Có đúng là giai cấp công nhân hiện nay không còn sứ mệnh lịch sử?
17:31' 18/10/2013
TCCSĐT - Sau những biến động thế giới phức tạp, mô hình chủ nghĩa
xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ vào cuối thế kỷ XX,
những nhà lý luận tư sản, cùng các phần tử cơ hội, xét lại đã lớn
tiếng tuyên bố rằng, đây là hồi chuông báo hiệu sự cáo chung của
chủ nghĩa xã hội, học thuyết Mác - Lê-nin đã lỗi thời, sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân không còn nữa. Vậy, có đúng là hiện nay giai
cấp công nhân không còn sứ mệnh lịch sử nữa?
Sự thực không phải như vậy. Bởi, sự vận động tất yếu của lịch sử thế giới
một phần tư thế kỷ qua chính là bằng chứng chân thực để phủ nhận những
tuyên bố đó. Chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn luôn tồn tại, phát triển trong
cải cách, đổi mới; giai cấp công nhân vẫn không ngừng phát triển cả về số
lượng, chất lượng và khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử của họ.
1. Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là công lao
của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thắng lợi của Cách
mạng Tháng Mười Nga (năm 1917) cùng với phong trào cách mạng
thế
giới
thế
kỷ
XX
đã
chứng
minh
rõ
điều
đó
Là những thiên tài sáng tạo vì sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và
lao động quốc tế, C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin luôn hướng mọi hoạt
động nghiên cứu khoa học của mình vào việc xây dựng hệ thống lý luận
sâu sắc về đời sống xã hội với 3 bộ phận cơ bản, là triết học mác-xít, kinh
tế - chính trị học mác-xít và chủ nghĩa xã hội khoa học. Học thuyết mới
mang tên C. Mác ra đời đã kịp thời giải đáp những câu hỏi lớn mà thời đại
đặt ra nhưng chưa được giải đáp. Từ kết quả nghiên cứu chung về lịch sử
xã hội, các ông đã vận dụng vào khảo cứu xã hội tư bản để đi đến kết luận
về sự tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa
cộng sản. Đồng thời, gắn với việc luận giải sâu sắc vai trò sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân chính là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, xây
dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ở mỗi quốc gia, dân tộc và
toàn thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, giai cấp công nhân,
nhân dân lao động được giải phóng, vươn lên làm chủ vận mệnh của
mình.
C. Mác và Ph. Ăng-ghen xuất phát từ những phân tích sâu sắc về chủ
nghĩa tư bản để đi đến kết luận: "Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối
lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách
mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát
triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân
nền đại công nghiệp"(1). Chính vì vậy, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa càng
hiện đại thì càng làm cho giai cấp công nhân có số lượng, chất lượng ngày
càng cao với những phẩm chất ưu việt, như tiên tiến nhất, ý thức tổ chức,
kỷ luật cao nhất, luôn có tinh thần đoàn kết, thống nhất và cách mạng triệt
để nhất. Do có đầy đủ những phẩm chất ưu việt đó, giai cấp công nhân đã
trở thành giai cấp duy nhất trong xã hội tư bản có đủ khả năng đảm đương
vai trò sứ mệnh lịch sử vẻ vang là tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã nhấn mạnh
rằng, cùng với sự lớn mạnh của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, "giai cấp
tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra
những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện
đại,
những
người
vô
sản"(2).
Cả về lý luận và thực tiễn lịch sử đã cho thấy, một giai cấp cách mạng
muốn thực hiện được vai trò lãnh đạo đối với toàn xã hội, phải thông qua
bộ phận “hạt nhân” lãnh đạo, “lãnh tụ” chính trị của mình. Giai cấp công
nhân muốn thực hiện sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình, nhất thiết phải tổ
chức ra được chính đảng cộng sản thực sự là bộ phận tiên tiến, giác ngộ
nhất, trung thành và đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào đấu tranh
của giai cấp, của dân tộc, có lý luận khoa học dẫn đường.
