Đại Học Thái Nguyên
Trường Cao Đẳng Kinh Tế - Kỹ Thuật Thái Nguyên
--------------------
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Tên đề tài : Nghiên cứu hệ thống Trạm biến áp 2 của công ty.
Sinh Viên Thực Hiện
Mã Sinh Viên
Lớp
Nghành Học
Khoa
Khóa Học
: Nghiêm Xuân Trường
: DTU151ND110019
: K11CĐN Điện
: Điện Công Nghiệp
: Điện
: 2015 - 2018
Thái Nguyên, 2018….
Đại Học Thái Nguyên
Trường Cao Đẳng Kinh Tế - Kỹ Thuật Thái Nguyên
--------------------
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Tên đề tài :
Nghiên cứu hệ thống Trạm biến áp 2 của công ty.
Giáo Viên Hướng Dẫn
Ngày Bắt Đầu Thực Tập
Ngày Kết Thúc Thực Tập
: Trần Trung Dũng
: 02/04/2018
: 11/05/2018
Thái Nguyên, 2018….
Lời Mở Đầu
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta hiện nay cùng với
sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, con người đã có những thành
công nhất định trong các ngành kỹ thuật nói chung và cơ khí, luyện kim, khai thác
khoáng sản,…nói riêng – Các máy móc thiết bị ra đời ngày càng cải thiện điều
kiện lao động cửa con người trong những công việc nguy hiểm, nặng nhọc, trong
môi trường độc hại.
Nhiệm vụ của một sinh viên trường Cao Đẳng Kinh Tế-Kỹ Thuật trước khi ra
trường phải hoàn thành báo cáo thực tập của riêng mình. Với bài báo cáo này giúp
cho mỗi sinh viên chúng ta củng cố lại kiến thức đã học và tiếp cận nghiên cứu về
một lĩnh vực cụ thể trong ngành nghề đã chọn, đã học, cũng là làm quen với những
sơ đồ mạch điện và cách vận hành máy thực tế nhất.
Nhiệm vụ của em là Nghiên cứu hệ thống Trạm biến áp 2 của công ty
Sau gần 2 tháng nỗ lực nghiên cứu, làm việc của bản thân và nhận được sự
hướng dẫn tận tình của thầy Trần Trung Dũng và công ty thực tập, nay em đã
hoàn thành Báo Cáo Thực Tập của mình.
Vì thời gian có hạn, tài liệu tham khảo không nhiều và kiến thức còn hạn chế
nên không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý các thầy cô.
Sau cùng, em xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy, cô trong khoa đã truyền
đạt cho em những kiến thức, đặc biệt em xin thành thật cảm ơn thầy Trần Trung
Dũng đã tận tình chỉ dạy cho em trong quá trình hoàn thành bài Báo Cáo Thực
Tập này.
Em xin thành thật cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày ..... tháng ..... năm ......
Sinh viên thực hiện
Trường
Nghiêm Xuân Trường
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN………………………………………………………………………........................
GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG CĐ Kinh Tế - Kỹ Thuật Thái Nguyên..............................................
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY THỰC
TẬP…………………………………………........................
TỔNG QUAN TÀI LIỆU:
I..Giới Thiệu Chung:
1-Máy Biến Áp.
2-Trạm Biến Áp.
3-Các loại Trạm Biến Áp thường gặp.
II..Đặc Điểm Phân Xưởng:
2.1-Thông số và Mặt bằng phân xưởng.
III...Tính chọn Trạm Biến Áp cho phân xưởng:
3.1 Khái Quát.
3.2 Chọn vị trí Trạm Biến Áp.
3.3 Lựa chọn Máy Biến Áp.
3.4 Đo lường & Kiểm tra Trạm.
IV..Sơ đồ đấu dây của Trạm Biến Áp phân xưởng.
4.1 Sơ Đồ
4.2 Giới thiệu sơ đồ
GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐHTN
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật là trường thành viên của Đại học Thái
Nguyên. Trường được thành lập năm 2005 theo Quyết định số 4507/QĐ-BGD&ĐT
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trên cơ sở phân công lại nhiệm vụ các
trường thành viên của Đại học Thái Nguyên. Tiền thân trường là Trường Công
nhân cơ điện Việt Bắc được thành lập năm 1974.
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật là một trường đào tạo đa ngành, đa cấp.
Nhiệm vụ của trường là: Đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao
đẳng và các trình độ thấp hơn trong các lĩnh vực Kinh tế, Kỹ thuật công nghiệp, Kỹ
thuật Nông - Lâm, Kỹ thuật Xây dựng, Kỹ thuật Giao thông và Đào tạo nghề. Song
song với đào tạo trường có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ
phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Học sinh, sinh viên của trường tốt nghiệp tùy theo từng bậc học được cấp bằng:
Cao đẳng chuyên nghiệp, Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng nghề, Trung cấp
nghề, được cấp chứng chỉ với các trường hợp đào tạo ngắn hạn. Đối với những,
sinh viên có nhu cầu tiếp tục học đại học, một thuận lợi cơ bản là chương trình đào
tạo của trường đã được xây dựng đảm bảo tính liên thông trong các trường đại học
thuộc Đại học Thái Nguyên.
