Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

Tiểu luận tìm hiểu mô hình sinh thái Vịtlúacá và triển vọng áp dụng ở thành phố Tam Kỳ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.09 MB, 19 trang )

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam đa số người dân sinh sống và lao động chủ yếu ở nông thôn, theo
thống kê, hiện nay 70% dân số, 57% lao động Việt Nam sinh sống và làm việc ở
khu vực nông thôn và nông thôn đóng góp 20% thu nhập quốc nôi (GDP). Nông
thôn là địa bàn sinh sống chủ yếu của hộ gia đình nông dân. Có chức năng quan
trọng là sản xuất và cung ứng nông sản cho xã hội. Vì vậy phát triển nông nghiệp,
nông thôn được coi là vấn đề then chốt, ảnh hưởng đến sự thành công của quá
trình phát triển kinh tế- xã hội và công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước của nhiều quốc gia. Đặc biệt với Việt Nam, một nước có nền sản xuất nông
nghiệp là nền tảng.
Trong khoảng 30 năm trở lại đây nền Nông nghiệp Việt Nam đã có những bước
tiến bộ vượt bậc và đạt được những thàng công nhất định. Việt Nam đã trở thành
nước xuất khẩu hàng đầu các mặt hàng nông sản, lương thực và nằm trong nhóm
5 nước xuất khẩu lớn nhất. Bên cạnh đó, Nhà nước liên tục khuyến khích hỗ trợ
các chính sách phát triển nông nghiệp - nông thôn, tiến hành thử nghiệm áp dụng
nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp - chăn nuôi hiệu quả nhằm đem lại hiệu quả
kinh tế cho người dân, cải thiện đời sống người dân.
Theo báo cáo Tổng điều tra đất đai năm 2010, tổng diện tích các loại đất kiểm kê
của cả nước là 33.093.857 ha, trong đó tổng diện tích đất nông ngiệp chiếm
khoảng 20.939.679 ha. Nhưng trong các cuộc khảo sát năm 2010 và 2015, diện
tích đất trồng lúa đã có sự suy giảm đáng kể ( trên 340.000 ha), trung bình mỗi
năm giảm 34.000 ha. Có 41/63 tỉnh thành giảm diện tích trồng lúa. Nguyên nhân
suy giảm chủ yếu là do chuyển từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại đất
nông nghiệp khác, như: trồng râu, hoa màu hoặc trồng các loại cây công nghiệp,..
hoặc đi vào các công trình quy hoạch phát triển các dự án, cơ sở hạ tầng và một
phần lớn bị bỏ hoang do tình trạng đất quá xấu không thể nuôi trồng. Các phần đất
này thường bị các loại cỏ, cây dại xâm chiếm. Để giảm thiểu tình trạng bỏ hoang
đất ruộng, nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân cần thiết phải áp dụng các mô
hình nuôi trồng hợp lí như trồng lúa kết hợp với nuôi vịt, hay trồng lúa kết hợp
với nuôi cá, thả tôm trên đồng ruộng,.. Các mô hình này đã được áp dụng rộng rãi


có hiệu quả ở các tỉnh đồng bằng phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long.
Xuất phát từ hiệu quả có thể đem lại của mô hình nuôi trồng kết hợp trên đồng lúa
của địa bàn Thành phố Tam kỳ nên em quyết định chọn đề tài nghiên cứu của
mình là: Tìm hiểu mô hình sinh thái trồng lúa kết hợp nuôi vịt và triển vọng áp
dụng ở Tam Kỳ- Quảng Nam.
2. Đối tượng nghiên cứu


Đối tượng nghiên cứu chính trong đề tài này tình hình sử dụng đất trong canh tác
lúa, tính khả thi và hiệu quả của mô hình đem lại và mô hình sinh thái trồng lúa
kết hợp nuôi vịt.
3. Phạm vi nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Bài tiểu luận tập trung phân tích những hiệu quả, lợi
ích của mô hình chăn nuôi kết hợp, tìm hiểu đặc điểm cụ thể của địa bàn
nghiên cứu để thấy được triển vọng áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế cho người dân.
- Địa bàn nghiên cứu: Tình hình sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi ở các địa
phương ở Tam Kỳ hầu như giống nhau, từ việc khảo sát thực địa trên địa
bàn thôn Vĩnh Bình, Xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ -Quảng Nam có thể
phổ biến rộng rãi ở các địa phương trên địa bàn Tam Kỳ- Quảng Nam.
4. Mục đích nghiên cứu
Từ thực trạng sử dụng đất trong canh tác nông nghiệp, thông qua mối tương quan
giữa các đối tượng chính trong mô hình để thấy được lợi ích, hiệu quả trong việc
áp dụng mô hình. Trên cơ sở nghiên cứu được thiết kế một mô hình sinh thái phù
hợp với điều kiện nơi nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tư liệu từ tài liệu
- Phương pháp mô hình hóa, tính toán
- Phương pháp quan sát, điều tra thực địa
B. NỘI DUNG

