Tải bản đầy đủ (.doc) (157 trang)

Luận văn thạc sỹ: Văn hóa học đường ở trường Trung học Phổ thông huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.87 MB, 157 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết luận nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ cơng trình nào khác.

Trà Vinh, ngày…… tháng …… năm 2014
Tác giả luận văn

Trần Ngọc Tuấn

-i-


LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành luận văn này, tơi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu
Trường Đại học Trà Vinh; cán bộ, giảng viên Phịng Khoa học Cơng nghệ và Đào
tạo Sau Đại học; Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ; q thầy
cơ đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong thời gian học tập.
Xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc, lịng kính trọng PGS.TS Phạm Thị Thu Yến,
người đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, góp ý tận tâm và động viên tơi hồn
thành luận văn. Cảm ơn các anh, chị đồng nghiệp, các bạn học viên đã tạo điều
kiện, giúp đỡ trong suốt thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn.
Do thời gian nghiên cứu và năng lực bản thân còn hạn chế, mặc dù rất cố
gắng, nhưng chắc chắn luận văn khơng tránh khỏi những thiếu sót. Tơi rất mong
nhận được sự góp ý của q thầy cơ, bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh.
Trân trọng cảm ơn.

-ii-


TĨM TẮT


Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu và động lực phát triển của
xã hội xuyên suốt thời gian và không gian, bao gồm tất cả các giá trị văn hóa trong
đời sống xã hội; mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội đều có những giá trị văn hóa
của nó và văn hóa học đường cũng là một phần trong lĩnh vực đó. Văn hóa bao giờ
cũng gắn với giáo dục và giáo dục là chức năng quan trọng mà văn hoá thực hiện
qua các hoạt động, các sản phẩm, các giá trị truyền thống và cả các giá trị hiện đại
nhằm tạo thành một hệ giá trị chuẩn mực, làm cho con người dần dần có những
phẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực xã hội đề ra. Từ định hướng trên,
chúng tơi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Văn hóa học đường ở trường Trung học
Phổ thông huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh” với mong muốn phản ánh thực
trạng và đề xuất những ứng xử văn hóa của học sinh, giáo viên ở nhà trường trong
tình hình mới.
Văn hóa học đường là yếu tố quan trọng để rèn luyện nhân cách của những
chủ nhân tương lai của đất nước, giáo dục họ trở thành những con người sống có
hồi bão, có lý tưởng tốt đẹp, có nhân cách tốt, có đủ tri thức để trở thành những
cơng dân tốt, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Vì vậy, vấn đề xây dựng
văn hóa ứng xử học đường phải được coi là có tính sống cịn, tính cấp bách và thiết
thực đối với từng nhà trường. Vì nếu học đường mà thiếu văn hóa thì khơng thể làm
tốt được chức năng chuyển tải những giá trị kiến thức và nhân văn cho thế hệ trẻ.
Qua 6 tháng tập hợp các tài liệu nghiên cứu và khảo sát bằng phiếu điều tra
và phỏng vấn sâu về thực trạng ứng xử văn hóa của 377 học sinh và 80 giáo viên
trong một số trường THPT ở huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Kết quả khảo sát về
ứng xử của chủ thể của văn hóa học đường đối với mơi trường tự nhiên, giữa các
chủ thể của văn hóa học đường với nhau, giữa chủ thể của văn hóa học đường với
gia đình và xã hội đã phản ánh những mặt tích cực, những nét đẹp trong bản sắc văn
hóa của người Việt Nam. Tuy nhiên, trước những tác động tiêu cực của đời sống xã

-iii-



hội, một số ứng xử của một bộ phận học sinh, giáo viên đang bị tác động, có những
biểu hiện lệch lạc. Đặc biệt là sự gia tăng ngày càng nhiều vấn nạn bạo lực học
đường cũng đã làm phai nhạt những tình cảm bạn bè, tình cảm thầy trị, tình cảm
cộng đồng tốt đẹp; làm xấu xí hình ảnh con người và văn hóa Việt Nam. Chúng tơi
tập trung nghiên cứu về quan niệm về văn hóa ứng xử với mơi trường tự nhiên, qua
đó nhận thấy giáo viên ứng xử với môi trường tự nhiên tương đối tốt. Đặc biệt ứng
xử của thầy, cô giáo đối với học sinh thể hiện rỏ nét tạo được nét văn hóa ứng xử
học đường; giữa thầy cô với học sinh đã tạo được mối quan hệ gần gũi, khơng có
khoảng cách xa lạ; giữa giáo viên với cộng đồng xã hội cũng trở nên mật thiết, gắn
bó. Tuy nhiên, qua nghiên cứu chúng tơi nhận thấy thực trạng về văn hóa ứng xử
của một số giáo viên vẫn cịn có một số biểu hiện chưa tốt. Giáo viên chưa nhận
thức rõ, đầy đủ về văn hóa ứng xử học đường, chưa kết hợp chặt chẽ giữa các lực
lượng giáo dục trong nhà trường. Một số giáo viên cịn có những biểu hiện về tư
cách, tác phong, đạo đức chưa tốt, chưa có tính gương mẫu trước học sinh. Vì vậy,
vấn đề xây dựng văn hóa ứng xử học đường phải được coi là có tính sống cịn, tính
cấp bách và thiết thực đối với từng nhà trường.
Với định hướng này, chúng tôi đã đề xuất bảy giải pháp cơ bản để điều chỉnh
văn hóa ứng xử học đường. Trong đó, việc phát huy vai trò tự học tập, tự du dưỡng,
rèn luyện đạo đức, lối sống của học sinh; xây dựng mơi trường sư phạm có văn hóa;
tạo một khơng gian văn hóa ứng xử; kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và
xã hội trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho học sinh; thường xuyên
chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh cho giáo viên,
học sinh, sinh viên; tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ nhằm thu hút giáo viên
và học sinh tham gia; và xây những các phương pháp nhằm ngăn chặn triệt để trình
trạng nạn bạo lực học đường được chúng tôi xác định là những giải pháp phù hợp,
cần thiết không chỉ cho học sinh, giáo viên, ban giám hiệu các trường Trung học
Phổ thơng ở huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mà cịn góp thêm tiếng nói tích cực
vào nỗ lực xây dựng bản sắc văn hóa riêng của ngành Giáo dục, củng cố niềm tin
trong xã hội.