Trên cơ sở nhiệm vụ được giao Nhà trường xác định nhiệm vụ trọng tâm là tập
trung mọi nguồn lực, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời tính cực
nghiên cứu mở rộng ngành, nghề nhằm đào tạo đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có
chất lượng cao cho xã hội.
Hiện trường đang đào tạo 32 ngành, nghề bao gồm: Cao đẳng chuyên nghiệp 14
ngành: Kế toán, QTKD, Tài chính- Ngân hàng, Kinh tế xây dựng, Kế toán - Kiểm
toán, Trồng trọt, Thú y, Quản lý đất đai, Quản lý môi trường, Cơ khí, Điện, Công
nghệ thông tin, Xây dựng cầu đường, Xây dựng dân dụng - công nghiệp. Nhà
trường đã tổ chức đào tạo cho hệ này theo hệ thống tín chỉ. Trung cấp chuyên
nghiệp 11 ngành: Kế toán, Tài chính - Ngân hàng, Công nghệ thông tin, Cơ khí,
Điện, Xây dựng Cầu đường, Xây dựng Dân dụng và Công nghiệp, Thú y, Quản lý
Đất đai, Quản lý môi trường, Trồng trọt. Cao đẳng nghề 9 nghề: Hàn, Công nghệ ô
tô, Cắt gọt kim loại, Điện công nghiệp, Lắp ráp và sửa chữa máy tính, Nguội sửa
chữa máy công cụ, Kế toán doanh nghiệp, Điện dân dụng, Thú y. Trung cấp nghề 9
nghề: Điện công nghiệp, Nguội sửa chữa thiết bị, Hàn, Cắt gọt kim loại, Công
nghệ ô tô, Điện dân dụng, Sửa chữa và lắp giáp máy tính, Kế toán, Thú y.
Đội ngũ giáo viên cơ hữu của trường 287 người trong đó có: 02 PGS.TS; 10
Tiến sỹ; 120 Thạc sỹ; 60 giảng viên đang học cao học,20 nghiên cứu sinh, còn lại
đều có trình độ tốt nghiệp đại học. Cơ sở vật chất của trường được quy hoạch trên
diện tích 24,5 ha, gồm 1145m2 nhà làm việc; 40 phòng học lý thuyết với diện tích
4706m2; 08 xưởng thực tập với diện tích 3294m2, 08 phòng thí nghiệm với diện
tích 450m2 với hệ thống máy móc thiết bị, phương tiện dạy học tiên tiến, hiện đại;
có 04 nhà Ký túc xá 05 tầng với sức chứa 2500 HSSV, nhà ăn khang trang, sạch
đẹp với khả năng phục vụ 1000 suất ăn/ lượt. Hiện trường đang trong giai đoạn xây
dựng cơ bản với nhiều hạng mục bao gồm: giảng đường, phòng thí nghiệm, thư
viện, khu vực làm việc và khu vui chơi giải trí hiện đại.
Với những thành tích nổi bật trường đã được nhà nước tặng thưởng nhiều huân
chương lao động, cờ thi đua và nhiều bằng khen. Năm 1985: Huân chương Lao
động hạng ba; Năm 1990: Huân chương Lao động hạng nhì; Năm 2005: Huân
chương Lao động hạng nhất; Năm 2010 nhận bằng khen của Bộ GD&ĐT. Đã hoàn
thành báo cáo tự đánh giá kiểm định chất lượng và tổ chức đánh giá xong ở
cấp Đại học vùng đạt yêu cầu.
Lịch sử hình thành và phát triển của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật là một trường thành viên của Đại học Thái
Nguyên, được thành lập vào ngày 18/8/2005 theo quyết định số 4507/QĐBGD&DT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Tính đến năm 2016, trường đã có lịch sử 42
năm với nhiều giai đoạn và tên gọi khác nhau:
- Trường Công nhân Kỹ thuật Cơ điện miền núi Việt Bắc.
- Trường Công nhân Cơ điện Việt Bắc.
- Trường Công nhân kỹ thuật.
- Trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật, Đại học Thái Nguyên.
Ở mỗi chặng đường lịch sử đó, Nhà trường đều được ghi dấu bằng những mốc
son đáng tự hào.
CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1- Trường Công nhân Kỹ thuật Cơ điện miền núi Việt Bắc (01/1974 - 5/1976)
Ngày 19/01/1974 Ủy ban Hành chính khu Tự trị Việt Bắc ra Quyết định số
049/QĐ–UB thành lập Trường Công nhân Kỹ thuật Cơ điện miền núi Việt Bắc.
Trường có nhiệm vụ đào tạo công nhân kỹ thuật đạt trình độ bậc thợ 3/7, gồm các
nghề cơ và điện; Thời gian đào tạo 36 tháng; Đối tượng tuyển sinh là con em các
dân tộc của 7 tỉnh miền núi phía Bắc đã tốt nghiệp cấp II trở lên; Chỉ tiêu tuyển
sinh mỗi năm là 200.
Địa điểm xây dựng trường tại khu Gò Quánh, thôn Hò Huyên, xã Thịnh Đán,
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Bắc Thái. Diện tích xây dựng Trường được cấp là 8 ha.
