MỤC LỤC
Bảng chữ viết tắt………………………………………………………
Đề bài………………………………………………………………….
Mở đầu ………………………………………………………………..
Nội dung………………………………………………………………
1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, phân loại tội phạm đối với tội
1
2
3
3
cố ý gây thương tích cho người khác mà G đã thực hiện……………..
2. Giả định hậu quả thương tích gây ra cho Q là 30% với hung khí là
3
dao nhọn thuộc khoản 2 Điều 104 BLHS thì G có phải chịu TNHS về
hành vi của mình không? Tại sao?........................................................
3. Hành vi phạm tội của G trong tình huống nếu trên thuộc trường
4
hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao?.....
4. Thực hiện hành vi trong tình huống trên (G bị truy tố theo khoản 3
6
Điều 104 BLHS) thì G có thể bị phạt tù cao nhất là bao nhiêu năm?
tại sao?................................................................................................... 8
Kết luận……………………………………………………………….. 9
Danh mục tài liệu tham khảo…………………………………………. 10
Phụ lục………………………………………………………………... 11
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
CTTP
Bộ luật hình sự
Cấu thành tội phạm
TNHS
Trách nhiệm hình sự
Đề bài .
Do có mâu thuẫn G (15 tuổi 6 tháng) đã dùng dao nhọn đâm Q nhiều
nhát gây thương tích cho Q. Cơ quan giám định pháp y kết luận thương tích
mà G gây ra cho Q là 65%. Hành vi phạm tội của G được quy định tại khoản
3 Điều 104 BLHS.
2
Câu hỏi:
1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS hãy phân loại tội phạm đối với tội cố ý
gây thương tích cho người khác mà G đã thực hiện? (1 đ).
2. Giả định hậu quả thương tích gây ra cho Q là 30% với hung khí là dao
nhọn thuộc khoản 2 Điều 104 BLHS thì G có phải chịu TNHS về hành vi của
mình không? Tại sao? (2đ).
3. Hành vi phạm tội của G trong tình huống nếu trên thuộc trường hợp CTTP
cơ bản, CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao? (1 đ).
4. Thực hiện hành vi trong tình huống trên (G bị truy tố theo khoản 3 Điều
104 BLHS) thì G có thể bị phạt tù cao nhất là bao nhiêu năm? tại sao? (2,5 đ).
MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển, chúng ta đang
từng bước thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. So với những
năm trước đây, đất nước ta đã giảm tỉ lệ đói nghèo, mù chữ, đời sống có phần
được nâng cao, cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển ấy, các tệ nạn xã
3
hội vẫn xảy ra, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, chưa có chiều hướng
giảm bớt1. Trong đó, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác chiếm một phần không nhỏ. Đây là một trong những tội phạm
đáng được chú ý bậc nhất, đặc biệt khi tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện. Cảm thấy đây là một vấn đề cấp thiết, ảnh hưởng vô cùng nghiêm
trọng tới đời sống xã hội, em xin chọn đề bài số 2 – một bài tập tình huống có
liên quan tới tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác để làm bài tập lớn học kỳ.
NỘI DUNG
1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, phân loại tội phạm đối với tội cố ý
gây thương tích cho người khác mà G đã thực hiện.
Tội phạm được hiểu khái quát là “hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi,
trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt” 2. Căn cứ vào tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, luật hình sự Việt Nam phân lo ại t ội
phạm thành bốn loại đó là tội phạm ít nghiêm trọng, tội ph ạm nghiêm
trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Cụ thể trong khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Tội phạm ít
nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao
nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm
trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung
hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội
phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt
đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội
phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình
phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”
Báo cáo với Chủ tịch nước trong buổi làm việc ngày 22-12-2014, lãnh đạo Vi ện
kiểm sát nhân dân tối cao cho biết, năm 2014, tình hình tội phạm ti ếp t ục diễn bi ến
phức tạp, cơ quan chức năng đã khởi tố 77.500 vụ án, tăng 1,4% so với năm 2013.
1
Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Trang 50, Nxb Công
an nhân dân, 2014.
2
4
Theo đề bài, hành vi phạm tội của G được quy định tại khoản 3 Điều
104 Bộ luật Hình sự: “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết
người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định
tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này, thì bị phạt tù từ năm năm
đến mười lăm năm.”
Trong tình huống, có chi tiết cơ quan giám định pháp y kết luận thương
tích mà G gây ra cho Q là 65%, hành vi phạm tội của G được quy định tại
khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự, trong đó mức cao nhất của khung hình
phạt được quy định là mười lăm năm tù. Như vậy, theo khoản 3 Điều 8 và
khoản 3 Điều 104 thì loại tội phạm đối với tội cố ý gây thương tích cho người
khác mà G đã thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng.