-iv-


MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa
Quyết định giao đề tài

-v-


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NXB

Nhà xuất bản

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

PL 2

Phụ lục 2

THPT VĐL

Trung học phổ thơng Vũ Đình Liệu

THPT LHA


Trung học phổ thơng Lương Hịa A

THPT HL

Trung học phổ thơng Hịa Lợi

THPT HM

Trung học phổ thơng Hịa Minh

-vi-


DANH SÁCH BẢNG
Số hiệu
bảng
Bảng 1.1
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9
Bảng 2.10
Bảng 2.11
Bảng 2.12

Bảng 2.13
Bảng 2.14
Bảng 2.15
Bảng 2.16
Bảng 2.17
Bảng 2.18
Bảng 2.19
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Bảng 3.8
Bảng 3.9
Bảng 3.10
Bảng 3.11
Bảng 3.12

Tên bảng

Trang

Thống kê tổng số học sinh cấp ba và giáo viên của 4 điểm trường
Kết quả câu hỏi số 1, 2, 3 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 10 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 7 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 11 B dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 8 đối với học sinh [PL 2]

Kết quả khảo sát câu hỏi số 13, 14, 15, 16 ,17 dành cho học

36
40
43
44
44
45

sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 22 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 4 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 5 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi 6 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi 20, 21 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 18 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 23 đối với học sinh [PL 2]
Kết khảo sát câu hỏi 19 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi 9 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi 11 A dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 12 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 24, 25 dành cho học sinh [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 16 dành cho giáo viên [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 1 dành cho giáo viên [PL 2]
kết quả khảo sát câu hỏi số 2 dành cho giáo viên [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 17, 18 dành cho giáo viên [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 3 dành cho giáo viên [PL 2]
Kết quả kháo sát câu hỏi số 4 dành cho giáo viên [PL 2]
Khảo sát câu số 5 dành cho giáo viên [PL 2]
Kết quả khảo sát câu hỏi số 10, 11 dành cho giáo viên [PL 2]

Kết quả khảo sát câu hỏi số 12 dành cho giáo viên [PL 2]
Kết khảo sát câu hỏi số 6, 6* dành cho giáo viên [PL 2]
Kết khảo sát câu hỏi số 7, 8, 9 dành cho giáo viên [PL 2]
Kết khảo sát câu hỏi số 14 dành cho giáo viên [PL 2]
Kết khảo sát câu hỏi số 13 dành cho giáo viên [PL 2]

-vii-

45
47
49
50
51
53
55
56
57
60
61
62
64
66
70
72
73
74
76
77
78
80

82
83
85
89


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa là một phạm trù rất rộng. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định
nghĩa khác nhau về văn hóa. F.Mayor cho rằng: “Văn hóa là tổng thể các hoạt động
sáng tạo trong quá khứ và trong hiện đại, cấu thành nên một hệ thống giá trị truyền
thống, thẩm mỹ và lối sống, dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc của
mình”. Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua q trình hoạt động thực
tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [51, tr. 28].
Như vậy văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu và động lực
phát triển của xã hội xuyên suốt thời gian và không gian, bao gồm tất cả các giá trị
văn hóa trong đời sống xã hội; mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội đều có những giá
trị văn hóa của nó và văn hóa học đường cũng là một phần trong lĩnh vực đó. Văn
hóa bao giờ cũng gắn với giáo dục và giáo dục là chức năng quan trọng mà văn hoá
thực hiện qua các hoạt động, các sản phẩm, các giá trị truyền thống và cả các giá trị
hiện đại nhằm tạo thành một hệ giá trị chuẩn mực, làm cho con người dần dần có
những phẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực xã hội đề ra. Xã hội loài người
muốn tồn tại, phát triển thì phải duy trì, bảo tồn phát huy giáo dục và gắn kết văn
hóa. Chính vì vậy môi trường tốt nhất để thực hiện việc giáo dục văn hóa đó là ở
trong nhà trường.
Trong thời đại tồn cầu hóa, nước ta đang mở cửa hội nhập dần dần đổi mới
mạnh mẽ, toàn diện trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục;
trong đó phải kể đến giá trị văn hóa ứng xử trong học đường. Văn hóa ứng xử học
đường ở trường Trung học Phổ thông huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh được thể

hiện qua trình độ tri thức, sự thơng minh sáng tạo; từ đó họ xây dựng cho mình
những giá trị văn hóa ứng xử phù hợp với tình hình hiện nay mà không làm mất đi
phẩm chất đạo đức, ý thức chính trị, đặc biệt là ý thức về cách ứng xử, giao tiếp

-1-


truyền thống của dân tộc. Trong điều kiện đó, thầy và trị đã thể hiện được tính
gương mẫu của người thầy đối với học trò; người học trò lễ phép, ngoan ngỗn, biết
kính trọng thầy, cơ giáo... Song, vấn đề lối sống văn hóa, ứng xử của học sinh hiện
nay, đang có sự xuống cấp trầm trọng ở một số bộ phận, đặc biệt là học sinh trung
học phổ thông là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm. Hiện nay đất nước ta đang
trên đường phát triển, hội nhập xã hội có nhiều phức tạp khơng ít những luồng văn
hóa phẩm độc hại có điều kiện tràn vào nước ta đến các tỉnh, thành làm ảnh hưởng
khơng ít đến đạo đức, tác phong, lối sống của học sinh và giáo viên. Ngồi ra, nó
cịn dẫn đến tình trạng bạo lực học đường rất nghiêm trọng. Điều này đe dọa
nghiêm trọng đến sự tồn tại của những giá trị truyền thống tốt đẹp của người thầy và
trò. Cụ thể chúng ta thấy rằng khơng ít người thầy vì lợi danh của bản thân mà
khơng cịn tơn trọng và quan tâm người học. Đồng thời, nhân cách của người học
cũng bị kéo xuống một cách trầm trọng. Những học sinh ở bậc trung học phổ thơng
với đặc điểm tâm lí của những người đang trưởng thành là đối tượng dễ bị ảnh
hưởng nhất. Trong đó các em học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa
bàn huyện Châu Thành cũng không ngoại lệ.
Cho nên chúng ta cần phải tìm hiểu sâu hơn, nắm bắt kịp thời những hành vi
ứng xử của giáo viên và học sinh để chỉ ra đâu là nên, đâu là không nên trong ứng
xử học đường. Cần phát hiện ra cái mới hơn trong văn hóa ứng xử học đường bằng
cách khảo sát, điều tra thực tế ở các điểm trường. Điều đó giúp chúng ta tìm ra được
những nội dung cốt lỏi và tầm quan trọng của văn hóa ứng xử học đường dưới góc
nhìn văn hóa học. Đồng thời góp phần điều chỉnh trong ứng xử giữa giáo viên, phụ
huynh và học sinh. Để mọi người đều có những suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt

đẹp nhằm phát huy giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc và tiếp nhận, vận dụng
cái mới phù hợp với tình hình trong huyện nói riêng và cả nước nói chung.
Bản thân là một cán bộ xã, với nhiệm vụ được giao là làm công tác đồn
thanh niên ở cơ sở vì vậy việc nghiên cứu đề tài này ở ý nghĩa thực tiễn, sẽ nói lên
được tầm quan trọng của văn hóa ứng xử trong trường Trung học Phổ thơng trong
huyện dưới góc nhìn văn hóa học giúp thầy cơ giáo, các vị phụ huynh và các em

-2-


học sinh có cách thức suy nghĩ, tình cảm, ứng xử tốt đẹp phát huy hết giá trị truyền
thống cao đẹp của dân tộc và tiếp nhận vận dụng cái mới phù hợp với tình hình
trong huyện nói riêng và cả nước nói chung.
Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài về “Văn hóa học đường ở trường Trung
học Phổ thông huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh” sẽ giúp cho chúng ta nhận thấy
rõ hơn thực trạng về văn hóa học đường nhất về cách ứng xử của học sinh trong tình
hình mới.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, văn hóa học đường đặc biệt là văn hóa ứng xử học đường chiếm vị
trí hàng đầu trong q trình hình thành nhân cách của con người. Trong xã hội hiện
đại ngày nay, tri thức của chúng ta ngày càng phát triển, con người ngày càng hiểu
biết rộng, trong điều kiện đất nước hội nhập quốc tế thì việc giao tiếp, ứng xử ngày
càng chiếm giữ ưu thế, có ý nghĩa quyết định nhất đối với tương lai phát triển của xã
hội do đó giáo dục văn hóa ứng xử ngay khi còn trên ghế nhà trường là một điều căn
bản nhất để làm nền tảng cho tất cả các mối quan hệ, giao lưu, giao tiếp ứng xử trong
xã hội. Qua tìm hiểu, chúng tơi có thể khái qt đến các cơng trình tiêu biểu sau:
Trong “Văn Hóa Giao Tiếp” (1996), Phạm Vũ Dũng đã đưa ra một số nhận
định khái lược về giao tiếp – giao tiếp có văn hóa và văn hóa giao tiếp. Cơng trình
cịn thể hiện văn hóa giao tiếp trong một số lĩnh vực đời sống xã hội, văn hóa giao
tiếp và vấn đề xây dựng lối sống văn hóa. Ngồi ra, cơng trình cịn tìm hiểu về một

số tiêu chuẩn định hướng và mơ hình hóa, hình thức và biện pháp văn hóa giao tiếp.
Trong “Văn hóa và giáo dục” (2005), Thanh Lê đã đưa ra một số nhận định
về văn hóa giáo dục, văn hóa đơ thị, văn hóa kiến trúc, văn hóa và lối sống, văn hóa
gia đình, văn hóa các giai cấp và các tầng lớp xã hội, văn hóa hành chính, văn hóa
lãnh đạo, văn hóa quản lý, văn hóa nghề nghiệp, văn hóa khoa học.
Trong “Thuật ứng xử tình huống trong quản lý giáo dục và đào tạo” (2007),
Thanh Lê đã giới thiệu một cách tổng quan về tình huống và phương pháp ứng xử
trong việc quản lý nhà trường.

-3-


Trong “Văn hóa đạo đức trong giao tiếp ứng xử xã hội” (2007), Nguyễn
Văn Lê đã giới thiệu rõ nét tổng quan về giao tiếp xã hội, đưa ra các quy tắc giao
tiếp-ứng xử xã hội, các phương pháp sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp-ứng xử xã
hội, giao tiếp phi ngơn ngữ, văn hóa ứng xử trong cộng đồng, ứng xử giáo dục giới
tính, tình u và hơn nhân, trong kinh doanh và quản trị.
Trong “Tâm lý học với văn hóa ứng xử” (2008), Đỗ Long đã nghiên cứu rất
sâu và rất cụ thể về tâm lý nông dân và biểu hiện cụ thể của văn hóa ứng xử đối với
cư dân nông nghiệp, năng lực của cán bộ cơ sở và văn hóa ứng xử với người dân,
văn hóa ứng xử với mơi trường sinh thái qua hành vi thải rác.
Trong “Cách ứng xử giữa cha mẹ và con cái” (2009), Thùy Trang đã đưa ra
các nội dung giao tiếp ứng xử của cha mẹ với con cái thơng qua các hành vi ngợi
khen-phê bình, tơn trọng mình và tôn trọng trẻ, xây dựng ý thức trách nhiệm và tính
tự lập cho con cái, những giới hạn cho phép của gia đình, giáo dục hành vi cho trẻ.
Trong “Quan niệm của nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con
người” (2009), Nguyễn Thị Tuyết Mai đã nghiên cứu về các giá trị văn hóa cổ xưa
về các học thuyết về xã hội con người, quan niệm Nho giáo về con người, giáo dục
và đào tạo con người qua đó cho thấy sự thay đổi về bản chất của con người trong
thời đại ngày nay khác như thế nào so với những quan niệm thời xưa.

Trong “Giáo dục kĩ năng sống” (2010), Lục Thị Nga đã nêu lên những vấn
đề cơ bản về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở, phương pháp dạy
học tích hợp kĩ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài lớp và một số chuyên đề về
rèn luyện sức khỏe cho học sinh, kỹ năng giao tiếp ứng xử, phịng tránh tai nạn
thương tích, phịng tránh xâm hại tình dục và các trị chơi dân gian.
Trong “Văn hóa học đường nhìn từ quan hệ thầy trị” (2011), Đinh Công
Tuấn đã đánh giá lại thực trạng về mối quan hệ giữa thầy và trò trong xã hội ngày
nay so với ngày xưa.
Cơng trình “Văn hóa và văn hóa học đường” (2011) do Nguyễn Khắc Hùng
chủ biên với sự tham gia của các nhà nghiên cứu như Phan Thị Hoa, Giáp Bình

-4-


Nga, Nguyễn Thứ Mười, Lê Mỹ Dung, Đinh Phương Duy, Tô Lan Phương, Nguyễn
Tùng Lâm, Lê Gia Khánh, Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Thị Hằng Phương, Hồ
Thị Nhật, Phạm Văn Khanh, Trần Quốc Thành, Nguyễn Thị Thủy và một số nhà
nghiên cứu khác; đây là cơng trình tập hợp các bài viết với nội dung bao hàm chung
về thực trạng trong việc xây dựng văn hóa học đường ở các bậc học từ mầm non
đến bậc cao đẳng đại học: cách ứng xử, hành vi giao tiếp, sự thay đổi giá trị văn hóa
học đường, quan hệ giữa người dạy và người học, văn hóa học đường trong thời kỳ
hội nhập, một số giải pháp nhằm xây dựng văn hóa học đường.
Cơng trình “Ứng xử sư phạm và giáo dục kỹ năng sống trong nền giáo dục
hiện nay” (2012) do nhiều tác giả Tăng Bình – Thu Huyền – Ái Phương (Sưu tầm
và tuyển chọn). Đây là cơng trình bao hàm các nội dung liên quan đến văn hóa ứng
xử sư phạm trong các tình huống thường gặp; giáo dục kỹ năng sống đối với mọi
lứa tuổi, đối với trẻ mầm non, đối với trẻ tiểu học và trung học, đối với trẻ vị thành
niên; các kỹ năng cần thiết để đạt hiệu quả trong học tập; những quy định mới nhất
về quy chế, quản lý trong ngành giáo dục.
Trong “Văn hóa giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới” (2012), Nguyễn Duy