C. Mác, Ph. Ăng-ghen chỉ rõ: "Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng
sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các
nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên về mặt lý luận, họ
hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều
kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản"(3). Có lý luận tiền
phong hướng dẫn, giai cấp công nhân ở mỗi nước và trên thế giới đã từng
bước đoàn kết lại, thông qua con đường cách mạng để giành lấy chính
quyền. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là có tính chất quốc tế,
nhưng giai cấp công nhân mỗi nước phải hoàn thành sự nghiệp cách
mạng trước hết ở dân tộc mình, "phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn
lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn
không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu"(4). Đó chính là các
nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang mà giai cấp công nhân và nhân dân
lao động mỗi nước phải thực hiện sau khi đã giành được chính quyền,
từng
bước
xây
dựng
chế
độ
xã
hội
mới.
Đảng là hạt nhân lãnh đạo phong trào, các đảng cộng sản trên thế giới
luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng cộng sản, ý thức sâu sắc địa vị, vai trò sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và luôn phấn đấu hoàn thành sứ
mệnh lịch sử vẻ vang đó. Đảng của giai cấp công nhân đóng vai trò chủ
yếu trong việc chuyển cuộc đấu tranh từ tự phát sang tự giác. Trong đó, lý
luận cách mạng có tầm quan trọng đặc biệt. V.I. Lê-nin đã nhấn mạnh rằng,
không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng, chỉ khi
đảng có được lý luận tiền phong định hướng thì mới có thể làm trọn vai trò
chiến
sĩ
tiền
phong.
"Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" ra đời, giai cấp công nhân có cương lĩnh
cách mạng đúng đắn, tập hợp lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh
với giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản để giành các quyền lợi cơ bản của
mình. Sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thông
qua kết quả hoạt động của "Hội liên hiệp lao động quốc tế" - Quốc tế I
(1861 - 1872); "Hội quốc tế xã hội chủ nghĩa" - Quốc tế II với sự ra đời của
các đảng dân chủ - xã hội ở các nước tư bản từ sau những năm 1889 đã
đưa phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển ngày càng tự
giác, gắn đấu tranh chính trị với đấu tranh kinh tế, đồng thời đấu tranh tư
tưởng, lý luận ngày càng phát triển theo chiều sâu. Chủ nghĩa cộng sản từ
chỗ bị coi là "bóng ma cộng sản" ám ảnh châu Âu, đến nay, đã trở thành
hiện thực sinh động, khẳng định sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp
công nhân đứng lên tự giải phóng mình và giải phóng toàn nhân loại, mở
ra trang sử mới trong lịch sử đấu tranh giải phóng vĩ đại của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động quốc tế. Công xã Pa-ri là cuộc cách mạng vô
sản đầu tiên, nổ ra ở Thủ đô Pa-ri, Pháp (ngày 18-3-1871), mặc dù chỉ tồn
tại 72 ngày nhưng được coi là bất diệt, bởi, đã góp phần làm sâu sắc lý
luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện đại.
Là người kế tục xuất sắc những tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ
nghĩa Mác về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại
đế quốc chủ nghĩa, V.I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích đã lãnh đạo giai cấp
công nhân, nông dân, trí thức và binh lính Nga, tiến hành cuộc Cách mạng
Tháng Mười thắng lợi, hiện thực hóa lý tưởng cách mạng cao cả của chủ
nghĩa Mác, đưa nhân loại bước vào một kỷ nguyên tự giải phóng của giai
cấp công nhân giành lại những giá trị chân chính của con người. Sự ra đời
và không ngừng lớn mạnh của chủ nghĩa xã hội hiện thực và cao trào cách
mạng
ở
thế
kỷ
XX
đã
chứng
minh
rõ
điều
đó.
2. Những bước phát triển mới của chủ nghĩa tư bản vào đầu thập
niên 1970, thế kỷ XX do tận dụng được thành tựu mới nhất của cách
mạng khoa học - công nghệ ứng dụng vào phát triển sản xuất không
làm thay đổi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện nay
Những khuyết tật, sai lầm của chủ nghĩa xã hội hiện thực tích tụ nhiều năm
do chậm đổi mới, đã dần lâm vào khủng hoảng toàn diện, kéo theo sự
thoái trào của phong trào cách mạng thế giới. Lợi dụng những biến đổi
phức tạp ấy, các học giả tư sản, cùng nhiều phần tử cơ hội, xét lại khác đã
ra sức tuyên truyền xuyên tạc bức tranh thế giới, rằng giai cấp công nhân
hiện đại trong nền kinh tế trí thức không còn vai trò sứ mệnh lịch sử nữa.
Họ cố tình xuyên tạc rằng, ở thời đại văn minh tin học, thuyết giá trị lao
động đã bị thuyết giá trị tri thức thay thế; lý luận giá trị thặng dư đã bị thay
thế bởi lý luận coi lợi nhuận là thù lao cho việc tổ chức quản lý sản xuất;
sự can thiệp của nhà nước đã triệt để loại bỏ được tình trạng sản xuất vô
chính phủ và khủng hoảng kinh tế; sự hình thành, phát triển giai cấp trung
lưu mới sẽ xóa bỏ được sự đối lập giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư
sản...
Nhưng sự thực không phải như vậy. Vai trò của khoa học - kỹ thuật ngày
càng được nâng cao trong sản xuất không những không hề phủ nhận
thuyết giá trị lao động của C. Mác, mà trái lại là chứng minh rõ hơn tính
đúng đắn của thuyết đó. Bản thân nghiên cứu khoa học là một loại lao
động đặc biệt, lao động trí óc, sáng tạo giá trị lao động khoa học mới. Các
thiết bị kỹ thuật dù là tiên tiến nhất cũng không tạo ra giá trị, mà chỉ là sự
dịch chuyển giá trị. Thuyết giá trị lao động bao gồm cả sự sáng tạo giá trị
của lao động trí óc là đúng đắn. Giá trị thặng dư vẫn tồn tại trong xã hội tư
bản hiện đại. Không có bộ phận này thì không có lợi nhuận. Như vậy, chỉ
có lao động làm thuê (cả lao động trí óc, khoa học) mới tạo ra được giá trị
thặng dư, chứ không phải là bản thân khoa học - kỹ thuật và các thiết bị
tiên tiến, sẽ góp phần sáng tạo ra những giá trị cốt lõi đó.
Trong thời đại kinh tế toàn cầu, sự xuất hiện các công ty xuyên quốc gia là
bước điều chỉnh quan trọng làm tăng tính xã hội của quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa ở các nước tư bản phát triển. Nhưng điều đó không thể loại
bỏ được mâu thuẫn cơ bản vốn có giữa tính chất xã hội hóa sản xuất với
việc chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (dù hình thức mới của nó là chế
độ cổ phần), mà chỉ là mở rộng mâu thuẫn cơ bản đó ra phạm vi thế giới.
Mâu thuẫn kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, ngay từ đầu
được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai
cấp tư sản có tính chất đối kháng, nhưng mức độ biểu hiện cũng rất khác
nhau tùy thuộc vào mức độ và quy mô bóc lột của giới chủ tư bản đối với
giai
cấp
công
nhân.
Trải qua thời gian, hoàn cảnh, điều kiện lịch sử xã hội đã có nhiều thay đổi,
một số luận điểm cụ thể mà C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin đề cập, đến
nay có thể không còn phù hợp, cần thay đổi hoặc bổ sung mới. V.I. Lê-nin
đã căn dặn: "Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã
xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ
đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần
phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu
đối với cuộc sống"(5). Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trở thành
nguồn động lực to lớn thúc đẩy cả lý luận và thực tiễn cách mạng xã hội
chủ
nghĩa
phát
triển.
V.I. Lê-nin chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của những người mác-xít là phải tổ chức
một chính đảng của giai cấp công nhân tập trung và độc lập, vũ trang bằng
lý luận cách mạng. Không có một chính đảng như thế thì không thể kết
hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân, làm cho phong trào đi
theo hướng xã hội chủ nghĩa. Bản thân giai cấp công nhân không có khả
năng tự mình xây dựng được ý thức xã hội chủ nghĩa, tức là ý thức về lợi
ích sống còn của giai cấp công nhân. Bởi vì, giai cấp vô sản tự mình chỉ có
thể xây dựng nên ý thức công đoàn chủ nghĩa. Muốn xây dựng ý thức xã
hội chủ nghĩa, phải có tri thức khoa học, mà giai cấp công nhân, khi còn là
một giai cấp bị áp bức, thì không có thì giờ, cũng không có phương tiện để
làm việc đó. Ý thức xã hội chủ nghĩa là do những nhà trí thức cách mạng
xây dựng nên. Nhưng nó chỉ có ý nghĩa đầy đủ và trở thành một sức mạnh
khi nó được truyền bá trong giai cấp công nhân, làm cho họ ý thức được
địa vị của mình, tự giác đấu tranh cách mạng cho chủ nghĩa xã hội.
Nhưng do bản chất bóc lột giá trị thặng dư của người lao động làm thuê
trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng khắc nghiệt; và hậu quả tất
yếu của tình trạng đó là sự phân hóa giai cấp, làm cho giai cấp vô sản
ngày càng bị bần cùng hóa cùng với mỗi bước phát triển của chủ nghĩa tư
bản. Do vậy, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản
cũng bắt đầu ngay từ lúc họ mới ra đời để chống lại “sự bóc lột công nhiên,
vô
sỉ,
trực
tiếp,
tàn
nhẫn”
của
giai
cấp
tư
sản.
3. Hiện nay, thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng học
thuyết C. Mác vẫn sáng ngời, khẳng định giá trị của nó trong nhận
thức
chủ
nghĩa
tư
bản
hiện
đại
Để duy trì sự tồn tại trong cuộc đối đầu với hệ thống các nước xã hội chủ
nghĩa, các nước tư bản phát triển có những điều chỉnh tích cực cả về lực
lượng
sản
xuất
và
quan
hệ
sản
xuất.
Về lực lượng sản xuất, các nước tư bản phát triển triệt để tận dụng những
thành tựu mới nhất của cách mạng khoa học và công nghệ để mở rộng
quy mô sản xuất, nâng cao năng suất lao động, đưa sản xuất phát triển
vào chiều sâu, tính chất chuyên môn hóa ngày càng cao. Kinh tế tri thức ra
đời với sự tăng lên rất nhanh của cải vật chất, đã đáp ứng nhu cầu xã hội
ngày càng đa dạng. Theo đó, đời sống của người công nhân với tư cách là
lực lượng sản xuất chủ yếu cũng được quan tâm, nâng cao, phúc lợi xã
hội
được
tăng
cường.
Về quan hệ sản xuất, vẫn bảo tồn chế độ sở hữu tư nhân tư bản về
nguyên tắc, còn trong hình thức tổ chức đã có những bước điều chỉnh mở
rộng các hình thức sở hữu tư bản như mở rộng chế độ cổ phần, bán cổ
phiếu có giá trị nhỏ cho người lao động. Hiện tượng này đã được các nhà
lý luận tư sản tô vẽ là "chủ nghĩa tư bản nhân dân, nhân đạo", người công
nhân có cổ phần trở thành hữu sản. Trên thực tế, mặc dù đời sống công
nhân các nước phát triển, có thể ít nhiều được cải thiện nhưng địa vị kinh
tế của họ vẫn không vì thế mà thay đổi; quyền chi phối xí nghiệp vẫn do
các chủ tư bản chiếm đa số cổ phần điều hành và bản chất bóc lột giá trị
thặng dư của nhà tư bản vẫn không hề thay đổi.
