Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

tiểu luận lịch sử mỹ thuật ứng dụng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (159.35 KB, 13 trang )

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khoảng giữa thế kỷ XVIII, cách mạng công nghiệp tuy đã lắng xuống,
nhưng ở châu Âu vẫn còn dấy lên những tranh luận về tính thẩm mỹ của
các sản phẩm được tạo ra bằng quy trình sản xuất hàng loạt. Nhiều trào lưu
đã phát sinh để tìm cách giải quyết bài toán về sự đối lập giữa quy trình
sản xuất công nghiệp và tính thẩm mỹ của sản phẩm, mà rộng hơn là giữa
khoa học kỹ thuật và nghệ thuật, giữa máy móc và con người. Nhưng hầu
như lời giải tối ưu – toàn diện – nhất quán – lâu dài nhất lại đến từ một
trường đào tạo mỹ nghệ ở Đức có tên là Bauhaus.
Giữa suy tàn và u ám, kiến trúc sư Walter Gropius nhận ra những khuôn
vàng thước ngọc của kiến trúc thời trước không còn phù hợp nữa. Ông trút
bỏ những hoạ tiết rườm rà khỏi các bản thiết kế, rồi chối từ hẳn những
định ước xưa cũ vốn kiểu cách và đồng bóng.
Gropius công bố Tuyên ngôn Bauhaus với lời kêu gọi cải tổ quá trình đào
tạo nghệ thuật, đúng hơn là một phong cách mới. Ông tuyên bố rằng nghệ
thuật nên quay lại với cội nguồn của nó và điều kiện đầu tiên là người thợ
thủ công, nơi mà người ta có khả năng học tập cách làm việc với các loại
vật liệu
Bauhaus được thành lập năm 1919 bởi kiến trúc sư Walter Gropius. Trong
khoảng 14 năm tồn tại (1919-1933), trải qua 3 thế hệ hiệu trưởng (Walter
Gropius, Hannes Meyer và Ludwig Mies van der Rohe), di dời địa điểm 2
lần (từ Weimar chuyển sang Dessau năm 1925, rồi lại từ Dessau chuyển
sang Berlin năm 1932), Bauhaus đã để lại những di sản to lớn cho nghệ
thuật, kiến trúc, lẫn thiết kế mà không thể nào nói hết. Vì vậy em đã lựa
chọn đề tài "Tìm hiểu về Walter Gropius và phong cách nghệ thuật của
ông" để làm đề tài .
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về Walter Gropius và phong cách nghệ thuật của ông nhằm làm


rõ biết thêm chi tiết
3Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


Đối tượng : Walter Gropius và phong cách nghệ thuật của ông
Phạm vi nghiên cứu : từ năm 1919 – 1945
Khách thể : những tác phẩm của Gropi
4.Phương pháp nghiên cứu
Phân tích , tổng hợp , diễn dịch , quy nạp
Phương pháp luận
5.Kết cấu của Tiểu luận.

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
Cuộc đời và sự nghiệp của Walter Gropius
1.1. Walter Gropius
Walter Adolph Gropius sinh ngày 18/5/1883 tại Berlin, mất ngày 5/7/1969 tại
Boston
Là một kiến trúc sư người Đức
Sáng lập ra trường Bauhaus
Walter Gropius sinh tại Berlin, là con thứ ba của một kiến trúc sư . Ông có
cùng tên với cha, còn mẹ ông là Manon Auguste Pauline Scharnweber (1855–
1933). Bố của ông là họa sĩ đã từng là viện sĩ Viện Hàn lâm nghệ thuật. Chú
ông là giám đốc trường nghệ thuật và dạy nghề, đồng thời là Tổng giám đốc
các trường nghệ thuật của nước Phổ.
Năm 1915, Gropius kết hôn với Alma Schindler sau khi người chồng trước
của bà, nhà soạn nhạc Gustav Mahler, chết. Họ có một người con gái tên là
Manon nhưng Manon chết trước 20 tuổi (1916-1935). Trong khi đó, cuộc hôn
nhân giữa Walter và Almar đã chấm dứt khi họ ly dị vào năm 1920.
1.2. Thành tựu

Sau khi học tại các đại học kỹ thuật tại Berlin và München, năm 1907,
Gropius đến làm việc cho kiến trúc sư Peter Behrens. Năm 1911, với tư cách
là trợ thủ của Behrens, Gropius được nhận thiết kế công trình Nhà máy giày


