.CHỈ THỊ SỐ 07/CT- UBNN VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN
NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
Thời gian học: Từ ngày 07/9/2016 đến ngày 25/9/2016
Số tiết: 4 tiết: tiết 1 đến tiết 4
Năm học 2016 - 2017, là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc
lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XIX.
Căn cứ Chỉ thị số 3031/CT - BGDĐT ngày 26/8/2016 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017 của nghành Giáo dục;
Để phát huy những thành tích đã đạt được, khắc phục những hạn chế, tồn tại của
năm học 2015 – 2016, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Giáo dục và Đào tạo, các Sở,
ban, ngành, cơ quan lien quan, UBND các huyện, thị xã, thành phố tập trung chủ đâọ
thực hiện tốt các nhóm nhiệm vụ trọng tâm năm học 2016 - 2017 cụ thể như sau:
Tiết 1:Học ngày 7/9/2016
1. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý các hoạt
động giáo dục
Tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiên Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các
cấp, Nghị quyết số 12 - NQ/TU ngày 26/6/2014 của Tỉnh uỷ Bắc Ninh về “Đổi mới
căn bản , toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh bắc Ninh giai đoạn 2014 -2020, định
hướng đến năm 2030” Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 31/8/2016 của Ban Chấp hành
Đảng bộ tỉnh “ Về việc tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống,
truyền thống văn hoá cho thế hệ trẻ tỉnh bắc Ninh giai đoạn 2016 - 2020” với các
nhiệm vụ cụ thể và giải pháp, lộ trình thực hiện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
của địa phương.
Nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 10/CT/TT ngày 23/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ
về việc đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục
đạo tạo; thực hành tiết kiệm, thực hiện có hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị trường học.
Đổi mới công tác quản lý, đẩy mạnh phân cấp quản lý giáo dục, phát huy tính chủ
động của các cơ sở giáo dục, gắn với trach nhiệm người đứng đầu; nâng cao hiệu lực,
hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra; xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực gây
bức xúc xã hội; phối hợp các lực lượng giáo dục xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh an toàn.
Thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực giáo dục, kiên quyết cắt bỏ các thủ
tục hành chính rườm rà, không phù hợp; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thong tin trong
công tác quản lý và cải cách hành chính; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công viên, viên chức và học sinh, sinh viên; thực
hiện nếp sống văn minh trong toàn ngành Giáo dục - Đào tạo.
Đổi mới công tác thong tin, truyền thong giáo dục, nâng cao nhân thức, tạo đồng
thuận của toàn xã hội; chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác với cơ quan
quan lý cấp trên và cơ quan báo chí để định hướng dư luận, tạo niềm tin của xã hội;
tiếp tục đổi mới công tác thi đua khen thưởng theo hướng thiết thực, hiệu quả; đánh giá
công tác thi đua khen thưởng phải gắn với hiệu quả tổ chức các hoạt động giáo dục;
tăng cường công tác tuyên truyền, phát hiện, nhân rộng điển hình tiên tiến để lan toả.
Khích lệ các thầy giáo, cô giáo. Các em học sinh phấn đấu thi đua dậy tốt học tốt.
2. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Bố trí, sắp xếp đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đảm bảo đủ về số lượng, chất
lượng, đồng bộ về cơ cấu theo quy định, chú trọng giáo viên mầm non, giáo viên ngoại
ngữ, tin học, giáo viên trường Chuyên, trường trọng điểm; tiếp tục bồi dưỡng nâng cao
trình độ ngoại ngữ, tin học, phẩm chất đạo đức, ý thức chính trị, trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân viên trong ngành, đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục; thực hiện luân chuyển cán bộ quản lý theo quy định; sang lọc
đội ngũ giáo viên trường THPT Chuyên và các trường trọng điểm; thực hiện đầy đủ
kịp thời các chế độ chính sách cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Tiết 2: Học ngày 12/9/2016
3. Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng giáo dục
Thực hiện có hiệu quả, sáng tạo Chỉ thị số 05 - CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ
Chính trị“Về đẩy mạnh học tập làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”
Cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”.
Tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 04 - NQ/TU ngày 31/8/2016 của
BCH Đảng bộ về việc tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống,
truyền thống văn hoá cho thế hệ trẻ tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016 - 2020.
Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, truyền
thống văn hoá cho học sinh, sinh viên. Các trường học phải duy trì nghiêm túc nghi lễ
chào cờ đầu tuần, thực hiện hát Quốc ca khi chào cờ Tổ quốc; học sinh phải hát được
các bài Dân ca Quan họ Bắc Ninh đã được đưa vào thể dục giữa giờ; xây dựng quy tắc
ứng xử văn hoá trong trường học; thực hiện có hiệu quả việc chăm sóc các di tích lịch
sử văn hoá, di tích lịch sử cách mạng, các công trình văn hoá của địa phương.
Tăng cường kỷ cương, nề nếp trong các cơ sở giáo dục; nâng cáo chất lượng
giáo dục toàn diện; chú trọng việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non; giáo dục kỹ năng
sống, kỹ năng thực hành, ý thức trách nhiệm, xã hội của người học; nâng cao chất
lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao; đảm bảo an ninh,
trật tự trường học, phòng chống bạo lực, tệ nạn xã hội, đuối nước đối với học sinh, sinh
viên; tăng cường chỉ đạo, kiểm tra công tác xây dựng cảnh quan sư phạm trường học,
xây dựng trường chuẩn quốc gia ở các cấp học.
Triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
chất lượng mũi nhọn ở các cấp học; chú trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo,
nghiên cứu khoa học và luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào
giải quyết các vấn đề thực tiễn cho học sinh; tiếp tục đổi mới công tác, thi, tuyển sinh,
kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh; tổ chức các kỳ thi và kiểm tra đảm bảo
an toàn, nghiêm túc, hiệu quả, gọn nhẹ, không gây áp lực cho học sinh.