Chương 1. Tìm hiểu về mô hình trồng lúa kết hợp nuôi vịt và thả cá (LVC)
1.1. Khái niệm
Mô hình trồng lúa kết hợp nuôi vịt và thả cá gọi tắt là LVC, là một mô hình sinh
thái, nuôi vịt và thả cá trực tiếp trên đồng ruộng. Sau khi nước vào ruộng khoảng
15- 20 ngày khi cây lúa đã bén rễ và cứng cáp thì tiến hành thả cá đồng thời có thể
kết hợp thả vịt vào.
Hiện nay, để hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững việc thâm canh trồng
xen, nuôi xen hợp lý nhằm tăng thu nhập trên một diện tích đất là rất cần thiết.
Trước đây, người dân chỉ biết độc canh về cây lúa chưa biết nuôi xen con vịt trên
cùng đồng ruộng. Họ chỉ chăn thả vịt trên đồng khi đã thu hoạch xong lúa nhằm
tận thu lượng lúa rơi vãi và cua, ốc. Việc chăn thả như thế sẽ tốn nhiều công quản
lý, chăm sóc và chỉ tận dụng được trong giai đoạn ngắn. Mặt khác, phương pháp
này rất dễ phát sinh dịch bệnh. Đối với giải pháp “Chăn nuôi vịt, thả cá trong


ruộng lúa theo hướng an toàn sinh học và thân thiện với môi trường” sẽ đáp ứng
được những yêu cầu cấp bách trong giai đoạn phát triển hiện nay.
1.2. Cơ sở khoa học của mô hình VLC
Mô hình được xây dựng dựa trên mối tương quan của các đối tượng trong mô
hình, mối quan hệ, tương tác qua lại giữa các quần thể trong quần xã đồng ruộng.
Thông thường ở các vùng đồng bằng ở miền trung thông thường sản xuất lúa vụ
đông xuân bắt đầu từ khoảng tháng 11-12 năm trước đến tháng 5 năm sau, vì vậy
khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 ruộng lúa bị bỏ hoang, vào mùa mưa thì
các ruộng này bị ngập nước. Đó là điều kiện thuận lợi cho việc nuôi cá và thả vịt
trên diện tích ngập nước. Hơn nữa, trong thời gian này nguồn thức ăn trong ruộng
lúa dồi dào như: Lúa thu hoạch rơi vãi, tảo khúc, tảo thanh,.. động vật nổi ( giáp
xác, giun đốt, côn trùng, ấu trùng, …), động vật sống quanh lúa và thủy sinh nhất
là nguồn động vật đáy thường phát triển vào tháng 2 đến tháng 4 và từ tháng 9
đến tháng 10.


Ứng dụng mô hình chăn nuôi lúa- vịt- cá là phương
pháp xen canh đồng thời luân canh có thể tận dụng nguồn đất canh tác triệt để
nhất, tích lũy thêm màu mỡ cho đất, cũng là biện pháp thâm canh tăng năng suất,
tiêu diệt mầm bệnh đồng thời cũng là biện pháp giải quyết thức ăn cho cá.


VỊT

Ăn sâu bọ
và côn
trùng hại
cỏ

Thức ăn rơi
vãi phân vịt
ĐỘNG VẬT ĐÁY, PHÙ
DU, THỰC VẬT

Lùm sục
bùn, phân


Những hạt rơi rụng, hạt lép không đạt tiêu chuẩn

LÚA


Mối quan hệ giữa các đối tượng lúa- vịt –cá trong mô hình
Bên cạnh đó căn cứ vào tình hình thực tiễn của địa phương cũng như tiềm năng
đất đai, chủ trương chính sách của địa phương cũng như chuyển đổi cơ cấu nông

nghiệp trên địa bàn. Làm cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng mô hình. Đồng thời
việc xây dựng và thiết kế mô hình phải đáp ứng được nhu cầu kỹ thuật của mô
hình.
1.3. Quy trình kỹ thuật
- Vị trí xây dựng
Khi chọn địa điểm để nuôi cá cần lưu ý một số yếu tố sau
+ Nguồn nước: Vấn đề quan trọng hàng đầu trong nuôi cá là phải đảm bảo nguồn
nước tốt và cấp tiêu chủ động. Một điều cần lưu ý khi chọn điểm nuôi cá là phải
biết được sự biến động của nguồn nước theo mùa và theo năm, đặc điểm khí
tượng thủy văn của vùng đồ có thể dự đoán và ngăn chặn thất thoát cá nuôi trong
mùa lũ hoặc mùa mưa bão.
+ Chọn đất có cơ cấu chất đất phải giữ được nước và ít bị nhiễm phèn.
+ Lịch thời vụ sản x uất nông nghiệp của vùng để biết được mức độ ô nhiễm hiện
tại và tiềm tàng do sử dụng nông dược. Những nơi sử dụng nhiều nông dược nhất
là thuốc trừ sâu có tính lưu dẫn cao và thời gian phân hủy kéo dài sẽ làm nhr
hưởng đến cá nuôi. Khu vực nuôi cá nếu tiếp giáp với khu sản xuất màu sẽ có
nguy cơ bị nhiễm độc nông dược do phun xịt hay khi cấp nước vào khu nuôi cá.
+ Tiện đi lại và chăm sóc quản lí
- Chuẩn bị ruộng lúa
Ruộng phải có bờ chắc, không sạt lở. Đắp bờ ruộng cao, cao hơn mực nước lúc
cao nhất là 0,5m. Mức nước ở ruộng thường xuyên 30-35cm. Xung quanh ruộng
có mương bao quanh. Mương rộng 1-1,2m, sâu 1m và có đìa (ao) cá bằng 7-8%
diện tích ruộng để cho cá sống, giữ cá,
tránh nắng cho cá và thu hoạch cá khi
đến lứa. Đến lúc thu hoạch cá dồn cá, trên ruộng xuống ao đìa này để đánh bắt.
Trên mặt ao đìa, làm chuồng sàn để nhốt vịt ban đêm và lúc không thả vịt vào
ruộng lúa vì thời tiết xấu. Thức ăn vịt rơi vãi, phân vịt là thức ăn nuôi cá. Phát
quang bụi rậm ở ruộng, diệt rắn, cá lóc, v.v...
- Nuôi thả cá
Mức nước ruộng lúa không sâu dễ bị tác động của thời tiết, ánh nắng mặt trời, cần