Fargus. Đây là một công trình đã có mặt bằng hoàn tất, Gropius chỉ thiết kế
lại lớp vỏ bọc bên ngoài công trình. Chính từ lớp vỏ bọc này, một vẻ đẹp của
kiến trúc công nghiệp hiện đại ra đời và đã có ảnh hưởng lên kiến trúc hiện
đại hàng thập kỉ sau này.
Năm 1913, Gropius viết bài "Sự phát triển của nền kiến trúc công nghiệp hiện
đại" trên tờ Jahnrbuchs của Hiệp hội Công trình Đức (Deutsche Werkbund)
báo hiệu sự ra đời của một xu hướng kiến trúc trong thời đại mới. Theo ông,
những tính biểu tượng của các công trình to lớn như các silo công nghiệp ở
Bắc Mỹ có thể sánh với các kim tự tháp của Ai Cập cổ đại. Ông nhấn mạnh
việc kiến trúc châu Âu phải từ bỏ sự tán dương và trung thành với truyền
thống cổ điển (nostalgia).
Năm 1914, Gropius thiết gian công nghiệp tại triển lãm ý tưởng của
Werkbund, Köln, Đức. Công trình đánh dấu một bước mới của thẩm mỹ kiến
trúc công nghiệp của Gropius với hai khối kính trong suốt và cầu thang tròn
mềm mại bên trong tương phản với một mặt đứng đặc chắc, cộng với phần
sân thượng mái nhẹ phảng phất đường nét của Frank Lloyd Wright, đã đem lại
một vẻ đẹp thanh lịch và khỏe mạnh cho công trình.
Năm 1919, ông được Henry van de Veldes đề nghị nối tiếp chức vụ của mình
tại trường Đại học Nghệ thuật tạo hình Đại công quốc Sachsen
(Großherzoglich-Sächsischen Hochschule für Bildende Kunst) tại Weimar.
Gropius đã kết hợp với Trường Mỹ thuật và Thủ công (Grossherzogliche
Kunstgewerbeschule), vốn đóng cửa từ năm 1915, và đổi tên thành trường
Bauhaus Quốc gia tại Weimar (Staatliches Bauhaus in Weimar). Cộng sự của
ông có Bruno Taut, Johannes Itten, Wassily Kandinsky, Paul Klee... Trường
được chính thức thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1919 với một đường hướng và

tôn chỉ đào tạo hoàn toàn mới.
Một tháng sau đó Gropius công bố Tuyên ngôn Bauhaus với lời kêu gọi cải tổ
quá trình đào tạo nghệ thuật, đúng hơn là một phong cách mới. Ông tuyên bố
rằng nghệ thuật nên quay lại với cội nguồn của nó và điều kiện đầu tiên là
người thợ thủ công, nơi mà người ta có khả năng học tập cách làm việc với
các loại vật liệu.
Năm 1923 trường chuyển về Dessau, tại đây Gropius đã thiết kế một ngôi
trường mới: Trường Bauhaus ở Dessau. Đây là tác phẩm mang tính tuyên
ngôn cho trường phái Bauhaus thể hiện nguyên tắc kiến trúc mà Walter
Gropius và các đồng nghiệp đề xướng. Công trình có mặt bằng phi đối xứng
với sự kết hợp linh hoạt của các khối xưởng thiết kế, nhà học khu hiệu bộ và
ký túc xá sinh viên. Công trình thể hiện hoàn toàn 3 đặc điểm của Phong cách
Quốc tế (International Style).
Thời gian tại Hoa Kỳ
Do có quan điểm chính trị khác với chính quyền phát xít thời đó, Gropius rời
Đức để sang làm việc tại Anh vào năm 1934. Năm 1937 ông di cư sang
Cambridge, Massachusetts (Hoa Kỳ), nơi ông làm việc trong Trường thiết kế
(Graduate School of Design) thuộc Đại học Havard như là giáo sư về kiến


trúc. Một trong những học trò của Gropius tại Harvard là Sigfried Giedion
một lý thuyết gia nổi tiếng về kiến trúc.
Năm 1946 Gropius thành lập hãng thiết kế The Architects Collaborative
(TAC) là tập hợp của những kiến trúc sư trẻ tuổi, đối với ông đây cũng là một
tuyên ngôn cho niềm tin của ông vào hợp tác tập thể (teamwork). Một công
trình của hãng này là Trung tâm Cao học (Graduate Center) của Đại học Song
sắt tại Cambridge (1949/1950).
Những năm cuối đời
Trong những năm cuối đời Gropius lại làm việc nhiều tại Berlin, nơi mà ngoài
những công trình khác ông đã tạo dựng một khu nhà ở 9 tầng trong khu phố

Berlin-Hansaviertel năm 1957 trong khuôn khổ của chương trình Interbau.
Năm 1961 ông được trao Giải Goethe và năm 1963 ông được trường Đại học
Tự do Berlin (Freie Universität Berlin) trao tặng học vị tiến sĩ danh dự (doctor
honoris causa).
1.3 Ảnh hưởng của Waletr gropius đến nghệ thuật thiết kế
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), nước Đức sống thiếu thốn và
khổ sở trong cái bi kịch của lịch sử dành cho một quốc gia bại trận. Nghệ
thuật Đức cũng bị tổn thương, bởi những chật vật của cuộc sống đã khiến giới
nghệ sĩ Đức không còn sức cho sáng tạo.
Giữa suy tàn và u ám, kiến trúc sư Walter Gropius nhận ra những khuôn vàng
thước ngọc của kiến trúc thời trước không còn phù hợp nữa. Ông trút bỏ
những hoạ tiết rườm rà khỏi các bản thiết kế, rồi chối từ hẳn những định ước
xưa cũ vốn kiểu cách và đồng bóng.
Năm 1914, Gropius thiết kế gian công nghiệp tại triển lãm ý tưởng của
Werkbund, Köln, Đức
Công trình đánh dấu một bước mới của thẩm mỹ kiến trúc công nghiệp của
Gropius
Gropius công bố Tuyên ngôn Bauhaus với lời kêu gọi cải tổ quá trình đào tạo
nghệ thuật, đúng hơn là một phong cách mới. Ông tuyên bố rằng nghệ thuật
nên quay lại với cội nguồn của nó và điều kiện đầu tiên là người thợ thủ công,
nơi mà người ta có khả năng học tập cách làm việc với các loại vật liệu
Hệ thống tư tưởng của Bauhaus hướng về một sự toàn vẹn của môi trường
thấm mĩ. Những sản phẩm do Bauhaus sáng chế và sản xuất được giới thiệu
trong các tập Sách- Bauhaus. Khi lật giở những trang sách này người ta không
khỏi không kinh ngạc trước một khối lượng khổng lồ những vật phẩm đáp
ứng hầu hết những nhu cầu hàng ngày của con người mà những vật phẩm này
đều được nghiên cứu sản xuất một cách hiện đại nhất, tiện lợi nhất, đẹp đẽ
nhất theo tinh thần Bauhaus. Bauhaus ôm tất cả mọi lĩnh vực hội họa, điêu
khắc, sân khấu, múa, dệt, nhiếp ảnh, mĩ thuật công nghiệp, kiến trúc, tức là từ
tách cà phê đến quy hoạch đô thị, Gropius mơ đến việc đưa người nghệ sĩ vào

