Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

Sang kien kinh nghiem Giao vien chu nhiem gioi Tươi 8b

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (190.52 KB, 29 trang )

“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***********
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”.

SƠ YẾU LÝ LỊCH
Họ và tên: Nguyễn Thị Tươi
Ngày sinh: 18/01/1977
Quê quán: Tự Nhiên - Thường Tín – Hà Nội
Đơn vị công tác: Trường THCS Chương Dương
Ngày vào ngành: 01/07/2001
Trình độ chuyên môn: ĐH Ngoại Ngữ
Bộ môn giảng dạy: Tiếng Anh khối 7 - khối 8
Công tác khác: Chủ nhiệm lớp 8B

1


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục - Hà Nội 1996 - PTS. Phạm
Viết Vượng.
2. Tâm lí học đại cương - Hà Nội 1995 - PGS. Nguyễn Quang Uẩn(chủ biên).
3. Giáo dục học đại cương II - Hà Nội 1996 - GS. Đặng Vũ Hoạt.
4. Thực hành về giáo dục học - Hà Nội 1995 - PTS. Nguyễn Đình Chỉnh.
5. Điều lệ trường trung học - Bộ GD & ĐT.
6. Thông tư 23/29 v/v hướng dẫn đánh giá, xếp loại học sinh THPT - Bộ GD &


ĐT.
7. Luật GD 2005 - Bộ GD & ĐT.
8. Pháp lệnh cán bộ công chức - Bộ GD & ĐT.

2


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”

MỤC LỤC
NỘI DUNG
Tài liệu tham khảo
Mục lục
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ

TRANG
01
02

Lý do chọn đề tài
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

03
04

Vài nét về vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường

12


THCS
Đặc điểm lớp 8B
Biện pháp thực hiện
Vai trò của GVCN trong việc kết hợp nhà trường - gia đình -

14
16
18

xã hội
Tiêu chuẩn xếp loại hạnh kiểm…
Giáo dục đạo đức HS thông qua tiết sinh hoạt chủ nhiệm
Mẫu biên bản sinh hoạt chủ nhiệm
Kết quả
PHẦN III. KẾT LUẬN

21
22
23
24

Bài học kinh nghiệm
Kiến nghị
Mục lục

25
26
19

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I. Lý do chọn đề tài
Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp là người chịu trách nhiệm thực hiện mọi
quyết định quản lý của hiệu trưởng đối với lớp và các thành viên trong lớp.
3


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
GVCN lớp là người vạch ra kế hoạch, tổ chức cho lớp mình thực hiện các chủ
đề năm học theo kế hoạch của Phòng giáo dục và của nhà trường đồng thời
theo dõi, đánh giá việc thực hiện của các em học sinh (HS). Vì vậy GVCN lớp
phải biết phối hợp với các GV bộ môn, chỉ đạo quản lý học sinh trong lớp học
tập, lao động, công tác. Chủ nhiệm cũng là người phối hợp với các tổ chức,
đoàn thể trong trường, giáo viien bộ môn, tổng phụ trách đội, hội cha mẹ học
sinh ( CMHS ) để làm tốt công tác dạy - học- giáo dục HS trong lớp mình phụ
trách.
Nhưng trong thực tế có những quan niệm sai lầm trong nhận thức về chức
vụ giáo viên chủ nhiệm lớp. Chưa định hướng đúng mức với tầm quan trọng
của chức vụ này, chưa đúng với các văn bản luật cũng như các văn bản quản lí
giáo dục quy định và thậm chí có cả những phương pháp giáo dục lỗi thời,
GVCN còn như vị chủ tọa xét xử học sinh trong các tiết sinh hoạt chủ nhiệm…
Cũng gặp trường hợp học sinh chửi thầy cô giáo chủ nhiệm của mình; giáo
viên chủ nhiệm lớp nóng nảy, thô bạo đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng
như đuổi hàng chục học sinh ra khỏi giờ học, đánh học trò trong lớp, v.v...
Ngược lại có những giáo viên chủ nhiệm lớp quá dễ dãi, buông lỏng quản lý,
thiếu trách nhiệm với lớp, với chức năng đã được giao, xử lý các tình huống
trong lớp còn thiếu tế nhị, thiếu sự tôn trọng học sinh dẫn đến học sinh thiếu ý
thức kỉ luật từ đó các em chán học tập, không muốn đến trường, tự do bỏ học,
chơi bời ...
Vì vậy, trong năm học 2013-2014, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”.


