Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Lý thuyết nhân cách của a maslow

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (168.06 KB, 11 trang )

Lý thuyết nhân cách của a. Maslow
Abraham Harold Maslow sinh 1/4/1908 tại Brooklyn, New York. Ông là con trai đầu
lòng trong 7 người con, cha mẹ của ông là người Do Thái di cư có ít học thức đến từ Nga.
Cha mẹ ông đã hi vọng chan chứa về tương lai của đàn con tại Hoa Kỳ nên đã không
ngừng thúc giục các con chăm chỉ học tập để thành công. Không bất ngờ lắm, ông trở
thành cậu bé đơn độc và vùi đầu vào sách vở.
Để làm vui lòng cha mẹ, ông học Đại học khoa học Luật thành phố New York. Sau 3
khoá, ông chuyển sang Đại học Cornell, rồi lại trở về New York. Ông đã cưới Bertha
Goodman, người em họ gần của mình, chống lại nguyện vọng của cha mẹ. Cuối cùng họ
có với nhau 2 người con gái.
Sau đó, hai người dọn đến Wisconsin để ông có thể vào học Đại học Wisconsin. Nơi đây
ông bắt đầu cảm thấy yêu thích môn tâm lý, và kết quả học tập của ông tiến bộ hẳn lên.
Ông cộng tác với Harry Harlow, người sau này nổi tiếng về thí nghiệm của mình với
những chú khỉ thuộc chủng Rhesus bé con, rất thành công trong lĩnh vực hành vi quấn
quýt.
Ông hoàn tất cử nhân năm 1930, thạc sĩ năm 1931, và tiến sĩ vào năm 1934, tất cả đều
thuộc chuyên ngành Tâm lý thuộc Đại học Wisconsin. Một năm sau khi tốt nghiệp, ông
trở lại New York cộng tác với E. L. Thorndike tại Đại học Columbia, ở đó Maslow bắt
đầu hứng thú với nghiên cứu về dục tính nơi con người.
Sau đó ông chính thức dạy tại Đại học Brooklyn. Trong thời gian này, ông gặp gỡ rất
nhiều những học giả châu Âu di cư đến Hoa Kỳ, nhất là ở Brooklyn vào thời đó như
Adler, Froomm, Horney và vài học giả nhóm Hình thái và nhóm Freudian.
Sau đó, ông giữ chức vụ trưởng ban Tâm lý tại Đại học Brandeis từ 1951 đến 1969.
Trong thời gian này ông gặp Kurt Goldstein, người đã có tư tưởng về khái niệm giác ngộ
trong cuốn sách nổi tiếng Một Cơ Quan (The Organism) xuất bản năm 1934. Cũng tại
đây Maslow bắt đầu hành trình xây dựng học thuyết nhân văn học tâm lý - một công trình
có tầm quan trọng đặc biệt đối với ông.
Ông trãi qua những năm cuối đời mình trong tình trạng vừa làm việc vừa nghỉ hưu tại
California cho đến khi qua đời vào 8/6/1970 do một cơn đau tim sau nhiều năm sức khỏe
sa sút.
Maslow là đại diện quan trọng nhất trong tâm lý học nhân văn, được coi là nhân vật dựng


lên chủ nghĩa nhân văn hay lực lượng thứ 3 với luận điểm cho rằng bản chất của con
người là tốt đẹp.
Tâm lý học nhân văn ra đời như là một khuynh hướng đối lập với tâm lý học hành vi và
phân tâm học. Những nhà tâm lý học nhân văn đếu có chung những tư tưởng là tôn trọng
con người, tôn trọng giá trị sáng tạo, và trách nhiệm con người, tôn trọng các phẩm giá cá
nhân con người, coi hiện thực là cơ bản duy nhất trong đời sống con người.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT NHÂN CÁCH CỦAA. MASLOW
1.1. Khái niệm chung về nhân cách và nhu cầu trong tâm lý học
- Nhân cách là sự tổng hoà không phải các đặc điểm cá thể của con ngưòi mà chỉ là
những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội nói lên bộ mặt tâm


lý – xã hội, giá trị và cốt cách làm ngưòi của mỗi cá nhân (Tâm lý học đại cưong).
- Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là đòi hỏi
tất yếu mà con ngưòi (vật) thấy cần đưọc thoã mãn để tồn tại và phát triển.
1.2. Lý thuyết nhân cách của A. Maslow
1.2.1. Các khái niệm công cụ
- Lý thuyết là một hệ thống các ý tưởng liên kết với nhau theo một cách nhất định và
hướng tới sự lý giải những sự kiện quan sát được, là một mô hình mang tính giả định suy
đoán do đó nó có thể đúng, gần đúng hoặc không đúng.
- Lý thuyết nhân cách là những suy đoán giả định về bản chất của con người, về cách mà
con người ứng xử. Có hai chức năng cơ bản là chức năng lý giải và chức năng dự đoán
hành vi.
- Theo Maslow bản chất nhân cách là nhân tính con người và cho rằng tính xã hội nằm
trong bản chất con người. Những nhu cầu như giao tiếp, tình yêu, lòng kính trọng đều có
tính chất bản năng, đặc trưng cho giống người.
- Nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để
tồn tại và phát triển. Tuỳ theo trình độ nhận thức môi trường sống, những đặc điểm tâm
sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người