các êkíp sản xuất bên cạnh người kĩ sư, cạnh nhà khoa học và nhà thương


mại. Tóm lại với khẩu hiệu “Nghệ thuật và kĩ thuật là một sự thống nhất mới”
Gropius và ban lãnh đạo Bauhaus mong muốn rằng tất cả các nghệ thuật đểu
thống nhất hài hòa trong một tổng thê được gọi là “nghệ thuật tổng hòa” lấy
kiến trúc làm trung tâm nhằm tạo nên một môi trường hoàn chỉnh bao quanh
con người và phục vụ con người bằng những phương tiện tối tân nhất thừa
hường ở tiến bộ khoa học kĩ thuật. Moholy Nagy cũng quan niệm các trào lưu
tư tưởng khác nhau, các “chủ nghĩa” khác nhau trong nghệ thuật chỉ là những
thành phần của một tổng thê hài hòa trong tương lai.
Tiểu kết chương 1
Walter Gropius theo đuổi mục tiêu dân chủ hóa nghệ thuật: đưa sản phẩm
nghệ thuật đến tận người dân thường, vì trước đây thành tựu của nghệ thuật
hầu như chỉ phục vụ tầng lóp trên của xã hội. Muốn vậy các sản phẩm nghệ
thuật phải rẻ, phải nhiều. Tư tưởng sản xuất hàng loạt nảy sinh ra từ đó, trong
kiến trúc là phương pháp lắp ghép làm rất đơn giản, không có một hoa vãn
trang trí nhỏ nào để dễ sản xuất hàng loạt bằng những vật liệu thông thường là
gỗ và sắt thép…
Walter Gropius đưa ra một quan niệm thẩm mĩ mới, đó là thẩm mĩ của thời
đại cơ khí, của xã hội có khoa học kĩ thuật phát triển. Trong những thế kỉ
trước cái đẹp của kiến trúc, của vật dụng phục vụ đời sống con người thường
gắn với trang trí hoa văn, điêu khắc, với đường nét uốn lượn. Nay theo
Bauhaus cái đẹp của vật dụng sản xuất theo phương pháp công nghiệp gần
như hoàn toàn khác hẳn. Đó là vẻ đẹp của hình thức đơn giản, của những hình
hình học sơ cấp, vẻ đẹp của sự chính xác công nghiệp, của chất cảm vật liệu,
vẻ đẹp của sự hợp lí, tiện lợi.

CHƯƠNG 2
Một số tác phẩm tiêu biểu

2.1. Trường Bauhaus
Bauhaus, là một trường dạy nghệ thuật ở Đức đào tạo về nghệ thuật thủ công
và mỹ thuật, và nổi tiếng với phương pháp tiếp cận thiết kế mà nó công bố và
giảng dạy. Trường này tồn tại từ năm 1919 tới năm 1933. Tại thời điểm đó,
thuật ngữ tiếng Đức Bauhaus nghĩa đen là "công trình toà nhà" được hiểu với
nghĩa "Viện đào tạo về xây dựng".
Bauhaus được thành lập lần đầu bởi Walter Gropius ở Weimar. Mặc dù tên gọi
của ngôi trường có liên quan đến kiến trúc, và thực tế người sáng lập của
trường là một kiến trúc sư, Bauhaus, trong năm đầu tiên tồn tại, không hề có
bộ môn kiến trúc. Tuy vậy, nó được thành lập với ý tưởng về việc tạo dựng
một công trình nghệ thuật "tổng thể", mà trong đó các thể loại nghệ thuật, bao
gồm cả kiến trúc, cuối cùng sẽ liên kết lại với nhau. Phong cách Bauhaus sau
này trở thành một trong những dòng có ảnh hưởng nhất trong ngành thiết kế
hiện đại, ngành Kiến trúc Hiện đại và ngành đào tạo về nghệ thuật, thiết kế và