3.1. Giáo dục mầm non
Mở rộng quy mô, mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non phù hợp với tình hình thực
tế của địa phương; triển khai chương trình hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ tại gia
đình và cộng đồng; tăng cường quản lý các cơ sở giá dục mầm non ngoài công lập;
khuyến khích các địa phương phát triểnloại hình trường, lớp tư thục.
Tăng cường các điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non; đổi mới
hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm; đảm
bảo tuyệt đối an toàn cho trẻ khi ở trưởng; củng cố vững chắc chất lượng phổ cập giáo
dục mầm non 5 tuổi; tiếp tục triển khai có hiệu quả Chương trình “Sữa học đường”
Trong tất cả các cơ sở giáo dục mầm non, đảm bảo an toàn, hiệu quả và đúng quy định.
Tiết 3: Học ngày 15/9/2016
4. Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở các cấp học, đẩy mạnh ứng
dụng CNTT trong quản lý và dạy học.
Tiếp tục bồi dưỡng nâng cao năng lực và phương pháp dạy học tiếng Anh cho
giáo viên đáp ứng yêu cầu triển khai chương trình ngoại ngữ 10 năm đối với giáo dục
phổ thông; đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh
trong trường phổ thong; chú trọng rèn kỹ năng nghe, nói tiếng Anh cho học sinh; đổi
mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá năng lực ngoại ngữ của học sinh
theo chuẩn đầu ran gay trong quá trình học tập và kết quả từng giai đoạn; tăng cường
tổ chức các hoạt động hình thành môi trường thuận lợi hỗ trợ việc dạy và học tiếng
Anh, tạo điều kiện xã hội hoá việc dạy học tiếng Anh, tạo động cơ học tiếng Anh cho
học sinh.
Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý, chỉ đạo, đẩy nhanh quá trình triển
khai hệ thống quản lý hành chính điện tử kết nối với tất cả các cơ sở giáo dục và các cơ
quan quản lý giáo dục; đảy mạnh việc thực hiện Chính phủ điện tử ở các cơ quan quản
lý giáo dục và đào tạo theo hướng đồng bộ, kết nối lien thong; phát triển hệ thống hạ
tầng và thiết bị công nghệ thông tin toàn ngành theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng
yêu cầu đổi mới giáo dục.
5. Tăng cường cơ sở vật chất đảm bảo các hoạt động giáo dục
Quy hoạch mạng lưới trường lớp phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương,
đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân.
Tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế tài chính giáo dục; thực hiện quản lý và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho giáo dục và một số chế độ chính sách đối
với ngành Giáo dục và Đào tạo; đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, nhất là giáo
dục mầm non; thống nhất các koanr thu thoả thuận, tự nguyện của học sinh; ưu tiên
phân bổ ngân sách cho giáo dục và đào tạo trong các chương trình, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất gắn với việc xây dựng
trường chuẩn quốc gia, thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới; tiếp tục đầu tư cơ
sở vật chất kỹ thuật, thiết bị dạy học và hạ tầng công nghệ thông tin cho các cơ sở giáo
dục, tăng cường kiểm tra việc bảo quản, khai thác sử dụn thiết bị và thư viện trường
học.
Đẩy mạnh phong trào xây dựng cảnh quan sư phạm nhà trường xanh - sạch đẹp, an toàn, thân thiện; xây dựng đủ công trình vệ sinh, đảm bảo thường xuyên, sạch
sẽ, đáp ứng nhu cầu sử dụng cho học sinh, giáo viên quan tâm giáo dục ý thức tự quản,
lao động vệ sinh, tự phục vụ trong nhà trường.
II.NHIỆM VỤ NĂM HỌC CỦA PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN LƯƠNG TÀI
1 TIẾT
(Học ngày 25/9/2016)
1.Thực hiện nghiêm túc cuộc vận động “ Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức
tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện và học
sinh tích cực” Các hoạt động được thực hiện thường xuyên , tự giác và từ đó mỗi các
bộ , giáo viên đều giữ được đạo đức và phong cách nhà giáo và p-hong cách trong
quản lí
2.Tiếp tục nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục và đảm bảo an toàn tuyệt
đối cho trẻ đến trường lớp và mở rộng quy mô trường lớp
3. Duy trì vững chắc chất lượng trẻ 5 tuổi, nâng cao trường chuẩn Quốc gia và
chương trình sữa học đường
4. Thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy và xây dựng trường học lấy trẻ làm
trung tâm
5.Thực hiện nghiêm túc cải cách hành chính và các khoản thu trong nhà trường
II Nhiệm vụ của sở giáo dục tỉnh Bắc Ninh
III. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM TRƯỜNG MN HOA HỒNG
1. Tiếp tục chỉ đạo và thực hiện tốt cuộc vận động" Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh", cuộc vận động " Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương
đạo đức tự học và sáng tạo”, “ Dân chủ kỷ cương tình thương trách nhiệm” và phong
trào thi đua “ Hai tốt”, “ Giỏi việc trường, đảm việc nhà” “ xây dựng trường mầm non
an toàn thân thiện - Trẻ ngoan khỏe học đều”.
2. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hiệu trình sữa học đường, công tác cải cách
hành chính trong đơn vị và nâng cao chất lượng thực hiện chuyên đề giáo dục vận
động cho trẻ mầm non.
3. Thực hiện vững chắc phổ cập giáo dục MN cho trẻ 5 tuổi. Tiếp tục đổi mới
phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm, nâng cao chất lượng CSGD trẻ.
4. Tích cực tham mưu các cấp lãnh đạo có kế hoạch chuyển đổi trường có đủ diện
tích theo quy định.
5. Đẩy mạnh công tác xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ CBGV, NV trong nhà
trường.