hoạt động và là một phần quan trọng trong bản chất của con người.
1.2.2. Lý thuyết nhu cầu của Maslow
A. Maslow đã phát triển một trong các học thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa
nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo
dục. Đó là lý thuyết về thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người. Trong lý
thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự thứ bậc,
trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp
hơn phải được thỏa mãn.
A. Maslow cho rằng trong sự phát triển của mình, con người trải qua nhiều giai đoạn để
hướng tới chỗ phát huy toàn bộ tiềm năng của bản thân. Có ít người đạt đến trình độ phát
triển cao nhất. Những người này được gọi là phát huy được bản ngã. Phần lớn mọi người
dừng lại ở những trình độ thấp hơn. Maslow đã không dành nhiều sự quan tâm cho số
đông mà cho số ít những người đạt đến sự phát triển cao nhất. Ông nhìn nhận họ như
những ngọn hải đăng, soi đường cho nhân loại tiến tới sự phát huy toàn bộ tiềm năng của
mình.
Lý thuyết của Maslow đề cập đến những vấn đề lí luận chủ yếu sau đây:
- Sự khác biệt cá nhân: các cá nhân khác nhau ở vị trí của họ trong Thang bậc nhu cầu,
tức là ở trình độ phát triển trong sự phát huy bản ngã. Những người phát huy được bản
ngã là những người phát huy được toàn bộ tiềm năng có một không hai của mình.
- Sự thích nghi: chỉ có một số ít người đạt đến trình độ phát triển cao nhất là trình độ phat
huy bản ngã.
- Các quá trình nhận thức: những người phát huy được bản ngã thường nhìn nhận thế giới
chính xác và phân biệt với những người khác ở tính sáng tạo.
- Xã hội: có thể hình dung một xã hội hoàn thiện hơn. Cần làm nên những thay đổi trong
các cơ sở đào tạo, trong các cơ sở sản xuất và trong các trụ sở tôn giáo. Để kích thích sự
phát triển, có thể tổ chức các trung tâm nâng cao.
- Sự ảnh hưởng sinh học: các động cơ mang tính sinh học là cơ sở của nhân cách, nhưng
chúng sẽ mất ý nghĩa ngay sau khi đã thỏa mãn. Điều kiện sinh học có ảnh hưởng đến
giới tính.



- Sự phát triển của trẻ em: cần thỏa mãn những nhu cầu sinh lý của trẻ, nhu cầu yêu
thương, nhu cầu an toàn và nhu cầu được tôn trọng. Những thay đổi trong hệ thống nhà
trường có thể tạo điều kiện cho sự phát triển.
- Sự phát triển người lớn: chỉ có một số ít người lớn đạt đến sự phát huy toàn bộ tiềm
năng của bản thân. Tình trạng náy có thể thay đối được bằng con đường giáo dục và sản
xuất.
Chương 2: MỘT SỐ CÁCH TIẾP CẬN LÝ THUYẾT NHU CẦU CỦA A. MASLOW
2.1. Các đơn vị cấu trúc trong lí thuyết nhu cầu của Maslow
2.1.1. Cấu trúc nhân cách
Trong những năm đầu tiên của sự nghiệp tâm lý của mình, Maslow phát hiện ra những
con khỉ do ông thí nghiệm luôn có 1 số nhu cầu đặc biệt quan trọng hơn những nhu cầu
khác. Chẳng hạn giữa đói và khát, nhu cầu khát phải được ưu tiên trước. Và vì thế nhu
cầu khát quan trọng hơn nhu cầu đói . Nếu phải chọn giữa đáp ứng nhu cầu khát và nhu
cầu khỏi bị kim chích đau đớn, nhu cầu tránh bị kim chích sẽ cao hơn. Rồi phải chọn giữa
chích kim và không khí để thở, nhu cầu cần được thở sẽ thắng, còn nhu cầu tính dục xem
ra vẫn chưa phải là nhu cầu quan trọng nhất.
Ông nhận ra ý nghĩa áp dụng của khám phá này và xây dựng 1 hệ thống nhu cầu theo cấp
bậc rất nổi tiếng. Trong hệ thống này, ông đưa ra 5 nấc thang nhu cầu có nội dung bao
hàm hơn, được xếp theo thứ tự từ nhu cầu vật chất cơ bản cần thiết đến nhu cầu tinh thần
nâng cao như sau :
- Nhu cầu sinh lý (hysiological needs )
- Nhu cầu về an toàn ( safety needs )
- Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc
(Love and Belongingness)
- Nhu cầu về được tôn trọng ( esteem needs )
- Nhu cầu được thể hiện mình ( self – actualizing needs )
Việc sắp xếp nhu cầu theo thang bậc từ thấp đến cao cho thấy độ “dã man” người giảm
dần và độ “văn minh” của con người tăng lên.
Sau đó, vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp này đã được Maslow hiệu chỉnh thành

7 bậc và cuối cùng là 8 bậc.
- Nhu cầu sinh lý (Physiological needs )
- Nhu cầu về an toàn ( safety needs )
- Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc
(Love and Belongingness)
- Nhu cầu về được tôn trọng ( esteem needs )
- Nhu cầu về nhận thức ( cognitive needs )
- Nhu cầu về thẩm mỹ ( aesthetic needs )
- Nhu cầu được thể hiện mình ( self – actualizing needs )
- Nhu cầu được giác ngộ ( transcendence )
Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow được thể hiện dưới dạng 1 hình kim tự tháp, các
nhu cầu bậc thấp thì xếp phía dưới ..