4


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”

II. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
1. Mục tiêu.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng vai trò của giáo viên chủ nhiệm
lớp trong trường THCS để đề ra những giải pháp hợp lý nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục đạo đức HS và góp phần hoàn thiện nhân cách HS ở trường
THCS.
2. Nhiệm vụ.
- Nghiên cứu lý luận về các GVCN lớp đã thể hiện vai trò của mình như
thế nào trong công tác giáo dục đạo đức HS và đã đạt kết quả như thế nào?
- Đề ra những giải pháp hiệu quả và cụ thể việc áp dụng nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho HS trong trường
THCS.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm từ việc trải nghiệm thực tế.

III. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Khách thể.
Thực trạng và giải pháp cho vai trò của GVCN lớp trong công tác giáo dục
đạo đức và hình thành nhân cách cho HS.
2. Đối tượng.
Nghiên cứu quá trình chủ nhiệm lớp.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Do điều kiện thời gian làm công tác chủ nhiệm cũng như kinh nghiệm trải
nghiệm còn chưa nhiều và thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ vận dụng
nghiên cứu công tác giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS trong những

năm gần đây.
4. Giả thuyết khoa học.
Việc nghiên cứu trên nếu áp dụng đại trà thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả
giáo dục toàn diện trong trường THCS.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
5


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
Thu thập những thông tin lý luận về vai trò của người GVCN lớp trong
công tác giáo dục đạo đức và hoàn thiện nhân cách cho HS trên các tập san
giáo dục, thông qua các buổi chuyên đề của Phòng giáo dục, nhà trường tổ
chức cũng như trải nghiệm của bản thân.
- Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động học tập và sinh hoạt tập thể của HS.
- Phương pháp điều tra
+ Trò chuyện, trao đổi với các giáo viên bộ môn, HS, hội cha mẹ học
sinh (CMHS), bạn bè và hàng xóm của HS.
+ Tìm hiểu cả tâm tư nguyện vọng của học sinh mong gì ở người GVCN
thông qua những học sinh cũ đã ra trường để có những trải nghiệm sâu sắc,
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
+ Tham khảo những bản báo cáo , tổng kết hàng năm của nhà trường.
+ Tham khảo kinh nghiệm của giáo viên các trường bạn.
+ Tham khảo những kinh nghiệm của các giáo viên chủ nhiệm lớp khác
trong nhà trường.
+ Tham khảo tâm sự cùng những học sinh đã ra trường.
+ Học hỏi, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm.
- Phương pháp thử nghiệm
Thử áp dụng các giải pháp vào công tác giáo dục đạo đức và hình thành

nhân cách học sinh ở lớp 8B Trường THCS Chương Dương – Thường Tín
Năm học 2013 - 2014.
- Những công việc cần làm ngay đầu năm:
- Một số nền nếp cần xây dựng trong lớp:
+ Nền nếp học tập trong từng tiết học: chia nhóm, luân phiên báo cáo,
những thao tác…
+ Nền nếp chuẩn bị bài dựa vào thời khoá biểu, SGK…
+ Nền nếp truy bài đầu giờ giữa các đôi bạn học tập.
+ Nền nếp giơ tay phát biểu.
6


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
+ Nền nếp đi học đúng giờ, thực hiện tốt nội quy, những điều đã cam kết
giữa GVCN và học sinh trong quá trình học tập.
+ Nền nếp tự quản trong sinh hoạt, tổ chức hoạt động.
+ Nền nếp tham gia sinh hoạt Đội, sinh hoạt ngoại khoá.
Khi nền nếp đã được thấm nhuần vào từng cá nhân học sinh thì các em
sẽ tự giác trong các hoạt động học tập cũng như vui chơi.
- Nghiêm khắc với chính bản thân mình và học sinh bằng cách sửa chữa,
chấn chỉnh ngay những gì không phù hợp trong quá trình học tập, sinh hoạt.
- Luôn tạo uy tín với nhà trường, phụ huynh, học sinh, nhất là trở thành
chỗ dựa tinh thần mà các em tin tưởng học tập.
- Có kinh nghiệm hiểu được tâm lí học sinh, tạo sự đồng cảm giữa nhà
trường, phụ huynh, học sinh để từ đó hiểu và thông cảm với các em. Giáo viên
phải luôn quan tâm sâu sát tới các em, cùng hoạt động để hướng dẫn, giúp đỡ
các em điều chỉnh kịp thời những sai trái không chỉ bằng lời nói mà bằng việc
làm, nhất là bằng tất cả tình yêu thương của thầy cô mới có thể giáo dục thành
công được.
- GVCN phải biết tôn trọng học sinh, luôn công bằng, thẳng thắn, gần