Bắc đã nghiên cứu về văn hóa giáo dục Việt Nam trong bối cảnh tồn cầu hóa và
hội nhập Quốc tế, đổi mới giáo dục Việt Nam, định hướng chiến lược và giải pháp
chủ yếu phát triển giáo dục, đào tạo Việt Nam hiện nay, quản lý nhà nước về giáo
dục, xã hội tham gia quản lý phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, giáo dục các
giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc cho con người Việt nam hiện nay, tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển nền giáo dục, đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục đào tạo phát triển văn hóa con người và nguồn nhân lực chất lượng cao
trong giai đoạn mới.
Cơng trình “Văn hóa ứng xử và nghệ thuật giao tiếp nơi công sở” (2013) do
các tác Thùy Linh – Việt Trinh (Biên soạn và hệ thống hóa), cơng trình tập trung vào
một số nội dung chủ yếu về văn hóa ứng xử và nghệ thuật giao tiếp trong các cơ quan
hành chính nhà nước, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện, khi tham gia giao thông.

-5-


Trong “Đổi mới và phát triển giáo dục” (2013), Nguyễn Mạnh Cầm đã đưa
ra nội dung xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập và trả lời báo chí- các
diễn văn đọc ở các hội nghị Trung ương.
Viện nghiên cứu sư phạm, Hội thảo khoa học: Xây dựng văn hoá học đườngGiải pháp nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường, Hà Nội,…Hội thảo về văn
hóa ứng xử học đường của trường Đại học công nghệ thông tin và truyền thông,
Thái Nguyên; Viện nghiên cứu Giáo dục, Trung tâm phát triển nghiệp vụ Sư Phạm,
Trường ĐH Sư Phạm TP.HCM tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Giáo dục
văn hóa giao tiếp trong nhà trường”…..
Đây là những cơng trình có nội dung bao qt chung về văn hóa học đường
của cả nước, cung cấp một cách có hệ thống các khái niệm, vai trị, ý nghĩa của văn
hóa và văn hóa học đường, một số định hướng chiến lược và giải pháp chủ yếu phát
triển giáo dục, đào tạo ở Việt Nam hiện nay.
Ngồi ra cịn có các cơng trình luận án nghiên cứu cụ thể như: Một khía
cạnh xây dựng văn hóa học đường nhìn từ góc độ tâm lý học , Đào Thị Oanh.

Biện pháp xây dựng văn hóa học đường ở trường Cao đẳng Nam Định , Lê Thị
Ngỗn. Xây dựng văn hóa trường học ở các trường trung học phổ thông huyện
Yên Bái, tỉnh Bắc Ninh, Lưu Văn Mùi và một số bài viết, nói chung chung về
một số nội dung: mơi trường thân thiện, học sinh tích cực; cơ sở vật chất
trường học….
Qua những kết quả nghiên cứu trên, văn hóa ứng xử đã và đang được
quan tâm nghiên cứu và có nhiều cơng trình có giá trị. Tuy vậy văn hóa học
đường cụ thể là văn hóa ứng xử trên cơ sở thực tiễn chưa được nghiên cứu
nhiều. Do đó việc nghiên cứu văn hóa học đường ở trường Trung học Phổ
thông huyện Châu Thành là hết sức cần thiết, nhằm đánh giá lại thực trạng về
văn hóa ứng xử của thầy cơ giáo và học sinh, đồng thời góp phần điều chỉnh nét
văn hóa ứng xử của giáo viên và học sinh sao cho phù hợp với điều kiện và
hoàn cảnh của huyện nhà.

-6-


3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, khảo sát, phân tích văn hóa ứng xử của học sinh và giáo viên ở
trường Trung học Phổ thông huyện Châu Thành, tỉnh trà vinh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận một cách có hệ thống về một số khái niệm, một số
vấn đề liên quan đến văn hóa ứng xử học đường.
Khảo sát và đánh giá thực trạng về văn hóa học đường, nhất là về văn hóa
ứng xử trong nhà trường và bên ngoài nhà trường ở trường Trung học Phổ thông
huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Phạm vi khảo sát
Giáo viên, phụ huynh, học sinh cùng các thành viên có liên quan đến việc tổ
chức, dạy và học trong các trường Trung học Phổ thông huyện Châu Thành.

5.2. Giới hạn vấn đề
Vấn đề “văn hóa học đường” là vấn đề rộng nên luận văn xác định tập
trung chủ yếu nghiên cứu vấn đề “Văn hóa ứng xử học đường” với các nội dung
nghiên cứu: nhận thức, hành vi, ứng xử, giao tiếp; mối quan hệ; nạn bạo lực học
đường của người thầy và trò trong nhà trường và đối với bên ngoài xã hội.
5.3. Không gian nghiên cứu
Bao gồm 4 trường Trung học Phổ thông huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh:
trường Trung học Phổ thơng Hịa Minh, trường Trung học Phổ thơng Vũ Đình Liệu,
trường Trung học Phổ thơng Hịa Lợi, trường Trung học Phổ thơng Lương Hịa A.
6. Đóng góp mới của luận văn
Đề tài “Văn hóa học đường ở trường Trung học Phổ thông huyện Châu
Thành, tỉnh Trà Vinh” là đề tài đầu tiên về văn hóa ứng xử học đường ở huyện Châu
Thành được khảo sát, nghiên cứu một cách cụ thể với phương pháp nghiên cứu văn