Ban Giám hiệu gồm đ/c Hoàng Cao Minh – Phó Chủ tịch Tỉnh Hà Giang được
bổ nhiệm giữ chức vụ Hiệu trưởng; đ/c Trần Trung Lương – Chủ tịch UBND
huyện Định Hóa được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng, năm 1979 đ/c
Nguyễn văn Trùy - Cán bộ của Tổng cục dạy nghề được bổ nhiệm Phó Hiệu
trưởng.
Đội ngũ cán bộ, giáo viên và công nhân viên thời gian đầu thành lập Trường gồm
có 26 người trong đó: Đại học 5, Giáo viên dạy nghề 11, thợ bậc cao 2, lái xe 2,
nhân viên phục vụ 6 (số liệu vào thời điểm tháng 12/1974).
Khóa 1 được tổ chức khai giảng vào ngày 20/11/1975 với 150 học sinh đã tốt
nghiệp cấp II. Quá trình giảng dạy được tiến hành theo 2 giai đoạn: giai đoạn một
dạy bổ túc văn hóa cấp 3, giai đoạn hai tổ chức dạy nghề. Tháng 8/1976, trường
tiếp tục tuyển bổ sung học sinh tốt nghiệp cấp 3 đề đảm bảo số lượng khóa I là 200
học sinh.
2- Trường Công nhân Cơ điện Việt Bắc (6/1976 - 10/1995)
Tháng 6/1976 sau khi Khu tự trị Việt Bắc giải thể, Trường Công nhân Kỹ thuật
Cơ điện miền núi Việt Bắc được chuyển giao về Tổng cục Dạy nghề quản lý và đổi
tên thành Trường Công nhân Cơ điện Việt Bắc.
Ban Giám hiệu: Năm 1980 đ/c Nguyễn Văn Trùy được bổ nhiệm Hiệu trưởng,
đồng chí Nguyễn Thanh Vượng được bổ nhiệm Phó Hiệu trưởng; Năm 1983 đồng
chí Dương Chí Khuầy được bổ nhiện làm Phó Hiệu trưởng; Năm 1984 đồng chí
Nguyễn Kính Thọ được bổ nhiệm Phó Hiệu trưởng.
Đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên giai đoạn này là 130 người, trong đó
Kỹ sư 16; giáo viên dạy nghề 46; Trung cấp 12; thợ bậc cao 11; nhân viên phục vụ
45. Cơ cấu tổ chức gồm: 8 phòng chức năng và 6 Ban chuyên môn.
Là trường công nhân kỹ thuật duy nhất cùng với 4 trường Cao đẳng Sư phạm kỹ
thuật trong toàn quốc trực thuộc Tổng cục dạy nghề, chất lương đào tạo của
Trường luôn thuộc tốp đầu trong toàn quốc. Phong trào thi đua dạy tốt, học tốt,
phục vụ tốt phát triển mạnh. Nhiều tập thể phòng, ban nhiều năm liền đạt danh hiệu
tổ đội lao động XHCN, nhiều tập thể học sinh đạt danh hiệu tập thể học sinh
XHCN. Tháng 10/1985, nhân kỷ niệm 10 năm thành lập, Trường được đón
nhận Huân chương Lao động Hạng Ba. Tháng 10 năm 1990 nhân kỷ niệm 15 năm
thành lập trường, Trường được đón nhận Huân chương lao động hạng hai.
Năm 1992 Trường Công nhân Cơ điện Việt Bắc được chuyển về quản lý trực tiếp
của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Năm 1992 đ/c Dương Chí Khuầy được bổ nhiệm Hiệu trưởng, đ/c Nguyễn Kính
Thọ - Phó Hiệu trưởng; Năm 1994 đ/c Hoàng Cao Sử được bổ nhiệm Phó Hiệu
trưởng.
Năm 1992 triển khai thực hiện Nghị định 176-HĐBT của Chính phủ về giảm
biên, biên chế bộ máy của trường được thu hẹp lại từ 130 xuống còn 90.
Trong giai đoạn này, để tạo thuận lợi cho người học và hỗ trợ cho các địa phương
về dạy nghề, Trường đã mở nhiều lớp dạy nghề đặt tại các địa phương như: Cao
Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai,... qua đó nâng cao uy tín của
Nhà trường với các tỉnh.
Năm 1994 thực hiện chủ chương xây dựng Đại học vùng, Đại học Thái Nguyên
(ĐHTN) được thành lập. Trường Công nhân Cơ điện Việt Bắc được chuyển về
dưới sự quản lý của Đại học Thái Nguyên. Tháng 11/1995 trường đổi tên
thành Trường Công nhân Kỹ thuật thuộc ĐHTN.
3- Trường Công nhân Kỹ thuật (11/1995 - 8/2005)
Trường Công nhân Kỹ thuật có nhiệm vụ đào tạo công nhân kỹ thuật 13 nghề bậc
3/7 bao gồm các nghề: Cắt gọt kim loại, Điện, Động lực, Hàn, Gò, Rèn, xây lắp
điện, Cấp thoát nước, Nguội sữa chữa,...
Ban Giám hiệu: Năm 2001 đ/c Đặng Xuân Ngọc được bổ nhiệm làm Hiệu
trưởng, năm 2002 đ/c Tạ Xuân Chiến được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng, năm
2003 đ/c Trương Đại Đức được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng.