gũi với học sinh nhưng cũng không thiếu sự cương quyết khi cần thiết. Nhờ đó,
giúp các em tự giác sửa chữa những thiếu sót và sai lầm, tự thay đổi và phấn
đấu vươn lên trong học tập để trở thành người học sinh toàn diện.
- Giáo dục học sinh tính tự học:
Để học sinh đạt hiệu quả trong học tập, GVCN cần hướng dẫn các em
phương pháp tự học. Tự học có nghĩa là tự giác học, chủ động chiếm lĩnh kiến
thức. Đối với học sinh tiểu học do lứa tuổi còn nhỏ, tư duy học tập của các em
còn hạn chế nên khả năng tự học chưa cao và chưa bền vững. Nhiệm vụ của
giáo viên là phải từng bước giáo dục tính tự học cho học sinh.
Bên cạnh đó, một số biện pháp nghiệp vụ khác cũng có tác dụng gây
niềm say mê, hứng thú học tập ở các em như:
7


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
- Học sinh rất thích được khen. Giáo viên động viên, tuyên dương kịp
thời, đúng lúc cũng là một biện pháp khá hiệu quả.
- Phối hợp với gia đình nhắc nhở, động viên, mua sắm đầy đủ sách vở,
đồ dùng học tập, sắp xếp cho các em góc học tập yên tĩnh, phù hợp gây cảm
giác muốn học.
Nhiều học sinh mặc dầu có ý thức học rất tốt, các điều kiện học tập cũng
đầy đủ nhưng các em không thể tự học được. Nguyên nhân là do các em không
biết cách học.
Để giúp các em biết cách học, giáo viên cần chuẩn bị trong các tiết học ở
mỗi nội dung học ngoài dạy kiến thức kĩ năng, giáo viên cần hướng dẫn cho
học sinh cách tư duy.
- Chăm sóc học sinh:
Vì được các em tin yêu và luôn xem cô giáo như thần tượng nên tôi
không tiếc thời gian kiên trì chăm sóc học sinh từng bước, theo dõi tận gốc
từng diễn biến nhỏ để giáo dục.

Sau khi đã tìm hiểu học sinh toàn diện, việc chăm sóc học sinh đã có cơ
sở. Tôi đặc biệt lưu ý những biểu hiện chớm nở, hơi khác đi một chút có thể rất
nhỏ bé, hầu như không có hại cho học sinh, để từ đó giáo viên phát hiện, theo
dõi để xác nhận, phát huy và động viên hay theo dõi tận nguồn để giáo dục,
uốn nắn, động viên kịp thờì, làm cho học sinh không đi lệch hướng giáo dục
của giáo viên.
Về mặt tình cảm tôi sung sướng được hưởng những giờ phút đằm thắm
trong thế giới hồn nhiên trong sáng của các em. Về mặt nghiệp vụ tôi ít bị rơi
vãi những thành công nho nhỏ và nhất là những vấp váp tất yếu của mình do
đó tôi có điều kiện để tự kiểm tra rút kinh nghiệm thường xuyên.
Chính vì theo sát được tình hình hạnh kiểm, sức học của học sinh nên
suốt học kỳ I, học sinh của lớp tôi không chia bè chia phái mà cả lớp là một
khối đại đoàn kết thông nhất về mọi mặt.
8


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
Tận dụng chương trình nội khoá để thực hiện có hiệu quả cụ thể “Qua
trí dục dạy đạo đức”.
Chỉ thị về giáo dục đạo đức yêu cầu tính cụ thể của từng phẩm chất đạo
đức được hình thành và phát triển cho học sinh.
Về hình thức sách vở, giấy làm bài, dụng cụ học tập.
Qua kiểm tra vở, tôi chấn chỉnh những hình vẽ trang trí diêm dúa.Tôi
xén lại tất cả nhưng tờ bài kiểm tra xé nham nhở và kể lại việc ấy cho học sinh
khi trả bài. Chỉ sau lần ấy các giấy làm bài cũng như dùng để viết đơn xin
phép… đều được cắt xén rất đẹp. Quản lý chặt chẽ giờ lên lớp, thường xuyên
uốn nắn học sinh theo phương châm: Không bỏ qua bất cứ hiện tượng nhỏ nhặt
nào.
Hết học kỳ I tập thể HS lớp tôi đã ổn định chắc chắn những nề nếp sau
đây: Giơ tay trước khi nói , tư thế đứng đọc bài, cách đưa, nhận sách vở từ tay