Các loại nhu cầu này được chia làm nhu cầu cấp thấp và nhu cầu cấp cao.
Nhu cầu cấp cao :
+ Nhu cầu được thể hiện mình
+ Nhu cầu được tôn trọng
+ Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc
Nhu cầu cấp thấp :
+ Nhu cầu an toàn
+Nhu cầu sinh lý
Bốn mức nhu cầu đầu tiên ông gọi đó là nhóm nhu cầu thiếu hụt. Còn ở mức thứ năm,
ông chia nhỏ hơn: nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu sáng tạo, nhu cầu hiểu biết..ông gọi là nhóm
các nhu cầu phát triển. Sự phân chia này tuy theo thang bậc nhưng nó không phải là cố
định mà chúng linh hoạt, thay đổi tuỳ theo điều kiện cụ thể.
Maslow cho rằng nhu cầu sinh lý là mạnh nhất, còn nhu cầu được thể hiện mình là nhu
cầu yếu nhất. Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc là nhu cầu vừa cấp thấp
vừa cấp cao.
Các nhu cầu cấp thấp thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này.

Với 1 người bất kì, nếu thiếu ăn thiếu uống, họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ
đẹp, sự tôn trọng …
Những nhu cầu này xuất hiện theo thứ tự trong quá trình phát triển chủng loại, cũng như
phát triển của cá nhân. Đồng thời đây cũng là thứ tự thỏa mãn các nhu cầu đó. Nếu nhu
cầu cấp thấp không được thỏa mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thể thực hiện được.
Con người sống trong điều kiện nghèo nàn thì chỉ chú ý đến điều kiện thỏa mãn nhu cầu
sinh lý và an toàn. Sống trong điều kiện giàu có khi nhu cầu cấp thấp không còn đáng lo
lắng nữa thì người ta chú ý đến nhu cầu cấp cao. Nhu cầu được thể hiện mình là nhu cầu
cao nhất nhằm phát triển tiềm năng của cá nhân. Nhu cầu này khác nhau ở mỗi người vì
mỗi người đều có tiềm năng riêng khác nhau. Có người có nhu cầu tự thực hiện trên lĩnh
vực văn chương, người khác thì có nhu cầu lãnh đạo…Những nhu cầu này không bị sự
kiểm soát của xã hội, nhưng không phải ai cũng thực hiện được nhu cầu này bởi vì còn
những nhu cầu khác chưa thực hiện được…Maslow cho rằng tính xã hội nằm trong bản
năng của con người. Những nhu cầu như giao tiếp, tình yêu, lòng kính trọng đều có tính
chất bản năng đặc trưng cho giống người . “Tính người” của nhu cầu và các xung động
của con người được hình thành và phát triển trong quá trình phát sinh chủng loài, các nhu
cầu đều dựa trên cơ sở di truyền nhất định. Vì vậy, học thuyết nhu cầu của Maslow có
điểm giống học thuyết Freud.
2.1.1.1. Nhu cầu sinh lý (Physiological needs )
Nhu cầu này bao gồm những nhu cầu về khí oxy, nước uống, chất đạm, muối, đường,
canxi và những sinh tố vi lượng khác. Những yêu cầu này giúp cơ thể duy trì 1 độ pH cân
bằng ( không quá kiềm và không quá axit ), một nhiệt độ ổn định 37 độ C, những nhu cầu
vận động nghỉ ngơi, bài tiết giữ cho cơ thể ấm áp khi trời lạnh, mát mẻ khi trời nóng,
tránh thương tật đau đớn. Nhu cầu tính dục sinh sản cũng thuộc nhóm này.
Maslow tin như thế vì kết quả nghiên cứu đã ủng hộ ông đây là những nhu cầu cần thiết
của từng cá nhân một. Chẳng hạn như thiếu vitamin C, cơ thể sẽ tìm đến những loại thức
ăn có chứa vitamin C. Ví dụ thường thấy ở các phụ nữ khi mang thai.
Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người
không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh



để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.
2.1.1.2. Nhu cầu an toàn (Safety needs)
Khi những nhu cầu sinh lí được bảo đảm và đáp ứng đầy đủ, 1 cá nhân thường có xu
hướng đi tìm cho mình 1 hoàn cảnh sống an toàn ổn định và được bảo vệ. Họ có những
nhu cầu mới về trật tự an toàn, nơi sống cần có tổ chức và những quy định giới hạn cụ
thể.
Lúc này cơ thể không còn thật sự quan tâm đến chuyện ăn mặc, nhưng có những lo lắng
băn khoăn về sự an toàn trong môi trường sống như: khu dân cư an toàn, công việc làm
chắc chắn và ổn định. Họ nhắm đến tích lũy cho tương lai ngày mai. Họ lo về thất
nghiệp, bệnh tật tốn kém…nói chung là những nỗi lo vừa có cơ sở và cả những nỗi lo vô
căn cứ khác.
Nhu cầu an toàn và an ninh thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần .
Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp nguy khốn
đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ…Trẻ con thường hay biểu lộ sự
thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt, khóc đòi cha mẹ,, mong muốn được vỗ về.
Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là do nhu cầu an
toàn này (tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần).
Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để giành tiết
kiệm…cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này.
2.1.1.3. Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc
(Belongingness and love )
Sau khi nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn được thỏa mãn, nhu cầu tình cảm và được
chấp nhận là nhu cầu kế tiếp. Bây giờ một cá nhân có nhu cầu về một người bạn tình, một
vài người bạn thân, xây dựng gia đình, có con cái, được quan tâm và được chia sẻ. Nhiều
cá nhân cảm thấy sợ cô đơn, cảm thấy mình thiếu vắng. Họ có những lo lắng về mặt xã
hội. Đây là những ưu tư thường gặp hằng ngày. Chúng ta muốn tổ chức đám cưới, muốn
xây dựng gia đình hạnh phúc, tham gia các công việc cộng đồng, đi nhà thờ tham gia hội
đoàn, gia nhập câu lạc bộ, đi chơi công viên, ngay cả việc chúng ta chọn những công việc
có cơ hội tiếo xúc với con người.

Để đáp ứng nhu cầu này, nhiều công ty tổ chức cho nhân viên cắm trại ngoài trời, chơi trò
chơi tập thể, nhà trường áp dụng các biện pháp làm việc theo nhóm, các tổ chức Đoàn,
Đội được giao trách nhiệm tập hợp các em , định hướng các em vào những hoạt động bổ
ích. Kết quả cho thấy: các hoạt động chung, hoạt động ngoài trời đem lại kết quả tốt cho
tinh thần và hiệu suất công việc nâng cao.
Kinh nghiệm giảng dạy của nhiều giáo viên cũng đưa đến kết luận: phần lớn các em học
sinh sống trong các gia đình hay bất hòa, thiếu tình thương thường có kết quả học tập
không cao như các em khác.
2.1.1.4. Nhu cầu được tôn trọng ( esteem needs )
Maslow chia nhu cầu này thành 2 nấc nhỏ hơn:
Nhu cầu được người khác tôn trọng với những giá trị tinh thần khác như danh dự, địa vị,
vinh quang, được công nhận, được chú ý, có những tiếng khen tốt, được đánh giá cao, cả
việc được thống trị và điều khiển người khác
Nhu cầu cao hơn là nhu cầu tự trọng như niềm tự hào, tự tin, có khả năng ,đạt được thành
quả, thành tựu, khả năng độc lập tự do. Theo Maslow, một khi chúng ta đã có lòng tự
trọng, sẽ khó có ai lấy chúng khỏi tay ta được.


Nếu không thỏa mãn được nhu cầu này, một cá nhân sẽ rơi vào trạng thái không có lòng
tự trọng, hoặc có nhưng thấp. Họ vướng vào mặc cảm khiếm khuyết. Maslow đồng ý với
Adler rằng phải có một nguyên nhân nào đó là cội rễ của những bất ổn về mặt tâm lí.
Trong cuộc sống hiện đại, chúng ta không còn phải quá sức lo lắng đến nhu cầu vật chất
và nhu cầu an toàn. Chúng ta tương đối bằng lòng với đời sống tình cảm của mình. Tuy
nhiên, nhu cầu được tôn trọng đối với một số người xem ra vẫn còn là một vấn đề khó đạt
được.
Khi một người được khích lệ, khen thưởng về thành quả lao động của mình, họ sẵn sàng
làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn. Kinh nghiệm giáo dục chỉ ra rằng: các hành động
bêu xấu học sinh trước lớp chỉ dẫn đến hậu quả tồi tệ hơn về mặt giáo dục, tâm lí.
Nhà sư phạm lỗi lạc Makarenco trong suốt cuộc đời dạy dỗ trẻ em hư, khi được hỏi bí
quyết nào đê sửa trị các em, ông nói “ Tôn trọng và yêu cầu cao” .Bản chất tâm lí con