Đội ngũ cán bộ, giáo viên của Nhà trường giai đoạn này có 86 người. 100% giáo
viên có trình độ đại học, trong đó có 8 thạc sĩ.
Với những thành tích sau 30 năm xây dựng và phát triển, năm 2005 Trường Công
nhân Kỹ thuật đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động
Hạng Nhất.
Việc tồn tại một trường dạy nghề riêng trong Đại học Thái Nguyên đã bộc lộ
nhiều bất cập, cả trong công tác điều hành quản lý, cũng như trong việc tổ chức
những hoạt động, sinh hoạt chung, đặc biệt là trong lĩnh vực chuyên môn. Từ thực
trạng như vậy, ĐHTN đã xây dựng Đề án thành lập Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ
thuật trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại công tác đào tạo cao đẳng, trung cấp chuyên
nghiệp và dạy nghề của các trường, đơn vị thành viên trong ĐHTN.
Ngày 18/8/2005 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ký Quyết định số 4507/QĐBGD&ĐT thành lập Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc ĐHTN.
4- Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật (8/2005 - nay)
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật được thành lập vào ngày 18/8/2005 theo
Quyết định số 4507/QĐ-BGD&ĐT. Trường được sử dụng cơ sở vật chất và đội
ngũ của Trường công nhân Kỹ thuật. Trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực
có trình độ cao đẳng và thấp hơn về lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật và đào tạo nghề.
Ngoài ra Nhà trường còn có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công
nghệ phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội khu vực miền núi phía bắc.
BAN GIÁM HIỆU:
Từ 2005 đến 2008
Hiệu trưởng: ThS. Đặng Xuân Ngọc
Hiệu phó: TS. Nguyễn Đình Mãn; ThS. Trương Đại Đức; ThS. Đặng Văn
Doanh.
Từ 2008 đến 2017
Hiệu trưởng: NGƯT. PGS.TS. Nguyễn Đình Mãn
Hiệu phó: TS. Ngô Cường; TS. Trương Đại Đức; TS. Ngô Xuân Hoàng.
Tháng 6/2015
TS. Trương Đại Đức về nghỉ chế độ hưu trí..
TS. Nguyễn Duy Lam được bổ nhiệm Phó Hiệu trưởng.
Từ 2017 đến nay:
TS. Ngô Xuân Hoàng được bổ nghiệm thành Hiệu trưởng.
Giai đoạn 2005 - 2010: Năm 2005, Nhà trường có 86 CBVC của Trường Công
nhân kỹ thuật cộng với 9 cán bộ của các trường Đại học thành viên được điều
chuyển về (Trường Đại học Nông lâm: điều chuyển về 3 người, Trường Đại học
Kinh tế và QTKD, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp: mỗi trường điều chuyển
về 3 người). Sau 5 năm phấn đấu, năm 2010 Nhà trường đã có 250 CBVC gồm
178 CBGD (kể cả kiêm nhiệm), trong đó có 1PGS, 5TS, 55 Th.S, 5 NCS và 60 học
viên cao học. Năm học 2009 - 2010 Nhà trưòng triển khai đào tạo 12 ngành hệ
CĐCN, 6 ngành TCCN và 6 nghề cho hệ CĐN và TCN.
Giai đoạn 2011- nay: Tính đến thời điểm tháng 6/2016, Nhà trường có 242
CBVC. Số CBGD là 183 (kể cả kiêm nhiệm), trong đó có 2 PGS, 11TS,140 Th.S,
21 NCS và 14 học viên cao học. Năm học 2016 - 2017 Nhà trường tuyển sinh đào
tạo 17 ngành hệ CĐCN, 11 ngành TCCN và 11 nghề cho hệ CĐN và TCN với quy
mô gần 5000HSSV. Bộ máy tổ chức Nhà trường gồm Đảng ủy, Ban Giám hiệu,
Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh, Hội sinh viên; với 5 Phòng, 3
Trung tâm và 19 Bộ môn.
Với bề dày thành tích đạt được trong những năm qua, Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật, Đại học Thái Nguyên đang khẳng định thương hiệu của mình trong hệ
thống các trường cao đẳng ở Việt Nam.
Sẵn sàng đón nhận những cơ hội và thách thức mới trong thời kỳ hội nhập và
phát triển, Nhà trường đang không ngừng đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng bồi
dưỡng và phát triển đội ngũ, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu trở thành một
trường Đại học trong những năm gần đây.
Sứ mệnh và tầm nhìn:
Sứ mệnh
"Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc ĐHTN là cơ sở đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ cao đẳng và thấp hơn về lĩnh vực Kinh tế, Kỹ thuật và đào tạo
nghề; Nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội khu vực miền núi phía Bắc"
Tầm nhìn
“Đào tạo đạt chuẩn, đáp ứng nhu cầu xã hội; Không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ngang tầm các nước trong khu vực; Nâng cao hiệu quả công
tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Tăng cường xây dựng cơ sở vật
chất và nhân lực; Phấn đấu trở thành một trường đại học trong tương lai”
Cơ Cấu Tổ Chức
Vị trí địa lý:
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên với khuôn
viên trên 24,5 hec-ta, đóng trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, trung tâm văn hóa,
kinh tế của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc.