chọn giống cá chịu được nóng, phèn, quen sống và tìm mồi ở tầng đáy, khi thả thì
cá đã hơi lớn như cá chép 6-8cm, rô phi và cá nùi 3-5cm. Thả cá có kích thước
trung bình để hạn chế vịt có thể ăn cá. Ruộng cấy một vụ, thả cá một vụ thì số con


cá/m2với các loại cá như cá nùi khoảng 30%, cá chép 30%, rô phi 40%. Loại
ruộng bị phèn nặng chỉ thả cá rô phi 30%, cá nùi 50%.
Thời gian thả cá có thể thả trực tiếp vào ruộng lúa lúc lúc lúa rễ đã ăn sâu và chăm
sóc các trực tiếp trên đồng ruộng. Trong thời gian lúa bắt đầu chín thì xả ước
trong ruộng xuống mương cá để đất ruộng bớt lầy để tiến hành cơ giới hóa sản
xuất dễ dàng.
***Một số loài cá có thể sử dụng trong mô hình
+ Cá chép
Cá chép phân bố rộng, có ở gần khắp các nước trên thế giới. Cá chép sống chủ
yểu trong nước ngọt nhưng cũng sống được ở nước lợ có nồng độ muối thấp.
Cá chép là loài cá rộng nhiệt, nhưng nhiệt độ thích hợp cho cá chép từ 20 – 280C,
sống được ở độ pH thích hợp cho cá là 7 – 8. Cá cũng sống được ở nước tĩnh có
hàm lượng oxy thấp hay ở sông nơi có nước chảy thường xuyên.
Cá chép là loài ăn tạp thiên về động vật đáy như: nhuyễn thể, giun, ấu trùng, côn
trùng, mùn bã hữu cơ, mầm non và củ thực vật…Cá cũng ăn được nhiều loài thức
ăn do con người cung cấp như bột ngũ cốc các loại, bột cá, bột tôm, rau, bèo, phân
động vật, đồ thừa nhà bếp, phụ phẩm lò mổ…
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cá chép nuôi ở ruộng ngập nước vào mùa mưa sau
8–9 tháng có thể đạt trọng lượng 0,5 – 0,8 kg/con, có con nặng hơn 1 kg.
+ Cá rô đồng
Rô đồng là loài cá nước ngọt, sống ở vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam cá rô đồng rất
phổ biến ở Miền Bắc và Miền Nam.
Ngoài tự nhiên cá sống trong ao, hồ, mương vườn, ruộng, ngoài ra có thể sống ở
các cứa sônglớn…Trong điều kiện nhân tạo cá rô sống được trong bể xi măng, ao
mương có diện tích nhỏ…

Rô đồng là loài ăn tạp thiên về động vật. Thức ăn như: tôm, tép, cá con, phù du
phiêu sinh vật, động vật không xương sống, hạt cỏ, lúa, cácphụ phẩm nông nghiệp
như cám, gạo, các phế phẩm nhà máy chế biến thủy sản…
Cá rô đồng có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm, sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng
lượng từ 60 – 100 g/con.
+ Cá sặc rằn


Cá sặc rằn sống ở nước ngọt nhưng có thể sống được ở nước lợ, chúng sống ở ao,
đìa, ruộng lúa…


Cá sặc rằn ăn tạp thiên về thực vật, thức ăn của cá là động vật phiêu sinh, các chất
hữu cơ lơ lửng trong nước, tảo phù du, phân động vật…
Sau 1 năm nuôi cá đạt trọng lượng 50 – 100 g/con. Sau 18 – 24 tháng cá đạt trọng
lượng 100 – 150 g/con.
+ Cá rô phi
Cá rô phi là loài đặc trưng