II. NHIỆM VỤ NỔI TRỘI CÓ TÍNH ĐỘT PHÁ HƠN
Đổi mới phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm, nâng cao chất lượng chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
BÀI 2:
MN1 – D XÂY DỰNG TRƯỜNG MN LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM ( 5 tiết)
Học từ ngày: 5/10/2016 đến ngày 30/10/2016
TIẾT 5: PHẦN I: KHÁI NIỆM – ĐẶC ĐIỂM.
Học ngày 5/10/2016
1.HỌC LÀ GÌ?
Học nghĩa là sự thay đổi tương đối thường xuyên của những gì mà người ta biết,
hiểu hoặc làm.
- Việc học diễn ra như một kết quả của sự trải nghiệm.
- Việc học sẽ thuận lợi hơn khi chúng ta xây dựng nó trên cơ sở những gì chúng
ta đã biết hoặc có thể làm
- Việc học có thể diễn ra khi chúng ta tự làm việc gì đó và có thể diễn ra khi
chúng ta tương tác với người khác.
- Tất cả trẻ em sinh ra đều có khả năng học tập.
2.VIỆC HỌC CỦA TRẺ DIỄN RA KHI...
Trẻ tương tác với người lớn, với bạn bè và với thế giới xung quanh
Trẻ khám phá và tìm tòi
Khi trẻ với trẻ giao tiếp, tương tác với nhau
Khi trẻ khám phá, sử dụng các giác quan ( sờ, ngửi,nếm…)
Quan sát và lắng nghe
Khi bắt chước và thực hành
Khi được chỉ bảo hay hướng dẫn
Khi tiếp nhận sự giúp đỡ vật chất
Khi trẻ suy nghĩ, tưởng tượng, liên tưởng
Khi nói chuyện
Khi nhớ mọi thứ
Khi liên hệ với những hiểu biết đang có hoặc với cách thức đang thực hiện điều gì
đó
Khi giải quyết một vấn đề nào đó
Khi trẻ khỏe mạnh và được chăm sóc
3. VUI CHƠI: Trẻ nhỏ có mong muốn tự nhiên được cảm nhận và khám phá một
cách tích cực về thế giới.
- Ý nghĩa của hoạt động vui chơi đối với trẻ nhỏ?
•
•
•
•
•
•
•
•
Khám phá, trải nghiệm và thử sức với những điều mới lạ
Mắc lỗi, thất bại và luyện tập
Phát triển tư duy và kỹ năng giải quyết vấn đề
Tham gia vào việc tổ chức, ra quyết định, lựa chọn các vấn đề
Phát triển trí tưởng tượng và sáng tạo
Phát triển ngôn ngữ và các kỹ năng giao tiếp
Hợp tác, thương thuyết và học các kỹ năng xã hội
Nhận ra những xúc cảm và tình cảm của bản thân cũng như của người
khác
•
•
•
Rèn luyện tính kiên trì, nhẫn nại và quyết tâm thực hiện đến cùng
Phát triển các kỹ năng vận động và tăng cường sức khỏe
Trẻ học nhiều thứ theo nhiều cách khác nhau
4.HỌC TẬP VÀ VUI CHƠI
•
•
•
•
Học là mang lại sự thay đổi đối với những gì trẻ biết và có thể làm
Trẻ có thể học theo nhiều cách khác nhau
Vui chơi là cách thức quan trọng để trẻ học
Trẻ học qua tương tác với bạn bè
TIẾT 6: GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM - MỖI CHÚNG TA LÀ
SỰ KHÁC BIỆT
Học ngày 10/10/2016
•
Có những thứ chúng ta thích làm và có những thứ nhiều người chúng ta
không thích làm.
•
Có những thứ chúng ta làm tốt và có những thứ chúng ta lại thấy rất khó.
•
“Mỗi em bé là một con người riêng biệt”
6.HỌC TRẺ EM VÀ VIỆC TẬP
- Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt
- Khác nhau về thể chất, tình cảm, xã hội, trí tuệ, tâm lý
- Trẻ em có hoàn cảnh gia đình và văn hóa khác nhau:
- Văn hóa và tôn giáo
- Hoàn cảnh gia đình: điều kiện vật chất, kinh tế
- Môi trường sống (Thành phố hay nông thôn, đồng bằng hay miền núi...)
- Dân tộc
- Mỗi trẻ em có hứng thú, cách học và tốc độ học tập riêng
- Mỗi đứa trẻ đều có thể thành công
- Những gì xảy ra trong thời thơ ấu sẽ có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến cuộc
đời sau này của trẻ.
7. TRẢI NGHIỆM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU ĐỜI...
Những trải nghiệm trong những năm đầu đời nên phù hợp với mức độ phát triển
của trẻ và phải được xây dựng trển cơ sở những gì trẻ đã biết và có thể làm.Điều này
có nghĩa là chúng ta phải cận trọng để không cố gắng dạy cho trẻ những gì quá khó đối
với trẻ để có thê hiểu hoặc làm.
Ví dụ:
Cố gắng dạy trẻ thêm 2 chữ số trước khi trẻ hiểu về số lượng và ý nghĩa của con
số
Cố gắng dạy một đứa trẻ viết trước khi trẻ có thể tạo được các nét thẳng, nét
xiên, trước khi trẻ biết cầm và sử dụng bút chì, và nhận ra được các con chữ trong bảng
chữ cái
Mong đợi một đứa trẻ hợp tác tốt với trẻ khác khi trẻ đó vẫn còn hạn chế về kỹ
năng ngôn ngữ tiếng Việt.
TIẾT 7: 8.GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM CẦN ĐẢM
Học ngày: 12/10/2016
Hứng thú, nhu cầu, khả năng, thế mạnh của mỗi đứa trẻ đều được hiểu, đánh giá
đúng và được tôn trong.
Mỗi đứa trẻ đều có cơ hội tốt nhất có thể để thành công
Mỗi đứa trẻ đều có các cơ hội để học bằng nhiều cách khác nhau kể cả thông qua
vui chơi.