-7-


hóa học sẽ giúp cho ngành giáo dục ở huyện Châu Thành có một cái nhìn mới theo
góc độ văn hóa học. Nó góp phần giúp cho chúng ta hiểu được một phần thực trạng
trong nhận thức, hành vi của chủ thể ứng xử văn hóa và giúp ta nhận thức được tầm
quan trọng của giao tiếp và ứng xử học đường. Đồng thời đề tài sẽ đóng góp thêm
một số kiến thức giúp cho các thành viên trong nhà trường, thầy cơ giáo, các em học
sinh nhìn nhận, suy ngẫm lại cách suy nghĩ, tình cảm, ứng xử, giao tiếp và hành
động của mình để có những thay đổi tích cực hơn, để xây dựng mơi trường học
đường có văn hóa, bảo vệ những cái tiến bộ, đẹp đẽ, phù hợp với thời đại, đồng thời
đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực.
7. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Căn cứ vào những kết quả khảo sát
phân tích từng nội dung có liên quan đến văn hóa ứng xử học đường dựa trên các cơ
sở thực tiễn, tổng hợp các kết quả đã phân tích nhằm đưa ra những vấn đề có liên

quan với nhau.
Phương pháp so sánh: Lấy những thông tin khảo sát hiện tại so sánh lại
những kết quả nghiên cứu với những cơng trình của người đi trước tìm ra những
điểm chung, những điểm mới.
Phương pháp điền dã, quan sát: Trực tiếp đến từng điểm trường, từng nơi
trong phạm vi nghiên cứu, quan sát mọi hành vi, lắng nghe và ghi lại cách xứng xử,
giao tiếp, của đối tượng; chụp lại những hình ảnh, ghi lại video có liên quan đến nội
dung mà luận văn trình bày nhằm để minh chứng cho những vấn đề đang hiện hữu.
Phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu:
Phương pháp điều tra (Anket): Xây dựng hơn 350 phiếu điều tra dùng cho
giáo viên và học sinh, tiến hành phát phiếu điều tra trực tiếp và hướng dẫn học sinh,
giáo viên viên trả lời tại lớp. Thu lại phiếu điều tra tại lớp, ngay sau khi đối tượng
nghiên cứu trả lời xong.

-8-


Phương pháp phân tích, tổng hợp (bằng Excel): Chúng tơi tiến hành lí giải
và phân tích các câu trả lời qua các tình huống đã đặt ra qua đó nhận xét những suy
nghĩ, cảm nhận từ học sinh và giáo viên.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi gặp trực tiếp hơn 20 đối tượng là
học sinh, giáo viên, phụ huynh học sinh đại diện cho ba lớp 10, 11, 12 (có học lực
và đạo đức tốt, khá, trung bình, yếu); đại diện cho các thành phần kinh tế gia đình,
khó khăn, trung bình, khá giàu, đại diện cho dân tộc Kinh, Khmer (khơng có dân tộc
Hoa), đại diện cho giáo viên bộ môn, Ban giám hiệu trường. Chúng tôi ghi nhận lại
các ý kiến để minh chứng cho kết quả nghiên cứu.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề văn hoá ứng xử học đường

Chương 2. Văn hóa ứng xử học đường ở đối tượng học sinh các trường
Trung học Phổ thông huyện Châu Thành
Chương 3. Văn hóa ứng xử học đường ở đối tượng giáo viên các trường
Trung học Phổ thông huyện Châu Thành

-9-


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
VĂN HÓA ỨNG XỬ HỌC ĐƯỜNG

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số quan niệm về văn hóa ứng xử học đường ở một số nước trên
thế giới và Việt Nam
1.1.1.1. Quan niệm về ứng xử học đường ở các nước phương Đơng
Phương Đơng có điều kiện khí hậu nóng, ẩm - có nhiều đồng bằng - thích
hợp nghề trồng trọt - tạo nên lối sống định cư - có tâm lý tơn trọng, hịa hợp với tự
nhiên - lối tư duy thiên về tổng hợp, biện chứng - trọng tình, trọng đức, trọng văn,
trọng nữ; có tính dân chủ, trong cộng đồng - có tính dung hợp, mềm dẻo, hiếu
hịa… là nguồn góc Văn hố trọng tĩnh (gốc nông nghiệp), cách giao tiếp ứng xử
cũng dựa trên những đặc trưng này “nhẹ nhàng, quanh co, tôn trọng lẫn nhau” từ
đó hình thành nên nét văn hóa ứng xử trong nhà trường cũng xuất phát từ việc giáo
dục và đào con người. Khi nói về văn hóa ứng xử trong nhà trường ở các nước
phương Đông (đặc trưng Trung Hoa) thì phải kể đến Khổng tử, ơng là người sáng
lập ra đạo Nho. Ông đã đưa ra nhiều quan điểm trong đó có quan điểm về giáo dục
và đào tạo con người đó là nội dung cốt lỏi trong nền giáo dục của các nước phương
Đông qua nhiều thế hệ.

Theo Phạm Thị Tuyết Mai trong cuốn sách “Quan niệm của Nho giáo về con
người, về giáo dục con người và đào tạo con người” [33] đã đánh giá về quan điểm
của nho giáo về giáo dục và đào tạo con người như sau:
Thứ nhất, về mục đích giáo dục của nho giáo, trung tâm của học thuyết
Khổng Tử là “nhân”, vì vậy mục đích giáo dục mà ơng đề ra, cũng chính là hồn

-10-


thành mục tiêu của “nhân”. Tuy nhiên đối với Khổng Tử, “nhân” bao giờ cũng gắn
với “lễ”, người có “nhân” thì khơng bao giờ trái lễ, một khi những quy định về “lễ”
được thực hiện nghiêm chỉnh thì con người đạt tới đức nhân. Khổng tử rất coi trọng
chính trị, trên lĩnh vực giáo dục ông đưa ra nội dung đào tạo các nhà hoạt động
chính trị kiện tồn với các tiêu chuẩn “minh đức”, “thân dân”. Các mục đích giáo
dục của Khổng Tử nói riêng và của Nho giáo nói chung được nêu ra như sau: cầu
đạo “đạo” điều cốt lõi của khái niệm đạo vẫn là đạo làm người và đạo trị nước; việc
học đạo để hành đạo giúp đời là yêu cầu thiết thân đối với người được giáo dục.
Mục tiêu thứ hai là hoàn thành nhân cách lý tưởng mục đích chính ở đây là làm cho
học trị tự động phát huy, tự động hồn thiện nhân cách lý tưởng của mình đạt đến
mức “đức tính trung, hiếu, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, liêm”. Mục tiêu thứ ba là
bồi dưỡng nhân tài chính trị, mục tiêu chính là đào tạo và bồi dưỡng nhân tài hoạt
động chính trị, phải biết tịng chính, phải biết làm chính sự, bởi vì, chí nguyện của
ơng là cứu đời, cứu người; mục tiêu thứ tư là làm sáng tỏ cái đức sáng, khiến dân
luôn đổi mới và đạt tới chỗ chí thiện, theo Khổng tử và các bậc đại nho sau Khổng
Tử, thì đường lối học tập của người quân tử và của kẻ sĩ trước hết là phải làm sáng
tỏ cái đức sáng của bản thân mình, phải tu thân để đạt tới nhân cách lý tưởng và nó
phải được chuyển thành sự giáo hóa đối với bàn dân thiên hạ.
Như vậy, Nho học đào tạo ra những con người lý tưởng, những con người hoàn
thiện về mặt đạo đức nhân cách cũng như về mặt tri thức và lối sống; đây là những trụ
cột cho một xã hội lý tưởng mà Khổng Tử và học phái Nho gia vẫn kỳ vọng.

Thứ hai, quan điểm của Khổng Tử về người thầy, vai trò của người thầy là
hướng dẫn cho học trị tự học, ngồi q trình tự học là quá trình học trong sự tương
tác giữa thầy và trị. Trong đó, người thầy chỉ có nhiệm vụ hướng dẫn cho học trò
những phương pháp để tự học, gợi ý để học trò suy nghĩ, giải đáp thắc mắc cho học
trị. Người thầy khơng phải là thợ dạy sách, học trị khơng phải là cái giá đựng sách;
q trình dạy và học là quá trình giao lưu trao đổi, thơng suốt mới có thể bồi dưỡng
nên những học trị có kiến thức, biết tự lập, biết ứng phó với mọi hồn cảnh. Khổng
Tử cịn cho rằng, con người bắt buộc phải được giáo dục thì mới có được nhân tính

-11-


tốt đẹp một cách hồn thiện, một người thơng minh tài trí đến đâu mà khơng có sự
giáo dục thì cũng rất khó có được một nhân cách hồn chỉnh, có thể trở thành một
nhân tài hữu dụng cho xã hội.
Thứ ba, nguyên tắc và nội dung giáo dục của Nho giáo, có hai nguyên tắc
lớn: một là, hữu giáo vô loại “việc dạy dỗ không phân biệt loại người”; hai là, giáo
dục đạo đức và nhân cách, Khổng tử cho rằng chỉ có đề xướng giáo dục đạo đức và
nhân cách thì mới có thể cứu xã hội qua khỏi cơn phong ba loạn lạc vì Khổng Tử
lấy giáo dục đạo đức làm chủ yếu. Khổng Tử dạy các mơn: văn chương, đức hạnh,
trung và tín thì trong đó ngồi văn chương ra cịn lại là đạo đức.
Thứ tư, Khổng Tử dùng biện pháp để giáo dục: Thích ứng với cá tính từng
người, coi trọng cả học và tư duy, kết hợp chặt chẽ với học tập, bồi dưỡng hứng thú
học tập, đề cao tinh thần tự giác, chú trọng vào sự nỗ lực, chú trọng đến việc học tập
lẫn nhau, có phương hướng và phương châm học tập đúng, dạy và học cùng thúc
đẩy lẫn nhau... [33, tr. 76]
Như vậy quan điểm của Khổng Tử đã được truyền lại qua nhiều thế hệ ở
các nước phương Đông, dần dần hình thành và phát triển trở thành một nền giáo
dục gần như hoàn thiện mà cũng là nền tảng để nước khác học theo. Từ thời xưa,
người thầy rất được xã hội đề cao và tôn trọng theo quan niệm “tôn sư trọng

đạo” “nhất tự vi sư bán tự vi sư”; đạo thầy được xếp thứ hai sau đạo vua – tôi,
trước cả đạo cha – con (quân – sư – phụ). Cũng theo theo tác giả Goselin (1960)
nhận xét về người thầy
Người thầy giáo, cho dù hoàn cảnh rất khiêm nhường, nhưng đã
được kính trọng ngang hàng với người cha, được nói nhiều trong sứ sở
này. Tội trị giết thầy bị coi như tội con giết cha mẹ. Một vị đại thần khi
đến thăm người thấy giáo cũ, dù chỉ là thường dân, đã luôn dạy chào,
thưa gởi một cách rất cung kính và khơng bao giờ dám ngồi cùng chiếu
với thầy[23, tr.347].

-12-


Như vậy mọi lời dạy bảo của người thầy đều được học trò nghe theo với
quan niệm học để thành danh, học để làm rạng rỡ tổ tiên, dòng họ chỉ có việc học
thi đỗ cơng danh mới có thể thốt cảnh nghèo khổ cơ hàn. Quan niệm đó được ca
tụng và truyền dạy qua nhiều thế hệ. Dần đến ngày nay, ở các nước phương Đơng
vẫn cịn ý thức “Học để đổi đời”, nó xuất phát từ nền kinh tế cịn chậm phát triển,
đời sống cịn khó khăn, do có truyền thống là giáo dục mà đặt biệt là nền giáo dục
của Khổng Tử nên cách duy nhất để vượt lên trên số phận nghèo khổ là phải học,
phải cấp sách đến trường và nó cũng có sự khác biệt trong quan điểm và cách thức
vận hành nền giáo dục ở đây so với phương Tây. Tuy nhiên nó cũng có những mặt
hạn chế, ở phương Đơng phần lớn các bậc cha mẹ thường bắt ép con cái học tập,
rèn luyện và phấn đấu theo cách dạy truyền thống mà họ cho là sẽ tốt nhất cho
tương lai của con em mình. Họ đặt niềm tin vào con cái mong muốn con em mình
chỉ tập trung vào việc học, mọi hành động cử chỉ, hành vi đều nhất nhất tn theo
lời dạy của thầy cơ, cha mẹ. Chính vì vậy đã xuất hiện nhiều quy tắt ép buộc, áp đặt;
những ngun nhân chính đó là sự kỳ vọng “đổi đời”, sự đố kỵ lẫn nhau “ganh đua
ngầm” của các bậc phụ huynh vơ tình đã áp đặt ý chí, mục tiêu, hoài bão ước mơ
của một tuổi thơ theo một khuôn khổ “trên dạy dưới nghe”, làm mất đi tính tự do,

mất đi tính sáng tạo, sự tự chủ, dần dần bị cô lập với thế giới bao la rộng lớn bên
ngoài.
1.1.1.2. Quan niệm về ứng xử học đường ở các nước phương Tây
Văn hóa ứng xử ở phương Tây được hình thành từ điều kiện khí hậu lạnh,
khơ - có vùng đồng cỏ - thích hợp chăn ni - tạo nên lối sống du cư - có tâm lý coi
thường, có tham vọng chinh phục tự nhiên - lối tư duy thiên về phân tích - trọng sức
mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam; có tính ngun tắc và qn chủ, trọng cá nhân
- có tính độc tơn, cứng rắn, hiếu thắng… đây là nét Văn hoá trọng động (gốc du
mục) cũng xuất phát từ nét văn hóa trọng động, văn hóa ứng xử học đường của các
nước phương tây với mục tiêu học để tự tin hòa nhập vào thế giới bên ngoài, đồng
thời cũng tự phát triển chính mình. Phương Tây cũng giống như phương Đơng lấy
một thời điểm từ lúc bé cho đến lúc học hết phổ thông làm giai đoạn quan trọng

-13-


trong việc hình thành nhân cách, phẩm chất, những thói quen suy nghĩ, hành động,
hành vi giao tiếp cho thế hệ mai sau.
Tuy nhiên phương pháp giáo dục về văn hóa ứng xử thì đa phần trái ngược
nhau, ở đây chịu ảnh hưởng từ quan điểm bình quyền, bình đẳng, dân chủ, tự do của
công dân nên mục tiêu của sự dạy dỗ và phương pháp giáo dục ở phương Tây đều
hướng tới là giúp gởi mở, hướng dẫn cho các em sớm hình thành tinh thần tự chủ,
độc lập, biết tự khám phá, năng động sáng tạo trong một xã hội mà họ mong muốn
ở các em học sinh là xây dựng một xã hội văn minh, dân chủ và bình đẳng nhưng
phải tuân thủ luật pháp.
Hệ thống giáo dục phương Tây phát triển trên cơ sở gọi là "Đối thoại Socrat" bắt nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại, cách đây hơn 2000 năm, bởi nhà triết học Socrat. Vào năm 399 trước công nguyên (cách đây 2,515 năm), sau khi bị phán xử bởi
hội đồng thẩm phán gồm 500 người, So-crat bị nhận án tử hình bởi 280 phiếu ủng
hộ và 220 phiếu chống, vì tội tổ chức dạy học cho người dân rằng hãy tin vào lý trí
của mỗi cá nhân, thay vì tin vào chính quyền hay những lời Chúa dạy. So-crat bị
hành xử bằng cách uống một ly nước độc trước mặt những học sinh và bạn bè của

mình. Nhưng những gì So-crat đạt được là khởi đầu phương pháp dạy học mà tất cả
các trường đại học tốt nhất trên thế giới đều áp dụng từ đó đến nay. Đó là dạy học
sinh, sinh viên cách suy nghĩ độc lập, lập luận logic, trao đổi cởi mở, và tự tin với
những nhận định của cá nhân trong quá trình suy nghĩ, lập luận để bảo vệ ý kiến cá
nhân của mình. Các phương pháp luận khoa học phát triển ở thế kỷ 16, 17 cũng bắt
nguồn từ truyền thống giàu tính lịch sử này, tập trung vào quá trình lập luận, trao
đổi cởi mở để tìm ra câu trả lời. [63]
Những đứa trẻ của một nền giao dục như vậy trong quá trình trưởng thành
được cung cấp cả một gói tri thức có cấu trúc tương đối hài hòa gồm những kiến
thức phổ thông kết hợp với những hiểu biết phong phú về thiên nhiên, con người và
các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là kỹ năng hợp tác. Điều đó giúp chúng có nhiều cơ
hội trở thành một con người nhân văn, tự tin với sức khỏe tâm lý lành mạnh để hòa

-14-


nhập vào cuộc sống tự lập và phát triển cá nhân. Đó cũng có thể được coi là một
nền giáo dục tơn trọng tuổi thơ của trẻ em. Thật khó hiểu cho những ai nghĩ về xã
hội phương Tây theo kiểu định kiến rằng ở đó con người sống thực dụng, đề cao cá
nhân nhưng lại đánh giá khả năng làm việc theo nhóm như một phẩm chất quan
trọng hàng đầu.
Tuy nhiên việc giáo dục theo phương pháp này cũng có nhiều mặt tiêu cực,
lối sống bng thả, tự do, hình thành những mối quan hệ quá mức bình thường
“việc sống thử” của các em học sinh sẽ không tránh khỏi, hơn nữa sự hồn nhiên, vô
tư, ngây thơ vốn có của lứa tuổi của học sinh bị mất dần.
1.1.1.3. Quan niệm về ứng xử học đường ở Việt Nam
Việt Nam là một dân tộc có bề dày lịch sử hào hùng, từng chiến thắng nhiều
thế lực xâm lăng tàn bạo. Một quốc gia biết tiếp thu những cái mới, những cái tinh
hoa, những nét văn hóa của nhiều nước lớn nhưng vẫn giữ lại cho mình giá trị
truyền thống cao đẹp của dân tộc. Nhân dân Việt Nam từ xưa vốn có truyền thống

hiếu học từ nền giáo dục quốc dân, đầu tiên là phải kể đến nền văn hóa phương
Đơng, chúng ta đã sớm thấm nhuần những giá trị cao đẹp đó, từ đó hình thành nên
giá trị đặc trưng cho dân tộc mình, ít coi trọng những giá trị vật chất, tiền bạc của
cải, mà đề cao những giá trị tinh thần, trong đó có tri thức, đạo đức, vốn là thành
quả của nền giáo dục phương Đông đem lại.
Do ảnh hưởng nhiều từ nền giáo dục phương Đơng, nhất là văn hóa ứng xử
học đường, ở việt Nam cũng đã chịu ảnh hưởng rất đậm từ văn hóa ứng xử học
đường của các nước phương Đơng.
Đầu tiên là phải kể đến cách giáo dục nhân cách con người, ngay từ xưa cách
giáo dục văn hóa ứng xử học đường ở Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của Đạo
Khổng, đem lại cho các thế hệ trẻ của chúng ta nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp như:
kính trên nhường dưới, tôn trọng thầy cô giáo, tinh thần ham học hỏi cao.
Nhà giáo dục Phạm Minh Hạc khẳng định con người tạo lập ra các mối quan
hệ xã hội. Tính tư tưởng hệ, tính ý thức hệ càng cao thì sự tạo lập ấy càng lớn và

-15-


qua đó càng thúc đẩy nhanh sự tiến bộ của xã hội và sự phát triển của con người.
“Nhân cách con người” là chủ thể hoạt động với tính cá thể đạt đến trình độ khá
hồn chỉnh, tính cá nhân (cá tính) đạt đến trình độ mới thể hiện ở chỗ con người
phân biệt rõ chủ thể và khách thể, tức là phân biệt được tồn tại ở bên ngoài và bên
trong tác động vào ta, phân biệt khi nào bản thân ta là chủ thể, khi nào bản thân ta là
khách thể. Đi sâu hơn, ở cấp độ tâm lý học nhân cách, ông cho rằng “nhân cách là
tổ hợp các thái độ, các thuộc tính riêng trong quan hệ hành động của mỗi người với
thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài người sáng tạo ra, với xã hội và với bản
thân”. [30, tr. 63]
Phạm Minh Hạc cũng đưa ra một khái niệm nhân cách “Một chủ thể có bản
chất bao trùm nhất là tự ý thức về chính mình, là tự khẳng định được chính mình
trong một hoạt động chủ đạo” [30, tr. 66]