giáo viên, cách thu bài kiểm tra.
Xây dựng tập thể lớp vững mạnh:
Trong quá trình giáo dục học sinh, điều tôi suy nghĩ trước hết là làm sao
cho cả lớp trở thành một tập thể đoàn kết thân ái, có tình yêu thương thật sự
giữa cô giáo với học sinh và giữa học sinh với nhau. Chỉ khi nào giữa cô giáo
với học sinh có tình thương yêu thật sự thì học sinh mới sẵn sàng và tự giác và
làm theo những lời dạy bảo của cô giáo và cô gíao mới thật sự có tác dụng cảm
hoá học sinh .
Cũng chỉ khi nào có tình yêu thương thật sự giữa học sinh với nhau thì
các em mới thật sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong học tập cũng như trong
sinh hoạt, mới thực sự đấu tranh với nhau để xây dựng cho nhau, cũng như
mới thực sự chịu tiếp thu sự giúp đỡ của nhau.
Nhờ có được một tập thể đoàn kết thân ái, biết yêu thương giúp đỡ lẫn
nhau như vậy nên ngay cả các học sinh chậm tiến cũng có những chuyển biến
tốt. Có em cảm động trước tình yêu thương của tập thể nên hối hận về những
9


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
thiếu sót của bản thân. Vì yêu thương, thông cảm lẫn nhau, các em đã đấu
tranh không khoan nhượng với những việc làm không đúng, những hiện tượng
xấu làm ảnh hưởng đến tập thể, cũng như biết lắng nghe ý kiến của bạn, sẵn
sàng và tự giác thực hiện nghị quyết của tập thể, gắn bó với lớp và ra sức xây
dựng lớp.
- Việc xây dựng lớp phải do tập thể học sinh đảm nhận:
Bên cạnh những việc làm trên, tôi thấy rõ việc xây dựng lớp muốn có
kết quả vững chắc thì phải do học sinh tự giác đảm nhiệm lấy. Nếu tập thể học
sinh không tự đảm nhận việc đó thì dù giáo viên có tích cực đến đâu cũng
không làm tốt được. Trước hết vì giáo viên không đủ thì giờ và cũng không có
khả năng nắm kịp thời mọi diễn biến xảy ra trên lớp cũng như ở trong các gia

đình để có biện pháp giáo dục thích hợp. Mà dù có làm được việc đó đi chăng
nữa thì tác dụng giáo dục cũng không tốt, vì khi học sinh chưa tự nguyện tự
giác các em sẽ cho là giáo viên “khắt khe”. Vì vậy sẽ không tiếp thu sự giáo
dục. Hơn nữa khi chưa tự giác, các em sẽ không đấu tranh với nhau mà lại bao
che cho nhau, bênh vực lẫn nhau và cho như thế là có “Tinh thần đồng đội”…
Vì vậy trong công việc xây dựng lớp, tôi luôn luôn chú ý bồi dưỡng cho học
sinh biết tự làm lấy tất cả mọi việc.
Theo hướng đó, tôi chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để làm hạt nhân
trong việc xây dựng tập thể.
Tôi rất coi trọng việc giáo dục các em trong ban cán sự lớp là phải luôn
gương mẫu, yêu thương bè bạn và cách nói năng, góp ý cho bạn thế nào để bạn
thấy sự chân thành, sự thông cảm của mình. Như vậy sẽ tránh được sự “đối
lập” giữa ban cán sự với học sinh, bảo đảm tình đoàn kết, thân ái trong tập thể
lớp. Mặt khác, muốn có đội ngũ ban cán sự lớp lời nói đi đôi với việc làm, nên
tôi chú ý bồi dưỡng cho các em tốt về đạo đức, giỏi về học tập, gương mẫu,
chủ động, có tác phong quần chúng tốt, có năng lực công tác khá, biết cách tự
quản lý tốt.
6. Thời gian thực hiện.
10


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
- Bắt đầu : 15/ 08 / 2013
- Kết thúc : 10 / 4/ 2014

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Vài nét về vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS
11