9.VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN KHI TRẺ HOẠT ĐỘNG
Trong khi trẻ hoạt động, vai trò của giáo viên vô cùng quan trọng. Giáo viên cần
di chuyển xung quanh các góc hoạt động của trẻ thật hợp lý để:
- Quan sát,
- Lắng nghe,
- Trò chuyện với trẻ
- Đôi khi tham gia hoạt động cùng trẻ
HỌC BẰNG CHƠI, CHƠI MÀ HỌC
- Trẻ học bằng chơi tốt nhất khi có người lớn hỗ trợ và mở rộng những gì trẻ đang
hứng thú và đang thực hiện, bằng cách:
- Đặt những câu hỏi mang tính tư duy
- Lắng nghe trẻ
- Trò chuyện và giao tiếp với trẻ
- Chỉ dẫn
- Đưa ra gợi ý
- Khuyến khích, động viên trẻ
- Chơi cùng trẻ
- Củng cố kiến thức và các kĩ năng khác
HỖ TRỢ VÀ MỞ RỘNG VIỆC HỌC CỦA TRẺ
Giáo viên nên suy nghĩ thận trọng về những gì mình nói và làm
Một số thì có thể đã được lập kế hoạch trước nhưng phần lớn sự tương tác mà
giáo viên thực hiện với trẻ sẽ mang tính tình thế và trong khi đáp lại những gì trẻ đang
nói hoặc đang làm.
Xem đoạn video sau đây và hãy xác định những cách khác nhau mà giáo viên
đang hỗ trợ trẻ học và giúp trẻ thành công.
TÌM HIỂU VỐN KINH NGHIỆM CỦA TRẺ
Tại sao nước lại chảy ra từ những chiếc lỗ trên vỏ chai?
Làm thế nào để chai nước nhẹ đi?
Con có cách nào khác để đổ nước vào chai không?
Con có thể làm thế nào để cho nước chảy nhanh hơn hoặc chậm hơn?
Nước có thể tạo ra âm thanh không? Làm thế nào để chúng ta phát hiện ra điều
đó?
Nước đến từ đâu?
TIẾT 8:KHI TRẺ VUI CHƠI, GIÁO VIÊN CÓ THỂ PHÁT TRIỂN TƯ
DUY VÀ VIỆC HỌC CỦA TRẺ BẰNG CÁCH
Học ngày: 20/10/2016
Khuyến khích trẻ thiết lập mỗi quan hệ với những gì trẻ đã biết và có thể làm
hoặc với những kinh nghiệm có sự tương đồng
Sử dụng các từ ngữ để miêu tả những gì trẻ đang làm
Khuyến khích trẻ mở rộng và phát triển các trò chơi tưởng tượng
Sử dụng các tình huống có vấn đề và các thách thức nảy sinh trong quá trình chơi
để khuyến khích trẻ thảo luận và tìm cách giải quyết
Tập trung vào sự tham gia của trẻ, nội dung học tập và kết quả mong đợi
Giúp đỡ trẻ
Đôi lúc cần duy trì hội thoại và thảo luận giữa cô và trẻ, cả cô và trẻ cùng đưa ra
các ý kiến và lắng nghe lẫn nhau
VỊ TRÍ CỦA GIÁO VIÊN
Một điều rất quan trọng là vị trí của giáo viên cần ngang bằng với trẻ khi chúng ta
tương tác với trẻ.
Điều này bao gồm cả việc chúng ta ngồi trên sàn hoặc trên những đồ dùng thấp
hoặc là quỳ xuống....sao cho dễ dàng tạo ra sự giao tiếp bằng mắt với trẻ.
Điều đó cũng thuận lợi hơn cho giáo viên khi tham gia vào chơi cùng với trẻ
KHI NÀO GIÁO VIÊN TÁC ĐỘNG
Giáo viên cần suy nghĩ cẩn trọng về quyết định khi nào thì tham gia vào hoạt động của
trẻ khi nào thì không nên quấy rầy trẻ.
CHIẾN LƯỢC GIÚP TRẺ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG
VÀ THÀNH CÔNG TRONG HỌC TẬP
Kích thích trẻ thử nghiệm và khám phá thông qua các hoạt động trải nghiệm.
Phối hợp hài hòa giữa nhu cầu của trẻ và điều trẻ cần- điều chỉnh nội dụng cho
phù hợp với mức độ phát triển và nhu cầu khác nhau của trẻ
Linh họat trong cách sử dụng các phương pháp, hoạt động học tập.
Sử dụng hội thoại và đặt câu hỏi để tìm thông tin và giúp trẻ thể hiện và phân loại
những gì chúng biết và hiểu
Sử dụng cách động viên, khuyến khích và khen trẻ phù hợp với tình huống và tính
cách của trẻ.
Đưa trẻ đến các góc học tập, hướng dẫn và khuyến khích trẻ thực hành, vui chơi,
tìm tòi, khám phá.
Cung cấp nhiều cơ hội để trẻ tham gia các hoạt động mang tính tưởng tượng và
sáng tạo
Quan sát, tương tác với trẻ.
Dành thời gian cho trẻ chơi, suy nghĩ và giải quyết vấn đề, quan sát và đưa ra các
ý kiến
CHIẾN LƯỢC GIÚP TRẺ
Linh hoạt, điều chỉnh nội dung cho phù hợp với nhu cầu, trình độ phát triển của
trẻ.
Cung cấp cho trẻ địa điểm, thời gian hoạt động và đầy đủ phương tiện hoạt động.
Cần tận dụng nguồn vật liệu có sẵn ở địa phương.
Thiết kế bài học mang tính thiết thực, phù hợp với vốn kinh nghiệm của trẻ.
Tạo cơ hội cho trẻ học tập qua chơi tự do, chơi có sự hướng dẫn của giáo viên và
qua các giờ học chung theo kế hoạch.