ở vùng nhiệt đới rất thích hợp với điều kiện môi


trường sống ở Việt Nam và hiện là đối tượng nuôi quan trọng cho nhiều mặt
nước trong nội địa và vùng ven biển nước ta.
Ở giai đoạn trưởng thành cá ăn tạp. Thức ăn gồm: mùn bã hữu cơ, tảo lắng ở
đáy,ấu trùng côn trùng, giun, sinh vật phù du. Trong ao nuôi cá cũng ăn thức ăn
nhân tạo, phân gia súc, gia cầm…
Cá rô phi vằn và cá rô phi đỏ lớn nhanh hơn cá rô phi trắng. Trong cùng một
điều kiện nuôi cá đực thường lớn nhanh hơn cá cái. Ở đồng bằng sông Cửu
Long cá rô phi vằn Oreochromis niloticus 5 – 6 tháng đạt 400 – 600 g/con, rô

phi đỏ và rô phi dòng GIFT 600 – 800 g/con.
+ Cá mè trắng
Cá mè trắng là loài cá đặc trưng của khu hệ cá đồng bằng. Trong thủy vực cá
phân bố chủ yếu ở tầng mặt và tầng giữa. Cá thích sống trong môi trường nước
thoáng, rộng, nước sâu, hàm lượng oxy cao, nhiệt độ thích hợp là 22–250C,
pH=7-8
Khi trưởng thành cá ăn thực vật phù du là chính, ngoài ra còn ăn thêm động vật
phù du và chất hữu cơ lơ lững. Trong ao nuôi cá cũng ăn thêm thức ăn như cám
mịn, bột hay sữa đậu nành.
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, trong điều kiện những ao rộng hay ở ruộng lúa
ngập nước sâu vào mùa mưa cá lớn rất nhanh, sau 1 năm đạt 0,8 – 1 kg/con.
+ Cá mè vinh
Cá mè vinh là loài cá ăn tạp, thức ăn của chúng bao gồm thực vật thủy sinh (rau
muống, bèo, rong,…), côn trùng, ngoài ra cá cũng ăn thức ăn chế biến.
Cá tăng trưởng tương đối nhanh, sau 6 – 8 tháng nuôi đạt trọng lượng bình quân
0,3 kg/con.
- Nuôi thả vịt
+ Vịt mái đẻ:
Giống vịt siêu thịt: 40-50 con/1.000m2 ruộng lúa. Giống vịt siêu trứng: 60-70
con/1.000m2 ruộng lúa. Nhốt chuồng 3-4 con/m2 sàn.


+ Vịt nuôi thịt:
Úm vịt tuần tuổi đầu ở nơi kín gió. Tuần tuổi thứ 2 cho vịt ra chuồng sàn. 20
con/m2 trong 4 tuần đầu, 10-12 con/m2 từ 5-10 tuần tuổi. Thả vịt ra ruộng 6080 con/1.000m2.
Phương pháp thả vịt vào ruộng lúa:
Tháng đầu, tính từ khi cấy lúa là chưa thả vịt, mà chỉ thả cá vào ruộng.
Sau 1 tháng đầu, khi lúa bắt đầu đẻ nhánh, lúc đó bộ rễ phát triển chắc chắn, thì
thả vịt vào ruộng. Thời kỳ lúa trổ bông, chỉ chăn thả vịt ở phần ao đìa và mương
bao quanh ruộng, trong ruộng chỉ có cá tận dụng nguồn phấn hoa của lúa rơi

xuống và các vi sinh vật khác.
Thời kỳ thu hoạch lúa, thả vịt vào ruộng tận dụng thóc rơi vãi và các mồi khác.
Sau khi thu hoạch lúa tiếp tục nuôi cá một thời gian nữa rồi thu hoạch cá.
*** Quy trình kỹ thuật của mô hình có thể được mô hình hóa như sau:

Chuồng vịt

Vịt: 15 gày tuổi
Lúa: 20 ngày tuổi

Ruộng lúa
lúa: khoảng 110 ngày

Ruộng lúa

Bờ bao
Mương

Ao lắng
(chứa

cá khi sử dụng các loại phân bón hoặc
thưốc bảo vệ thực vật )

Cống
Hệ thống lúa, cá, vịt có chuồng nuôi và ao lắng


Chương 2. Triển vọng áp dụng mô hình trồng lúa kết hợp chăn vịt và thả
cá ở Tam Kỳ- Quảng Nam

2.1. Tình hình sản xuất và sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn Tam Kỳ
-Quảng Nam
Trong những năm gần đây, cơ cấu mùa vụ ở các tỉnh đồng bằng Nam Trung bộ,
trong đó có đồng bằng ở Tam Kỳ- Quảng Nam đều chuyển từ sản xuất 3 vụ sang
sản xuất 2 vụ. Biện pháp canh tác sản xuất hai vụ sẽ giảm được chi phí sản
xuất như: Công lao động, giống, phân bón, thuốc trừ sâu,.. đất có thời gian nghỉ
ngơi, cắt đứt mầm mống sâu bệnh, tiết kiệm nước tưới, góp phần khắc phục tình
trạng thiếu nước gây mất mùa ở vụ hè thu, đồng thời chủ động được thời vụ sản
xuất. Nhờ vậy, từ năm 2006, đã có ít nhất 730 ha lúa ở các tỉnh đồng bằng Nam
Trung bộ chuyển đổi sang hai vụ trong năm cho chắc.
Thời vụ sản xuất: có hai vụ Vụ Đông – Xuân và vụ Hè –Thu.
Vụ đông – xuân thường có chính vụ bắt đầu từ khoảng 20/12 đến 30/12, thu
hoạch vào khoảng 15/4- 30/4. Đố I với thời tiết tháng 12 bất lợi thì có thể bắt
đầu trễ vào khoảng 1-10/1 và kết thúc mùa vụ khoảng 25/4- 5/5.
Vụ Hè- thu, do tời tiết mùa hè thuận lợi (hầu như các tỉnh đồng bằng Nam
Trung bộ đều có hệ thống thủy lợi chủ động nước cho các mùa vụ) nên mùa vụ
này có thể bắt đầu sớm, mặt khác bắt đầu sớm nhằm mục đích có khoảng thời
gian thu hoạch sớm hơn để tránh ảnh hưởng mất mùa do ảnh hưởng thời tiết
trong thời gian thu hoạch. Vụ hè- thu bắt đầu sớm vào khoảng 20-30/5 đến 110/9. Chính vụ sẽ bắt đầu từ 1-10/6 đến 10-20/9.
Theo khảo sát tình hình thực tế tại thôn Vĩnh Bình, Xã Tam Thăng, thành phố
Tam Kỳ -Quảng Nam cho thấy:
+ Tình trạng canh tác và sử dụng đất

Hình 1. Tình trạng đất ruộng trước khi bước vào vụ
đông- xuân trên địa bàn thôn Vĩnh Bình, Xã Tam Thăng,
thành phố Tam Kỳ -Quảng Nam


Hiện nay, trên địa bàn xã thôn Vĩnh Bình, Xã Tam Thăng, Tam Kỳ -Quảng Nam
đang chuẩn bị bước vào vụ đông – xuân. Theo như tình hình khảo sát thì diện

tích đất ruộng sẵn sàng để canh tác so với diện tích thực vào vụ hè- thu bị giảm
đi khá nhiều do tình trạng ngập úng sâu do mực nước từ các sông, đầm phá còn
khá cao. Hệ thống kênh mương dẫn nước chủ động trong các mùa khô hạn thì
đảm bảo nhưng hệ thống tiêu nước trong mùa mưa thì hầu như chưa phát huy.
Theo cơ cấu nông vụ thì chúng ta có thể thấy được khoảng thời gian từ tháng 9
đến tháng 12 đất ruộng thường bỏ hoang. Trong những tháng này thường xuyên
xảy ra mưa bão, lũ, nên đồng ruộng dễ bị xâm nhập bởi các loại cây như cỏ đay,
lục bình và một số loài cỏ phát triển khá mạnh,… bên cạnh đó là sự phát triển
của các loài động vật gây hại như ốc bươu vàng, đồng thời tình trạng ngập úng
lâu ngày sẽ khiến đất dần mất đi sự tơi xốp thoáng khí, màu mỡ, tầng đất mặt
còn chứa nhiều ổ bệnh kí sinh. Cho nên khi bắt đầu vụ mùa đông- xuân phải tốn
nhiều công dọn cỏ, diệt các ổ bệnh, cày xới kỹ lưỡng trước khi xuống giống một
khoảng thời gian lâu và trong khoảng thời gian đợi chờ đất phục hồi các tính
chất cơ giới đồng thời là sự phát triển của cỏ dại và ốc bươu vàng.
+ Tình hình chăn nuôi vịt
Ở đây mô hình nuôi vịt trên đồng ruộng chưa được quan tâm và phổ biến. người
dân nơi đây chủ yếu khoanh vùng cụ thể, giới hạn không gian hoạt động và
cung cấp thức ăn hoàn toàn cho đàn vịt.

Việc khoanh vùng chăn nuôi khá có lợi cho công tác kiểm sát dịch bệnh nếu có
xảy ra nhưng dường như chưa tạo ra được hiệu quả kinh tế đáng kể, chưa tận
dụng nguồn thức ăn rơi vãi, các loại côn trùng sau khi thu hoạch lúa. Người dân


sẽ tốn chi phí để xung cấp nguồn thức ăn cho vịt và tốn công trong quá trình
chăm sóc.
+ Tình hình nuôi cá trên địa bàn
Ở Tam kỳ với mật độ sông, đầm, hồ dày đặc, có bờ biển dài sẽ khá thuận lợi cho
phát triển cho các mô hình chăn nuôi cá nước mặn, nước lợ và cả cá nước ngọt.
Trên các ao đầm, sông người dân đã quen với truyền thống độc cach một loại

cá, thường thả nuôi trong các lồng lưới chìm. Tuy là sẽ dễ dàng cho công tác
chăm sóc và kiểm soát đàn cá nhưng thông thường cá nuôi trong lồng với mật
độ khá dày và nguồn thức ăn được con người cung cấp hoàn toàn.