“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
Trước hết, ta cần xác định rõ vai trò của GVCN lớp trong trường THCS.
Nhưng thực tế nhiều người đã coi nhẹ và lẫn lộn họ với các giáo viên bộ môn
khác. Ví dụ: hàng năm không làm nhiệm vụ bổ nhiệm chức vụ chủ nhiệm lớp,
không công bố quyết định đó trước toàn trường, trước hội phụ huynh của
trường, hiện nay gọi là ban đại diện hội CMHS mà chỉ ghi ở thời khóa biểu
như mọi GV bình thường khác có giờ dạy. Đáng lẽ phải làm đúng quy trình bổ
nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm tuỳ theo thành tích hoặc sai phạm mà họ mắc
phải. Về mặt đánh giá xếp loại GV, nhiều cán bộ quản lý chỉ coi trọng chuyên
môn mà chưa coi trọng hiệu quả công tác quản lý lớp ở GVCN, lại có biểu
hiện lệch lạc khi lớp có khuyết điểm thì quy trách nhiệm cho họ, khi lớp có
thành tích thì lẫn lộn giữa thành tích đoàn thể với thành tích chính quyền, cụ
thể là công của các cán bộ ngành dọc chứ chưa hẳn là của tập thể lớp do
GVCN lớp. Tuy vậy cũng cần phải thấy trong thực tế có những GVCN yếu, vai
trò của mình mờ nhạt nên dấu ấn của công tác đoàn thể sâu đậm hơn, vai trò
của chính quyền bị lấn át, từ đó càng tạo ra sự nhìn nhận thiên lệch. Có nhiều
GVCN lớp đặc biệt là chủ nhiệm trẻ chưa biết mình có một quyền hạn nên
chưa ai dám làm đi dự giờ các giáo viên dạy các bộ môn trong lớp khi mình
thấy cần và cũng từ đó người GVCN lớp có cái nhìn thấu đáo hơn về tình hình
học tập cũng như mọi khía cạnh của lớp mình phụ trách. GVCN được xếp loại
học sinh, được thi hành kỉ luật học sinh theo quy định, được hưởng giờ công
tác theo định mức quy định, có chăng loại sổ sách làm việc pháp quy trong hệ
thống sổ sách của nhà trường. Từ đó nếu có nhiều chủ nhiệm lớp trong trường
có năng lực và bản lĩnh thì công cuộc giáo dục sẽ đạt được nhiều thành tựu
đáng kể.

12


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”


II. Những yếu tố của GVCN lớp
1. Tố chất để làm nên một GVCN lớp tốt.
Vì GVCN là cán bộ quản lý lớp cho nên người dạy giỏi và người chủ
nhiệm giỏi không nhất thiết là một. Có đồng thuận, có lệch pha trong thực tế là
bình thường. Tố chất quan trọng của GVCN là tố chất của một con người hành
động. Cũng như hiệu trưởng, chủ nhiệm lớp phải nghiêm túc và cần phải sáng
tạo, năng động. Đối tượng quản lý trường học, lớp học là con người phải giáo
hoá. Do đó không thể có một chương trình cài đặt sẵn, phải linh động khi được
giao nhiệm vụ - vì mỗi lớp, mỗi khối có đối tượng và tâm lí khác nhau. Phải
lao vào làm. Thấy đúng thì tổng kết và áp dụng tiếp, thấy sai phải điều chỉnh
kế hoạch kịp thời hoặc huỷ bỏ theo quy trình: xây dựng kế hoạch - thực hiện
kế hoạch - kiểm tra kế hoạch - tổng kết và vạch kế hoạch mới. Rất cần ở chủ
nhiệm lớp các phẩm chất nhiệt tình, sâu sát, cần cù, trí nhớ tốt, quan sát tinh,
tâm lí giỏi, có khả năng xây dựng đội ngũ cán bộ HS. GVCN phải vừa là thầy
vừa là bạn của học trò, cái chính nữa là quan tâm các em như con cái của mình
như cha mẹ thứ 2 của các em.
Bên cạnh đó người GVCN phải biết xây dựng kế hoạch chủ nhiệm của bản
thân theo các hướng:
- Xây dựng cho 3 năm học ( Gọi là kế hoạch chiến lược)
- Xây dựng cho 1 năm học (Gọi là kế hoạch năm học) – Trong kế hoạch
năm học có kế hoạch từng tháng, từng tuần và điều hành hoạt động lớp học
theo kế hoạch.
Đồng thời hiểu được tâm lí lứa tuổi, điều kiện hoàn cảnh của từng học sinh
từ đó mà đưa ra các phương pháp tối ưu cho các hoạt động giáo dục đạo đức và
hình thành nhân cách cho học sinh.
2. GVCN lớp là tấm gương sáng cho HS noi theo.
Trong lớp học, GVCN là tấm gương sáng để các em noi theo. Cách hành
động, suy nghĩ, cư xử của GV sẽ ảnh hưởng rất nhiều về quan niệm của học
sinh và phụ huynh về GV. Bản thân tôi vừa là GVCN đồng thời là giáo viên bộ


13


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
môn tiếng anh khi đến trường hoặc lên lớp, tôi đều có những tác phong làm
gương cho học sinh.
- Soạn bài trước khi đến lớp. Theo tôi, chỉ khi nào thầy cô cảm thấy hứng
thú với bài dạy thì sự truyền đạt kiến thức cho HS mới đạt hiệu quả cao. Sự
hứng thú này đi đôi với sự soạn bài trước và có một chương trình trước cho
những gì phải làm trong giờ dạy học và trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm thay vì
một thái độ "tùy cơ ứng biến". GV cần chuẩn bị đầy đủ tâm lí, tài liệu, đồ dùng
dạy học trước khi dạy học hoặc lên lớp chủ nhiệm. Người dạy càng tận tâm thì
các em càng cố gắng học.
Khi lên lớp, theo tôi, GV cần có lời nói gọn, rõ ràng, dứt khoát. Khi nói
nhìn thẳng vào học sinh, tùy từng đối tượng, hoàn cảnh của học sinh mà giáo
viên có thể nói sao cho tế nhị mà không ảnh hưởng đến danh dự cá nhân của
các em. Dùng từ, câu dễ hiểu, hợp với trình độ học sinh. Biết lắng nghe học
sinh nói. Mỗi khi các em phát biểu ý kiến hay nói một điều gì, thầy cô dù bận
rộn cũng phải lắng nghe các em nói. Có như vậy khi thầy cô nói các em mới
chú ý nghe trở lại và có cách xử lí tình huống tế nhị thân thiện.
Bên cạnh đó, GVCN biết thông cảm và chia sẻ những khó khăn của các
em. Trả lời những câu hỏi của các em một cách thấu đáo (nếu chưa có câu trả
lời, hứa sẽ tìm câu trả lời chính xác). Cho các em biết là các em có thể điện
thoại cho thầy cô để nói chuyện hay hỏi bài vở (cách làm bài, giải thích chữ
khó, cách trả lời ...). Hỏi các em về những khó khăn trong đời sống, những khó
khăn ở trường... Giúp các em giải quyết những khó khăn này. Trong lớp học
hay ngoài lớp học, thầy cô còn phải đóng vai người cha, người mẹ, người anh,
người chị mà các em có thể tin tưởng, nhờ cậy được. Qua đó, các em sẽ biết
sống nhẫn nại, kiên trì và giàu lòng nhân ái.


III. Đặc điểm lớp chủ nhiệm
Năm học 2012 - 2013, lớp 7C của trường THCS Chương Dương. Đây là lớp
học có tỉ lệ học sinh yếu kém về học lực và hạnh kiểm khá cao (7 em thi lại và
rèn luyện trong hè ). Lớp xếp loại thi đua hàng tháng thứ 8/8 lớp trong tổng số
lớp của nhà trường. Tổng kết thi đua cuối năm không đạt lớp tiên tiến. Nhờ sự
14


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
giúp đỡ, quan tâm của BGH và GVCN, giáo viên bộ môn rèn luyện thêm cho
các em trong hè 2013 nên kết quả học tập của các em có phần tiến bộ. Kết quả
các em được lên lớp 100% và có 4 em xếp loại hạnh kiểm trung bình.
Năm học 2013 - 2014, có một số em ý thức chưa cao còn vi phạm các kỉ
luật của nhà trường như đi học muộn, bỏ tiết, lười học bài, làm bài… Trong
thời gian đó tôi cũng phải đi sớm về muộn để phối hợp với đội ngũ cán bộ lớp
theo dõi và động viên các em giúp các em hạn chế được những vi phạm trên.
Kết quả HKI năm học này khả quan hơn (17/27) xếp loại hạnh kiểm tốt, khá
chỉ có 2 em xếp loại TB). Nề nếp học sinh tiến bộ nhiều, một số em nghịch
hoặc có biểu hiện trốn học, bỏ tiết chơi game..... đã có tiến bộ thực sự. Chính
vì vậy năm học 2013 - 2014 lớp 8B đã có những thuận lợi đáng kể trong việc
giáo dục các em bên cạnh những thuận lợi cũng còn có rất nhiều khó khăn.
1. Thuận lợi
- Bản thân tôi làm công tác chủ nhiệm tuy không nhiều năm nhưng tôi cũng
có những kinh nghiệm đáng kể trong việc hình thành nhân cách cũng như việc
giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Kết quả giáo dục của năm học 2012 – 2013 các em cũng có những tiến bộ
hơn.
- HS trong lớp có ý thức xây dựng bài, hăng hái phát biểu, đoàn kết giúp đỡ
nhau trong học tập cũng như mọi công việc của lớp, các em đã hăng hái tham

gia các phong trào của lớp mà nhà trường tổ chức, kết quả đã đạt được những
giải rất cao đặc biệt là các giải văn nghệ.
- Giữa GVCN, cha mẹ học sinh và BGH luôn phối hợp chặt chẽ trong công
tác giáo dục thường xuyên giao ban công tác chủ nhiệm
2. Khó khăn
- Đa số HS hoàn cảnh gia đình còn khó khăn gia đình các em đều làm nông
nghiệp và thuộc vùng nông thôn có 4 em gia đình thuộc diện nghèo.
- Nhà ở các em đều nằm rải rác cả xã nên việc đi học và việc liên lạc học
tập của các em còn gặp nhiều khó khăn.