Trường nằm ngay cạnh đường quốc lộ 3, tuyến đường nối liền thủ đô Hà Nội
với các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái...
Do vậy, quý khách có thể dễ dàng đến thăm trường cũng như các khu du lịch nổi
tiếng lân cận như Hồ Núi Cốc, khu du lịch ATK ở Định Hóa, ... bằng các phương
tiện giao thông đường bộ. Với khoảng cách dưới bốn ki-lô-mét giữa ga Lưu Xá và
trường, quý khách cũng có thể sử dụng tàu hỏa như một phương tiện để đến với
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật .
I..Giới Thiệu Chung
1..Khái Niệm Chung của Máy Biến Áp
* Máy Biến Áp là gì?
Máy biến áp là một thiết bị điện từ loại tĩnh, làm việc theo nguyên lý cảm ứng điện
từ, biến đổi một hệ thống dòng điện xoay chiều ở điện áp này thành một hệ thống
dòng điện xoay chiều ở điện áp khác với tần số không thay đổi.
Do đó máy biến áp chỉ làm nhiệm vụ truyền tải hoặc phân phối năng lượng chứ
không biến đổi năng lượng.
Nếu một cuộn dây được đặt vào một nguồn điện áp xoay chiều (gọi là cuộn dây sơ
cấp), thì sẽ có một từ thông sinh ra với biên độ phụ thuộc vào điện áp sơ cấp và số
vòng dây quấn sơ cấp.
Với tỷ số tương ứng giữa số vòng dây quấn sơ cấp và thứ cấp chúng ta sẽ có tỷ lệ
tương ứng giữa điện áp sơ cấp và thứ cấp.
Cấu tạo của máy biến áp 3 pha
Máy biến áp là thiết bị quan trọng không thể thiết trong hệ thống điện, giúp
chuyển tải năng lượng với hiệu quả rất cao từ mức điện áp này sang mức điện
áp khác.
Một máy biến áp thông thường sẽ bao gồm những bộ phận chính như sau: 2
cuộn dây gồm cuộn sơ cấp và cuộn thứ cấp; Lõi sắt với bên trong là nhiều lá sắt
mỏng được ghép chặt. Ngoài ra còn có vỏ máy.
Máy biến áp 3 pha được dùng để truyền tải và phân phối lượng điện năng lớn
như ở các nhà máy, khu công nghiệp. Do đó cấu tạo của máy biến áp 3 pha sẽ phức
tạp hơn so với cấu tạo của máy biến áp 1 pha.
Tùy vào mục đích sử dụng máy biến áp mà người ta tăng hoặc giảm số vòng
của cuộn dây thứ cấp. Nếu muốn tăng điện áp đầu ra thì giảm số vòng của cuộn thứ
cấp, nếu muốn giảm điện áp đầu ra thì tăng số vòng của cuộn thứ cấp.
Lõi thép của máy có 3 trụ để quấn 6 dây đồng được bọc cách điện. Gông từ để
khép kín mạch từ, lõi thép được làm bằng các lá thép kỹ thuật điện. Trong 6 dây
quấn sẽ có 3 dây nhận điện vào, gọi là dây quấn sơ cấp, 3 dây còn lại đưa điện ra,
gọi là dây quấn thứ cấp.
Tùy vào mục đích sử dụng, vật liệu cấu thành cũng như công suất mà máy biến áp
có nhiều loại khác nhau như: máy biến áp 3 pha 380v 220v, máy biến áp 1000kva,
máy biến áp 220v sang 110v, máy biến áp lioa, máy biến áp amorphous, máy biến
áp shihlin…
Nguyên lý hoạt động của máy biến áp 3 pha
Nguyên lý hoạt động của máy biến áp 3 pha
Cuộc sống hiện đại, điện đóng vai trò vô cùng quan trọng bất khả thay thế.
Cùng với đó các công xưởng xuất hiện ngày một nhiều với công xuất làm việc vô
cùng lớn hoạt động ngày đêm. Chính vì vậy mà máy biến áp 3 pha đã ra đời phục
vụ cho việc cung cấp điện năng cho những nơi cần dùng với công suất điện cao.
Máy biến áp 3 pha được hoạt động dựa trên nguyên lý cảm ứng điện từ với nhiệm
vụ biến đổi điện áp, có thể tăng áp và cũng có thể hạ áp sao cho phù hợp nơi tiêu
thụ.
Dây quấn điện trong máy biến áp 3 pha có điện áp cao là dây quấn cao áp, và
ngược lại, dây quấn điện có điện áp thấp là dây quấn hạ áp.
Cuộn dây cuốn sơ cấp khi được nối với hiệu điện thế sơ cấp sẽ tạo ra dòng
điện và 1 dãy biến thiên trong lõi sắt. Trong mạch dây thứ cấp hiệu điện thế thứ
cấp sẽ tiếp tục tạo ra từ trường biến thiên. Thông qua từ trường, hiệu điện thế sơ
cấp sẽ thay đổi hiệu điện thế thứ cấp. Sự thay đổi này điều chỉnh qua các số vòng
được quấn trên lõi sắt.