người ai cũng muốn được tôn trọng, chạm đến lòng tự trọng là chạm đến điều sâu và đau
nhất, là điểm tử huyệt nhất của con người.
Tất cả 4 nhu cầu vừa nêu trên ông đặt tên là nhu cầu D – needs. Chữ D được viết tắt của
chữ thiếu thốn. Có nghĩa là nếu không được thỏa mãn những nhu cầu trên, 1 cá nhân sẽ
rơi vào tình trạng thiếu hụt và các nhu cầu này cần phải được đáp ứng. Khi các nhu cầu D
– needs này được thỏa mãn, ta sẽ không còn động cơ nữa và sẽ chuyển dần theo nấc
thang cao hơn.
Ông còn nói về những nhu cầu trên qua một khái niệm sinh học hằng định nội môi, một
trạng thái tự điều chỉnh để bảo đảm tính ổn định cho những chức năng vận động bên
trong cơ thể, dù cho có sự thay đổi ở môi trường bên ngoài. Khi cơ thể cần một loại vật
chất nào đó, tự động sẽ có một sự khao khát, nhưng sau khi cơ thể được thỏa mãn sẽ
không còn cảm giác thèm muốn nữa. Điều này giúp cơ thể cân bằng: không quá thiếu và
không quá dư. Tất cả những nhu cầu trên có lối vận hành tương tự như thế, song đôi lúc
chúng ta thường không nhận ra.
Maslow tin rằng, tất cả những nhu cầu D – needs trên rất cần thiết cho nhu cầu sinh tồn.
Ngay cả nhu cầu tình cảm và được tôn trọng cũng rất cần thiết để duy trì một cơ thể lành
mạnh. Ông cho rằng tất cả chúng ta có những nhu cầu này được cài đạt sẵn bên trong qua
ngả di truyền học, giống như bản năng vậy. Ông đã đặt tên cho chúng là bán – bản năng
(íntinctoid – instinct – like).
Nói theo mô hình phát triển, chúng ta trải qua từng cấp độ nhu cầu tương tự như quá trình
chúng ta trải qua nhữg giai đoạn phát triển. Khi còn là trẻ sơ sinh, chúng ta cần đến nhu
cầu sinh lí qua những chăm sóc từ bên cha mẹ . Rồi sau đó các em bé cần có nhu cầu
được an toàn. Rồi lớn hơn một chút, ta muốn được người khác chú ý và quan tâm. Lớn
hơn nữa, ta có nhu cầu được tôn trọng và tự trọng. Những nhu cầu này có thể phát triển
trước khi bé biết nói. Dưới những điều kiện đầy áp lực, hoặc khi những nhu cầu sinh tồn
bị đe dọa, chúng ta có thể có xu hướng quay ngược trở lại quá khứ với nấc nhu cầu thấp
hơn. Khi ta bị thất nghiệp hoặc bị sa thải khỏi sở làm, ta sẽ quay trở về với trạng thái
khiêm tốn hơn trước đó. Khi mất tất cả những địa vị cao sang và rơi vào sa cơ thất thế,
chúng ta thường nghĩ đến những bảo đảm kinh tế trước mắt.
Tình trạng này cũng xảy ra trên bình diện xã hội rộng lớn. Khi kinh tế của một khu vực

hay một nước có những thay đổi, công dân của khu vực và những quốc gia ấy thường có
những biểu hiện lo lắng dưới nhiều cung bậc khác nhau có thể nhận ra rất rõ. Khi chiến
tranh xảy ra, người ta nhốn nháo bỏ làng bỏ phố đi sơ tán. Thiên tai bão lụt bao giờ cũng
có những tác động tâm lí nhất định lên những người bị nạn và cả những người sinh sống


xa cách với vùng bị nạn.
Maslow đề nghị rằng khi hỏi một cá nhân mô tả về mô hình cuộc sống lý tưởng trong
tương lai sẽ cho ta một cái nhìn tương đối chính xác về những nhu cầu nào cá nhân ấy
đang thiếu. Vì trong tâm thức chung, chúng ta thường nói về những điều chúng ta chưa
có.
Nếu một cá nhân có những vấn đề khó xử hoặc không có những phát triển thuận lợi –
nhất là trong lúc thật cô đơn, bị hắt hủi, bị lạm dụng và ngược đãi, đói khát, lo lắng, sợ
hãi, cha mẹ li dị, chứng kiến cảnh người thân nằm xuống, như vậy cá nhân có thể bi kẹt,
khựng trong nhu cầu đó trong suốt phần đời còn lại của mình.
Đây là cách mà Maslow đã nhìn và hiểu về bệnh thần kinh. Ví dụ bạn trải qua kinh
nghiệm chiến tranh lúc còn là một đứa trẻ, chứng kiến nhiều tháng ngày đói khát vì khan
hiếm thức ăn. Khi có đầy đủ điều kiện, bạn vẫn có thói quen dự trữ thức ăn vì ám ảnh bởi
những tháng ngày thiếu hụt. Hoặc nếu một chàng trai chứng kiến cảnh bố mẹ li dị lúc anh
còn bé, giờ đây có một người vợ lí tưởng, anh vẫn lo lắng bồn chồn, thầm ghen và lo sợ.
Anh chàng cứ ám ảnh với ý nghĩ một ngày nào đó vợ anh sẽ bỏ anh ra đi như bố mẹ anh
đã chia tay khi anh còn nhỏ.
2.1.1.5. Nhu cầu về nhận thức, hiểu biết (Cognitive)
Theo Maslow nhu cầu nhận thức là học để hiểu biết, góp phần vào kiến thức chung.
Loài người là những sinh vật có suy nghĩ, với bộ não phức tạp đòi hỏi có kích thích tư
duy. Chúng ta bị thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh mẽ về nhận thức muốn biết quá khứ của
mình để hiểu biết những bí ẩn của cuộc sống hiện tại , để đoán trước tương lai. Sức mạnh
của các nhu cầu này giúp các nhà khoa học cống hiến cuộc đời mình cho các cuộc truy
tìm kiến thức mới.
2.1.1.6. Nhu cầu về thẫm mĩ (Aesthetic)

Ham muốn của con người với cái đẹp, ham muốn hiểu biết về nhứng gì thuộc nội tại, sự
yên bình làm nảy sinh phương diện sáng tạo của con người.
2.1.1.7. Nhu cầu được thể hiện mình ( Nhu cầu phát huy bản ngã )
Nhu cầu về tự thể hiện bản thân ( Self-actualization )- biết chính xác bạn là ai, bạn đang
đi đâu và bạn muốn hoàn thành những gì. Một trạng thái của sự thành đạt.
Maslow mô tả nhu cầu này như sau: nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính
mình, được làm những cái mà mình “ sinh ra để làm”.
Nhu cầu phát huy bản ngã là nhu cầu phát triển đầy đủ và triệt để các tiềm năng cá nhân
của con người. Các nhạc sĩ phải sáng tác nhạc, các họa sĩ phải vẽ, các thi sĩ phải viết nếu
họ muốn cảm thấy hài lòng với chính mình. Con người có thể là gì thì họ phải là như thế.
Họ phải là đúng với bản tính của họ.
Chúng ta có thể thấy nhiều người xung quanh mình, khi đã đi đến đoạn cuối của sự
nghiệp thì lại luôn hối tiếc vì mình đã không được làm việc đúng như khả năng, mong
ước của mình. Có nhiều trường hợp, một người đang giữ một vị trí cao trong công ty
nhưng vẫn ra đi vì muốn thực hiện các công việc mà mình muốn. Đó là việc đi tìm kiếm
các cách thức mà năng lực, trí tuệ , khả năng của mình được phát huy và mình cảm thấy
hài lòng về nó.
Vì không phải ai cũng có thể phát huy được bản ngã nên Maslow cho rằng những người
phát huy bản ngã là người đã thỏa mãn thích đáng bậc thang các nhu cầu.
Maslow cũng nghiên cứu vấn đề những sự cản trở con người đạt đến trình độ phát huy
bản ngã. Theo ông, con người thường xuyên va chạm với những tinh huống, trong đó họ
cần phải lựa chọn giữa sự phát triển và sự an toàn . Nhưng chỉ sự lựa chọn phát triển mới


dẫn chúng ta đến gần với sự phát huy bản ngã.
Những người cần phải lựa chọn giữa sự an toàn và sự phát triển
AN TOÀN ◄▬▬▬► PHÁT TRIỂN
Một số người lựa chọn sự an toàn. Họ cảm thấy phát triển là nguy hiểm với họ
CHẤP NHẬN ◄▬▬▬ NGUY HIỂM
Một số người khác lựa chọn sự phát triển. Họ cảm thấy sự an toàn là buồn tẻ với họ

BUỒN TẺ ▬▬▬► TIÊU KHIỂN
Sự lựa chọn giữa an toàn và phát triển – Theo Maslow
2.1.1.8. Giác ngộ (Nhu cầu về tự tôn bản ngã ( Self- transcendence))
Một trạng thái siêu vị kỉ hướng đến trực giác siêu nhiên, lòng vị tha, hòa hợp, bác ái.
Nhu cầu vươn tới cái siêu việt có thể dẫn tới các trạng thái cao hơn của ý thức và một cái
nhìn có tính vũ trụ xem bản thân như một phần của vũ trụ . Rất ít người có ham muốn
chuyển động ra ngoài cái Tôi để hòa nhập với các sức mạnh tâm linh.
Đây là bậc phát triển cuối cùng trong nấc thang nhu cầu. Đã có lần ông gọi đây là động
cơ phát triển để đối nghịch với khái niệm động cơ vì thiếu hụt. Có lúc ông gọi đây là B –
needs. B là viết tắt của chữ hiện hữu để đối chiếu với D – needs, vốn là nhóm 4 nhu cầu
một cá nhân phải thỏa mãn trước khi một cá nhân có thể đạt đến cảnh giới nhu cầu cao
nhất này.
Những nhu cầu không liên hệ đến cân bằng hằng định nội môi, là những nhu cầu không
bao giờ bão hòa. Khi đạt đến cảnh giới này, một cá nhân luôn cảm nhận được nhu cầu
này là rất thật, càng cảm nhận, họ càng thấy mình sung mãn hơn. Đây là những nhu cầu
liên hệ đến cảm xúc khát khao liên tục vươn đến tiềm năng, trở thành trọn vẹn trong ý
nghĩa làm người của mình. Đây là nhu cầu thúc đẩy con người trở thành toàn diện, sung
mãn nhất. Là khả năng nhận ra chính chân giá trị của mình. Vì thế đây là cảnh giới giác
ngộ mà nhiều người còn hiểu qua danh từ đắc đạo.
Để đạt được cảnh giới này, trước hết một cá nhân phải không còn ưu tư về cái ăn cái mặc
nữa. Họ sẽ không còn quan tâm đến sự an nguy và những nhu cầu tình cảm. Họ sẽ không
màng đến danh lợi và không con quan trọng hóa chuyện mình có được tôn trọng hay
không? Theo Maslow, ngày nào một cá nhân còn bị những nhu cầu D – needs chi phối,
họ sẽ khó đạt được những nhu cầu B – needs. Ta không thể bước vào giới cảnh cao hơn
khi những nhu cầu căn bản thấp hơn chưa được đáp ứng thỏa mãn.
Vì thế, chỉ có một phần rất nhỏ sống trên hành tinh này có thể đạt được giới cảnh giác
ngộ một cách trọn vẹn hoàn toàn thật sự. Đã có lúc Maslow đề nghị rằng có khoảng 2 %
trong chúng ta đạt được cảnh giới này.
- Maslow không nghĩ rằng cảnh giới giác ngộ là hoàn hảo
2.1.2. Động cơ hệ