kiến trúc.[1] Phong cách Bauhaus đã có một ảnh hưởng sâu sắc vào sự phát
triển kế tiếp trong nghệ thuật, kiến trúc, thiết kế đồ họa, thiết kế nội thất, thiết
kế công nghiệp và nghệ thuật sắp chữ.
Ngôi trường từng tồn tại ở ba thành phố của Đức: Weimar từ 1919 tới 1925,
Dessau từ 1925 tới 1932 và Berlin từ 1932 tới 1933, dưới sự lãnh đạo của ba
giám đốc - kiến trúc sư: Walter Gropius từ 1919 tới 1928, Hannes Meyer từ
1928 tới 1930 và Ludwig Mies van der Rohe từ 1930 tới 1933, khi trường bị
đóng cửa bởi các lãnh đạo dưới áp lực của chế độ Đức Quốc xã, đã được sơn
như một trung tâm của trí thức cộng sản. Mặc dù trường bị đóng cửa, các
giảng viên của Bauhaus tiếp tục truyền bá những lý luận và quan niệm thiết
kế của mình khi họ rời Đức và di cư khắp nơi trên thế giới.
Những thay đổi về địa điểm và lãnh đạo dẫn đến một chuyển đổi về trọng tâm
trong đào tạo, kỹ thuật, giảng viên và chính trị. Các ví dụ có thể kể đến như
xưởng gốm bị ngừng hoạt động khi ngôi trường di chuyển từ Weimar tới

Dessau, mặc dù nó đã là một nguồn thu quan trọng; và khi Mies van der Rohe
tiếp quản Bauhaus vào năm 1930, ông chuyển đổi nó thành một trường tư
thục, và không cho phép bất kì nhà đầu tư nào của Hannes Meyer tiếp cận
ngôi trường.
Gropius đặt tên trường là Bauhaus, dịch là ngôi nhà của các công trình
(building house), nhưng theo Weimar Bauhaus-Universität, nó là viết tắt của
“một sự háo hức với sự cởi mở, thử nghiệm, sáng tạo, liên kết chặt chẽ để
thực hành công nghiệp và đa quốc gia”. Hội đồng quản trị của trường
Bauhaus ngoài Gropius còn có những tên tuổi nổi tiếng như thiên tài vật lý
Albert Einstein, kiến trúc sư Ludwig Mies van der Rohe, và các danh hoạ, các
nhà thiết kế nổi tiếng như Josef Albers, Lyonel Feininger, Wassily Kandinsky,
Paul Klee, Oskar Schlemmer…
Trong những năm đầu tiên của sự định hình, trường phái Bauhaus dừng lại
trong các thể nghiệm về cân đối giữa thẩm mỹ và công năng ở những dự án
nội thất hay ở việc chế tạo các vật dụng thường ngày như cái bàn, bộ ghế,
những món đồ gốm, những cuộn giấy dán…Bauhaus hướng vào chủ nghĩa ấn
tượng và tìm kiếm con đường cải cách riêng chomình.
Những
đặc
trưng

bản
của
Thiết
kế
Bauhaus
William Morris, nhà thiết kế nổi tiếng người Anh vào cuối thế kỷ XIX từng
nhận định: Nghệ thuật thật sự đạt đến đỉnh điểm khi nó đáp ứng được nhu cầu
của xã hội, sau đó không nên có sự phân biệt giữa hình thể và chức năng.
Nói cách khác, cái đẹp cần phải luôn song hành cùng công năng. Quan điểm

ấy đã ảnh hưởng đến những thế hệ thiết kế về sau, tiêu biểu là sự phát triển
mạnh mẽ của nghệ thuật đương đại ở Bauhaus. Phong cách De Stijl và trường
phái thiết kế Nga cùng thời đại đồng thời có tác động lên những tác phẩm tại
Bauhaus.
Vậy nên, các tác phẩm theo phong cách Bauhaus luôn đặt tính công năng lên
hàng đầu thông qua ngôn ngữ hình học, hình khối đơn giản không trang trí.
Tại Bauhaus các sản phẩm đều phải tuân thủ nguyên tắc “Thẩm mỹ đi liền với


Công năng”. Năm 1923, Bauhaus tiến hành cải cách với quan điểm mới:
Nghệ thuật và công nghệ – sự kết hợp mới. Sản phẩm cần phải đáp ứng được
tính thẩm mỹ dựa theo các tiêu chuẩn về thiết kế, đồng thời đảm bảo công
năng và tính tiện dụng. Về mặt kiến trúc hay trang trí nội thất cũng vậy.
Những công trình được xây dựng theo mảng, khối, không thừa cũng không
thiếu. Những chi tiết cầu kỳ như thước cột La Mã, phù điêu, hoa văn uốn lượn
được giảm đến mức tối thiểu.
Bên cạnh “Thiết kế đáp ứng công năng”, Bauhaus còn là sự thống nhất giữa
nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ. Walter Gropius khẳng định rằng: “Kiến trúc
sư, họa sĩ, nhà điêu khắc, chúng ta đều phải trở về làm thợ thủ công! Ở đó
không có gì là “Art Professional – nghệ thuật chuyên nghiệp”. Không có sự
khác biệt cơ bản giữa nghệ sĩ và thợ thủ công. Nghệ sĩ là một nghệ nhân cao
quý…Một tền tảng của sự thủ công là cần thiết cho mọi nghệ sĩ. Nó là nguồn
gốc là của sự sáng tạo.”
2.2. Nhà máy sản xuất giày Fagus
Dự án: Nhà máy sản xuất giày, Alfeld, Đức (Fagus- Werk)
Địa điểm: Alfeld, Đức
Nhà máy sản xuất giày (Fagus Fabrik hoặc Fagus Werk) được xây dựng vào
năm 1911 - 1913, hoàn thiện vào năm 1925, là nơi sản xuất và văn phòng của
công ty Fagus –GreCon.
Công trình nằm ngay bên cạnh tuyến đường sắt Hannover-Alfeld-Kassel /