Trong quá trình vận hành máy biến áp 3 pha sẽ làm biến đổi hệ thống dòng
điện ở chiều điện áp này thành hệ thống cung cấp điện ở dòng điện xoáy chiều
của điện áp khác, tuy nhiên duy chỉ có tần số là không thay đổi.
Trên đây là bài viết tổng hợp về nguyên lý làm việc máy biến áp 3 pha hy vọng
đã đem lại cho bạn những thông tin bạn cần tham khảo!
2..Giới thiệu chung về Trạm Biến Áp:
Trạm biến áp 3 pha là gì?
Trạm biến áp 3 pha (máy biến áp 3 pha) là thiết bị được sử dụng phổ biến trong
hệ thống phân phối và truyền tải một lượng lớn điện năng. So với trạm biến áp 1
pha, cấu tạo của trạm biến áp 3 pha phức tạp hơn nhiều.
Cụ thể, dây quấn của trạm biến áp 3 pha có tới 6 dây quấn đồng quấn quanh trụ
và đều được bọc cách điện. Phần lõi thép gồm gông từ để tạo ra mạch từ kín, được
làm từ các lá thép kỹ thuật điện ghép vào thành khối trụ và phủ sơn cách điện ở cả
2 mặt cùng 3 trụ tù dùng để quấn dây.
Trạm biến áp làm việc dựa trên cơ sở của hiện tượng cảm ứng điện từ. Mạch từ
của thiết bị được thiết kế dạng chữ E và có dây quấn kiểu trụ ở giữa trụ. Phần mạch
từ có mối ghép chéo tại góc ghép thẳng với phần trụ giữa. Gông dùng sắt ép lại, trụ
được dùng bằng băng đai còn lõi thép làm từ thép cán nguội dày 0,35mm đẳng
hướng 3406. Các cuộn dây sơ cấp và cuộn dây thứ cấp của trạm có thể đấu thành
hình tam giác hoặc hình sao.
3..Các loại Trạm Biến Áp trên thị trường:
* Trạm biến áp 3 pha đổi nguồn hạ thế tự ngẫu
Trạm biến áp này dùng để đổi điện cho các thiết bị công nghiệp khác mà mức
điện áp sử dụng theo tiêu chuẩn nước ngoài (như Mỹ, Đài Loan, Nhật Bản,…) với
các nhu cầu đặc biệt. Thông số kỹ thuật của trạm biến áp 3 pha đổi nguồn hạ thế tự
ngẫu gồm tần số 49 – 62Hz, điện áp ra 200 – 220V, điện áp vào 380V.
Trạm biến áp 3 pha ngâm dầu
Loại trạm này có kết cấu đơn giản nhưng hết sức vững chắc với tiết diện trụ dạng
gần tròn. Lõi thép chủ yếu sử dụng công nghệ quấn liền nên giảm thiểu tối đa tổn
hao không tải, đem lại lợi ích lâu dài cho người sử dụng. Máy có khả năng chịu
được lực ngắn mạch và lực điện động nên hiệu quả làm việc cao và an toàn, dùng ít
vật liệu giúp tiết kiệm điện năng.
Trạm biến áp 3 pha cách ly
Trạm biến áp này hoạt động dựa trên hiện tượng cảm ứng từ tương tự đa số máy
biến áp thông thường khác.Trạm biến áp 3 pha cách ly có khả năng thay đổi hiệu
điện thế của dòng điện xoay chiều và hạ thế xuống 220V/ 3 pha và 200V / 3 pha.
So với các loại trạm biến áp khác, trạm biến áp cách lý giúp triệu tiêu nhiễu hài
(nguyên nhân gây ra những sự cố thường gặp về điện) và đảm bảo hệ số an toàn
cao nhờ sử dụng hệ thống UPS với bộ chỉnh lưu 12 xung. Ngoài ra, máy cũng hạn
chế tỷ lệ méo hài dòng điện ảnh hưởng ngược chỉ còn dưới 5% ngay cả khi UPS
hoạt động hết công suất.
II- ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÂN XƯỞNG:
Tính toán phụ tải điện là bước đầu tiên trong quá
trình thiết kế một hệ thống cung cấp điện, nó có vai
trò rất quan trọng bởi vì nếu ta xác đònh phụ tải tính
toán dư thừa dẫn đến lãng phí, ứ đọng vốn đầu tư...
Nếu xác đònh thiếu sẽ dẫn đến mạng điện thường
xuyên bò quá tải do đó vận hành không đảm bảo chỉ
tiêu kinh tế kỹ thuật. Hơn nữa xác đònh phụ tải là cơ
sở để lựa chọn công suất nguồn, tiết diện dây dẫn
và lựa chọn CB. Do thấy được tầm quan trọng của việc
xác đònh phụ tải tính toán nên trước khi đi vào tính toán
phụ tải điện cho một phân xưởng ta phải thu thập đầy
đủ các dữ liệu của phân xưởng.
Diện tích toàn phân xưởng: 1250m2.
Chiều dài phân xưởng: 50m.
Chiều rộng phân xưởng: 25m.