2. Giả định hậu quả thương tích gây ra cho Q là 30% với hung khí là dao
nhọn thuộc khoản 2 Điều 104 BLHS thì G có phải chịu TNHS về hành vi
của mình không? Tại sao?
5
Trước hết cần phân loại tội phạm đối với tội cố ý gây thương tích cho
người khác mà G đã thực hiện theo giả định. Với giả định này, hậu quả
thương tích gây ra cho Q là 30%. Cũng theo giả định, hung khí mà G
dùng để thực hiện tội phạm của mình là dao nhọn. Khoản 3 Nghị quyết
01/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ
Luật Hình sự có quy định: ““Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc
phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2
Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ của người khác”. Tiểu mục 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết
số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao quy định: “"Phương tiện nguy hiểm" là công cụ, dụng cụ
được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản
xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm
phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người
phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công
người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người
bị tấn công.
A. Về công cụ, dụng cụ
Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn...
B. Về vật mà người phạm tội chế tạo ra
Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ...
C. Về vật có sẵn trong tự nhiên
Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt...”
Như vậy, dao nhọn là một vật có tính sát thương cao được coi là hung
6
khí nguy hiểm, thuộc điểm a) khoản 1 điều 104 đó là “Dùng hung khí nguy
hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người ”. Vì vậy, hành vi
G được quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS: “Phạm tội gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ
31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các tr ường
hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Đi ều này, thì b ị
phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Tại khoản 2 điều 104 quy định “bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Đối chiếu với điều 8 BLHS có quy định “tội phạm nghiêm trọng là tội phạm
gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội
ấy là đến bảy năm tù”, như vậy, với giả định này thì tội cố ý gây thương tích
cho người khác mà G đã thực hiện là tội nghiêm trọng.
Thứ hai, xét về năng lực trách nhiệm hình sự của G. Theo luật hình sự
Việt Nam, người có năng lực trách nhiệm hình sự là người đã đạt độ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có
năng lực trách nhiệm hình sự. Theo đề bài, không có chi tiết nào nhắc tới G
đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất kh ả năng nh ận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, vì thế G không thu ộc
trường hợp được quy định tại điều 13 của Bộ luật hình sự. Về đ ộ tu ổi,
đề bài nêu rõ, tuổi của G là 15 tuổi 6 tháng, như vậy độ tuổi của G đ ược
quy định tại khoản 2 điều 12: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng ch ưa
đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng
do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.
Qua những phân tích trên, có thể thấy rằng, G sẽ phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Tuy
nhiên với giả định mà câu hỏi đã nêu, thì tội cố ý gây thương tích cho người
khác mà G đã thực hiện không phải là tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt
nghiêm trọng mà là tội nghiêm trọng, vì vậy, G không phải chịu trách
nhiệm hình sự về hành vi của mình.
7
3. Hành vi phạm tội của G trong tình huống nêu trên thuộc trường hợp
CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao?
Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc
trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự. 3 Có nhiều
cách phân loại cấu thành tội phạm, trong đó, dựa vào mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội được CTTP phản ánh, CTTP được chia thành ba loại là
CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng, CTTP giảm nhẹ. Để có thể phân loại hành vi
phạm tội của G trong tình huống nêu trên thuộc trường hợp CTTP cơ bản,
CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ, phải dựa vào đặc điểm của từng loại
CTTP.
CTTP cơ bản là CTTP chỉ có dấu hiệu định tội – dấu hiệu mô tả tội
phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác.
CTTP tăng nặng là CTTP mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu
hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên
một cách đáng kể so với trường hợp bình thường.
CTTP giảm nhẹ là CTTP mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu
hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội giảm xuống
một cách đáng kể so với trường hợp bình thường.
Từ đặc điểm của các loại CTTP, có thể dễ dàng nhận thấy khoản 1 điều
104 là CTTP cơ bản, theo đó hình phạt là “cải tạo không giam giữ đến ba
năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”
Hành vi phạm tội của G trong tình huống nêu trên được quy định tại
khoản 3 điều 104 như sau: “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến
chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy
định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này, thì bị phạt tù từ năm
năm đến mười lăm năm.” Như vậy, từ khoản 3 điều 4 trong BLHS, có thể
Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập I, trang 74, Nxb Công an
nhân dân, 2014
3
8
thấy những điểm sau:
• Về các dấu hiệu định khung, có thể dễ dàng nhận thấy, so với khoản
1 thì tại khoản 3 điều 104 còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm
có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng
kể, cụ thể là:
_ Tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên
_ Dẫn đến chết người
_ Tỷ lệ thương tật từ 31% - 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp
quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều 104.