15


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
- Một số học sinh bố mẹ còn mải mê làm ăn kiếm tiền nên còn thiếu sự
quan tâm đến việc giáo dục các em, có 1 em do điều kiện bố mẹ bỏ nhau và em
đã phải ở với ông bà vì vậy em cũng có phần thiếu thốn tình cảm nên việc giáo
dục còn gặp khó khăn…
- Một số em còn có những biểu hiện cá biệt như bỏ học đi chơi điện tử,
đánh nhau với bạn, chưa thực sự chăm học mà chỉ học đối phó.

IV. Biện pháp thực hiện
1. Lựa chọn và bầu ban cán sự lớp.
a) Cơ sở lựa chọn
- Căn cứ vào hồ sơ học bạ của HS.
- Căn cứ sự tín nhiệm của tập thể lớp qua việc bình bầu dân chủ đầu mỗi
năm học - Đại hội chi đội
b) Phân công nhiệm vụ cho ban cán sự lớp
- Ban cán sự lớp đại diện cho lớp, chịu trách nhiệm trước Nhà trường,
GVCN về toàn bộ hoạt động học tập, rèn luyện đạo đức, rèn luyện thân thể của

lớp trong thời gian học tập. Ban cán sự lớp do tập thể lớp bầu ra, được GVCN
quyết định công nhận. Nhiệm kỳ của Ban cán sự lớp là một năm.
- Cơ cấu của Ban cán sự lớp:
Nhiệm vụ của lớp trưởng: Lớp trưởng là người điều hành, quản lý toàn
bộ các hoạt động của lớp và từng thành viên trong lớp, cụ thể:
+ Tổ chức, quản lý lớp thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo
quy định của Bộ Giáo dục và Ðào tạo, Sở GD & ĐT, Phòng giáo dục và Nhà
trường;
+ Theo dõi, đôn đốc lớp chấp hành đầy đủ và nghiêm chỉnh quy chế, quy
định, nội quy về học tập và sinh hoạt của Bộ Giáo dục và Ðào tạo, Sở GD &
ĐT, Phòng giáo dục và Nhà trường. Xây dựng và thực hiện nề nếp tự quản
trong HS.
+ Tổ chức, động viên giúp đỡ những HS gặp khó khăn trong học tập, rèn
luyện và đời sống;
+ Chịu sự điều hành, quản lý trực tiếp của GVCN lớp
16


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
+ Chủ trì các cuộc họp lớp để đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, bình
xét thi đua, đề nghị khen thưởng đối với tập thể và cá nhân HS trong lớp.
- Nhiệm vụ của các lớp phó:
+ Ðôn đốc các bạn đi học đầy đủ, đúng giờ, thực hiện đầy đủ nội qui học
sinh trong nhà trường đảm bảo học tập nghiêm túc có hiệu quả.
+ Ðiểm danh, ghi sổ đầu bài đầy đủ, kịp thời
+ Lập danh sách HS thuộc diện đối tượng ưu tiên, hoàn cảnh khó khăn,
báo cáo với giáo viên chủ nhiệm;
+ Tổ chức và quản lý HS thực hiện lao động XHCN, các hoạt động liên
quan đến sinh hoạt, đời sống và tinh thần của lớp;
+ Tổ chức động viên, thăm hỏi những bạn có tư tưởng nghỉ học, lười học,

có hoàn cảnh khó khăn, ốm đau, tai nạn...
+ Nắm bắt và tiếp thu những thông báo, chỉ thị của Đội của trường để kịp
thời triển khai cho lớp thực hiện đầy đủ
+ Thực hiện các phong trào ủng hộ, quyên góp… do Tổ chức đội và nhà
trường phát động.
- Nhiệm vụ của các tổ trưởng:
+ Thực hiện và duy trì sinh hoạt 15 phút đầu giờ theo chủ đề lớp đã chọn.
+ Kiểm tra việc chuẩn bị bài và các bài tập mà giáo viên bộ môn đã giao
của các thành viên trong tổ, ghi chép đày đủ để cuối tuần làm cơ sở bình xét thi
đua
+ Phụ giúp nhiệt tình cho lớp trưởng và lớp phó trong các hoạt động khác.
Ngoài ra còn một số bộ phận khác như: Sao đỏ trường, sao đỏ lớp, văn thể
mĩ …GVCN phải phân công nhiệm vụ cụ thể tránh chồng chéo hoặc bỏ xót
những hoạt động của lớp của trường.
2. Lập sơ đồ tổ chức lớp học.
- Căn cứ vào học lực của HS: HS yếu kém, chậm tiến ngồi trước; HS khá
hơn ngồi sau hoặc ngồi xen kẽ để giúp nhau trong học tập…
- Căn cứ vào tình trạng sức khỏe của HS: HS thấp trước, cao sau; HS mắt
yếu ngồi gần bảng.
17