2.1- THÔNG SỐ VÀ MẶT BẰNG PHÂN XƯỞNG:
2.1.1-Thông số phân xưởng:
ST
T
Tê
Ký
n
Hie
Má
äu
y
SL
Điện
Áp
Công
Suất(
KW)
So
á
Ph
a
Cos
1
1
1
4
220/380V
3
3
0.85
2
2
2
4
220/380V
9
3
0.9
3
3
3
4
220/380V
12
3
0.9
4
4
4
4
220/380V
1
3
0.8
5
5
5
4
220/380V
3
3
0.8
6
6
6
4
220/380V
7
3
0.85
7
7
7
4
220/380V
11
3
0.95
8
8
8
6
220/380V
14
3
0.8
9
9
9
4
220/380V
16
3
0.85
10
10
10
4
220/380V
7
3
0.9
11
11
11
4
220/380V
12
3
0.85
2.1.2- Mặt bằng phân xưởng:
Ghi
Chu
ù
III...TÍNH CHỌN TRẠM BIẾN ÁP CHO PHÂN XƯỞNG.
3.1- KHÁI QUÁT VỀ TÍNH CHỌN TRẠM BIẾN ÁP
Trạm biến áp dùng để biến điện năng từ cấp
điện áp này sang cấp điện áp khác. Nó đóng vai trò
rất quan trọng trong hệ thống cung cấp điện. Vò trí đặt
trạm, dung lượng, số lượng máy biến áp trong trạm, khả
năng vận hành trạm có ảnh hưởng rất nhiều đến chỉ
tiêu kinh tế và kỹ thuật của hệ thống điện.
Trạm biến áp trung gian: trạm này nhận điện từ
hệthống điện cao áp 22-35KV biến đổi thành cấp điện
áp 10KV hay 6KV, cá biệt khi xuống 0.4KV.
Trạm biến áp phân xưởng: trạm này nhận điện từ
trạm biến áp trung gian biến đổi thành các cấp điện
áp thích hợp phục vụ cho phụ tải phân xưởng. Điện áp
phía sơ cấp thường là 22KV, 10KV, 6KV hoặc 15KV xuống
còn phía thứ cấp 380/220V, 220/127V…
Về cấu trúc trạm biến áp được chia ra làm 2 loại:
Trạm ngoài trời: ở trạm này, thiết bò có điện áp
cao đều đặt ngoài trời, còn phần phân phối điện áp
thấp thì đặt trong nhà hoặc được đặt trong các tủ sắt
chế tạo sẵn chuyên dùng để phân phối phần hạ thế.
Xây dựng trạm ngoài trời sẽ tiết kiệm được kinh phí xây
dựng hơn so với trạm trong nhà.
Trạm trong nhà: ở trạm này tất cả các thiết bò
điện đều được đặt trong nhà.
Dung lượng của máy biến áp nên đồng bộ (ít
chủng loại) để giảm số lượng máy biến áp dự phòng
trong kho. Dung lượng máy biến áp được chọn cho trạm
phải đáp ứng được phụ tải lớn nhất.
Số lượng các trạm biến áp phân xưởng tùy thuộc
vào công suất mỗi phân xưởng, mức độ tập trung hay
phân tán của phụ tải trong xí nghiệp, phụ thuộc vào tính
chất quan trọng của phụ tải về mặt cung cấp điện…
Với phân xưởng lớn có thể dùng 1 trạm biến áp riêng,
vài ba phân xưởng đặt gần nhau được cấp điện từ một
trạm chung. Khi chọn số lượng trạm biến áp phải so sánh
về kinh tế, kỹ thuật.
Vò trí trạm biến áp có thể ở độc lập bên ngoài,
liền kề với phân xưởng hoặc đặt bên trong phân
xưởng.
3.2- CHỌN VỊ TRÍ TRẠM BIẾN ÁP
Để xác đònh vò trí hợp lý của trạm biến áp
DT (Distribution Transformer) cần xem xét các yêu
cầu sau:
An toàn, liên tục cung cấp điện.
Tiêu tốn kim loại màu ít nhất.
Gần tâm phụ tải.
Thuận tiện cho nguồn cung cấp điện đưa tới.
Thao tác vận hành và quản lý dễ dàng.
Tiết kiệm vốn đầu tư và chi phí vận hành hàng năm
là bé nhất.
Thông thường thì việc lắp đặt trạm không đúng vò
trí của tâm phụ tải mà ta tính toán trên bản vẽ. Do
vậy nó còn phụ thuộc vào điều kiện thực tế mà ta
chọn sao cho hợp lý.
Căn cứ vào các yêu cầu trên và dựa vào sơ đồ
vò trí phân xưởng sửa chữa cơ khí. Ta chọn vò trí lắp đặt
trạm biến áp như sau: Trạm biến áp đặt cách phân
xưởng 20 m, gần lưới điện quốc gia và gần tủ phân
phối chính MDB ( Main Distribution Board ).
3.3- LỰA CHỌN MÁY BIẾN ÁP
Lựa chọn máy biến áp T (Transformer) bao gồm lựa
chọn số lượng, công suất, chủng loại, kiểu cách và các
tính năng khác của máy biến áp.
3.3.1- Chọn số lượng máy biến áp
Có nhiều cách xác đònh số lượng và chủng loại
máy biến áp, nhưng thường vẫn dựa vào yêu cầu chủ
yếu là độ tin cậy cung cấp điện cho phụ tải của trạm
đó.