L.P.Bueva khẳng định “Nhân cách là con người với toàn bộ các phẩm chất
xã hội người đó, hình thành trong những hoạt động và trong các quan hệ xã hội
khác nhau”. [30, tr. 60- 61]
Như vậy xét về nhân cách của con người trong một phạm vi hẹp, trong môi
trường học đường thì nhân cách con người thuộc nhóm đối tượng là các bộ quản lý,
nhân viên, giáo viên và học sinh trong trường Trung học Phổ thông cũng dựa vào
các quan điểm trên, thì nhà trường cũng là cái nơi hình thành nên nhân cách của con
người, là nơi để cho con người tạo ra các mối quan hệ, các hành vi, ứng xử, giao
tiếp, học hỏi nhiều kinh nghiệm từ nhiều cấp độ khác nhau, định hướng cho con
người đạt đến giá trị toàn diện về chân, thiện, mỹ.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với trường cấp II, III tồn
miền Bắc ngày 13-9-1958, Hồ Chí Minh khun dạy: “Vì lợi ích mười năm thì phải
trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Trồng người” là q trình xây
dựng con người tồn diện, q trình phát triển hồn tồn những năng lực sẵn có của
con người.

-16-


Từ đó, nền giáo dục nước nhà thực hiện theo tư tưởng Hồ Chí Minh một
cách xuyên suốt với các nội dung:
Tiêu chuẩn cơ bản hàng đầu của con người tồn diện là đức và tài, trong đó
đức là gốc.
Ngun tắc cơ bản để xây dựng con người toàn diện là tu dưỡng, rèn luyện
trong hoạt động thực tiễn, thực hiện đồng bộ quá trình giáo dục và tự giáo dục.
Với việc vận dụng thực hiện theo những nội dung trên trong cơng tác xây
dựng văn hóa học đường mà cụ thể là ứng xử học đường là phải giáo dục những
người dạy và người học trong thời gian dài, định hướng cho họ tự rèn luyện bản
thân mình để thật sự trở thành con người ứng xử có văn hóa trong nhà trường và
ngồi xã hội. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh

Quan niệm về giáo dục là cơng việc của toàn xã hội và đối với toàn
xã hội. Người đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục đối
với thế hệ trẻ vì thế hệ này cịn trong sạch như tấm lụa trắng chưa màu;
nhuộm xanh nó sẽ xanh, nhuộm đỏ nó sẽ đỏ, xã hội cần những con người
như thế nào thì thơng qua giáo dục thế hệ này sẽ phát triển theo hướng
ấy. [54, tr. 542]
Trải qua nhiều thế hệ, ông cha ta đã đúc kết thành những câu ca dao tục ngữ
để lại cho chúng ta vận dụng vào phương pháp giáo dục ứng xử học đường cho đến
ngày nay. Ca dao hay tục ngữ đều là cách thức nhằm để kết tinh, đúc kết những kinh
nghiệm, sự trải nghiệm của cuộc sống quý báu của mỗi cá nhân, mỗi con người,
mỗi người học trị. Cách ăn, cách nói, cách gói, cách mở; những “phép tắc” cần ứng
xử ở đời…được ghi lại trong những câu ca dao, những câu tục ngữ. xuất phát từ
việc giáo dục đức tính con người, giáo dục cách thức ứng xử cho học trò, vai trò của
người thầy giáo trong một xã hội Việt Nam truyền thống; nó được bắt đầu từ những
câu ca dao hay tục ngữ viết bằng chữ Hán “Tiên học lễ, hậu học văn”. Đây là lời
răn dạy của Khổng Tử. “Lễ” ở đây được Nho giáo quy định bằng những lễ giáo, đạo
lý phong kiến, đưa con người vào khuôn khổ phép tắc kỉ cương (trai thì tam cương

-17-


ngũ thường, gái thì tam tịng tứ đức). Con người có được những lễ giáo này thì mới
bắt đầu học văn. Học văn theo nghĩa xưa là học những điều được ghi trong sách
thánh hiền bao gồm văn hóa chữ nghĩa.
Ngay từ còn bé đứa con đã được dạy những cách ứng xử sao cho lễ phép,
ngoan ngoãn qua các lời dạy: lời “cảm ơn”, “xin lỗi”, “dạ, thưa” với người lớn
tuổi…hoặc đi phải thưa, về phải trình… và như thế lễ nghĩa, đạo lý này đã được in
sâu trong tiềm thức của mỗi chúng ta. Lớn lên, chúng ta được cắp sách đến trường
ngoài việc dược dạy những kiến thức theo chương trình sách giáo khoa, chúng ta
cịn được người thầy truyền đạt lại phẩm chất đạo đức như: “biết kính yêu người

thân, quý mến bạn bè và giúp đỡ mọi người xung quanh” “kính trên nhường dưới”.
Khi tiếp nhận được những phẩm chất đạo đức cao quý ấy từ người thầy, qua đó
cũng khuyên dạy những người học trị phải biết kính trọng thầy cơ, tơn vinh thầy cơ
như cha mẹ mình “tơn sư trọng đạo”. Mọi lời dạy của người thầy luôn là những
điều hay, điều phải, điều đúng và được người học trò nhất nhất tuân theo “nhất tự vi
sư, bán tự vi sư” đó là những điều hay lẽ phải mà người thầy nói trị phải nghe.
Cũng xuất phát từ sự ảnh hưởng của đạo Khổng, nét văn hóa ứng xử giáo
dục truyền thống cũng ln đề cao vai trị của người thầy khơng phân biệt người
thầy có cuộc sống như thế nào sang hèn, nghèo giàu đều được kính trọng, đề cao
trong dư luận xã hội “Không thầy đố mày làm nên”. Như vậy, người thầy ln giữ
vai trị rất quan trọng, ln dạy bảo cho người học trò từ cách đi đứng, hành vi, ứng
xử, phẩm chất đạo đức…..luôn là người nâng niu, dạy bảo, uốn nắn cho ta trong
mỗi bước đi, trong mỗi lời nói giáo tiếp ứng xử sao cho hợp đạo lý, có lễ phép.
Hơn nữa, người thầy giáo dục học trị hiểu được đâu là nguồn cội, đâu là
cơng lao to lớn mà người học trò cần phải nhớ mãi, tơn trọng, phải giữ gìn.
"Mẹ cha cơng sức sinh thành
Ra trường thầy dạy học hành cho hay"
"Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy
Gắng cơng mà học có ngày thành danh"

-18-


×