Người dân nuôi cá trê trong lồng chìm
2.2. Hiệu quả từ việc áp dụng mô hình VLC
Hiện nay, để hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững thâm việc thâm canh
cây trồng, nuôi xen hợp lý nhằm tăng thu nhập trên một diện tích đất là rất cần
thiết.
Trước đây, đa số người dân đều chỉ biết độc canh về cây lúa, chưa biết nuôi xen
con vịt trên cùng đồng ruộng. Đa số người dân có tập quán chăn nuôi vịt thả
đồng và chăn thả trên kênh rạch. Nhằm tận dụng phụ phẩm rơi vãi trong sản
xuất nông nghiệp và cua ốc có sẵn trong kênh rạch, trên đồng ruộng để phát
triển chăn nuôi là nhu cầu rất chính đáng. Tuy nhiên, ruộng lúa hiện nay đa số
được trồng 2-3 vụ, thời gian đồng trống không lâu, lại thường xuyên phun xịt
thuốc nên con vịt nuôi chạy đồng bị hạn chế. Ngoài ra, tập quán bà con chăn
nuôi ở nông thôn có khuynh hướng tự phát, nhỏ lẻ, xây dựng chuồng trại tạm bợ


hoặc ở những vị trí không an toàn, không đúng với yêu cầu kỹ thuật. Các hộ
chăn nuôi liền kề bên kênh rạch cùng với nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt gia
đình. Điều này làm cho nguy cơ nhiễm bệnh và dịch bệnh dễ xảy ra. Đặc biệt,
bệnh cúm gia cầm, thủy cầm vẫn chưa được khống chế triệt để mà nó có thể
bùng phát bất cứ lúc nào. Vì vậy, để tiếp tục giữ vững nghề chăn nuôi vịt truyền
thống nhưng vẫn đảm bảo về an toàn dịch bệnh thì người chăn nuôi cần nắm bắt
được những tiến bộ kỹ thuật, qui trình chăn nuôi đảm bảo tính an toàn và mang
lại hiệu quả kinh tế cao là rất cần thiết và cấp bách.
Vịt là loài thủy cầm có tập tính bơi lội dưới nước và tìm bắt mồi để làm thức ăn.
Thức ăn của vịt là những loài động vật phù du, tôm, tép, cua, ốc và các loại côn
trùng … Với tập tính này, vịt sẽ bơi lội tự do trong đồng ruộng. Điều này có tác

dụng rất tốt cho sự phát triển của lúa. Vịt có thói quen ăn xong là bơi lội và rỉa
lông. Do nuôi chăn thả và bơi lội tự do nên vịt có khuynh hướng uống nước
ngay nơi tắm và bơi lội. Vì vậy, môi trường nước trên đồng ruộng đang chăn thả
vịt phải sạch, không bị nhiểm bẩn. Đặc biệt là không bị ảnh hưởng của thuốc
bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu. Do vịt tìm bắt mồi có sẵn trong đồng ruộng nên
việc bổ sung thêm thức ăn cho vịt cũng không đáng kể.
Hiện nay, để hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững việc thâm canh trồng
xen, nuôi xen hợp lý nhằm tăng thu nhập trên một diện tích đất là rất cần thiết.
Trước đây, người dân chỉ biết độc canh về cây lúa chưa biết nuôi xen con vịt
trên cùng đồng ruộng. Họ chỉ chăn thả vịt trên đồng khi đã thu hoạch xong lúa
nhằm tận thu lượng lúa rơi vãi và cua, ốc. Việc chăn thả như thế sẽ tốn nhiều
công quản lý, chăm sóc và chỉ tận dụng được trong giai đoạn ngắn. Mặt khác,
phương pháp này rất dễ phát sinh dịch bệnh. Đối với giải pháp “Chăn nuôi vịt
trong ruộng lúa theo hướng an toàn sinh học và thân thiện với môi trường” sẽ
đáp ứng được những yêu cầu cấp bách trong giai đoạn phát triển hiện nay.
Trước mắt việc áp dụng mô hình sinh thái trông lúa kết hợp chăn vịt, thả cá sẽ
đem lại những lợi ích sau:
- Dễ quản lý dịch bệnh, đặc biệt là cúm gia cầm H5N1. Muốn kiểm soát và
phòng ngừa dịch bệnh tốt nhất phải để đàn vịt được tiêm phòng đầy đủ, được
quản lý trong phạm vi đồng ruộng.
- Việc kết hợp nhiều đối tượng sản xuất trên một diện tích đất canh tác như vậy
sẽ đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp: trên một diện tích đồng ruộng từ trước
tới nay chỉ thu 1 sản phẩm độc canh là lúa thì nay thu thêm 2 loại sản phẩm nữa
là vịt và cá. Đặc biệt, ở những vùng phèn, mặn chỉ trồng được 1 vụ lúa bấp bênh
nay có thể thu hoạch thêm sản phẩm tăng thêm thu nhập. Đồng thời cải tạo được
đồng ruộng, tăng độ phì nhiêu cho đất để trồng lúa vụ sau.