Tạo cơ hội cho trẻ được chơi một mình và chơi cùng các bạn khác.
GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM LÀ
Dựa trên nhu cầu, hứng thú, khả năng và thế mạnh của từng trẻ - tin tưởng rằng
mỗi trẻ đều có thể thành công và tiến bộ.
Tạo nhiều cơ hội cho trẻ học bằng nhiều cách khác nhau gồm cả hoạt động vui
chơi.
Vui chơi cung cấp cho trẻ nhiều cơ hội để học tập như khám phá, sáng tạo, giả vờ,
tưởng tượng và tương tác với bạn bè.
Phản ánh được mức độ phát triển của từng cá nhân trẻ và xây dựng dựa trên
những gì trẻ đã biết và có thể làm.
ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM
Trẻ nào cũng được hỗ trợ để tham gia
Trẻ được khuyến khích để tạo ra sự lựa chọn
Trẻ được khuyến khích để giải quyết vấn đề
Trẻ được khuyến khích và hỗ trợ để hợp tác và làm việc cùng nhau
Giáo viên xác định được và thỏa mãn những hứng thú, hiểu biết, ý kiến và kỹ
năng của trẻ, mở rộng việc học cho từng trẻ
Cho trẻ thời gian để học
Cung cấp cho trẻ nhiều cơ hội khác nhau để học và diễn đạt những gì trẻ biết và
hiểu.
ĐẶC ĐIỂM CHÍNH
Giáo viên trò chuyện với trẻ và lôi cuốn trẻ vào các hoạt động và giao tiếp có ý
nghĩa
Giáo viên sử dụng các câu hỏi để tìm hiểu thông tin và để giúp trẻ diễn đạt và bộc
lộ những gì trẻ biết và hiểu
Sự tương tác tích cực giữa Nhà trường- Gia đinh- Cộng đồng
Giáo viên có tri thức, kinh nghiệm, luôn luôn tư duy linh hoạt và học tập không
ngừng.
KẾT LUẬN
GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM CẦN ĐẢM BẢO
Hứng thú, nhu cầu, khả năng, thế mạnh của mỗi đứa trẻ đều được hiểu, đánh giá
đúng và được tôn trọng.
Mỗi đứa trẻ đều có cơ hội tốt nhất để thành công.
Mỗi đứa trẻ đều có các cơ hội để học bằng nhiều cách khác nhau kể cả thông qua
vui chơi.
TIẾT 9: PHẦN II: THIẾT KẾ MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM
TRUNG TÂM
Học ngày: 30/10/2016
Môi trường xã hội & Môi trường vật chất
Môi trường bên Trong & Ngoài lớp học
1.MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
Cách thức mà môi trường giáo dục trong trường MN được thiết kế, sắp xếp sẽ ảnh
hưởng đến:
việc học của trẻ,
cách học của trẻ
cách mà giáo viên dạy.
Môi trường giáo dục có sự ảnh hưởng đến sự thành công trong học tập của trẻ và ảnh
hưởng đến việc nội dung và kết quả mong đợi có đạt được hay không.
MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG VÀ NGOÀI LỚP HỌC ĐỀU RẤT QUAN
TRỌNG
Chúng cung cấp nhiều cơ hội học tập và vui chơi khác nhau cho trẻ
Trong lớp
Khoảng không gian thường xuyên bị giới hạn nhưng giúp trẻ dễ tập trung hơn
Việc học thường xuyên diễn ra một cách hàn lâm hơn, hệ thống hơn
Thường bao
gồm các trò chơi xây dựng lắp ghép cũng như hoạt động nghệ
thuật hay các hoạt động phát triển vận động tinh.
Ngoài trời
Trẻ được tự do hơn để:
Khám phá
Sử dụng các giác quan
Hòa mình vào thế giới tự nhiên
Có nhiều cơ hội hơn cho các hoạt động phát triển vận động thô.
MÔI TRƯỜNG VẬT CHẤT
Không gian và đồ dùng: các góc, các khu vực khác nhau cho các loại hoạt động khác
nhau.
Vật liệu và phương tiện: các loại đồ chơi, nguyên vật liệu và phương tiện để trẻ làm
hoặc để thao tác với đồ chơi
Để kích thích trẻ tham gia và làm phong phú hoạt động vui chơi và học tập của trẻ
MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM
Phong phú các góc hoạt động trong nhà và ngoài trời
Nhiều học liệu cho trẻ sử dụng theo nhiều cách khác nhau và sáng tạo
Có nhiều cơ hội cho trẻ lựa chọn học liệu và hoạt động, để trẻ có thể:
o chủ động
o vui chơi
o tìm tòi khám phá
o thực hành
o trải nghiệm
o sáng tạo
o hợp tác với bạn bè
o trò chuyện và chia sẻ ý kiến
Tóm lại: Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là một quan điểm giáo dục tiến bộ về vị
trí của trẻ em và vai trò của giáo viên. Nó góp phần định hướng cho quá trình, hoạt
động và môi trường giáo dục trong trường mầm non. Trong mô đun ưu tiên MN1 – D:
Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm, chúng ta đã hiểu được rằng giáo dục
lấy trẻ làm trung tâm cần phải đảm bảo:
Khả năng, lợi thế và sở thích của mọi đứa trẻ cần được hiểu, trân trọng và tôn
trọng;
Tất cả các trẻ đều có cơ hội tốt nhất có thể để thành công;
Tất cả các trẻ đều có cơ hội học bằng nhiều cách khác nhau, bao gồm cả chơi
Trong mô đun nâng cao này, ta sẽ càng hiểu sâu hơn về quan điểm giáo dục lấy
trẻ làm trung tâm. Chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về vai trò của giáo viên, cách thức
tương tác với trẻ và mở rộng kiến thức, kích thích sự phát triển của trẻ; tổ chức hoạt
động tích cực và chơi cho trẻ; xây dựng và sử dụng môi trường giáo dục và lập KHGD
cho trẻ mẫu giáo – lứa tuổi chuẩn bị sẵn sàng vào lớp một.