Bebra, tại Alfeld, Đức.
Công trình do Walter Gropius (18/5/883 – 5/7/1969 và Adolf Meyer
(17/6/1881 – 14/7/1929) thiết kế. Walter Gropius là kiến trúc sư người Đức
nổi tiếng, người sáng lập học phái Bauhaus. Ông cùng cùng với Ludwig Mies
van der Rohe, Le Corbusier và Frank Lloyd Wright,được coi là một trong
những các bậc thầy tiên phong của kiến trúc hiện đại.
Công trình được coi là một trong những công trình mở đầu cho kiến trúc hiện
đại, với phong cách hoàn toàn mới trong việc thiết kế mặt đứng công trình,
trên cơ sở các kinh nghiệm xây dựng nhà kính, nhà ga, nhà triển lãm vào cuối
thế kỷ 19. Nhà máy Fagus ở Alfeld là một khu phức hợp của 10 tòa nhà, còn
được gọi là tòa nhà Fagus. Trong thời điểm bấy giờ (năm 1910), nhà máy
là một bước ngoặt trong sự phát triển của kiến trúc hiện đại và thiết kế công
nghiệp. Các hạng mục công trình phục vụ cho tất cả các giai đoạn của sản
xuất, kho và văn phòng của ngành công nghiệp giày. Nhà máy gồm các hạng
mục công trình chính: Nhà sản xuất 1 tầng, hội trường, nhà kho cao 4 tầng và
một số công trình phụ trợ khác. Tường tầng hầm bằng bê tông, tường phần
nổi bằng gạch màu đen và vàng. Hệ thống cột dầm chịu lực bằng thép, cho
phép thay thế các bức tường chịu lực bằng các tấm tường kính lớn, tạo điều
kiện cho việc chiếu sáng và tăng cường mối liên hệ không gian giữa bên trong
và bên ngoài công trình, hình thành các nhân tố mới:Ánh sáng – Không khí –
Sự sạch sẽ, qua đó nâng cao điều kiện làm việc của người lao động. Các tấm
sàn là các tấm panel lắp ghép. Mái của nhà sản xuất chính là mái dạng răng


cưa để lấy ánh sáng và thông gió từ mái. Công trình được cho là có ảnh hưởng
từ thiết kế của công trình nhà máy sản xuất tua bin AEG, được thiết kế
bởi Peter Behrens, với hệ khung cột chịu lực và tường bao bằng kính. Tuy
nhiên trong nhà máy sản xuất giày Fagus các góc tường không là các mảng
tường đặc mà bằng kính.
Nhà máy Fagus ở Alfeld tạo thành một quần thể kiến trúc báo hiệu sự chuyển

động theo hướng hiện đại trong kiến trúc thời bấy giờ. Nó là bằng chứng cho
một bước đột phá lớn với giá trị kiến trúc và trang trí đại diện cho một quyết
tâm hướng tới vẻ đẹp của các công trình công nghiệp theo chức năng.
Các tòa nhà chính với mặt tiền gần như hoàn toàn bằng kính đã tạo ra một
hình thức kiến trúc không phụ thuộc vào điều kiện bản địa. Các yếu tố trang
trí và chức năng nội thất hòa hợp với kiến trúc và dự án đầu tư xây dựng, là
điển hình của "Phong cách quốc tế" được hình thành và phát triển trên toàn
thế giới kể từ những năm 30, gắn với quá trình công nghiệp hóa.
Nhà máy Fagus ở Alfeld là minh họa cho một thời điểm chuyển giao đáng kể
giữa các thế hệ khác nhau của kiến trúc sư người Đức, châu Âu và Bắc Mỹ, là
một công trình kiến trúc hợp lý và hiện đại. Tại đây tổng hợp được các ảnh
hưởng của kỹ thuật và nhân văn, là nguồn cảm hứng cho các công trình kiến
trúc tiếp theo và là điểm khởi đầu của trào lưu Bauhaus.
Nhà máy Fagus ở Alfeld là một bản tuyên ngôn của tính hiện đại trong kiến
trúc, với các sáng tạo về hệ thống tường kính (rèm kính) không chịu lực,
nhằm tối ưu hóa ánh sáng và sự nhẹ nhàng, biểu hiện cụ thể của mối quan hệ
giữa các yếu tố chức năng sản xuất công nghiệp gắn với lợi nhuận và môi
trường làm việc của người lao động. Nó mở đầu cho các khái niệm mới về
thẩm
Nhà máy Fagus hiện vẫn còn tiếp tục hoạt động, kết hợp làm một bảo tàng
giày và là Di sản thế giới (2011).
2.3. Ngôi nhà Gropius
Gropius House là nơi cư trú của kiến trúc sư Walter Gropius tại 68 Baker
Bridge Road, Lincoln, Massachusetts . Nó bây giờ là một bảo tàng nhà lịch
sử , thuộc sở hữu của lịch sử New England , và mở cửa cho công chúng. Nó
được chỉ định là Di tích Lịch sử Quốc giavào năm 2000 vì sự liên kết với
Gropius, một giáo viên có ảnh hưởng và là người lãnh đạo triết lý kiến
trúc hiện đại . Ngôi nhà bao gồm một bộ sưu tập các tài liệu có liên quan
đến Bauhaus mà là vô song bên ngoài nước Đức .
Gropius và gia đình ông đã đến Hoa Kỳ sau ba năm ở London, nơi họ đã