- Thực tế từ việc áp dụng mô hình sinh thái LVC ở các tỉnh đồng bằng sông
Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đã góp phần tăng hiệu quả kinh tế cho nông

dân: kết hợp chăn nuôi vịt trong ruộng lúa làm tăng hiệu quả kinh tế từ 3-5 lần
so với độc canh cây lúa. Giảm sự hao hụt đầu con và chi phí nhân công so với
nuôi vịt chạy đồng.
- Việc thả vịt và nuôi cá trong đồng ruộng giúp giảm được phân hóa học và
thuốc trừ sâu: do vịt chăn thả trên ruộng lúa, chúng thường xuyên thải ra lượng
phân hữu cơ làm phân bón rất tốt cho lúa. Đồng thời vịt còn ăn các loại côn
trùng và sâu, rầy hại lúa. Việc hạn chế phân hóa học và thuốc trừ sâu góp phần
nâng cao chất lượng lúa gạo phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao ở trong
nước và xuất khẩu.
- Điều đáng quan tâm là khi chúng ta chăn thả vịt trên đồng ruộng nó sẽ ăn các
loại côn trùng và sâu, rầy hại lúa. Khi vịt mò cua, ốc trên đồng ruộng chúng sẽ
sụt bùn làm cho bộ rễ thông thoáng và dễ dàng hấp thu dinh dưỡng. Mặt khác,
việc bơi lội, sụt bùn trên đồng ruộng còn hạn chế tối đa dịch bệnh trên cây lúa,
đặc biệt là bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá, bệnh ngô độc hữu cơ do môi trường
đất yếm khí, …
Về lâu về dài, việc đưa mô hình vào áp dụng sẽ giúp củng cố phát triển gia cầm
theo hướng chăn nuôi bền vững.
- Khống chế dập tắt dịch bệnh xảy ra trên đàn gia cầm, thủy cầm, tạo môi
trường chăn nuôi an toàn cho con người và gia súc gia cầm.
- Hạn chế sự lây lan dịch bệnh giữa gia cầm và con người.
- Tạo ra sản phẩm gia cầm sạch an toàn cho người tiêu dùng. Mang lại hiệu quả
kinh tế cao cho người chăn nuôi.
- Hướng tới môi trường sản xuất nông nghiệp an toàn và bền vững, mang lại cho
cộng đồng môi trường sống lành mạnh.
- Có thể chủ động lượng nước tưới tiêu trong mùa hạn.
Chương 3. Thiết kế mô hình thích hợp có thể triển khai ở Tam Kỳ- Quảng
Nam
3.1. Ruộng nuôi
-


-

Diện tích ruộng có thể tùy vào điều kiện đất canh tác của từng đối tượng hộ
dân nhưng không nên quá nhỏ như vậy sẽ không tạo được hiệu quả kinh tế.
Ruộng nuôi sẽ được phân chia theo tỷ lệ: các mương bao quanh sẽ chiếm
khoảng từ 7-8% diện tích ruộng nuôi, phần diện tích còn lại sẽ canh tác lúa.
Có thể thiết kế theo nhiều dạng như: dạng mương chữ L, dạng mương


trung tâm, dạng mương xương cá…
- Trong mô hình này để tiện lợi và đạt hiệu quả cao nên chọn dạng mương
bao và ao trữ.
a. Bờ bao quanh
Bờ bao quanh được đắp với diện tích như sau:
- Chiều rộng mặt bờ 1- 2 m
- Chiều rộng chân bờ 2- 4 m
- Chiều cao bờ phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm
20 cm.
Tác dụng của bờ bao quanh:
- Giữ không cho cá ra ngòai
- Giữ nước không bị rò rĩ
- Có thể đi lại trên bờ để chăm sóc, quản lí ruộng.
b. Mương bao quanh
Mương bao quanh được thiết kế mương xung quanh như sau:
- Đào cách bờ 0,5 m để tránh đất đá xoáylở từ bờ xuống mương
- Chiều rộng mương: Bề rộng mặt 3 m; Bề rộng đáy là 2,5 m
- Chiều sâu mương bao là 1,2 m
- Mương dốc dần về phía cống
Ao lắng có tác dụng:
+ Giữ được lượng nước quanh năm, để chứa cá khi làm đất cấy

lúa cho các vụ sản xuất kế tiếp.
+ Giữ và duy trì sự hoạt động của cá, khi sử dụng thuốc trừ sâu
để trị bệnh cho lúa.
+ Nuôi giữ và dồn cá khi thu hoạch
+ Nuôi giữ các vào các mùa lũ băng đồng
+Chủ động lượng nước trong mùa hạn
Để tránh thất thoát lượng cá trong mùa lũ cần có hệ thống lưới che
chắn cho ao nuôi giống như mô hình nuôi cá trong lồng chìm.
c. Cống
Mỗi ruộng cần có 2 cống, 1 cống dẫn nước vào và 1 cống tiêu nước,
cống có thể bằng xi măng, ống sành hay gỗ tùy điều kiện gia đình, tốt nhất
nên dùng cống xi măng.
Tác dung của cống
- Chủ động điều tiết ruộng nước cấp và thoát nước cho ruộng.
- Tháo nước cho ruộng lúa xạ, cấy lúa khi sử dụng thuốc trừ sâu,
khi thu hoạch.
Ở cống dẫn nước vào cần bố trí thêm màng lọc để tránh các loại
ngoại lai xâm nhập vào gây hại cho cá, vịt, lúa,… Ngoài ra cần
trang bị thêm hệ thống bơm nước để chủ động lượng nước đưa
vào ruộng.
d. Mặt trảng
Là phần mặt ruộng còn lại dùng để trồng lúa, chăn thả vịt. Để thuận


lợi cho việc canh tác lúa điều chỉnh mức nước trên ruộng mực nước trên
mặt trảng luôn giữ ổn định ở mức 30-35 cm (trừ trường hợp sắp thu hoạch
lúa cần xả bớt nước để có thể tiến hành cơ giới hóa sản xuất, mặt ruộng
cần bằng phẳng, chân đất cần phải chặt.
Mặt trảng canh tác lúa cần tăng thêm bờ phụ để thuận tiện cho công
tác làm đất cũng như giữ phân, thuốc cho ruộng lúa.