BÀI 3: THIẾT KẾ MỘT GIỜ DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ( 3 tiết)
Tiết 10+ tiết 11:
Học ngày: 2/11/2016 đến 7/11/2016
Làm thế nào để có một giờ học tốt? Đánh giá một giờ học tốt như thế nào cho
chính xác, khách quan, công bằng? Chuẩn bị và thiết kế một giờ học là một hoạt động
cần có những kĩ thuật riêng. Dưới đây là ý kiến trao đổi trên góc nhìn một giờ học tốt
theo định hướng đổi mới PPDH.
Đổi mới chương trình giáo dục và cùng với nó là đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH) và đổi mới đánh giá là những phương diện thể hiện sự quyết tâm cách tân,
đem lại những thay đổi về chất lượng và hiệu quả giáo dục. Và ở khía cạnh hoạt động,
tất cả những đổi mới này đều được biểu hiện sinh động trong mỗi giờ học qua hoạt
động của người dạy và người học. Chính vì thế những câu hỏi như: Làm thế nào để có
một giờ học tốt? Đánh giá một giờ học tốt như thế nào cho chính xác, khách quan,
công bằng? luôn có tính chất thời sự và thu hút sự quan tâm của tất cả các giáo viên
(GV) và cán bộ quản lí giáo dục.
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực
hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác
động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học. Ngoài
những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy
học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh (HS); giờ
học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc GV
tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương
pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo
nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả
hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học). Về bản chất, đó là giờ
học có sự kết hợp giữa học tập cá thể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác (hình
thức học theo nhóm, theo lớp); chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với
rèn luyện các KN, gắn với thực tiễn cuộc sống; phát huy thế mạnh của các PPDH tiên
tiến, hiện đại; các phương tiện, thiết bị dạy học và những ứng dụng của công nghệ
thông tin...; chú trọng cả hoạt động đánh giá của GV và tự đánh giá của HS.
Ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới PPDH như trên, để có được
những giờ dạy học tốt, người GV cần phải nắm vững các kĩ thuật dạy học. Chuẩn bị và
thiết kế một giờ học cũng là một hoạt động cần có những kĩ thuật riêng. Bài viết xin đề
cập đến vấn đề này trên góc nhìn một giờ học tốt theo định hướng đổi mới PPDH.
I - Mục lục
1. Quy trình chuẩn bị một giờ học
a. Các bước thiết kế một giáo án
b. Cấu trúc của một giáo án được thể hiện ở các nội dung sau:
2. Thực hiện giờ dạy học
a. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS
b. Tổ chức dạy và học bài mới
c. Luyện tập, củng cố
d. Đánh giá
e. Hướng dẫn HS học bài, làm việc ở nhà
1. Quy trình chuẩn bị một giờ học
Hoạt động chuẩn bị cho một giờ dạy học đối với GV thường được thể hiện qua
việc chuẩn bị giáo án. Đây là hoạt động xây dựng kế hoạch dạy học cho một bài học cụ
thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa GV với HS, giữa HS với HS nhằm đạt được
những mục tiêu của bài học.
Căn cứ trên giáo án, có thể vừa đánh giá được trình độ chuyên môn và tay nghề
sư phạm của GV vừa thấy rõ quan niệm, nhận thức của họ về các vấn đề giáo dục như:
mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, cách sử dụng PPDH, thiết bị DH, hình thức tổ
chức dạy học và cách đánh giá kết quả học tập của HS trong mối quan hệ với các yếu
tố có tính chất tương đối ổn định như: kế hoạch, thời gian, cơ sở vật chất và đối tượng
HS. Chính vì thế, hoạt động chuẩn bị cho một giờ học có vai trò và ý nghĩa rất quan
trọng, quyết định nhiều tới chất lượng và hiệu quả giờ dạy học.
Từ thực tế dạy học, có thể tổng kết thành quy trình chuẩn bị một giờ học với các
bước thiết kế một giáo án và khung cấu trúc của một giáo án cụ thể như sau:
a. Các bước thiết kế một giáo án
- Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức (KT), kĩ
năng (KN) và yêu cầu về thái độ trong chương trình. Bước này được đặt ra bởi việc
xác định mục tiêu của bài học là một khâu rất quan trọng, đóng vai trò thứ nhất, không
thể thiếu của mỗi giáo án. Mục tiêu (yêu cầu) vừa là cái đích hướng tới, vừa là yêu cầu
cần đạt của giờ học; hay nói khác đi đó là thước đo kết quả quá trình dạy học. Nó giúp
GV xác định rõ các nhiệm vụ sẽ phải làm (dẫn dắt HS tìm hiểu, vận dụng những KT,
KN nào; phạm vi, mức độ đến đâu; qua đó giáo dục cho HS những bài học gì).
- Bước 2: Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để: hiểu chính xác, đầy đủ
những nội dung của bài học; xác định những KT, KN, thái độ cơ bản cần hình thành và
phát triển ở HS; xác định trình tự logic của bài học.
Bước này được đặt ra bởi nội dung bài học ngoài phần được trình bày trong
SGK còn có thể đã được trình bày trong các tài liệu khác. Kinh nghiệm của các GV lâu
năm cho thấy: trước hết nên đọc kĩ nội dung bài học và hướng dẫn tìm hiểu bài trong
SGK để hiểu, đánh giá đúng nội dung bài học rồi mới chọn đọc thêm tư liệu để hiểu
sâu, hiểu rộng nội dung bài học. Mỗi GV không chỉ có KN tìm đúng, tìm trúng tư liệu
cần đọc mà cần có KN định hướng cách chọn, đọc tư liệu cho HS. GV nên chọn những
tư liệu đã qua thẩm định, được đông đảo các nhà chuyên môn và GV tin cậy. Việc đọc
SGK, tài liệu phục vụ cho việc soạn giáo án có thể chia thành 3 cấp độ sau: đọc lướt để
tìm nội dung chính xác định những KT, KN cơ bản, trọng tâm mức độ yêu cầu và
phạm vi cần đạt; đọc để tìm những thông tin quan tâm: các mạch, sự bố cục, trình bày
các mạch KT, KN và dụng ý của tác giả; đọc để phát hiện và phân tích, đánh giá các
chi tiết trong từng mạch KT, KN.
Thực ra khâu khó nhất trong đọc SGK và các tư liệu là đúc kết được phạm vi,
mức độ KT, KN của từng bài học sao cho phù hợp với năng lực của HS và điều kiện
dạy học. Trong thực tế dạy học, nhiều khi chúng ta thường đi chưa tới hoặc đi quá
những yêu cầu cần đạt về KT, KN. Nếu nắm vững nội dung bài học, GVsẽ phác họa
những nội dung và trình tự nội dung của bài giảng phù hợp, thậm chí có thể cải tiến
cách trình bày các mạch KT, KN của SGK, xây dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập
giúp HS nhận thức, khám phá, vận dụng các KT, KN trong bài một cách thích hợp.
- Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS, gồm: xác
định những KT, KN mà HS đã có và cần có; dự kiến những khó khăn, những tình
huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết.
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, GV
không những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu HS để lựa chọn
PPDH, phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và đánh giá cho phù hợp.
Như vậy, trước khi soạn giáo án cho giờ học mới, GV phải lường trước các tình huống,
các cách giải quyết nhiệm vụ học tập của HS. Nói cách khác, tính khả thi của giáo án
phụ thuộc vào trình độ, năng lực học tập của HS, được xuất phát từ : những KT, KN
mà HS đã có một cách chắc chắn, vững bền; những KT, KN mà HS chưa có hoặc có
thể quên; những khó khăn có thể nảy sinh trong quá trình học tập của HS. Bước này
chỉ là sự dự kiến; nhưng trong thực tiễn, có nhiều giờ học do không dự kiến trước, GV
đã lúng túng trước những ý kiến không đồng nhất của HS với những biểu hiện rất đa
dạng. Do vậy, dù mất công nhưng mỗi GV nên dành thời gian để xem qua bài soạn của
HS trước giờ học kết hợp với kiểm tra đánh giá thường xuyên để có thể dự kiến trước
khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức cũng như phát huy tích cực vốn KT, KN đã
có của HS.
- Bước 4: Lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và
cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, GV
phải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện
thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, KN vận dụng KT vào những tình
huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tác động đến tư tưởng và tình cảm
để đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập cho HS. Trong thực tiễn dạy học hiện nay,
các GV vẫn quen với lối dạy học đồng loạt với những nhiệm vụ học tập không có tính
phân hoá, ít chú ý tới năng lực học tập của từng đối tượng HS. Đổi mới PPDH sẽ chú
trọng cải tiến thực tiễn này, phát huy thế mạnh tổng hợp của các PPDH, PTDH, hình
thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá nhằm tăng cường sự tích cực học tập của
các đối tượng HS trong giờ học.
- Bước 5: Thiết kế giáo án.
Đây là bước người GV bắt tay vào soạn giáo án - thiết kế nội dung, nhiệm vụ,
cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GV và
hoạt động học tập của HS.
Trong thực tế, có nhiều GV khi soạn bài thường chỉ đọc SGK, sách GV và bắt
tay ngay vào hoạt động thiết kế giáo án; thậm chí, có GV chỉ căn cứ vào những gợi ý
của sách GV để thiết kế giáo án bỏ qua các khâu xác định mục tiêu bài học, xác định
khả năng đáp ứng nhiệm vụ học tập của HS, nghiên cứu nội dung dạy học, lựa chọn
các PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá thích
hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. Cách làm như vậy không thể
giúp GV có được một giáo án tốt và có những điều kiện để thực hiện một giờ dạy học
tốt. Về nguyên tắc, cần phải thực hiện qua các bước 1, 2, 3, 4 trên đây rồi hãy bắt tay
vào soạn giáo án cụ thể.
b. Cấu trúc của một giáo án được thể hiện ở các nội dung sau:
- Mục tiêu bài học: + Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về KT, KN, thái độ; + Các mục
tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá được.
- Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học: + GV chuẩn bị các thiết bị
dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá chất...), các phương tiện dạy học (máy
chiếu, TV, đầu video, máy tính, máy projector...) và tài liệu dạy học cần thiết; + Hướng
dẫn HS chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập
cần thiết).
- Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt
động dạy- học cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ: + Tên hoạt động ; + Mục tiêu của
hoạt động; + Cách tiến hành hoạt động; + Thời lượng để thực hiện hoạt động; + Kết
luận của GV về: những KT, KN, thái độ HS cần có sau hoạt động; những tình huống
thực tiễn có thể vận dụng KT, KN, thái độ đã học để giải quyết; những sai sót thường
gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp;...
- Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: xác định những việc HS cần phải tiếp tục
thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ hoặc để chuẩn bị cho việc
học bài mới.
Tiết 12: Học ngày 15/11/2016
2. Thực hiện giờ dạy học
Một giờ dạy học nên được thực hiện theo các bước cơ bản sau:
a. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS
- Kiểm tra tình hình nắm vững bài học cũ và những KT, KN đã học có liên quan
đến bài mới.
- Kiểm tra tình hình chuẩn bị bài mới (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và
đồ dùng học tập cần thiết))
Lưu ý: Việc kiểm tra sự chuẩn bị của HS có thể thực hiện đầu giờ học hoặc có
thể đan xen trong quá trình dạy bài mới.
b. Tổ chức dạy và học bài mới
- GV giới thiệu bài mới: nêu nhiệm vụ học tập và cách thức thực hiện để đạt
được mục tiêu bài học; tạo động cơ học tập cho HS.