chuyển đến để tránh chế độ Quốc xã. Gropius đã đến Massachusetts để chấp
nhận một vị trí giảng dạy tại trường đại học Harvard của thiết kế. Kiến trúc sư
và nhân vật nổi tiếng của Boston, Henry Shepley, đã thuyết phục nhà từ
thiện Helen Storrow cung cấp đất đai và tài trợ cho cả quá trình thiết kế và
xây dựng một ngôi nhà. Ông thiết kế ngôi nhà vào năm 1937 và được xây
dựng với nhà xây dựng địa phương Casper J. Jenney vào năm 1938. Gropius
đã sử dụng ngôi nhà mới của mình làm nơi trưng bày cho các sinh viên


Harvard cũng như một ví dụ về kiến trúc cảnh quan hiện đại ở Mỹ. Ông chọn
khu vực này vì sự gần gũi với Học viện Concord mà con gái ông, Ati, sẽ tham
dự. Nó vẫn là nhà của Gropius từ năm 1938 cho đến khi ông qua đời vào năm
1969.
Marcel Breuer , một kiến trúc sư và bạn của gia đình Gropius, đã đến Mỹ
ngay sau khi gia đình Gropius, cũng trở thành một phần của khoa thiết kế
Harvard. Bà Helen Storrow cung cấp một mảnh đất láng giềng để Breuer, nơi
ông có thể giới thiệu triết lý thiết kế của riêng mình. Gropius và Breuer đã hỗ
trợ nhau trong việc xây dựng nhà của họ, hoàn thành nhà của họ vào năm
1938 và 1939, tương ứng. Nhà Gropius tiếp tục có nhiều đồ nội thất Breuer
trưng bày. Ngôi nhà cũng chứa các tác phẩm của Eero Saarinen, Joan Miró, và
Herbert Bayer được tặng làm quà tặng cho Walter Gropius.
Tại thời điểm xây dựng Nhà Gropius, con gái nuôi của Ati và con gái của Ati,
Ati đã 12 tuổi. Gropius chăm sóc rất nhiều trong việc đảm bảo rằng Ati hạnh
phúc và thoải mái, đồng thời cho phép cô có nhiều đầu vào vào thiết kế không
gian riêng của mình. Ati chọn bảng màu ấm áp của cô và phần lớn đồ nội thất
của cô, trong đó có bàn Gropius đã thiết kế như một phần của Bauhaus vào
năm 1922. Phòng của Ati là phòng lớn nhất trong ba phòng ngủ, với lối vào
riêng của cô bao gồm cầu thang sắt. Mặc dù Gropius không thể cho cô ấy sàn
cát và trần nhà bằng kính mà cô ấy yêu cầu, anh ấy đã cho cô ấy một tầng mái
riêng để cô ấy có thể ngủ dưới những vì sao.

Để phù hợp với triết lý Bauhaus, mọi khía cạnh của ngôi nhà và cảnh quan
xung quanh của nó đã được lên kế hoạch cho hiệu quả và sự đơn giản tối
đa. Gropius cẩn thận đặt ngôi nhà để bổ sung cho môi trường sống New
England của nó trên một bãi cỏ bao quanh bởi những bức tường đá, giữa
những vùng đất ngập nước và một vườn cây ăn quả 90 cây táo mà Gropiuses
cho phép mọc tự nhiên hơn một vài lần cắt trong mùa sinh trưởng. Gropius
muốn không gian ngoài trời xung quanh nhà là một khu vực văn minh "bình
đẳng" và tạo ra một bãi cỏ trải dài hai mươi feet xung quanh toàn bộ ngôi nhà,
với một khu vườn lâu năm mở rộng ở phía nam bởi hiên nhà. Mặc dù ngôi
nhà nằm trên một khu đất khá bằng phẳng, bằng cách giữ cho rừng được duy
trì tốt, các Gropiuses đã có thể giữ lại một cái nhìn rộng về phía nam, phía
đông và phía tây. Mái hiên có màn che của ông được đặt theo cách giúp phân
chia đất xung quanh nhà thành nhiều khu, so sánh với các phòng trong
nhà. Ngôi nhà được hình thành như là một phần của cảnh quan hữu cơ, nơi
Gropius sử dụng không gian trong nhà / ngoài trời để làm nổi bật mối quan hệ
giữa cấu trúc và địa điểm. Trước khi thiết kế của ngôi nhà đã được hoàn
thành, Walter Gropius đã làm việc chăm chỉ để tạo ra cảnh quan lý
tưởng. Ông đã chọn cây trưởng thành từ khu rừng lân cận và giúp cấy ghép
chúng trong những gì sau này sẽ trở thành sân của ông. Ise là nhà làm vườn
chủ yếu trong gia đình, và cô và Walter chọn Scotch thông , cây thông
trắng , cây du , sồi , và cây sồi Mỹ để bổ sung cho môi trường xung quanh của
họ. Các Gropiuses cũng thêm vào những tảng đá "giải cứu" và những vách đá


bằng gỗ được trang trí bằng hoa hồng leo hồng và những cây nho Concord để
làm phẳng phong cảnh New England. Cây dây leo và cây dây leo kèn kèn
cũng kết nối ngôi nhà với thiên nhiên. Ise dành nhiều giờ mỗi tuần trồng, làm
cỏ và trang trí. Cô cũng đã lấp đầy và duy trì hơn một chục người nuôi chim
và nhà chim trên cơ ngơi và tuyên bố đã biết hơn chín mươi con cá nhân. Sau
một chuyến đi đến Nhật Bản vào những năm 1950, bà Gropius đã loại bỏ

những cây lâu năm và phủ lên mặt đất trong một lớp sỏi màu xám, nơi bà
trồng đậu quyên , cây bạch đàn , cotoneaster và một cây Maple Nhật đỏ lớn.
Theo thực tế của tôi, khi tôi xây dựng ngôi nhà đầu tiên của mình ở Hoa Kỳ
— đó là của riêng tôi — tôi đã làm cho nó trở thành một điểm hấp thụ vào
quan niệm của riêng tôi những đặc điểm của truyền thống kiến trúc New
England mà tôi thấy vẫn còn sống và đầy đủ. Sự hợp nhất của tinh thần khu
vực với cách tiếp cận hiện đại để thiết kế tạo ra một ngôi nhà mà tôi sẽ không
bao giờ xây dựng ở châu Âu với nền khí hậu, kỹ thuật và tâm lý hoàn toàn
khác.
Nằm giữa cánh đồng, rừng và trang trại, Gropius House pha trộn các vật liệu
truyền thống của kiến trúc New England (gỗ, gạch, và đá sa thạch) với các vật
liệu công nghiệp như khối thủy tinh, thạch cao âm thanh , thép hàn và crôm
chrome. Cấu trúc nhà bao gồm một bài New England truyền thống và khung
gỗ chùm, bao bọc bằng lưỡi sơn màu trắng và siding đứng về phía trước. Các
tấm ván lợp truyền thống được sử dụng trong tiền sảnh bên trong, nhưng được
áp dụng theo chiều dọc, để tạo ra ảo tưởng về chiều cao. Các tấm gỗ dán cũng
thực hiện một chức năng thực tế như một bộ sưu tập. Bởi vì các tác phẩm
được trưng bày trong Nhà Gropius gần như luôn thay đổi, gỗ được dùng làm
bề mặt dễ dàng để đóng đinh, vá, sơn lại và bắt đầu lại. Nhà có một phòng
khách có chung một kế hoạch mở sàn với một phòng ăn, nhà bếp, một văn
phòng, một phòng may, ba phòng ngủ, và bốn phòng tắm. Tất cả các phòng
tắm được đặt ở góc phía tây bắc ít nổi bật của ngôi nhà, và tất cả đều sử dụng
cùng một hệ thống ống nước để đạt hiệu quả tối đa. Một trong những điểm
khác biệt đáng chú ý nhất giữa Nhà Gropius và những ngôi nhà liền kề của nó
là mái nhà bằng phẳng. Trong khi ở phần lớn châu Âu và thậm chí ở một số
bộ phận của mái nhà bằng phẳng của Hoa Kỳ đã trở nên khá phổ biến, ở
Lincoln và các khu vực xung quanh mái nhà cao nhọn với đầu hồi là tiêu
chuẩn. Gropius thời trang mái nhà bằng phẳng của mình với một chút nghiêng
đến trung tâm, nơi nước có thể chảy ra một cái giếng khô trên tài sản.
Vào năm 1931, Walter Gropius được yêu cầu viết một bài báo mô tả ngôi nhà

nhỏ lý tưởng cho cuộc sống kiến trúc . Gropius vạch ra những khía cạnh quan
trọng nhất trong thiết kế của ngôi nhà, nghe như mô tả thật sự về nhà ở
Lincoln: "Ngôi nhà bị sưng không còn giống như pháo đài, như tượng đài
tường với độ dày trung cổ và mặt tiền đắt tiền dành cho đại diện sặc sỡ Thay
vào đó là xây dựng ánh sáng, đầy ánh sáng ban ngày và ánh nắng mặt trời, có
thể thay đổi, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm và hữu ích ở mức độ cuối cùng cho
những người cư ngụ có chức năng sống của nó nhằm phục vụ. "


Gropius tiếp tục mô tả cách bố trí lý tưởng của một ngôi nhà như vậy, gần như
phác thảo thành phần Gropius House: "Kế hoạch mặt đất ... là một phép chiếu
hình học về ý tưởng không gian của nó - kế hoạch tổ chức di chuyển trong
một ngôi nhà. , là kết quả của kế hoạch đó chứ không phải là điểm khởi đầu ...
Do đó, không có sự đối xứng nhân tạo, nhưng sự sắp xếp chức năng miễn phí
của việc nối tiếp các phòng, đoạn ngắn, tiết kiệm thời gian giao tiếp, di
chuyển không gian cho trẻ em, tách biệt rõ ràng giữa sống, ngủ, và các bộ
phận vệ sinh của ngôi nhà, và cuối cùng, sử dụng thích hợp của mặt đất và
đặc biệt là các mặt trời nắng.Phòng ngủ cần ánh sáng mặt trời (phải đối mặt
với phía đông) phòng khách nên có ánh sáng phía nam đến phía tây, và phía
bắc là còn lại để buồng kho, nhà bếp, cầu thang và phòng tắm. "
Tiểu kết chương 2
Bauhaus trở thành một trung tâm truyền bá chủ nghĩa Công năng mạnh mẽ ở
châu Âu và thế giới. Các tư tưởng nghệ thuật tiền tiến từ đây lan truyền ra
khắp thế giới. “Walter Gropius đã thành công làm cho nhà trường này trở
thành một trung tâm kết tinh nền văn hóa thế giới của thời đại”, đó là nhận xét
cứa nhà nghiên cứu kiến trúc Udo Kultermann. Quả thật với con mắt tinh đời,
với đức tính khiêm tốn và tài năng kiệt xuất, Gropius đã chiêu mộ được một
đội ngũ cán bộ giảng dạy hùng hậu hiếm có. Khi đến với Bauhaus, tất cả đểu
còn trẻ và chưa nổi tiếng lắm, nhưng sau này nhiều người trong số đó đã trở
thành những nghệ sĩ lớn.


KẾT LUẬN
Giữa suy tàn và u ám, kiến trúc sư Walter Gropius nhận ra những khuôn
vàng thước ngọc của kiến trúc thời trước không còn phù hợp nữa. Ông trút bỏ
những hoạ tiết rườm rà khỏi các bản thiết kế, rồi chối từ hẳn những định ước
xưa cũ vốn kiểu cách và đồng bóng.
Nghệ thuật thật sự đạt đến đỉnh điểm khi nó đáp ứng được nhu cầu của xã hội,
sau đó không nên có sự phân biệt giữa hình thể và chức năng.
Nói cách khác, cái đẹp cần phải luôn song hành cùng công năng. Quan điểm
ấy đã ảnh hưởng đến những thế hệ thiết kế về sau, tiêu biểu là sự phát triển
mạnh mẽ của nghệ thuật đương đại, nghệ thuật và công nghệ – sự kết hợp mới
,hướng về một sự toàn vẹn của môi trường thấm mĩ . Biểu hiện cụ thể của mối
quan hệ giữa các yếu tố chức năng sản xuất công nghiệp gắn với lợi nhuận và
môi trường làm việc của người lao động. Nó mở đầu cho các khái niệm mới
về thẩm mỹ và thiết kế công nghiệp.
Ưu điểm phong cách nghệ thuật của Gropius .Về phía người tạo tác, sẽ không
còn phân biệt giữa nghệ sĩ và nghệ nhân thủ công mỹ nghệ hay người sản
xuất, không còn ngăn cách về địa vị, năng lực, sự phù phiếm hay kiêu ngạo…


vì nghệ nhân đồng thời là nghệ sĩ, nghệ sĩ đồng thời là kỹ sư, tất cả những
kiến thức đa ngành sẽ được hội tụ lại ở 1 con người để đảm bảo tính toàn
thiện và hoàn chỉnh. Về phía người tiêu dùng và thưởng lãm, các sản phẩm
được tạo ra sẽ hướng đến sự giản tiện, tiết kiệm và đồng nhất để phục vụ cho
sự tiêu dùng của toàn dân – bất kể họ thuộc giai tầng xã hội nào.
điều trên được thể hiện ở Bauhaus Manifesto năm 1919 của Walter Gropius
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hal Foster biên tập (2004). “1923: The Bauhaus … holds its first
public exhibition in Weimar, Germany”. Art Since 1900: Volume
1—1900 to 1944. Rosalind Krauss, Yve-Alain Bois, Benjamin

Buchloh. New York, NY: Thames & Hudson. tr. 185–189. ISBN
0-500-28534-9.
2. Whitford, Frank biên tập (1992). The Bauhaus: Masters &
Students by Themselves. London: Conran Octopus. tr. 32. ISBN 185029-415-1.
3. Maya Lekach, Know Your Design History: The Bauhaus
Movement
on
99designs.
Link:
/>4. Frampton, Kenneth (1992). “The Bauhaus: Evolution of an Idea
1919–32”. Modern Architecture: A Critical History (ấn bản 3).
New York, NY: Thames and Hudson, Inc. tr. 124.
5. Pevsner, Nikolaus biên tập (1999). A Dictionary of Architecture
and Landscape Architecture (Paperback). Fleming, John; Honour,
Hugh (ấn bản 5). Penguin Books. tr. 44.
6. Walter Gropius (1926), Principles of Bauhaus Production Bauhaus Dessau
7. Walter Gropius(1956), Phạm vi kiến trúc tổng thể



×