Đặc biệt, với quá trình toàn cầu hóa hiện nay, triệt để tận dụng lợi thế cạnh
tranh mang lại nên sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản lại trở nên thậm tệ đối
với các nước chậm phát triển, đang phát triển. Những biến đổi nhanh
chóng đó là nguồn gốc sâu xa làm nảy sinh và duy trì mâu thuẫn cơ bản
của xã hội tư bản hiện nay - mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất
với quan hệ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chẳng những không mất
đi mà càng gay gắt hơn. Bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản không hề
thay đổi. Biểu hiện của mâu thuẫn ấy về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa lao
động và bóc lột, vô sản và tư sản không hề mất đi, mà vẫn tồn tại và mở
rộng phạm vi ra toàn cầu. Nhất là khi khoảng cách chênh lệch mức sống
giữa người giàu và người nghèo ở các nước tư bản phát triển ngày càng
tăng, hố sâu ngăn cách giữa các nước giàu và các nước nghèo ngày càng
lớn, nhiều nước nghèo không có khả năng thanh toán các khoản nợ nước
ngoài. Hơn một tỷ người trên thế giới hiện nay, đang phải sống dưới mức
nghèo khổ. Thiếu nước sạch, điều kiện y tế, bệnh dịch, cùng nhiều tệ nạn
xã hội khác như bạo lực, ma túy, mại dâm… ngày càng gia tăng. Đó là
những “vết loét” không thể tự khắc phục được của chủ nghĩa tư bản hiện
đại.
Với niềm tin vững chắc vào tính tất yếu thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và
chủ nghĩa cộng sản, Đảng ta đã chỉ rõ: "Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ
những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức
tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới.
Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ
nghĩa xã hội"(6). Đối với cách mạng Việt Nam hiện nay, kiên trì sự nghiệp
đổi mới, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh” là thể hiện tập trung nhất sự quán triệt sâu sắc và
vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý
tưởng
cộng
sản
cao
cả
của
giai
cấp
công
nhân.
Nhìn lại chặng đường hơn 80 năm, kể từ ngày Đảng ta ra đời, giai cấp
công nhân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, trưởng thành. Nhất là trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân là
lực lượng sản xuất cơ bản, nắm giữ những lĩnh vực then chốt và các
phương tiện hiện đại của nền sản xuất, là lực lượng đi đầu trong hội nhập
kinh
tế
quốc
tế.
Hiện nay, cả nước có khoảng 10 triệu công nhân, tạo ra 60% tổng sản
phẩm xã hội, hơn 70% ngân sách cả nước. Giai cấp công nhân là đại diện
cho phương thức sản xuất tiên tiến, tiên phong trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội và là lực lượng nòng cốt trong khối liên minh với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giai cấp công
nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn, là giai cấp lãnh đạo cách mạng
thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; Công đoàn là tổ
chức trực tiếp vừa đại diện, vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của người
lao
động.
Giải pháp mang tính chiến lược xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh
phải gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội. Xử lý đúng đắn mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội và chăm
lo xây dựng giai cấp công nhân; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa công nhân,
người sử dụng lao động và toàn xã hội. Đồng thời, phải đào tạo, bồi
dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân; bồi dưỡng đội ngũ công
nhân trẻ có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, bước đầu
hình thành đội ngũ công nhân trí thức ngang tầm khu vực và quốc tế, có
giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng, giàu lòng yêu nước, yêu
chủ nghĩa xã hội, đoàn kết và hợp tác quốc tế, trở thành lực lượng nòng
cốt của giai cấp công nhân cả nước. Là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân Việt
Nam đã và đang vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang, góp phần
xứng đáng vào sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân quốc tế./.
------------------------------------(1) C.Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn Tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1994,
t.
4,
tr.
610
(2)
C.
Mác
và
Ph.
Ăng-ghen:
sđd,
t.
4,
tr.
605
(3)
C.
Mác
và
Ph.
Ăng-ghen:
sđd,
t.
4,
tr.
614,
615
(4)
C.
Mác
và
Ph.
Ăng-ghen:
sđd,
t.
4,
tr.
623,
624
(5) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1974, t. 4, tr. 232
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 14
Phạm Văn NhuậnĐại tá, PGS, TS, Viện Khoa học xã hội nhân văn
Quân sự, Bộ Quốc phòng
In bài này Gửi bài này