- Với phụ tải loại 1: là phụ tải quan trọng không
được phép mất điện thì phải đặt 2 máy biến áp, hoặc
cấp nguồn từ hai nguồn độc lập.
- Với phụ tải loại 2: như xí nghiệp sản xuất hàng
tiêu dùng, phân xưởng gia công sửa chữa, khách sạn,
siêu thò v.v... thì phải so sánh giữa phương án cấp điện
bằng một đường dây – 1 máy biến áp. Với phương án
cấp điện bằng đường dây lộ kép – 2 máy biến áp.
Trong thực tế, những hộ loại này thường dùng phương án
lộ đơn – 1 máy biến áp.
- Với phụ tải loại 3: như phụ tải chiếu sáng sinh
hoạt, thôn xóm, khu chung cư, trường học, hộ này thường
dùng lộ đơn.
3.3.2- Chủng loại máy biến áp
Chủng loại máy biến áp trong một trạm nên chọn
đồng nhất, việc đó nhằm giảm số lượng máy dự
phòng trong kho và thuận tiện cho lắp đặt, vận hành.
Dựa vào các yêu cầu đã nêu và đặc điểm của
phụ tải phân xưởng chúng ta là hộ tiêu thụ loại 2, nên
yêu cầu cung cấp điện không cao lắm. Do đó, ta chọn
phương án cấp điện cho phân xưởng sửa chữa cơ khí là
lộ đơn – 1 máy biến áp.
3.3.3- Xác đònh công suất máy biến áp
Thông thường người ta chọn dung lượng trạm
biến áp dựa vào đồ thò phụ tải hộ tiêu thụ. Đối
với xưởng này không có đồ thò phụ tải cụ thể,
nên ta chọn dung lượng trạm biến áp sao cho các
máy biến áp trong trạm không non tải lắm, cũng
không quá tải lắm, tức là chọn dung lượng trạm
biến áp theo công thức:
Strạm Stt
Stt = Stt +Sdựphòng
Trong đó:
Stt là dung lượng tính toán của toàn xưởng.
Sdự phòng: là dung lượng dự phòng của trạm biến áp trong
tương lai.
Dung lượng này phụ thuộc vào việc dự báo phụ tải
điện của xưởng trong tương lai. Phân xưởng này chỉ là
một phân xưởng nhỏ, không phát triển thêm trong
tương lai nên chọn Sdựphòng=0%
Vậy, dung lượng trạm biến áp được chọn dựa theo biểu
thức sau:
S trạm 313,9(KVA) 314(KVA)
Vậy ta chọn máy biến áp ba pha kiểu ONAN-320
nhãn hiệu THIBIDI với các thông số kỹ thuật được cho
từ nhà sản xuất như sau:
Công suất (KVA): 320
Điện áp (KV):2222.5% - 10,525%/0,4
Dòng điện đònh mức (A): 8,4 – 17,6/461,9
Tần số: 50Hz
Tổ đấu dây: Dyn - 11
Đặc điểm kỹ thuật chủ yếu:
Chế tạo theo tiêu chuẩn IEC 76 và TCVN 1984 –
1994, TCVN 1985 -1994.
Sử dụng trong nhà và ngoài trời.
Điều chỉnh điện áp:
Làm nguội bằng không khí và dầu tự nhiên.
Chế độ làm việc liên tục.
Kích thước chủ yếu (mm)
W
L
H
A
966
1198
1650
660
Trọng lượng tổng (Kg): 1898
Trọng lượng dầu (Kg): 262
Trọng lượng ruột máy (Kg): 1220
Thông số kỹ thuật:
3.4-
Điện áp ngắn mạch: 4%
Tổn hao ngắn mạch: 3330W
Tổn hao không tải: 440W
Dòng điện không tải: 2%
ĐO LƯỜNG VÀ KIỂM TRA TRONG TRẠM
3.4.1-Nguyên tắc chung:
Các thiết bò đo lường và kiểm tra trong trạm nhằm
các mục đích sau:
Đo lường các giá trò điện (U, I, P, Q, A).
Giám sát trạng thái vận hành thiết bò và phán
đoán các trạng thái vận hành của trạm.
Các yêu cầu cần đạt là:
Các thiết bò đo lường và kiểm tra cần có độ
chính xác và tin cậy cao.
Các thiết bò đo lường và kiểm tra cần phải đặt
ở vò trí thuận tiện, dễ quan sát.
Số thiết bò đo lường và kiểm tra ít nhất nhưng
đảm bảo vận hành tốt nhất.
3.4.2- Đo lường và kiểm tra trong trạm:
Theo sơ đồ đơn tuyến, thì ta gắn phần đo lường ở
phía sơ cấp. Do đó, nó có thể đo luôn tổn thất điện áp
của máy biến áp và đo lường cho cả tải tiêu thụ
thông qua hai cuộn dòng (CT) và cuộn áp (VT).
Để thực hiện chức năng bảo vệ máy biến áp,
thường máy được trang bò hệ thống chống sét LA
( Lightning Arrester ) và cầu chì tự rơi FCO (Fuse Cut Out) dao
cách ly có kèm cầu chì DS-F ( Distance Switch-Fuse ).
3.4.3-Sơ đồ trạm biến áp: