TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
Chủ biên
TS. Dương Tuyết Miên
GIÁO TRÌNH
TỘI PHẠM HỌC
Vinh - 2011
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
Chủ biên
TS. Dương Tuyết Miên
GIÁO TRÌNH
TỘI PHẠM HỌC
(Giáo trình đào tạo từ xa)
Vinh - 2011
2
3
4
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 .........................................................................................7
TỔNG QUAN VỀ TỘI PHẠM HỌC ..................................................7
1. KHÁI NIỆM TỘI PHẠM HỌC ...................................................................................... 7
2. KHÁI NIỆM NHÀ TỘI PHẠM HỌC ......................................................................... 9
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TỘI PHẠM HỌC ............................................ 11
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TỘI PHẠM HỌC ...................................... 12
4.1. Yêu cầu đối với việc nghiên cứu tội phạm học ................................................... 12
4.2. Một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu tội phạm học
..................................................................................................................................... 12
CHƯƠNG 2 .......................................................................................22
PHẦN THỨ NHẤT CỦA CHƯƠNG 2 – CÁC THUYẾT VỀ BẢN
CHẤT CON NGƯỜI .........................................................................23
1. TRƯỜNG PHÁI TỘI PHẠM HỌC CỔ ĐIỂN ......................................................... 24
1.1 Hoàn cảnh ra đời của tội phạm học cổ điển ........................................................ 24
1.2. Nội dung của trường phái tội phạm học cổ điển ................................................ 25
2. CÁC THUYẾT SINH HỌC ....................................................................................... 27
2.1. Trường phái tội phạm học thực chứng thời kì đầu ............................................ 27
2.2. Các thuyết về thể chất con người ........................................................................ 34
3. CÁC THUYẾT TÂM LÍ ............................................................................................ 40
3.1. Thuyết phân tâm học ........................................................................................... 41
3.2. Thuyết bắt chước ................................................................................................. 43
PHẦN THỨ HAI CỦA CHƯƠNG 2.................................................45
1. CÁC THUYẾT CẤU TRÚC XÃ HỘI ....................................................................... 45
1.1. Thuyết rối loạn tổ chức xã hội.............................................................................. 45
1.2. Thuyết xung đột văn hoá (còn gọi là thuyết lệch lạc văn hoá) ........................... 48
2. CÁC THUYẾT VỀ QUÁ TRÌNH XÃ HỘI ............................................................... 51
2.1. Thuyết học lại từ xã hội ......................................................................................... 51
2.2. Thuyết kiểm soát xã hội....................................................................................... 53
CHƯƠNG 3 ......................................................................................56
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM ................................................................................................. 56
1. KHÁI NIỆM TÌNH HÌNH TỘI PHẠM .................................................................... 56
2. CÁC NỘI DUNG CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM .................................................... 57
2.1. Thực trạng của tình hình tội phạm ...................................................................... 57
2.2. Diễn biến (động thái) của tình hình tội phạm ...................................................... 63
Năm
2000 .................................................................................64
Số vụ..................................................................................................64
Tăng...................................................................................................64
2.3. Cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm ......................................................... 65
CHƯƠNG 4 .......................................................................................69
1. KHÁI NIỆM NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM ................................................... 70
2. NGUYÊN NHÂN TỪ MÔI TRƯỜNG SỐNG (những nhân tố không thuận lợi từ môi
trường sống tác động đến sự hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân) .......................... 71
2.1. Các tiểu môi trường mà cá nhân đang sống và giao tiếp thường xuyên ............ 72
2.2. Môi trường xã hội vĩ mô ...................................................................................... 73
3. NGUYÊN NHÂN TỪ PHÍA NGƯỜI PHẠM TỘI ................................................... 74
5
4. TÌNH HUỐNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÌNH HUỐNG TRONG CƠ CHẾ CỦA HÀNH
VI PHẠM TỘI ............................................................................................................... 75
3.1. Khái niệm tình huống ............................................................................................ 75
3.2. Phân loại tình huống ............................................................................................. 75
3.3. Vai trò của tình huống trong cơ chế của hành vi phạm tội ..................................... 76
CHƯƠNG 5 .......................................................................................77
1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM .............. 77
1.1. Khái niệm nạn nhân của tội phạm.......................................................................... 77
1.2. Đặc điểm của nạn nhân của tội phạm .................................................................... 79
1.3. Phân loại nạn nhân của tội phạm. ......................................................................... 79
2. NHỮNG THIỆT HẠI MÀ NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM PHẢI GÁNH CHỊU VÀ
QUYỀN CỦA NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM .............................................................. 80
3. VAI TRÒ CỦA NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM TRONG CƠ CHẾ HÀNH VI
PHẠM TỘI CỤ THỂ ..................................................................................................... 82
4. VAI TRÒ CỦA NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM ĐỐI VỚI THỰC TRẠNG TỘI
PHẠM ẨN ...................................................................................................................... 83
5. MỐI QUAN HỆ GIỮA NẠN NHÂN VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI.............................. 85
6. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM .. 86
CHƯƠNG 6 .......................................................................................91
1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ DỰ BÁO TỘI PHẠM..................................................... 91
2. CÁC CĂN CỨ DỰ BÁO TỘI PHẠM ....................................................................... 92
3. CÁC LOẠI DỰ BÁO TỘI PHẠM ............................................................................. 93
3.1. Theo thời gian dự báo.......................................................................................... 93
3.2. Theo đối tượng dự báo ........................................................................................ 93
4. CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO TỘI PHẠM. ......................................................... 94
4.1. Phương pháp ngoại suy (Extrapolation) .............................................................. 94
4.2. Phương pháp mô hình hoá (Modelling) ............................................................... 95
4.3. Phương pháp chuyên gia (Expert Judgement)...................................................... 96
CHƯƠNG 7 .......................................................................................97
1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM ......................................... 98
2. CÁC NGUYÊN TẮC CỦA PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM ........................................ 99
2.1. Nguyên tắc pháp chế............................................................................................ 99
2.2. Nguyên tắc dân chủ. ............................................................................................ 99
2.3. Nguyên tắc nhân đạo. ........................................................................................ 100
2.4. Nguyên tắc khoa học.......................................................................................... 100
2.5. Nguyên tắc phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể phòng ngừa. .......................... 100
3. CHỦ THỂ CỦA PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM ........................................................... 100
3.1. Các cơ quan tư pháp hình sự với tư cách là chủ thể của phòng ngừa tội phạm. 101
3.2. Cơ quan lập pháp với tư cách là chủ thể của phòng ngừa tội phạm. ................. 102
3.3. Các cơ quan quản lí nhà nước, các tổ chức, công dân với tư cách là chủ thể của
phòng ngừa tội phạm. ............................................................................................... 102
4. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM .................................................... 102
4.1. Phòng ngừa tội phạm ở cấp độ vĩ mô. .................................................................. 102
4.2. Phòng ngừa tội phạm theo phạm vi lãnh thổ ........................................................ 103
4.3. Phòng ngừa tội phạm theo cấp độ chuyên ngành ................................................. 103
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TỘI PHẠM HỌC
1. KHÁI NIỆM TỘI PHẠM HỌC
Với tính chất là một khoa học, tội phạm học ra đời khá muộn so với một số ngành
khoa học xã hội khác như chính trị học, triết học, kinh tế học, xã hội học, luật... Tuy có
hạn chế là ra đời khá muộn, nhưng tội phạm học lại có một may mắn là được kế thừa
thành tựu của những ngành khoa học khác đã ra đời trước đó, do vậy, tội phạm học đã
phát triển với tốc độ vô cùng nhanh chóng. Các nhà tội phạm học ngày nay thường ví
tội phạm học như một cái mặt bàn được tạo dựng vững chắc bởi rất nhiều chân bàn
như: triết học, nhân loại học, luật, sinh vật học, xã hội học, chính trị học, y học, tâm lí
học, kinh tế học, đạo đức học, phong tục học, tâm thần học...1 Với cách nói đầy hình
ảnh như vậy đã giúp cho chúng ta hiểu được mối quan hệ mật thiết giữa tội phạm học
và các ngành khoa học khác cũng như đặc tính kế thừa của tội phạm học với các ngành
khoa học đó.
Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “tội phạm học” là giáo sư luật người Italia tên là
Raffaele Garofalo vào năm 1885 (tiếng Italia là Criminologia). Tiếp đó, nhà nhân loại
học người Pháp tên là Paul Tobinard lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “tội phạm học”
trong tiếng Pháp (Tiếng Pháp là Criminologie) vào khoảng thời gian này1. (Có ý kiến
cho rằng Paul Tobinard đưa ra thuật ngữ này lần đầu tiên vào năm 1889)2. Còn trong
tiếng Anh, thuật ngữ “tội phạm học” nghĩa là “Criminology”. Như mọi người biết,
“ology” nghĩa là ngành nghiên cứu, còn từ Crimin nguồn gốc từ “Crimen” tiếng La
Tinh nghĩa là tội phạm. Như vậy, có thể hiểu tội phạm học theo nghĩa đen là ngành
khoa học “nghiên cứu về tội phạm” (the study of crime).
Trên thế giới, các nhà tội phạm học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về tội phạm
học. Vào thế kỉ 20, có 3 trường phái khác nhau trong việc xác định khái niệm tội phạm
học, mỗi trường phái đều có sự khác biệt bởi điểm nhấn của nó.
Trường phái thứ nhất coi tội phạm học như là một ngành kiến thức, một lĩnh vực
nghiên cứu (disciplinary) chú trọng đến vấn đề xã hội của tội phạm – tiêu biểu cho
quan điểm này là Edwind H. Sutherland, Donald R.Cressey, David F. Luckenbill.
Trong cuốn giáo trình Tội phạm học xuất bản lần đầu tiên vào năm 1924, Edwind H.
Sutherland cho rằng: “Tội phạm học là lĩnh vực kiến thức tập trung vào vấn đề xã hội
của tội phạm”. Cuốn sách này đã đặt nền móng cho sự phát triển tội phạm học của Mỹ
trong suốt thế kỉ 20. Được tái bản lần thứ hai vào năm 1934, cuốn sách nói trên được
đổi tên là Các nguyên tắc của tội phạm học và nó trở thành cuốn sách nổi tiếng nhất
trong lĩnh vực tội phạm học. Trong cuốn sách này, Edwind H. Sutherland cho rằng tội
phạm học bao gồm 3 lĩnh vực cơ bản: xã hội học pháp luật, phân tích một cách khoa
học các nguyên nhân của tội phạm, kiểm soát tội phạm.1 Sau khi Edwind H.
Sutherland mất (1950), các công trình về tội phạm học của ông tiếp tục được các học
1
Xem GS.TS Frank Schmalleger, Criminology Today, The University of North Carolina at Pembroke, Prentice
Hall Publisher, năm 2002, tr 15. Đây là cuốn sách được coi là tài liệu mẫu mực về tội phạm học được lưu hành
rất phổ biến trong các trường đại học đào tạo về luật ở Mỹ và được giới thiệu như một tài liệu tham khảo giá trị
rất phổ biến tại các cơ sở đào tạo tại Châu Âu.
1
Xem http:/en.wikipedia.org/wiki/Criminology, ngày 2/5/2007.
2
Xem GS.TS Frank Schmalleger, Criminology Today, The University of North Carolina at Pembroke, Prentice
Hall Publisher, năm 2002, tr 14.
1
Xem Edwind H. Sutherland, Criminology, (Philadelphia: J.B Lppincott, 1924, trang 11); Xem Principles of
Criminology, tr 1.
7
giả nghiên cứu trong nhiều năm mà tiêu biểu là Donald R.Cressey và David F
Luckenbill. Vào năm 1974, khái niệm cổ điển của Edwind H. Sutherland về tội phạm
học đã được Donald R.Cressey chỉnh sửa như sau: “Tội phạm học là lĩnh vực kiến thức
chủ yếu nghiên cứu về hành vi phạm tội và tội phạm như một hiện tượng xã hội. Tội
phạm học cũng nghiên cứu quá trình làm luật, vi phạm pháp luật, và phản ứng đối với
việc vi phạm pháp luật.”2
Trường phái thứ hai nhấn mạnh tới vai trò của tội phạm học trong việc tìm ra nguyên
nhân của tội phạm (causative) – tiêu biểu cho quan điểm này là Gennaro F.Vito,
Ronald M. Holmes, Clarence Ray Jeferry. Theo Gennaro F.Vito, Ronald M. Holmes
“Tội phạm học nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm”; còn theo Clarence Ray
Jeferry, tội phạm học nghiên cứu 3 lĩnh vực: phát hiện tội phạm, xử lí tội phạm và giải
thích về tội phạm cũng như hành vi phạm tội1.
Trường phái thứ ba coi tội phạm học như là một khoa học nghiên cứu về tội phạm với
những đặc tính riêng biệt – Tiêu biểu cho quan điểm này là Clemens Bartollas, Simon
Diniz, Gregg Barak. Clemens Bartollas và Simon Diniz cho rằng: “Tội phạm học là
khoa học nghiên cứu về tội phạm”. Còn theo Gregg Barak: “ Tội phạm học là lĩnh vực
nghiên cứu liên ngành với những kiến thức đa dạng về nguyên nhân của tội phạm,
hành vi của người phạm tội, thực tiễn phòng ngừa tội phạm và các chính sách phòng
ngừa tội phạm.2
Thời gian gần đây, trên diễn đàn khoa học cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái
niệm “Tội phạm học”. Cụ thể như sau:
“Tội phạm học nghiên cứu về tội phạm như một hiện tượng xã hội bao gồm nguyên
nhân và hậu quả của tội phạm, hành vi phạm tội, cũng như sự phát triển, ảnh hưởng
của pháp luật đối với tội phạm. Việc áp dụng các phương pháp khoa học trong nghiên
cứu tội phạm học để kiểm chứng các giả thuyết và việc phát triển các thuyết sẽ giúp
cho giải thích các nguyên nhân và phương diện khác của tội phạm”1.
“Tội phạm học nghiên cứu tội phạm như là một hiện tượng cá nhân và xã hội. Các lĩnh
vực nghiên cứu của tội phạm học bao gồm sự ảnh hưởng và các hình thức của tội
phạm, nguyên nhân và hậu quả của tội phạm, quy định của pháp luật, quy tắc của xã
hội và phản ứng của Chính phủ và xã hội đối với tội phạm. Tội phạm học là lĩnh vực
liên quan đến nhiều kiến thức trong các ngành khoa học về hành vi của con người, đặc
biệt liên quan đến các công trình nghiên cứu của các nhà xã hội học, tâm lí học”2.
“Tội phạm học là khoa học nghiên cứu về tỉ lệ tội phạm, nguyên nhân dẫn tới cá nhân
hay nhóm người phạm tội, phản ứng của cộng đồng, xã hội đối với tội phạm.”3
“ Tội phạm học nghiên cứu những con đường khác nhau của các hệ tư tưởng mô tả về
tội phạm, dự báo tội phạm, giải thích và kiểm soát tội phạm”.4
2
Xem GS.TS Frank Schmalleger, Criminology Today, The University of North Carolina at Pembroke, Prentice
Hall Publisher, năm 2002, tr 14.
1
Xem Gennaro F.Vito và Ronald M. Holmes, Criminology: Theory, Research and Policy, Belmont, CA:
Wadsworth, 1994, trang 3; Xem Clarence Ray Jeferry, The Historical Development of Criminology, in Herman
Mannheim, ed; Pioneer in Criminology, Montclair, NJ: Partenson Smith, 1972, tr 458.
2
Xem Clemens Bartollas và SimonDiniz, Introduction to Criminology: Order and disorder, New York: Harper
and Row, 1989, trang 548; Xem Gregg Barak, Intergrating Criminologies, Boston: Allyn and Bacon, 1998, trang
303.
1
Xem www.search.com/reference/Criminology ngày 2/5/2007
2
Xem ngày 2/5/2007
3
Xem T.S Tom O’Connor, Justice Studies Department North Carolina Wesleyan College Rocky Mount, NC
27804, Xem trang Web The Criminology Mega –Site ngaỳ 14/5/2007.
8
Có thể nói, các quan điểm trên đều có hạt nhân hợp lí và đã chỉ ra được các đối tượng
nghiên cứu của tội phạm học cũng như có đóng góp vô cùng quan trọng đối với sự
phát triển của tội phạm học.
Việc xây dựng khái niệm tội phạm học trước hết phải chỉ ra được nó là ngành khoa
học xã hội đa ngành. Bởi vì tội phạm học có sử dụng các thành tựu của các ngành khoa
học xã hội khác nhất là xã hội học, tâm lí học và sinh vật học do vậy có thể nói, nó là
ngành khoa học xã hội đa ngành (liên ngành) nghiên cứu về hiện tượng tội phạm. Tội
phạm học nghiên cứu tội phạm không chỉ với tính chất như là một hiện tượng cá nhân
đơn lẻ mà còn nghiên cứu nó như là hiện tượng xã hội có quan hệ với cộng đồng xã
hội cũng như Chính phủ để hướng tới mục tiêu vô cùng quan trọng là xây dựng được
hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm có hiệu quả, từ đó có thể kiểm soát cũng
như đẩy lùi được tội phạm. Mặt khác, khái niệm tội phạm học phải bao quát được
những đối tượng nghiên cứu cơ bản của tội phạm học. Từ sự phân tích ở trên, có thể
hiểu như sau: Tội phạm học là ngành khoa học xã hội đa ngành nghiên cứu về tội
phạm với tính chất là hiện tượng cá nhân và xã hội bao gồm tình hình tội phạm,
nguyên nhân của tội phạm, dự báo tội phạm, phòng ngừa tội phạm, quy định của pháp
luật, quy tắc của xã hội, phản ứng của Chính phủ và xã hội đối với tội phạm để kiểm
soát cũng như đẩy lùi tội phạm.
2. KHÁI NIỆM NHÀ TỘI PHẠM HỌC
Ở Việt Nam hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào về tội phạm học đề cập
đến khái niệm cũng như phạm vi những cá nhân được coi là nhà tội phạm học
(Criminologist). Tuy nhiên, tác giả nhận thấy có khá nhiều tài liệu của tội phạm học
nước ngoài có đề cập tương đối cụ thể về vấn đề này. Cụ thể như sau:
“Nhà tội phạm học là người nghiên cứu về tội phạm, người phạm tội và hành vi
phạm tội.”1
“Nhà tội phạm học là người nghiên cứu về: tính phức tạp của tội phạm, nguyên
nhân của tội phạm, phương thức giải quyết vấn đề tội phạm có hiệu quả, phân tích số
liệu thống kê về tội phạm, điều tra về tội phạm, nghiên cứu quan niệm của xã hội đối
với tội phạm”.2
“Thuật ngữ nhà tội phạm học được sử dụng để chỉ những người có bằng cấp liên
quan đến việc nghiên cứu tội phạm, hành vi phạm tội và xu hướng của tội phạm.”3
Nhà tội phạm học thường được dùng để chỉ những học giả, nhà khoa học, nhà
chuyên môn nghiên cứu những vấn đề: nguyên nhân của tội phạm, phòng ngừa, kiểm
soát tội phạm, xử lí tội phạm và hành vi phạm tội, các giải pháp đối với tội phạm, sự
thi hành pháp luật, hệ thống tư pháp, hệ thống những cơ quan cải tạo người phạm tội,
nạn nhân của tội phạm.”4
Trong các quan điểm nói trên, quan điểm thứ ba là hợp lí hơn cả và được đông đảo
4
Xem bài giảng của T.S Adam J.Mckee “What is criminology” trên trang Web AEJS.Com, International
Encyclopedia of Justice Studies ngày 14/5/2007.
1
Xem The American Dictionary on CD – ROM, Boston: Houghton Mifflin, 1992.
2
Xem ngày 5/5/2007.
3
Xem GS.TS Frank Schmalleger, Criminology Today, The University of North Carolina at Pembroke, Prentice
Hall Publisher, năm 2002, tr 12.
4
http:// en.wikipedia.org/wiki/criminologist ngày 5/5/2007.
9
các nhà tội phạm học trên thế giới thừa nhận.
Cần phân biệt thuật ngữ nhà tội phạm học (Criminologist) với nhà hình sự học
(Criminalist). Thuật ngữ nhà hình sự học được sử dụng để chỉ những người làm những
công việc liên quan đến thu thập và kiểm tra chứng cứ về tội phạm và một số người
khác làm việc trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Những người này có kĩ năng đặc biệt
trong việc tìm ra tội phạm như: nhân viên điều tra, nhân viên kĩ thuật của phòng thí
nghiệm, chuyên gia vân tay, chuyên gia chụp ảnh hiện trường, chuyên gia khoa học
đường đạn, quan chức cảnh sát, công tố viên, thẩm phán, luật sư công và một số người
khác làm việc trong hệ thống tư pháp hình sự mà có kĩ năng nghề nghiệp nhất định.
Có thể nói, từ năm 1920 cho đến nay, tội phạm học đã và đang phát triển theo
hướng thiên về xã hội học, bên cạnh đó, tội phạm học cũng có mối quan hệ chặt chẽ
với sinh vật học và tâm lí học.1 Vì vậy, một số lượng lớn các nhà tội phạm học trên thế
giới hiện nay có nguồn gốc từ nhà xã hội học, nhà tâm lí học, nhà sinh vật học và
những người này rất thành công trong việc nghiên cứu về tội phạm học.
Nhà tội phạm học có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc duy trì trật tự xã hội,
góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Ba vai trò được trình bày dưới đây được
coi là những vai trò tiêu biểu nhất của nhà tội phạm học. Các vai trò này không loại trừ
nhau và một nhà tội phạm học thậm chí có thể đảm đương được cả ba vai trò này. Cụ
thể như sau:
Nhà nghiên cứu khoa học. Nhà tội phạm học trước hết là một chuyên gia nghiên
cứu về tội phạm ở trường đại học, viện nghiên cứu hay một hiệp hội nào đó. Trong vai
trò này, nhà tội phạm học nghiên cứu các vấn đề khác nhau có liên quan đến tội phạm.
Tư vấn cho các cơ quan có thẩm quyền. Nhà tội phạm học có thể là nhà tư vấn các
vấn đề về phòng ngừa tội phạm. Trong vai trò tư vấn, nhà tội phạm học phân tích tình
hình tội phạm, nguyên nhân, hậu quả của tội phạm, phản ứng của Chính phủ và cộng
đồng xã hội đối với hiện tượng tội phạm, dự báo về tội phạm, tư vấn các giải pháp
phòng ngừa để giúp Chính phủ có thể kiểm soát được tội phạm, từ đó góp phần ổn
định trật tự, trị an xã hội. Trên cơ sở đó, nhà hoạch định chính sách phòng ngừa có thể
tham khảo sự tư vấn đó để đề ra chính sách phòng ngừa cụ thể. Thực tế cho thấy,
nhiều chính sách phòng ngừa tội phạm đã bị thất bại vì nó không được xây dựng dựa
trên cơ sở khoa học mà chỉ là những biện pháp được xây dựng theo những ý tưởng chủ
quan, duy ý chí của nhà chính trị.
Giảng viên. Việc giảng dạy tội phạm học để truyền bá kiến thức là một trong
những nhiệm vụ chủ yếu của nhà tội phạm học. Nhà tội phạm học thực hiện mục tiêu
đào tạo các chuyên gia thuộc lĩnh vực tội phạm học thuộc các bậc sau đại học, đại học,
cao đẳng. Ngoài ra, nhà tội phạm học còn phải quảng bá kiến thức tội phạm học trong
quần chúng nhân dân, trong giới khoa học để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho
nhân dân, ý thức giữ gìn bảo vệ tài sản của mình, hàng xóm cũng như cộng đồng,
1
Xem TS. Adam J.Mckee, Bài giảng “What is criminology” trên trang Web AEJS.Com, International
Encyclopedia of Justice Studies ngày 14/5/2007.
10
hướng tới phòng ngừa, kiểm soát tội phạm trong xã hội có hiệu quả.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TỘI PHẠM HỌC
Với tư cách là một ngành khoa học, tội phạm học có đối tượng nghiên cứu của
riêng mình. Việc làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu của tội phạm học có ý nghĩa vô
cùng quan trọng vì đối tượng nghiên cứu không những chỉ ra những nội dung nghiên
cứu cơ bản mà còn chỉ ra khuynh hướng nghiên cứu, phát triển của khoa học đó. Các
tài liệu tội phạm học ngày nay đề cập đến đối tượng nghiên cứu của tội phạm học như
sau1:
+ Quá trình phát triển, nội dung của các thuyết về tội phạm, sự đóng góp của từng
thuyết đối với sự phát triển của tội phạm học;
+ Tình hình tội phạm;
+ Nguyên nhân của tội phạm;
+ Dự báo tội phạm;
+ Phòng ngừa tội phạm ;
+ Nạn nhân học;
+ Đánh giá tác động của pháp luật đối với phòng ngừa tội phạm;
+ Tội phạm học so sánh (được nghiên cứu dưới góc độ xã hội của tội phạm thông
qua việc tìm hiểu văn hoá, phân tích sự giống nhau và khác nhau ở các mẫu tội phạm);
+ Phản ứng của Chính phủ và xã hội đối với tội phạm;
+ Hình phạt học;
Các tội phạm thuộc lĩnh vực chuyên biệt như:
+ Tội phạm xâm phạm con người;
+ Tội phạm xâm phạm tài sản;
+ Tội phạm có tổ chức;
+ Vần đề lạm dụng ma túy và tội phạm ma túy;
+ Tội phạm cổ cồn trắng;
+ Tội phạm công nghệ cao.
+ Tội phạm có sử dụng bạo lực;
+ Giới và tội phạm;
+ Tội phạm đường phố;
+ Tội phạm và vấn đề đô thị hoá...
1
Đa số các giáo trình tội phạm học của Việt Nam đều cho rằng đối tượng của tội phạm học bao gồm 4 bộ phận
(yếu tố) cấu thành cơ bản, tức là bốn nhóm các hiện tượng xã hội được nghiên cứu. Đó là:
- Tình hình tội phạm;
- Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm;
- Nhân thân người phạm tội;
- Các biện pháp phòng ngừa tội phạm
Tuy nhiên, qua nghiên cứu khá nhiều tài liệu tội phạm học nước ngoài (xuất bản bằng tiếng Anh), tác giả nhận
thấy không có tài liệu nào viết như vậy. Điều này đặt ra vấn đề đã đến lúc chúng ta cần thay đổi quan niệm về
đối tượng nghiên cứu của tội phạm học.
11
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TỘI PHẠM HỌC
4.1. Yêu cầu đối với việc nghiên cứu tội phạm học
Cũng như các khoa học xã hội khác, độ chính xác của kết quả nghiên cứu trong tội
phạm học chỉ mang tính chất tương đối, không thể có tính chính xác cao như trong
khoa học tự nhiên. Điều đó có hai lí do cơ bản:
Thứ nhất, các phương pháp mà tội phạm học sử dụng mượn từ khoa học tự nhiên
như toán, lí thuyết hệ thống, tin học chỉ được áp dụng trong thời gian gần đây vào việc
nghiên cứu vấn đề tội phạm như một hiện tượng có tính chất cá nhân và xã hội.
Thứ hai, trong quá trình nghiên cứu, tội phạm học hướng tới tất cả các vấn đề có
liên quan đến các nhân tố chủ quan của con người như các nhân tố chủ quan của người
phạm tội, nạn nhân mà các nhân tố này không hề có mặt trong khoa học tự nhiên.
Tuy nhiên, tội phạm học ngày càng thể hiện rõ tính khoa học của mình thông qua
các phương pháp nghiên cứu của nó. Để thu thập số liệu, phân tích tài liệu, xử lí thông
tin, biểu diễn tổng quát và mô tả, tội phạm học đã sử dụng nhiều phương pháp, kĩ thuật
nghiên cứu khoa học.
Để sử dụng tốt các phương pháp nghiên cứu, trước hết cần phải tôn trọng những
yêu cầu tiên quyết sau đây:
+ Bằng chứng xác thực. Nghiên cứu tội phạm học bằng phương pháp điều tra,
khảo sát đòi hỏi nhất thiết phải có bằng chứng là những số liệu, mẫu tội phạm xác
thực. Việc có thể thẩm tra lại được bằng bằng chứng là có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong công tác điều tra, khảo sát khoa học.
+ Không chấp nhận cái tuyệt đối. Tội phạm học không chấp nhận cái tuyệt đối.
Các nhà tội phạm học phải luôn luôn chuẩn bị tư thế thẩm tra các bằng chứng. Sự thật
của khoa học phải là cái còn lại của phép thử.
+ Trung lập, khách quan. Trong tội phạm học, nhà tội phạm học hoạt động với tư
cách cá nhân nhà khoa học và không nên để các giá trị cá nhân như định kiến chính trị,
cảm xúc cá nhân) chi phối làm ảnh hưởng đến các kết luận khoa học và chi phối hoạt
động nghề nghiệp của mình. Tất cả các hoạt động nghiên cứu phải được tiến hành
khách quan, chỉ vì mục đích khoa học. Tuyệt đối không được thành kiến hoặc áp đặt
trong nghiên cứu.
+ Tư chất nghiệp vụ nghiên cứu. Kĩ năng nghiên cứu là một tư chất bắt buộc đối
với nhà tội phạm học. Không có kĩ năng nghiên cứu thì có thể dẫn đến kết quả nghiên
cứu không chính xác, các giải pháp phòng ngừa tội phạm đưa ra có thể thiếu tính khả
thi.
4.2. Một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu tội phạm
học
* Phương pháp thống kê (Statistic method)
Đây là phương pháp sử dụng rất phổ biến trong nghiên cứu tội phạm học và mang
lại kết quả nghiên cứu có tính chân thực cao.
12
Thống kê tội phạm cung cấp các phương thức thống kê về mức độ hoặc tổng số tội
phạm có tính chất phổ biến trong xã hội.
Người đầu tiên sử dụng thống kê tội phạm là nhà điều tra tội phạm người Pháp –
Andre’Michel Guerry (1802 – 1866). Ông đã tính toán tỉ lệ tội phạm tính trên đầu
người khắp các tỉnh của nước Pháp trong những năm 1800. Vào năm 1835, nhà thiên
văn học, xã hội học và toán học người Bỉ Adolphe Quetelet (1796 –1864) đã xuất bản
cuốn sách “Phân tích về thống kê tội phạm ở một số nước Châu Âu” (gồm 3 nước Bỉ,
Pháp và Hà Lan). Adolphe Quetelet đã đặt mục tiêu cho mình là đánh giá mức độ các
tỉ lệ tội phạm khác nhau thông qua vấn đề khí hậu, giới tính, tuổi. Ông cũng là người
đưa ra ý kiến cho đến nay vẫn được coi là “vấn đề nóng” của thống kê tội phạm ngày
nay. Cụ thể là bằng phương pháp thống kê, ông đã rút ra kết luận: tội phạm thay đổi
theo mùa, rất nhiều tội phạm bạo lực đã tăng lên trong những tháng hè nóng nực, các
tội phạm xâm phạm tài sản thường tăng vào thời gian lạnh hơn của năm. Với kết quả
của quá trình nghiên cứu này, ông đã đưa ra thuật ngữ rất nổi tiếng trong tội phạm học
- “luật nhiệt” (thermic law).
Thống kê tội phạm chính thức được xuất bản lần đầu tiên trong tờ Công báo (Gazette)
của Luân đôn vào năm 1828 và tờ Compte generale cuả Pháp vào năm 1825. Thời gian
đầu, thống kê tội phạm đã tính toán, so sánh giữa các điều kiện kinh tế với các loại tội
phạm khác nhau. Tiếp đó, bằng việc nghiên cứu các dữ liệu thống kê của Anh trong suốt
các năm 1810 đến năm 1847, Joseph Fletcher, một học giả người Anh đã đưa ra kết luận:
việc phạm tội ở Anh thường tăng vào thời điểm giá lúa mì tăng.
Tương tự, Gerog Von Mayr, một học giả người Đức trong quá trình nghiên cứu từ
năm 1836 đến năm 1861, bằng phương pháp thống kê tội phạm đã rút ra kết luận tỉ lệ
tội trộm cắp tăng khi giá lúa mạch đen ở Baravia tăng. Những công việc mà các nhà
thống kê (statisticians) như Andre’Michel Guerry, Adolphe Que’teles tiến hành nêu ở
trên được gọi là trường phái thống kê của tội phạm học.
Ngày nay, thống kê tội phạm được sử dụng rộng rãi trong tội phạm học. Thống kê
tội phạm được tiến hành và tường thuật không chỉ trong các cơ quan thống kê chính
thức của các nước mà còn được thống kê bởi các tổ chức quốc tế như Interpol, United
Nations. Một số nước mà điển hình là Mỹ thường xuất bản hàng năm số liệu thống kê
về tội phạm do Cục thống kê tư pháp (BJS) và Cục điều tra liên bang (FBI) thu thập.
Ví dụ, từ phương pháp thống kê “đồng hồ tội phạm” (Crime Clock), các nhà thống kê
đã xác định được ở Mỹ cứ 22 giây có một vụ phạm tội có sử dụng vũ lực (trong đó cứ
34 phút có một vụ giết người, 6 phút có một vụ hiếp dâm có sử dụng bạo lực, một phút
có một vụ cướp tài sản); và cứ 3 giây có một vụ phạm tội xâm phạm tài sản (trong đó
95 giây có một vụ trộm cắp trong nhà, 5 giây có một vụ trộm cắp thông thường, 27
giây có một vụ trộm cắp ô tô)1.
Việc thống kê tội phạm thường dựa theo số liệu về tội phạm rõ (Cleared Crime
hoặc Solved Crime). Được coi là tội phạm rõ khi có đủ 3 điều kiện sau:
1
Xem FBI, Crime in United State, 1999, DC Washington, US Government Printing Office
13
+ Có người chứng kiến hoặc phát hiện ra tội phạm;
+ Tội phạm đã được tường thuật (tố cáo) với cảnh sát;
+ Cơ quan cảnh sát hoặc cơ quan áp dụng luật khác khẳng định đó là hành vi phạm
luật hình sự.
Như vậy, vẫn có thể được coi là tội phạm rõ khi người phạm tội mới chỉ bị bắt giữ
và chưa bị đưa ra truy tố, xét xử.
Thuật ngữ tội phạm rõ được Báo cáo tội phạm chính thức (UCR) của Mỹ giải thích
đó là trường hợp các cơ quan áp dụng luật đã chính thức buộc tội một người vì tội
phạm họ đã thực hiện2.
Cần lưu ý là khi lấy nguồn dữ liệu để thống kê tội phạm, các nhà tội phạm học chủ
yếu lấy từ hai nguồn:
+ Nguồn của Cảnh sát;
+ Nguồn của các cơ quan khác.
Việc thống kê tội phạm sẽ tập trung vào các đối tượng sau:
+ Vụ phạm tội;
+ Người phạm tội;
+ Nạn nhân của tội phạm.
Trong thống kê tội phạm, việc tiến hành khảo sát, thăm dò dư luận rất quan trọng
và cần thường xuyên tiến hành. Ở nhiều nước trên thế thế giới, việc làm trên được hiệp
hội thống kê tội phạm thực hiện hàng năm. Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà đối
tượng, nội dung được nghiên cứu cũng có thể khác nhau (trong đó việc phát và thu
thập phiếu tự tường thuật của nạn nhân là rất quan trọng để đánh giá về tình hình tội
phạm, nhất là đối với nạn nhân của một số loại tội như nhóm tội xâm phạm tình dục,
nhóm tội xâm phạm tài sản).
Trong tội phạm học, thống kê tội phạm có thể được thực hiện dưới các dạng:
+ Số tuyệt đối
Số tuyệt đối thường được sử dụng để mô tả thực trạng của tình hình tội phạm. Số
tuyệt đối trên thực tế là số liệu thống kê của cơ quan thống kê chính thức.
+ Số tương đối
Số tương đối thường được sử dụng để nghiên cứu mức độ phổ biến của tội phạm
trong dân cư hoặc có thể sử dụng trong nghiên cứu về diễn biến, cơ cấu của tình hình
tội phạm. Có 3 loại số tương đối:
Chỉ số tội phạm (Crime Index). Chỉ số tội phạm được xác định để tính mức độ phổ
biến của tội phạm trong dân số. Đây là tỉ lệ số tội phạm (hoặc vụ phạm tội) tính trên
100.000 dân (nên tính trên 100.000 người dân hoặc 10.000 dân, không nên là 1000 vì
2
Xem Criminology Today của GS.TS Frank Schmalleger, The University of North Carolina at Pembroke,
Prentice Hall Publisher, năm 2002, tr 38. Có thể thấy quan điểm tương tự xem GS.TS Sue Titus Reid, trưởng
khoa luật Trường đại học Florida, Criminal Justice, Macmillan Publishing Company.
14
diện người quá hẹp thì chỉ số tội phạm khó chính xác). Cần lưu ý là chỉ số tội phạm
luôn được xác định gắn liền với một địa bàn nhất định và trong một khoảng thời gian
nhất định. Khi đánh giá tình hình tội phạm không thể bỏ qua chỉ số tội phạm, nhất là
khi đánh giá, so sánh tình hình tội phạm ở các địa bàn khác nhau.
Số tương đối phản ánh quan hệ giữa cái cá thể và tổng thế. Con số này thường
được dùng để mô tả cơ cấu của tình hình tội phạm. Ví dụ trong tổng số 1.200 vụ phạm
tội xảy ra trên địa bàn tỉnh A năm 2000 thì tội trộm cắp tài sản có 214 vụ. Như vậy,
nếu so sánh giữa vụ phạm tội trộm cắp tài sản với tổng số các vụ phạm tội thì tội trộm
cắp tài sản chiếm tỉ lệ 17,83%. (Tổng số các vụ phạm tội trên địa bàn tỉnh A năm 2000
sẽ được coi là 100%).
Số tương đối phản ánh xu hướng của tội phạm. Loại số tương đối này được sử
dụng để nghiên cứu diễn biến của tình hình tội phạm. Ví dụ số vụ phạm tội cướp đã bị
xét xử trên địa bàn tỉnh A trong 7 năm liên tiếp như sau: Năm 2000 có 23 vụ, năm
2001 có 29 vụ, năm 2002 có 35 vụ, năm 2003 có 37 vụ, năm 2004 có 56 vụ năm 2005
có 32 vụ, năm 2006 có 30 vụ, năm 2007 có 29 vụ. Nếu coi số vụ phạm tội cướp đã bị
xét xử trong năm 2000 là 100% làm gốc để so sánh thì ta được kết quả là năm 2001 là
126%, năm 2002 là 152%, năm 2003 là 160%, năm 2004 là 243%, năm 2005 là 139%,
năm 2006 là 130%, năm 2007 là 126%. Nếu đánh giá diến biến của tình hình tội phạm,
ta sẽ thấy số vụ phạm tội có xu hướng tăng dần từ năm 2000 đến năm 2004, sau đó từ
năm 2005 đến năm 2007 có xu hướng giảm dần.
+ Số trung bình. Trung bình tìm được bằng cách lấy tổng của các trường hợp trong
tập hợp được xét rồi chia cho số các trường hợp. Ví dụ: số vụ phạm tội giết người ở
tỉnh H trong 5 năm liên tiếp là 35, 73, 27, 56, 44. Như vậy, số vụ phạm tội giết người
trung bình hàng năm ở tỉnh H là 47. Đó là kết quả của việc cộng tất cả số vụ phạm tội
nói trên rồi chia cho 5.
+ Số trung vị là con số nằm chính giữa trục phân bố các con số được sắp xếp theo
thứ tự (theo độ lớn của các con số). Ví dụ: số bị cáo bị kết án về tội trộm cắp tài sản
trong 7 năm ở tỉnh A là: 69, 80, 89, 97, 99, 101, 103. Số trung vị trong trường hợp này
là 97. Có 3 con số ở phía trước 97 (69, 80, 89) và có 3 con số ở phía sau 97 (99, 101,
103).
* Phương pháp nghiên cứu điều tra (Survey research)
Phương pháp phiếu điều tra trong tội phạm học là tổng hợp các kĩ năng đưa câu
hỏi cho đối tượng cần nghiên cứu để đạt kết quả cao nhất. Với phương pháp điều tra,
người nghiên cứu sẽ biên soạn câu hỏi. Bảng câu hỏi được thiết kế với mục đích đưa
trực tiếp tận tay để đối tượng điền tại chỗ hoặc trao đổi qua điện thoại hoặc có thể gửi
qua bưu điện đến đối tượng hoặc qua e-mail. Trong cách thức này, các câu hỏi dùng để
diễn tả và chỉ dẫn cách sử dụng cũng như bố cục ảnh hưởng rất nhiều đến độ tin cậy
của kết quả đạt được trong cuộc nghiên cứu. Câu hỏi nên có hai loại:
Thứ nhất là loại câu hỏi có nhiều phương án trả lời để người được hỏi có thể lựa
chọn một trong các phương án trả lời đó. Ví dụ như câu hỏi: Anh chị đã bao giờ lén lút
15
chiếm đoạt tài sản của
+ Người thân;
+ Bạn bè;
+ Hàng xóm;
+ Đồng nghiệp;
+ Cơ quan.
Thứ hai, câu hỏi mở không đưa sẵn câu trả lời mà để cho người được hỏi toàn
quyền trả lời tự do theo suy nghĩ của mình. Ví dụ như câu hỏi: Lí do anh (chị) lén lút
chiếm đoạt tài sản người khác?
Để có thể thu được kết quả tối ưu trong khi sử dụng phương pháp này, ngay tại
phần đầu của phiếu điều tra, nhà nghiên cứu phải cam kết ngay việc giữ bí mật danh
tính của người tham gia; Chỉ rõ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào đứng ra tiến hành
nghiên cứu và trách nhiệm của họ trong việc đảm bảo bí mật đời tư người tham gia trả
lời. Bên cạnh đó, đối tượng được hỏi phải trên diện rộng và nhà nghiên cứu phải có
khả năng tổ chức, tiến hành cuộc điều tra, đặc biệt là kĩ thuật thu thập và xử lí thông
tin phải tốt.
Có nhiều loại điều tra trong nghiên cứu tội phạm học nhưng phổ biến nhất là hai
loại sau đây:
Điều tra về tội phạm tự tường thuật (offender self-report surveys).
Để tiến hành các cuộc điều tra loại này, các nhà nghiên cứu phải cam kết giữ bí
mật danh tính của người tham gia tự tường thuật về tội phạm đã thực hiện, đảm bảo để
họ không phải lo lắng về sự tiết lộ thông tin với người tiến hành điều tra cũng như
không sợ hãi sẽ bị bắt giữ và bị xử lí về hình sự do đã thực hiện tội phạm. Đối tượng
mà các nhà nghiên cứu hướng tới là những người trẻ tuổi, nhất là đối với học sinh phổ
thông, sinh viên các trường đại học, cao đẳng. Điều tra về tội phạm tự tường thuật
thường được tiến hành hàng năm, bên cạnh đó, tùy theo mục đích nghiên cứu mà có
thể có những cuộc điều tra kéo dài trong khoảng thời gian nhất định, ví dụ như từ 3
năm đến 5 năm. Kết quả thu được từ Điều tra về tội phạm tự tường thuật cho thấy số
tội phạm xảy ra trên thực tế cao hơn rất nhiều so với số tội phạm có trong thống kê
chính thức. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn biết được một số vấn đề khác không
thể có được trong thống kê chính thức của cơ quan thống kê như những nhân tố tiêu
cực tác động đến việc gây ra tội phạm. Đồng thời, bức tranh về tình hình tội phạm đã
sáng tỏ hơn khi kết hợp xem xét, đánh giá cả số liệu về tội phạm rõ cũng như số liệu
tội phạm ẩn đã xảy ra. Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu về tội phạm học đánh giá rất cao
Điều tra về tội phạm tự tường thuật . “Phát triển và mở rộng việc sử dụng phương
pháp thu thập dữ liệu về tội phạm bằng phương pháp tự tường thuật về tội phạm và
hành vi phạm tội là một trong những sự cải cách quan trọng nhất trong nghiên cứu tội
16
phạm học của thế kỉ 20.”1
Trên thế giới, Điều tra về tội phạm tự tường thuật bắt đầu xuất hiện vào đầu thập
niên 40 của thế kỉ 20. Từ đó đến nay, nó thường xuyên được các nhà nghiên cứu sử
dụng để điều tra về tình hình tội phạm nói chung cũng như một nhóm tội hoặc một tội
cụ thể nói riêng. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số hạn chế. Cụ thể là do đối
tượng được nghiên cứu thường nhằm vào người trẻ tuổi - diện nghiên cứu còn chưa
rộng và sự tự tường thuật của một số người có thể không trung thực hoặc do tội phạm
xảy ra đã lâu so với thời điểm tự tường thuật, do vậy, có thể đưa tới kết quả nghiên cứu
chỉ mang tính chính xác tương đối. Tuy nhiên, điều đó cũng không thể làm lu mờ vai
trò to lớn của Điều tra về tội phạm tự tường thuật trong nghiên cứu tội phạm học.
Điều tra về nạn nhân của tội phạm (the victimization survey).
Với loại điều tra này, nhà nghiên cứu cũng phải cam kết giữ bí mật danh tính của
nạn nhân tham gia tự tường thuật bởi vì sự tiết lộ danh tính của họ trong nhiều trường
hợp có thể gây bất lợi cho nạn nhân (nhất là đối với nạn nhân của nhóm tội xâm phạm
tình dục, tội phạm bạo lực gia đình). Điều tra về nạn nhân của tội phạm được tiến
hành thường xuyên ở nhiều nước, nhất là ở những nước có “hiệp hội bảo vệ nạn nhân
và nhân chứng” hoặc “hiệp hội nạn nhân của tội phạm”; ở những nước này, việc thu
thập, quản lí các dữ liệu về nạn nhân của tội phạm khá tập trung, thống nhất; do vậy,
việc tiến hành điều tra về nạn nhân của tội phạm không phải là quá khó khăn. Điều cần
chú ý là việc thiết kế mẫu điều tra về nạn nhân của tội phạm phải khác với mẫu điều
tra về tội phạm tự tường thuật vì đây là những đối tượng nghiên cứu khác nhau. Kết
quả điều tra về nạn nhân của tội phạm cho thấy số nạn nhân tường thuật tội phạm với
cảnh sát trên thực tế chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ. Một cuộc điều tra về nạn nhân của tội phạm ở
Mĩ cho thấy chỉ 38% nạn nhân của tất cả tội phạm, 48% nạn nhân của tội phạm bạo
lực, 29% nạn nhân của tội trộm cắp tài sản cá nhân đã tường thuật về tội phạm với
cảnh sát.1 Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn biết rất nhiều lí do giải thích tại sao
nhiều nạn nhân của tội phạm không tường thuật về vụ phạm tội với cảnh sát. Tuy
nhiên, phương pháp này cũng có hạn chế là không phải nạn nhân nào cũng tường thuật
đúng sự thật do e ngại bị ảnh hưởng đến đời sống riêng tư hoặc do thái độ bất hợp
tác... Diện nghiên cứu của phương pháp này có thể không bao quát được hết tất cả các
nạn nhân của tội phạm, do vậy kết quả nghiên cứu theo phương pháp này cũng chỉ có
tính chính xác tương đối. Mặt khác cũng phải kể đến một số tội phạm không có nạn
nhân, do vậy, trường hợp này không thể tiến hành phương pháp Điều tra về nạn nhân
của tội phạm. Nhưng với Điều tra về nạn nhân của tội phạm đã giúp cho các nhà tội
phạm học đánh giá chính xác hơn về tội phạm ẩn cũng như nhận diện được bức tranh
hiện thực về tình hình tội phạm.
1
Xem Terence P. Thornberry and Marvin D. Krohn, The Self Report Method For Mesuaring Delinquency and
Crime, Criminal justice 2000, Washington, D.C: National Institute of Justice 2000; Xem GS.TS Frank
Schmalleger, Criminology Today, The University of North Carolina at Pembroke, Prentice Hall Publisher, năm
2002, tr 61.
1
Xem GS.TS Frank Schmalleger, Criminology Today, The University of North Carolina at Pembroke, Prentice
Hall Publisher, năm 2002, tr 63.
17
* Phương pháp phỏng vấn (Interview method)
Trong phương pháp phỏng vấn, nhà nghiên cứu hỏi đối tượng được hỏi những câu
hỏi có thể có sự chuẩn bị từ trước hoặc không có chuẩn bị mà đặt câu hỏi theo diễn
biến các câu trả lời của người được hỏi (nhưng vẫn gắn với mục đích đã chuẩn bị của
người nghiên cứu). Việc phỏng vấn có thể thực hiện qua việc gặp trực tiếp đối tượng
hoặc phỏng vấn qua điện thoại. Có hai loại phỏng vấn thường được tiến hành trong
nghiên cứu tội phạm học.
Cuộc phỏng vấn đã được cơ cấu hoá. Mỗi người phỏng vấn sẽ nhận được một loạt
các câu hỏi, các câu hỏi này đã được chuẩn bị từ trước và theo những thứ tự nhất định
đã tính toán từ trước. Số liệu thu được từ cuộc phỏng vấn này có thể dễ dàng xếp thành
cột và so sánh với nhau. Ví dụ, nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu ý thức chấp hành luật
giao thông đường bộ trong dân cư, đã đưa câu hỏi chuẩn bị trước như sau:
Câu hỏi: Anh (chị) chấp hành luật giao thông đường bộ do
+ Có mặt cảnh sát giao thông ở đó;
+ Chấp hành luật giao thông đường bộ đã là thói quen thường trực;
+ Không thích phiền phức;
+ Tất cả các phương án trên.
Cuộc phỏng vấn không được cơ cấu hoá (không được chuẩn bị trước). Đây là cuộc
phỏng vấn không được sự chuẩn bị đầy đủ ở nội dung hỏi mà cuộc phỏng vấn này nhà
nghiên cứu tự đưa ra câu hỏi trên cơ sở diễn biến trả lời của người được hỏi. Trường
hợp này, nhà nghiên cứu phải đưa câu hỏi có nội dung rõ ràng và đối với câu hỏi quan
trọng cần có kết quả thì nên chú ý khuyến khích, động viên người được hỏi trả lời.
Khác với cuộc phỏng vấn đã được cơ cấu hoá có kết quả đã định lượng và dễ so sánh,
còn trong cuộc phỏng vấn không được cơ cấu hoá, kết quả rất khó so sánh vì các câu
hỏi có thể không giống nhau, do vậy, câu trả lời sẽ rất khó so sánh. Nói một cách đơn
giản hơn, cuộc phỏng vấn không được cơ cấu hoá gần như cuộc đối thoại về một chủ
đề nào đó. Ví dụ:
Câu hỏi: Ông suy nghĩ gì về nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay?
Trả lời: Tham nhũng ở nước ta rất trầm trọng.
Câu hỏi: Tại sao ông có suy nghĩ như vậy?
Trả lời: Không chỉ tôi có quan điểm đó mà nhiều người cũng có quan điểm tương
tự, báo chí cũng nói nạn nhũng nhiễu của quan chức xảy ra khắp nơi, ngay Chính phủ
cũng nói tham nhũng ở nước ta là quốc nạn.
Kết quả phỏng vấn được ghi chép lại và quản lí dữ liệu nên bằng mã số. Mục đích
của mã hoá là sự chuyển đổi các câu trả lời cho các câu hỏi sang các biểu tượng để có
thể so sánh với nhau. Với ưu thế của tính năng đa dụng của máy vi tính, việc so sánh
giữa các tập hợp câu hỏi có thể giúp nhà nghiên cứu xử lí nhanh và dễ dàng các dữ
liệu.
* Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm (Experimental method)
18
Trong phương pháp thực nghiệm, nhà nghiên cứu sử dụng các biến số. Các biến số
là bất kì sự thay đổi nào diễn tiến từ một trạng thái, vị trí này tới một trạng thái, vị trí
tiếp theo. Ví dụ: các cá nhân có thể thay đổi trạng thái trong địa vị kinh tế, lứa tuổi,
quan điểm sống...
Xác định trạng thái có thể bằng biến số độc lập hoặc biến số phụ thuộc.
Biến số độc lập là biến số được thao tác trong một cuộc nghiên cứu. Nó được trình
bày dưới đại lượng thay đổi và có thể mô tả được, bản thân nó hoạt động độc lập. Nhà
nghiên cứu thường có một vài giả thuyết ban đầu về biến số độc lập sẽ ảnh hưởng như
thế nào đến kết quả cuộc thực nghiệm.
Biến số phụ thuộc là biến số được xác định như là biến số kết quả. Nhà nghiên cứu
dựa trên nó để đo lường và từ đó dẫn đến kết luận. Các cuộc thực nghiệm được tiến
hành trong phòng thí nghiệm ổn định thì khả năng điều khiển được biến số độc lập rất
cao. Đối với các cuộc thực nghiệm riêng lẻ thì chỉ tồn tại một biến số độc lập, biến số
đó được nhà thực nghiệm sử dụng và chuyển dịch từ cuộc thực nghiệm thử tới cuộc
thực nghiệm tiếp theo.
Trong quá trình nghiên cứu, những thay đổi trong biến số độc lập sẽ kéo theo
những thay đổi trong biến số phụ thuộc. Để làm rõ quá trình này, nhà tội phạm học
phải phân chia đối tượng nghiên cứu làm hai nhóm: nhóm thực nghiệm (experimental
group) và nhóm kiểm tra (control group). Mục đích của việc xây dựng nhóm kiểm tra
là để có cơ sở so sánh. Nhóm thực nghiệm chịu sự tác động của biến số độc lập được
thao tác theo nhiều phương thức khác nhau. Nhà tội phạm học bằng cách so sánh
nhóm kiểm tra với nhóm thực nghiệm để đi tới kết luận về giá trị của những biến số
độc lập được thao tác. Ví dụ: Nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu tác động, ảnh hưởng của
việc xem văn hoá phẩm khiêu dâm đến lối sống của thanh thiếu niên. Nhà nghiên cứu
phải thiết kế một chương trình thí nghiệm gồm có hai nhóm: nhóm thực nghiệm và
nhóm kiểm tra. Còn biến số độc lập ở đây là việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn
và các phim, ảnh khiêu dâm. Mục tiêu mà các nhà nghiên cứu muốn khảo sát ở đây là
khi thao tác thực nghiệm thì các biến số phụ thuộc hay còn gọi là biến số kết quả có
xuất hiện không? Nhóm kiểm tra sẽ được xem phim có nội dung lành mạnh, không có
hình ảnh khiêu dâm. Còn ở nhóm thực nghiệm, đối tượng được nghiên cứu sẽ xem
phim, ảnh có hình ảnh khiêu dâm ở các mức độ khác nhau. Nhà nghiên cứu sẽ tiến
hành trắc nghiệm cả ở hai nhóm để biết được kết quả của cuộc thực nghiệm xem ảnh
hưởng của các phim, ảnh khiêu dâm tới lối sống của thanh thiếu niên.
Nhà tội phạm học thiết kế nhóm kiểm tra và nhóm thực nghiệm theo hai cách cơ
bản:
+ Cách thứ nhất được gọi là kĩ thuật cặp đôi - đối chứng. Cách này được hiểu là
nếu một phần tử có trong nhóm kiểm tra thì sẽ có một phần tử tương ứng trong nhóm
thực nghiệm.
+ Cách thứ hai được gọi là kĩ thuật phân nhóm ngẫu nhiên. Những đối tượng được
chứa trong hai nhóm thực nghiệm và kiểm soát được phân phối theo phương pháp
19
ngẫu nhiên qua thống kê.
Phương pháp thực nghiệm có ưu điểm là số liệu thu thập có độ chính xác tương đối
cao bởi sự cho phép kiểm soát cả quá trình diễn tiến của cuộc nghiên cứu. Hạn chế của
phương pháp này kết quả nghiên cứu khó có thể áp dụng cho những người khác ngoài
nhóm thực nghiệm và hơn nữa nó chỉ có ý nghĩa đối với một bộ phận dân cư nhất
định.
* Phương pháp nghiên cứu tình huống (case study)
Trong pháp nghiên cứu tình huống, nhà tội phạm học sẽ phân tích kĩ càng một số
trường hợp nhất định. Việc nghiên cứu những tình huống cụ thể sẽ giúp nhà nghiên
cứu thu thập được nhiều thông tin từ một lượng nhỏ đối tượng được nghiên cứu. Ví dụ
nghiên cứu tình huống một nhóm thanh niên phạm tội cướp giật tài sản trên đường phố
nhằm thu được những thông tin phong phú về đặc trưng nhân cách của người phạm tội
cướp giật tài sản.
Nghiên cứu tình huống bao giờ cũng gắn kết với các sự kiện mà các sự kiện đó
được nhà nghiên cứu cần ghi nhận cẩn thận thông qua ghi chép, phỏng vấn, quan sát
từng tình huống, hoặc nghiên cứu tài liệu thông tin khác. Ví dụ: nhà tội phạm học
muốn tìm hiểu tội cướp tài sản là loại tội phạm vốn rất phổ biến ở một huyện vùng
biên giới từ 25 năm về trước. Khi đó, nhà nghiên cứu sẽ đến thị sát huyện vùng biên
giới để phỏng vấn bất kì người cao tuổi nào hoặc cán bộ điều tra, truy tố, xét xử hình
sự đã nghỉ hưu để hỏi về tệ nạn cướp đã từng hoành hành cách đây 25 năm. Ngoài ra,
nhà nghiên cứu có thể đọc các nguồn tại liệu khác như: các bản án đã xử về tội cướp
tài sản 25 năm về trước, các bài báo viết về tội cướp tài sản trên địa bàn huyện cách
đây 25 năm....
Phương pháp nghiên cứu tình huống có điểm mạnh là nguồn tài liệu vô cùng
phong phú, độ tin cậy tương đối cao. Hạn chế của phương pháp này là khi nhà nghiên
cứu muốn thực hiện việc khái quát hoá từ những trường hợp cụ thể là tương đối khó
khăn bởi vì nhà nghiên cứu không thể khẳng định chắc chắn những kết luận mà mình
rút ra trong trường hợp này lại đúng trong những trường hợp khác. Hơn nữa, trong
nghiên cứu tình huống, các mẫu khảo sát thường với phạm vi không lớn lắm nên trong
chừng mực nhất định, độ chính xác nói chung còn ít nhiều hạn chế.
* Phương pháp nghiên cứu mẫu
Phương pháp nghiên cứu mẫu cực kì hữu ích trong trường hợp đối tượng nghiên
cứu tương đối rộng. Phương pháp nghiên cứu mẫu cho ta những thông tin thuộc tần
suất (bao nhiêu %), tần số (thường lặp lại là bao nhiêu trong một đơn vị thời gian).
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu mà nhà nghiên cứu có thể lựa chọn các loại mẫu
sau:
+ Mẫu thuận tiện: Mẫu thuận tiện chứa đựng các cá nhân mà đặc trưng của họ
mang lại sự thuận lợi cho nhà nghiên cứu. Nhà nghiên cứu không phải tốn công lựa
chọn bởi vì họ đã có sẵn các đặc trưng cần thiết đáp ứng đủ các yêu cầu của cuộc
nghiên cứu đề ra. Ví dụ để đánh giá tổng quát vấn đề di dân của người nông thôn ra
20
thành phố cũng như những phức tạp nảy sinh từ vấn đề này trong đó có tội phạm, tệ
nạn ma túy.... nhà nghiên cứu sử dụng các số liệu thu được từ cộng đồng dân nhập cư
sinh sống ổn định trong thành phố, những người lao động ngoại tỉnh đang tạm trú,
những người này đã có sẵn những dấu hiệu đặc trưng nào đó về giới tính, tuổi, nguồn
gốc xuất thân, nghề nghiệp...
+ Mẫu tự nguyện: Mẫu tự nguyện bao gồm các cá nhân tự nguyện tham gia vào
cuộc nghiên cứu. Ví dụ để nghiên cứu tác động của thời tiết nóng nực, ngột ngạt với
việc hình thành và thể hiện tính cách của con người, nhà nghiên cứu có thể mời một số
người tự nguyện là người chưa thành niên tham gia. Tuy nhiên, kết quả thu được từ
nhóm này có giá trị thấp, bởi vì đối tượng tự nguyện tham gia cuộc nghiên cứu chưa
có tính đại diện trên diện rộng.
+ Mẫu ngẫu nhiên: Việc chọn mẫu này nhằm đảm bảo kết quả nghiên cứu có tính
khách quan và có tính đại diện trên diện rộng. Mẫu ngẫu nhiên phải có tính chất đại
diện cho tổng thể lớn hơn nó. Những số liệu thu thập được từ loại mẫu này có giá trị
tin cậy khá cao.
Điểm mạnh của phương pháp nghiên cứu mẫu là có thể thu thập thông tin theo tần
số, tần suất trên một nhóm khá rộng lớn. Số liệu có thể tin cậy nếu nhà nghiên cứu lựa
chọn mẫu phù hợp.
Điểm hạn chế của phương pháp này thể hiện ở chỗ các thông tin thu được chỉ giới
hạn ở bề mặt của đối tượng, nhất là đối tượng nghiên cứu quá lớn. Do vậy, cần phải
kết hợp với phương pháp nghiên cứu tình huống để thu được những số liệu thuyết
phục./.
CÂU HỎI ÔN TẬP:
Câu 1: Phân tích khái niệm tội phạm học.
Câu 2. Phân tích khái niệm nhà tội phạm học.
Câu 3. Trình bày đối tượng nghiên cứu của tội phạm học.
Câu 4. Trình bày phương pháp nghiên cứu của tội phạm học.
21
CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI PHẠM HỌC
Từ xa xưa cho đến nay, một câu hỏi lớn đối với loài người luôn luôn tồn tại. Đó là
tại sao con người ta phạm tội hay nguyên nhân gốc rễ của tội phạm là gì? Trải qua
các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội, các nhà tội phạm học luôn cố gắng
lí giải vấn đề này. Quá trình hình thành, phát triển của tội phạm học chính là quá
trình ra đời, phát triển các thuyết, các trường phái khác nhau giải thích về
nguyên nhân của tội phạm. Mỗi thuyết, trường phái đó đều có con đường riêng
nghiên cứu về tội phạm, cũng có thể có sự kế thừa ít nhiều quan niệm của người
đi trước và tựu chung lại các thuyết, các trường phái đó đều cố gắng giải thích
nguyên nhân của tội phạm và đưa ra giải pháp phòng ngừa tương ứng.
Việc nghiên cứu các thuyết, các trường phái ở các giai đoạn lịch sử khác nhau có
ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nghiên cứu tội phạm học vì nó giúp ta đánh giá
được những thành tựu mà các nhà nghiên cứu tiền bối đã đạt được trong việc tìm
ra nguyên nhân của tội phạm cũng như tìm ra các biện pháp phòng ngừa tương
ứng, từ đó có thể kế thừa một cách hợp lí thành tựu khoa học của các nhà tiền bối
trong phòng ngừa và kiểm soát tội phạm ngày nay. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu
này cũng giúp cho chúng ta tìm ra những hạn chế của các thuyết để từ đó tiếp tục
nghiên cứu để phát triển, hoàn thiện các thuyết hoặc tiếp tục nghiên cứu cố gắng
tìm ra thuyết mới giải thích về tội phạm, trên cơ sở đó, có thể xây dựng các biện
pháp phòng ngừa tội phạm sát hợp. Để nghiên cứu toàn diện về quá trình phát
triển của tội phạm học, đòi hỏi người nghiên cứu phải có cái nhìn khách quan, chỉ
trên cơ sở khoa học và phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nghiên cứu về
quá trình hình thành, phát triển của tội phạm học phải nhận thức được rằng đó
quá trình tích lũy, phát triển tri thức của loài người với từng nấc phát triển khác
nhau, với những thăng trầm riêng của nó nhưng tựu chung lại đều có đóng góp
đối với kho tàng trí tuệ của nhân loại và vì sự phát triển của nhân loại.
Có rất nhiều thuyết trong tội phạm học giải thích về nguyên nhân của tội phạm nhưng
nhìn chung có thể chia là hai nhóm cơ bản (trong mỗi nhóm này lại có nhiều nhánh
khác nhau). Đó là:
+ Các thuyết về bản chất con người;
+ Các thuyết xã hội học.
Trong chương này, chúng ta sẽ được học các thuyết giải thích về nguyên nhân của tội
phạm qua hai phần:
Phần thứ nhất: Các thuyết về bản chất con người; Phần thứ hai: Các thuyết xã
hội học.
22
PHẦN THỨ NHẤT CỦA CHƯƠNG 2 – CÁC THUYẾT VỀ BẢN CHẤT CON
NGƯỜI
Phần này gồm các vấn đề sau
Các thuyết
về bản chất
con người
Trường phái
tội phạm học
cổ điển
Các thuyết
sinh học
Các thuyết
tâm lí
Ngay từ thời cổ đại, người xưa đã có giải thích về nguyên nhân của tội phạm, tuy
nhiên các giải thích này còn mang nặng tính thần bí, siêu nhiên. Từ hơn 5000 trước
công nguyên, người xưa cho rằng nguyên nhân của tội phạm là do ảnh hưởng của ma
quỉ (Demonic Influence), thời kì 3.500 trước công nguyên, người xưa lại cho rằng
nguyên nhân của tội phạm là do ảnh hưởng của thiên văn (Zodiac Influence), thời kì
1250 trước công nguyên, người xưa lại cho rằng nguyên nhân phát sinh tội phạm là do
ý chí của chúa trời (God’ will).1 Tuy nhiên, theo vòng quay của lịch sử, xã hội ngày
càng phát triển. Lịch sử đã bắt đầu xuất hiện những tư tưởng đầu tiên liên quan đến tội
phạm học.
Các triết gia nổi tiếng như Socrates (470-399 trước CN), Plato (428-347 trước
CN), Arixtotle (384-322 trước CN) đã đưa ra những tư tưởng đầu tiên về tội phạm học.
Những tư tưởng này chịu ảnh hưởng của quan niệm triết học cổ đại. Tuy nhiên, các
triết gia này đã đưa ra được một số tư tưởng của tội phạm học.
Plato cho rằng Luật pháp do nhà nước ban hành phải có tác dụng kiềm chế, khắc
phục được nguyên nhân dẫn đến tội phạm. Nhà nước có trách nhiệm không để sự giàu
có và nghèo đói cùng tồn tại trong xã hội vì sự giàu có làm phát sinh tính lười biếng và
ham tiêu khiển, ăn chơi; còn nghèo đói thì làm phát sinh tính hèn hạ, dễ làm điều ác
của con người. Bên cạnh đó, ông còn cho rằng phòng ngừa tội phạm là hướng tới
tương lai chứ không phải là hiện tại.
Triết gia Arixtotle cũng có một số tư tưởng về tội phạm học. Arixtotle cho rằng
nguyên nhân của tội phạm bắt nguồn từ các thói quen và sở thích hư hỏng của con
người, từ sự mâu thuẫn giữa lí trí với những đam mê của con người, khi dục vọng lấn
át lí trí. Ông cho rằng cưỡng chế tâm lí có thể phòng ngừa được tội phạm, vì pháp luật
giúp cho tinh thần thống trị được thể xác và lí trí thống trị được bản năng con người.
1
Xem http://www/The Criminology/ Mega – Site.html
23
Tuy nhiên, trong suốt một thời kì lâu dài, vẫn chưa xuất hiện một công trình nào
nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm học. Chỉ đến khi ra đời tác phẩm “Tội phạm và
hình phạt” của Cessa Beccaria vào năm 1764 đã đánh dấu một bước ngoặt vô cùng
quan trong cho sự ra đời và hình thành một ngành khoa học mới của nhân loại - Tội
phạm học và mãi đến tận năm 1885, thuật ngữ Tội phạm học mới ra đời.
1. TRƯỜNG PHÁI TỘI PHẠM HỌC CỔ ĐIỂN
Thời gian: Từ những năm 1700 đến năm 1880.
Học giả tiêu biểu: Cesare Beccaria, Jeremy Bentham.
1.1 Hoàn cảnh ra đời của tội phạm học cổ điển
Tội phạm học cổ điển ra đời chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi hệ tư tưởng của các nhà
chính trị, triết học “thời kì khai sáng” (age of enlightenment) – Một phong trào xã hội
có ý nghĩa vô cùng quan trọng diễn ra trong suốt thế kỉ 17-18. Các nhà tư tưởng đi theo
phong trào này mà tiêu biểu là Francis Bacon (1561-1626), Thomas Hobbes (1588-1679),
Jonh Locke (1632-1704), Jean-Jacques Rousseau (1712-1778), Baruch Spinoza (16321677), Thomas Paine (1737-1809) cho rằng chính lí trí và khoa học (chứ không phải tôn
giáo) sẽ làm cho nhân loại tiến bộ. Hay nói cách khác, chính những tư tưởng của các
học giả lỗi lạc của “thời kì khai sáng” đã đóng góp gián tiếp đến sự ra đời của tội phạm
học cổ điển. Phong trào xã hội này đã thắp cháy lên ngọn lửa cần phải thay đổi xã hội,
nhất là đối với hệ thống tư pháp hiện hành hà khắc và đầy bất công. Theo tư tưởng của
phong trào này, những lời giải thích siêu nhiên về hành vi của con người đã bị sụp đổ.
Tự do ý chí và suy nghĩ lí trí đã được thừa nhận là có vai trò quyết định đến hành vi
của con người. Với tư tưởng nói trên đã tác động đến sự hình thành, nội dung, sự phát
triển của trường phái tội phạm học cổ điển.
Trong khi đó, ở Châu Âu, quá trình công nghiệp hoá ngày càng được đẩy mạnh,
thế nhưng hố sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo trong xã hội, sự cách biệt
về mức sống giữa hai giai cấp này cũng như nạn thất nghiệp của người lao động vẫn
không hề giảm sút. Tình hình tội phạm ngày càng gia tăng. Mặc dù những hình phạt hà
khắc thời kì trung cổ vẫn tồn tại và được áp dụng khá phổ biến, thế nhưng tình hình tội
phạm vẫn ngày càng tồi tệ. Trong bối cảnh đó, tầng lớp trí thức chịu ảnh hưởng của
“thời kì khai sáng” đã nhận thấy mâu thuẫn của sự phát triển đó. Tại sao những hình
phạt dã man, hà khắc được áp dụng đối với tội phạm nhằm ngăn cản tội phạm lại vẫn
không ngăn cản được tội phạm, thậm chí tội phạm còn gia tăng, tồi tệ hơn trước. Vấn
đề ở chỗ không phải là nhà nước thiếu biện pháp trừng phạt đối với tội phạm. Rõ ràng,
cách lí giải truyền thống với những lời giải thích siêu nhiên về hành vi của con người
đã không lí giải được nguyên nhân tội phạm cũng như hệ thống tư pháp hình sự yếu
kém hiện hành rõ ràng vẫn còn nhiều bất ổn chưa giải quyết được hiện tượng tội phạm.
Cho đến giữa thế kỉ XVIII, các nhà trí thức đã bắt đầu hình thành một cách tiếp cận
mới, hợp lí hơn đối với tội phạm và hình phạt cũng như chú ý đến sự cần thiết cải tổ hệ
thống tư pháp hình sự. Tiêu biểu cho tư tưởng này là Cesare Beccaria, Jeremy
Bentham, từ đó dẫn đến sự ra đời trường phái tội phạm học cổ điển.
24
1.2. Nội dung của trường phái tội phạm học cổ điển
+ Quan điểm của Cesare Beccaria
Chân dung Cesare Beccaria
Cesare Beccaria (1738-1794) sinh ra ở Milan, Italia. Ông đã từng theo học trường
dòng và có bằng tiến sĩ luật khi mới 20 tuổi. Khi trở về thành phố Milan quê
hương, ông chơi thân với Pietro và Alessandro là hai thành viên chủ chốt của
nhóm trí thức cấp tiến có tên gọi “The academy of first” – Nhóm có tư tưởng cải
cách hệ thống tư pháp hiện hành và sau đó ông đã gia nhập nhóm này. Được sự
khuyến khích của Pietro, ông đã nghiên cứu những tác phẩm nổi tiếng của các
học giả uyên bác của phong trào khai sáng như Thomas Hobbes, Dideros, David
Hume, Helvetius, Jonh Locke , Jean-Jacques Rousseau. Với sự động viên của
Pietro, ông bắt đầu viết cuốn “Về tội phạm và hình phạt” (On crime and
Punishment). Rất nhiều thông tin trong cuốn sách này đã được trợ giúp bởi
Pietro – một người rất am hiểu về lịch sử của hình phạt tra tấn và Alessandro –
một người rất am hiểu về hệ thống nhà tù hiện hành
Giải thích về nguyên nhân của tội phạm, Cesare Beccaria cho rằng nguyên nhân của
tội phạm là tự do ý chí, sự lựa chọn của từng cá nhân. Sự giải thích này của Ông chịu
ảnh hưởng tư tưởng của thời kì khai sáng đó là: Tự do ý chí và suy nghĩ lí trí được thừa
nhận là có vai trò quyết định đến hành vi của con người.
Bên cạnh đó, quan điểm của ông về phòng ngừa tội phạm đến nay vẫn còn giá trị. Đó là:
Hình phạt là phương tiện để phòng ngừa tội phạm hiệu quả. Hình phạt phải tương xứng
với mức độ nguy hiểm của tội phạm. Hình phạt tử hình phải bị huỷ bỏ. Cách tốt nhất để
phòng ngừa tội phạm là luật phải được quy định đơn giản và rõ ràng, khen thưởng
người có đạo đức tốt và cải thiện nền giáo dục... Tư tưởng này của ông không chỉ có
vai trò quan trọng trong cải cách hệ thống tư pháp hình sự thời kì đó mà cho đến nay,
nó vẫn còn là cơ sở để nhiều quốc gia tuân theo trong việc xây dựng một hệ thống tư
pháp dân chủ, tiến bộ.
Trong lĩnh vực tội phạm học, có lẽ không một cuốn sách nào có đóng góp vĩ đại
như cuốn sách của Cesare Beccaria. Sau cách mạng Pháp, những nguyên tắc cơ
bản của Cesare Beccaria đã được sử dụng như là cơ sở để soạn thảo Bộ luật hình
sự của Pháp được thông qua vào năm 1791. Nữ Hoàng Nga Catherine II đã triệu
tập Hội đồng Chính phủ để bàn bạc về việc chuẩn bị ban hành Bộ luật hình sự
mới, trên cơ sở có tiếp thu tư tưởng của Cesare Beccaria. Vua nước Phổ Frederic
II đã dành hết đời mình để sửa đổi luật hình sự và dân sự trên cơ sở tư tưởng của
Cesare Beccaria. Hoàng đế Joseph II do ảnh hưởng tư tưởng của Cesare Beccaria
25