Maslow cho rằng hệ thống nhu cầu, quá trình nhận thức, triệu chứng nhân cách và năng
lực, tất cả những yếu tố này tạo nên động lực thúc đẩy hành vi con người. Động cơ thúc
đẩy mạnh mẽ nhất là nhu cầu. Nhu cầu là động lực thúc đẩy hành vi. Hành vi của con
người bị dẫn dắt bởi 1 chuỗi nhu cầu. Nhu cầu sinh ra động cơ, động cơ là ý lực làm thỏa
mãn nhu cầu.
Theo Maslow nhu cầu là một phần quan trọng trong bản chất của con người, con nguời
muốn và luôn đấu tranh để thỏa mãn những nhu cầu khác nhau. Xuất phát từ việc những
nhu cầu bậc thấp bao giờ cũng cần thiết và quan trọng hơn, nên chúng sễ đóng vai trò như
nguồn và định hướng của một mục tiêu cá nhân nếu những nhu cầu này không được thỏa


mãn. Sau khi những nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn, những nhu cầu cao hơn sẽ là động
cơ hành động. Những nhu cầu chưa được thỏa mãn ở bậc dưới sẽ lấn át những nhu cầu
chưa được thỏa mãn ở bậc cao hơn, và chúng cần được thỏa mãn trước khi một cá nhân
tiến lên các bậc cao hơn của tháp nhu cầu.
Con người cá nhân hay con người trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu. Sự thỏa
mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động. Nhu cầu được thỏa mãn tối
đa là mục đích hành động của con người
VD: “Tại sao người ta đi làm?” Maslow đã đưa ra cách lý giải: người ta đi làm để kiếm
sống, và như vậy thỏa mãn được nhu cầu tồn tại (Physiological needs).
2.1.3. Sự phát triển nhân cách
Trong sự phát triển của mình, con người trải qua nhiều giai đoạn để hướng tới chỗ phát
huy toàn bộ tiềm năng của bản thân. Có ít người đạt đến trình độ phát triển cao nhất.
Những người này được gọi là phát huy bản ngã.
Nhu cầu của con người thay đổi từ ấu thơ - trưởng thành - già: nhu cầu sinh lí - nhu cầu
an toàn - nhu cầu được yêu thương - nhu cầu được tôn trọng -nhu cầu phát huy bản ngã.
Con người sẽ cố gắng thỏa mãn trước hết là những nhu cầu quan trọng nhất. Khi người ta
đã thỏa mãn được một nhu cầu quan trọng nào đó thì nó sẽ không còn là động cơ hiện
thời nữa và người ta lại cố gắng thỏa mãn nhu cầu quan trọng tiếp theo.
Không có ai chịu dừng tại một cấp độ trên tháp nhu cầu trong một thời gian dài. Con

người luôn luôn đấu tranh để tiến lên, trong khi cùng lúc rất nhiều yếu tố khác nhau ngoài
tầm kiểm soát của họ lại luôn tác động theo hướng đẩy họ xuống các bậc thấp hơn.
Những người đang ở các bậc cao đôi khi bị tụt bậc trong một thời gian ngắn nào đó,
chẳng hạn như khi họ bị mất người thân, hay khi một ý tưởng mà họ tâm đắc đã không
thành hiện thực. Còn những người ở bậc dưới phía đáy có thể ngoi lên bậc trên vì lí do
nào đó, chẳng hạn như khi họ trúng thưởng xổ số.
Nhân cách thay đổi đáng kể, con người tạo dựng nên nhân cách của mình trong suốt cuộc
đời khi tạo ra cho mình những nhu cầu.
2.1.4. Tâm bệnh lí
Maslow cho rằng một số người không thể thích nghi được với những yêu cầu của xã hội,
không thể hành xử có hiệu quả trong xã hội, một số người lại thể hiện những hành vi
bệnh lý hoặc không tương thích trong cuộc sống hằng ngày là do họ không được thỏa
mãn nhu cầu.
Chẳng hạn như khi nhu cầu được tôn trọng của con người không được thỏa mãn cá nhân
sẽ rơi vào trạng thái không có lòng tự trọng (hoặc có nhưng thấp). Họ vướng vào mặc
cảm khuyếm khuyết. Hoặc nếu một cá nhân có những vấn đề khó xử hoặc không có
những phát triển thuận lợi – nhất là trong lúc thật cô đơn, bị hắt hủi, bị lạm dụng và
ngược đãi, đói khát, lo lắng, sợ hãi, cha mẹ li dị, chứng kiến cảnh người thân nằm xuống
như vậy cá nhân có thể bị kẹt / khựng trong nhu cầu đó trong suốt cả phần đời còn lại của
mình. Đây là cách mà Maslow đã nhìn và hiểu về bệnh thần kinh.
Nếu nhu cầu về xã hội không được thỏa mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra những bệnh trầm
trọng về tinh thần. Những người độc thân thường hay mắc bệnh về tiêu hóa, thần kinh, hô
hấp hơn những người sống với gia đình, sự cô đơn có thể giết chết con người.
Ngoài ra, Maslow còn đề cập đến trạng thái bệnh lý tinh thần đó là vấn đề của người đạt
cảnh giới giác ngộ khi không được thỏa mãn nhu cầu hiện hữu (B – needs), tức những
điều kiện môi trường với các đặc tính để duy trì trang thái cân bằng nhằm đạt được hanh