• Về khung hình phạt, tại khoản 3 là từ năm năm đến mười lăm năm,
tăng lên đáng kể so với CTTP cơ bản khoản 1 là “cải tạo không
giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm .”
Như vậy, từ những phân tích trên có thể kết luận rằng, hành vi phạm tội
của G trong tình huống nêu trên thuộc trường hợp CTTP tăng nặng.
4. Thực hiện hành vi trong tình huống trên (G b ị truy t ố theo
khoản 3 Điều 104 BLHS) thì G có thể bị phạt tù cao nhất là bao
nhiêu năm? Tại sao?
Theo điều 68 BLHS thì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới
18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của
Chương X trong BLHS, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung
Bộ luật không trái với những quy định của Chương X. Theo đề bài, G 15 tuổi
6 tháng, như vậy, để xác định G có thể bị phạt tù cao nhất là bao nhiêu năm,
ngoài khoản 3 điều 104, chúng ta cần căn cứ theo những quy định của
Chương X trong BLHS, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung
Bộ luật không trái với những quy định của Chương X.
Khoản 2 điều 74 BLHS hiện hành quy định: “Đối với người từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình
9
phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng
không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất
được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.”
Áp dụng đối với trường hợp của G, khoản 3 điều 104 quy định mức hình phạt
cao nhất là mười lăm năm tù. Như vậy, đối chiếu với khoản 2 điều 74, G có
thể phải chịu mức phạt tù cao nhất là một phần hai của mười lăm năm tù, có
nghĩa là bảy năm, sáu tháng tù.
KẾT LUẬN
Như vậy, trong tình huống mà đề bài đã nêu, loại tội phạm đối với tội
cố ý gây thương tích cho người khác mà G đã thực hiện là tội phạm rất
nghiêm trọng; giả định hậu quả thương tích gây ra cho Q là 30% với hung
khí là dao nhọn thuộc khoản 2 Điều 104 BLHS thì G không phải chịu TNHS
về hành vi của mình; hành vi phạm tội của G trong tình huống nêu trên
thuộc trường hợp CTTP tăng nặng; thực hiện hành vi trong tình huống trên
(G bị truy tố theo khoản 3 Điều 104 BLHS) thì G có thể bị phạt tù cao nhất là
bảy năm sáu tháng.
Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là
một trong những tội phạm đang diễn ra với số lượng đáng báo động, đặc biệt
số người chưa thành niên phạm tội này cũng chiếm phần rất lớn. Vì vậy,
không chỉ pháp luật hình sự cần chú ý mà thực tế đòi hỏi Nhà nước ta cũng
như toàn xã hội phải có những biện pháp giáo dục hữu hiệu, cùng chung tay
phòng và chống loại tội phạm này nói riêng, mọi loại tội phạm nói chung.
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. BỘ LUẬT HÌNH SỰ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã
được sửa đổi và bổ sung năm 2009), Nxb Lao động.
2. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I,
Nxb Công an nhân dân, 2014.
3. TS. Dương Tuyết Miên, Định tội danh và quyết định hình phạt, Nxb
Lao động – xã hội, 2007
4. Bộ luật hình sự và những văn bản hướng dẫn thi hành, nxb chính trị
quốc gia, 2001
5. Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy
định của Bộ luật hình sự
6. Nghị Quyết 02/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy
định của bộ luật hình sự
7. Viện nhà nước và pháp luật, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB lao động, 2013.
8. Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an
nhân dân, 2006.
9. />
11
PHỤ LỤC
Theo số liệu của Ban chỉ đạo Đề án IV “Đấu tranh phòng, chống tội
phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên”, từ năm
2007 đến tháng 6 năm 2013, toàn quốc phát hiện gần 63.600 vụ, gồm hơn
94.300 em vi phạm pháp luật hình sự. Số vụ phạm pháp tăng gần 4.300 vụ,
bằng 6,72% so với 6,5 năm trước đó. So với tổng số vụ phạm pháp hình sự
trong toàn quốc thì số vụ án do người chưa thành niên gây ra chiếm gần 20%.
Tội phạm do người chưa thành niên gây ra chủ yếu là các tội: Trộm cắp
tài sản (21.812 vụ/33.010 đối tượng, chiếm 34,30%); Cố ý gây thương tích
(5.692 vụ/9.588 đối tượng, chiếm 8,95%); Gây rối trật tự nơi công cộng
(4.870 vụ/8.768 đối tượng, chiếm 7,65%); Cướp giật tài sản (3,76%); Cướp
tài sản (1,43%); Đánh bạc; Hiếp dâm, cưỡng dâm; Cưỡng đoạt tài sản; Giết
người và một số tội danh khác.
12
13