Cống
Bờ bao
quanh

Ao lắng

Mương
bao quanh
1-2m
3m
1,2m

2-4m

2,5m

Mặt bằng và mặt cắt ngang của ruộng nuôi
3.2. Chuồng nuôi
Trong mô hình này chỉ đề ập đến thiết lập kiểu chuồng trại nuôi vịt theo hướng
chăn nuôi vịt thịt và không phải theo mô hình chăn nuôi chuyên môn hóa,
chuồng trại gắn liền với nơi sản xuất. Chuồng trại ở đây sẽ được bố trí đơn giản
cho vịt nghỉ ngơi, bổ sung thức ăn và là nơi quản lí đàn vịt trong những ngày
thời tiết bất lợi ch việc chăn thả tự do trên đồng ruộng hoặc vào mùa mưa lũ.
Về yêu cầu hướng chuồng trại: theo hướng đón gió Đông Nam sẽ giúp không
khí trong chuồng trại luôn thoáng để hạn chế sự phát triển các ổ dịch bệnh.
Chuồn trại có thể đơn giản hóa: bao gồm ba khu vực:


+ Khu nghỉ chính có bố trí máng ăn, máng uống và hệ thống đèn chiếu sáng

hoặc sưởi ấm (dành cho vịt con trong mùa đông lạnh). Có thể có các vách ngăn
lưu động để thuận tiện cho quá trình kiểm tra và kiểm soát sức khỏe đàn vịt.
+ Khu nghỉ phụ cũng phải có bố trí máng ăn và máng uống nhưng sẽ với số
lượng ít vì nơi đây dành riêng cho việc nghỉ ngơi của đàn vịt ban ngày.
+ Khu vực còn lại chính là kho dự trữ thức ăn và các loại loại thuốc cần sử dụng
cho đàn vịt. Để có thể chủ động cung cấp thức ăn cho đàn vịt trong những thời
tiết bất lợi và bệnh dịch bất ngờ.
Lưu ý mặt sàn chuồng trại phải cách mặt đất khoảng từ 0,5- 2m để tránh một số
loài chuột và rắn gây hại đàn vịt, một mặt là để tránh chuồng bị ngập nước nếu
mực nước mùa mưa dâng cao, hoặc có lũ.
3.3. Hệ thống giao thông
Vì mô hình được sản xuất theo quy mô hộ gia đình nên hệ thống giao thông sẽ
khá đơn giản.
Vì xung quanh ruộng nuôi có mương bao quanh và có thể thuận thiện sử đụng
các phương tiện ghe nhỏ để có thê thăm và kiểm tra lúa cùng việc kiểm soát đàn
vịt. Cần có một con đường để đưa máy móc vào trong ruộng lúa để thuận tiện
cho việc cơ giới hóa sản xuất cho nên sẽ có một đoạn mương được lắp đặt ống
cống hình chữ T để đảm bảo lưu thông dòng nước trong hệ thống. Phía trên sẽ
được đắp thật chặt để đảm bảo không hư hại hoặc sạt lở nếu các máy móc như
máy cày, bừa, gặt đập đi qua.

Đường đưa
máy cơ giới
vào ruộng


3.4. Hệ thống thoát nước
Hệ thống thoát nước của mô hình sẽ hướng theo nguyên tắc như mô hình dưới đây

C. KẾT LUẬN

Mô hình sinh thái trồng lúa kết hợp nuôi vịt thả cá (LVC) là một mô hình canh
tác đem lại hiệu quả kinh tế. Trong những năm gần đây nó đã được nhân rộng
và khá phổ biến ở nhiều địa phương trên cả nước, đặc biệt là các khu vực đồng
bằng lớn như đồng bằng sông Hồng và một số đồngbằng ở khu vực phía nam.
Tam Kỳ tuy đã được xác nhận là đô thị loại hai nhưng hướng kinh tế chủ yếu
vẫn dựa vào phát triển nông nghiệp, một số địa phương trên địa bàn vẫn còn
nghèo khó. Đời sống người dân vẫn còn nhiều khó khăn, sản xuất độc canh ở
quy mô nhỏ, phân tán và trình độ sản xuất còn thấp. Vì vậy xây dựng mô hình
sản xuất theo hướng kết hợp có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện thực tế ở
địa phương, tạo điều kiện cho bà con nông dân liên kết để sản xuất, từng bước
chuyển dịch cơ cấu cây trồng, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cải
thiện đời sống, góp phần xây dựng nông thôn – đô thị trong thời kỹ đổi mới.
D. TÀI LIỆU KHAM KHẢO
1. Th.S Trần Văn Thắng, (2015), Bài giảng trồng trọt, Tam Kỳ.
2. />

3. i/tags/ky-thuat-nuoi-vit-ca-lua-ket-hop301717.html



×