- GV tổ chức, hướng dẫn HS suy nghĩ, tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội nội dung
bài học, nhằm đạt được mục tiêu bài học với sự vận dụng PPDH phù hợp.
c. Luyện tập, củng cố
GV hướng dẫn HS củng cố, khắc sâu những KT, KN, thái độ đã có thông qua
hoạt động thực hành luyện tập có tính tổng hợp, nâng cao theo những hình thức khác
nhau.
d. Đánh giá
- Trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu bài học, GV dự kiến một số câu hỏi, bài tập
và tổ chức cho HS tự đánh giá về kết quả học tập của bản thân và của bạn.
- GV đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học.
e. Hướng dẫn HS học bài, làm việc ở nhà
- GV hướng dẫn HS luyện tập, củng cố bài cũ (thông qua làm bài tập, thực hành,
thí nghiệm,...).
- GV hướng dẫn HS chuẩn bị bài học mới.
Lưu ý: Tùy theo đặc trưng môn học, nội dung dạy học, đặc điểm và trình độ HS,
điều kiện cơ sở vật chất... GV có thể vận dụng các bước thực hiện một giờ dạy học như
trên một cách linh hoạt và sáng tạo, tránh đơn điệu, cứng nhắc.
Sự thành công của một giờ dạy theo định hướng đổi mới PPDH phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo của cả
người dạy và cả người học. Những phần trình bày trên đây chỉ là những kinh nghiệm
được đúc kết từ thực tiễn chỉ đạo triển khai đổi mới PPDH trong nhiều năm qua ở
trường phổ thông, là những điều mà các GV, các đơn vị có thành tích tốt trong dạy học
đã làm. Dù ở điều kiện và hoàn cảnh nào, sự chuẩn bị chu đáo theo quy trình trên đều
đem lại những giờ học có hiệu quả, bổ ích và hứng thú đối với cả người dạy, người
học.
BÀI 4: HƯỚNG DẪN KỸ NĂNG LÀM CHA MẸ
Thời gian: 4 tiết ( Từ tiết 13 đến tiết 16)
Tiết 13: Học ngày 5/ 12/ 2016
1. Chơi với trẻ:
Hỏi: Hãy kể các đồ vật, vật liệu trong nhà và ngoài trời thường có ở địa phương
bạn mà có thể sử dụng cho trẻ chơi?
Khuyến khích học viên trao đổi và ghi nhận ý kiến
Viết một số ý kiến lên bảng
Ví dụ:
- Cái rổ, cái ra
- Các hột sỏi
- Cái lõi ngô
- Hột nhãn...
Nói: Phần lớn các đồ vật, có trong nhà và trong môi trường sống xung quanh nhà
đề có thể trở thành đồ chơi và tạo ra các trò chơi cho trẻ, nhưng đồ vật đó cần đảm bảo
an toàn, không gây nguy hiểm cho trẻ: không nhỏ quá, không sắc nhọn, không dễ vỡ,
không làm xước da, chảy máu trẻ; không độc hại.
Hỏi: Hãy kể tên một số trò chơi mà trẻ thường chơi với tay, vơi chân của mình?
- Trẻ thường chơi trò chơi “Chi chi chành chành “,
- Trò chơi “ Nu na nu nống”
- Trò chơi làm con cua bò
Hỏi: Những trò chơi này có lợi ích gì cho sự phát triển của trẻ?
Khuyến khích và ghi nhận các ý kiến
Viết lên bảng một số câu trả lời
Ví dụ:
- Ngôn ngữ phát triển ( luyện phát âm “n”
- Phối hợp tay, mắt
- Phát triển tình cảm
- Luyện trí nhớ
Chiếu Slide:
Đồ chơi cho trẻ
- Đồ chơi cho trẻ có thể là cơ thể của trẻ và những người thân.
Ví dụ: Chơi xích đu với đôi bàn chân. Chơi chồng nụ, chồng hoa. Ngồi trên lưng
phi ngựa.
Chơi ú oà. Chơi làm con cua bò, làm củ gừng bằng đôi bàn tay...
- Đồ chơi cho trẻ là những nguyên vật liệu thiên nhiên
Các loại hột hạt: nhãn, hồng xiêm, bưởi, quả trứng gà, gấc…sỏi đá dùng để xếp
hình, xếp các chữ số trên sàn nhà, cát hoặc gắn lên giấy, chơi bán hàng, nấu ăn (cân
đong, giả làm thức ăn…); đếm,
phân loại; chơi “ô ăn quan”, đánh búng,
- Đồ chơi cho trẻ là những đồ vật thường dùng trong sinh hoạt hàng ngày.
Ví dụ:
+ Bàn xếp thành cái nhà, đường hầm.
+ Xô nhỏ để xách nước, ném bóng, bò xung quanh...
- Rổ rá làm đích ném bóng, vành dùng để quay vòng, đánh vòng…
Để trẻ luôn hấp dẫn với đồ chơi, cha mẹ chỉ nên cho trẻ chơi với một số đồ chơi
còn một số đồ chơi khác cất đi. Sau một thời gian đổi đồ chơi khác, trẻ lại có cảm giác
như có đồ chơi mới. Đối với trẻ mẫu giáo thích chơi đóng vai, trẻ có nhu cầu được
chơi với bạn, bố mẹ cần tạo điều kiện cho trẻ chơi cùng bạn. Cha mẹ nên tạo cho trẻ
chỗ chơi và hướng dẫn trẻ chơi các trò chơi dân gian.
Tiết 14: Học ngày 10/ 12/ 2016
2. Đọc sách cho trẻ
Hỏi: Theo chị, nên chọn những sách như thế để đọc cho trẻ?