay đổi khí
hậu này với lượng mưa theo mùa thay đổi và nhiệt độ tăng cao ở các cao
nguyên của dãy Himalaya ảnh hưởng đến sự đóng băng, và sông có thể
gặp nhiều biến động lớn hơn.
Một số con đập ở thượng nguồn đã bị cáo buộc làm phiền hệ sinh
thái của con sông, trải dài gần 5.000 km từ Tây Tạng ở Trung Quốc ra
biển.
Theo Sông Quốc tế (IR), một tổ chức hoạt động trên các con sông
xuyên biên giới, Trung Quốc đã xây dựng sáu "con đập lớn" trên sông và
đang lên kế hoạch cho 14 chiếc khác trong 10 năm tới.
IR cho biết "xây dựng đập ở thượng lưu sông Mêkông đã có tác
động ở hạ lưu, đặc biệt dọc theo biên giới Thái Lan-Lào nơi mà các cộng
đồng đã bị ảnh hưởng bởi nghề cá đang suy giảm và thay đổi mực nước
đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế của họ.
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 21


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II

"Bằng cách thay đổi thủy văn của sông, ngăn chặn sự di cư của cá
và ảnh hưởng đến sinh thái của con sông, việc xây dựng đập ở hạ lưu sông
Mê Công sẽ gây ra những hậu quả trên toàn lưu vực."
Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam đang có kế hoạch theo

hướng dẫn của Trung Quốc bằng cách xây dựng thêm một chục đập ở hạ
lưu sông Mê Công.
Ngoài ra còn có bằng chứng cho thấy những con đập mới giữ lại
những trầm tích giàu chất dinh dưỡng quan trọng bổ sung cho lòng sông
và đời sống biển phụ thuộc vào sự sống còn.
Theo Ủy ban sông Mê Kông, gần 85 triệu tấn mỗi năm sỏi, đá tảng
và cát được lưu giữ trên dòng sông ngày nay hơn năm 1992, chủ yếu là do
việc xây dựng các đập thủy điện và hồ chứa ở thượng nguồn.
Theo ông La So Sinh, cơ quan giám sát tài nguyên và môi trường
của chính phủ Việt Nam, "ít nước và trầm tích từ phía bắc có nghĩa là xâm
nhập mặn từ biển ở phía Nam và tổn thất nhiều hơn cho đồng bằng và
người dân".[7]
Mặc dù MRC điều phối việc phát triển tài nguyên nước giữa các
nước thành viên trong lưu vực sông Mê Công, các nhà phê bình nói rằng
họ không làm đủ để giải quyết tranh chấp và hậu quả của đập.
3.1.4. Sông Dương Tử.
Con sông dài nhất châu Á và thứ ba trên thế giới, trải dài 6.418 km
(3.988 dặm), sông Dương Tử là trái tim và linh hồn của Vương Trung.
Sông bắt nguồn từ đỉnh Deladaindong với diện tích lưu vực sông khoảng
1.808.500 km2 (698.266 dặm vuông). Nó tăng lên từ các sông băng của
cao nguyên Tây Tạng với lưu vực của nó bao gồm 20% Trung Quốc. Một
phần ba dân số Trung Quốc, gần 450 triệu người sống trên hoặc gần các
ngân hàng của mình. Nhưng sự tan chảy ngày càng tăng của các sông
Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 22


Bài tiểu luận – Địa lý các châu lục II


băng nuôi Dương Tử đang đe dọa sông vì không giống sông Indus hay
sông Hằng, không có gió mùa theo mùa để bù đắp sự thiếu hụt.
Băng tuyết tan từ Himalayan tạo ra dòng chảy theo mùa đáng sợ.
Nhưng mùa hè tốt hơn và “ba con hẻm” được mô tả như một lối đi "150
dặm giống như cổ họng hẹp của đồng hồ cát", gây ra những mối đe dọa
nguy hiểm đối với các dòng điện chéo và xoáy nước, tạo ra những thách
thức đáng kể cho các nỗ lực của tàu tuần dương. “ Ba con hẻm “ của sông
Dương Tử là khu vực cực kỳ nguy hiểm và dễ chết người nhất.
Một vấn đề khác ở Yangtze là việc sử dụng nước của con người dọc
theo dòng sông với phần lớn dòng chảy được đưa vào sử dụng trong nông
nghiệp và công nghiệp. Ngày nay việc thải các chất thải thô và các chất ô
nhiễm công nghiệp đang đe doạ các trang trại nuôi cá và làm ảnh hưởng đến
nước uống. Thêm vào những thay đổi này trong lưu vực sông do Đập Tam
Hiệp tạo ra và kỹ thuật của một dự án chuyển nước từ Nam sang Bắc nhằm
bổ sung sông Hoàng Hà về phía bắc và bạn đang có một cuộc khủng hoảng
nước nghiêm trọng trên tay.

Trương Thị Thu Hiền – Nghiên cứu sự tác động của băng tan trên dãy Himalayan đến
chế độ thủy văn của các sông Châu Á
Trang 23


×