phúc như: sự thật – thay vì giả dối, tính thiện – thay vì độc ác, cái đẹp – thay vì xấu xa
dung tục, có ý nghĩa – thay vì vô nghĩa và trống trãi…Khi những người đạt cảnh giới giác

ngộ không thỏa mãn những nhu cầu tinh thần này, họ vấp phải những trạng thái bệnh lý
tinh thần.Tóm lại, khi bị ép sống trong những hoàn cảnh không có giá trị nhân văn,họ sẽ
gặp phải những căn bệnh như: trầm uất, vô vọng, ghê tởm, cô đơn co cụm, và có thể
chuyển sang một não thức hằn học nhất định nào đó.
Thông qua phương pháp nghiên cứu đặc tính và qua những phân tích tiểu sử Maslow hi
vọng rằng với những cố gắng trong việc mô tả về những con người đạt giới cảnh giác
ngộ, ông sẽ có thể tạo ra một bảng hệ thống tuần hoàn về những nhóm đức tính, các vấn
đề và những trạng thái bệnh lý. Ông mong rằng từ bảng tóm tắt này chung ta có thể đưa
vào những biện pháp xử lý những bậc nhu cầu và xây dựng những tiềm năng cao hơn của
con người. Theo thời gian, những cố gắng của ông càng được khuyến khích, không chỉ
với học thuyết của ông, mà cả với tâm lý học nhân văn và những phong trào về tiềm năng
của con người.
2.1.5. Sức khỏe tâm lí
Một tổng quan ngắn gọn trong học thuyết của Maslow ngay khi bắt đầu đã nói rõ học
thuyết của ông chú trọng đến vấn đề người khoẻ mạnh về mặt tâm lý. Như ông thường
lưu ý, nhiều người tiền nhiệm và đồng nghiệp của ông, kể cả Freud và thậm chí Rogers
đã dành phần lớn thời gian của mình cho việc nghiên cứu những người bệnh hoạn, bị xáo
trộn về tâm lý. Họ thường cố gắng tổng quát hoá từ những người què quặt về cảm xúc
này để trình bày tâm lý học về người bình thường, Maslow biện luận rằng phương pháp
này không thích hợp và rủi ro. Đa số mọi người đều bình thường và khoẻ mạnh chỉ thiểu
số nhỏ là “khác thường” và có thể theo đúng sự mô tả của ông về nhân vị đầy đủ. Do đó,
không giống như đa số các học thuyết khác, học thuyết của Maslow được hướng vào sự
nghiên cứu, tìm hiểu các kinh nghiệm và nhân vị đầy đủ bình thường.
Maslow cho rằng một nhân cách khoẻ mạnh là nó được thỏa mãn mọi nhu cầu cho sự tồn
tại và phát triển, nó đạt được sự tự thể hiện đầy đủ tiềm năng của bản thân nhưng không
bao giờ có thể đạt được một cách hoàn toàn. Nói đúng hơn, đó là một quá trình tiếp diễn
bao hàm sự phấn đấu liên tục để đáp ứng các siêu nhu cầu hay các giá trị B. Do đó, cá
nhân đạt được một mức độ phát triển cao hơn. Tuy nhiên, Maslow thấy việc xem xét các
đặc điểm của người tự hiện thực hoá lý tưởng là điều hữu ích. Nhân cách đầy đủ này
được mô tả như là một tổng thể tiếp nhận kinh nghiệm, không phòng thủ, tự phát và được

định hướng bởi vấn đề.
Maslow đã làm rất nhiều điều để đi đến mô tả các đặc điểm của người tự thể hiện đầy đủ
tiềm năng bản thân và các hành vi dẫn tới sự tự thể hiện đầy đủ tiềm năng của bản thân,
bao gồm các đặc điểm sau:
Sự cân bằng các chiều phân cực trong nhân cách.
Các cảm giác về mối quan hệ họ hàng và sự gắn bó chặt chẽ với loài người.
Nhận thức rõ ràng, hiệu quả về thực tại và các quan hệ thoải mái với thực tại.
Sự tự trị độc lập với văn hoá và môi trường.
Tính tự phát, tinh đơn giản và tính tự nhiên.
Sự phân biệt hợp với luân thường đạo lý đối với phương tiện và cứu cánh, cái thiện và cái
ác.
Biết hài hước một cách triết lý, thân thiện.
Các kinh nghiệm bí ẩn và mãnh liệt nhất.
Sự thẩm lượng mới mẻ liên tục.


Tập trung vào vấn đề (có một cái gì đó bên ngoài bản thân họ, họ “phải” làm như là một
nhiệm vụ.
Tình bạn bền vững nhưng số lượng hạn chế.
Sự tách rời và nhu cầu riêng tư.
Cấu trúc cá tính dân chủ.



×