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
- Căn cứ vào nhiệm vụ của ban cán sự lớp: ngồi giữa và sau.
3. Vai trò của GVCN trong việc kết hợp nhà trường - gia đình - xã hội.
a) Cơ sở lí luận
Vai trò nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục phẩm chất chính trị,
đạo đức, lối sống cũng như hoàn thiện nhân cách cho học sinh.
Các phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của con người nói chung, HS
nói riêng được hình thành và phát triển trong các môi trường: gia đình, nhà

trường và xã hội. Lúc sơ sinh vai trò của gia đình là chủ đạo, tuổi học mầm
non gia đình và nhà trường góp phần quyết định, tuổi học phổ thông (từ tiểu
học tới trung học) HS càng lớn vai trò của nhà trường, gia đình và xã hội càng
cân đối. Để làm tốt việc giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho
HS THCS phải kết hợp chặt chẽ với gia đình.
Nhà trường, gia đình và xã hội có vai trò giáo dục khác nhau đối với sự
hình thành và phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của HS. Trong
mối quan hệ đó thì nhà trường được xem là trung tâm, chủ động, định hướng
trong việc phối hợp với gia đình và xã hội. Nhà trường là môi trường giáo dục
toàn diện nhất, là cơ quan nhà nước thực hiện chức năng giáo dục chuyên
nghiệp nhất nên nhà trường là lực lượng giáo dục có hiệu quả nhất, hội tụ đủ
những yếu tố cần thiết để có thể huy động sức mạnh giáo dục từ phía gia đình
và xã hội.
Có một thực trạng tồn tại là các tệ nạn xã hội như: chơi điện tử, đề đóm, cờ
bạc, nghiện hút…. cũng xuất hiện, làm đảo lộn vẩn đục môi trường giáo dục
đạo đức, không ngừng ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách và lối sống của HS.
Nhà trường dù là một pháo đài vững chắc nhưng vẫn có thể bị "tập kích" từ
phía ngoài. Nhà trường không phải là một ốc đảo tách khỏi xã hội, tách xa thực
tiễn. Thực tiễn cuộc sống, nhất là cuộc sống xã hội đang có các nhân tố của
kinh tế thị trường tác động đến nhà trường, có lúc nhẹ nhàng, có khi sôi động
dồn dập. Xã hội ô nhiễm, luồng văn hoá ngoại lai, đồi truỵ, bạo lực, văn hóa
“Internet”... len lỏi vào mọi tầng lớp nhân dân đã rất dễ gây ấn tượng và phản
ảnh sâu đậm đối với trẻ em.
18


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
GVCN biết kết hợp và phát huy nhằm giáo dục về tình hình và nhiệm vụ của
đất nước, tình hình thời sự, chính trị trong nước và thế giới (có định hướng
chính trị rõ ràng); giáo dục về tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội chính trị trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, về quyền tự do, dân chủ và trách

nhiệm công dân; bồi dưỡng một số kỹ năng sinh hoạt chính trị - xã hội cần
thiết.
b) Biện pháp thực hiện nhằm giáo dục HS, HS cá biệt và tránh tình
trạng HS bỏ học
- Thực trạng
+ Hầu như trường nào, lớp học nào cũng có học sinh cá biệt, mà những
học sinh này đa số gây không ít khó khăn cho GVCN, đôi khi họ rất mệt mỏi
vì nói hoài mà các em không nghe, càng phạt thì càng lỳ hơn hoặc các em sẽ
co lại và phá phách hoặc chống đối ngầm. Điều này không những khó khăn
cho GV mà còn có thể ảnh hưởng đến chuyện thi đua của cả lớp nữa.
+ GVCN thường là người đứng ra giải quyết mọi chuyện do HS gây ra,
nhưng chỉ ở mức độ là khuyên bảo, dạy kèm ngoài giờ cho HS quá yếu kém,
còn đối với HS cá biệt về đạo đức thì răn đe, xử phạt, thậm chí còn hù dọa,
nhưng hầu hết đều chỉ có hiệu quả tức thời thôi rồi đâu lại vào đó, HS vẫn trở
lại như cũ vì do GV không hiểu được nguyên nhân sâu phát xuất từ tâm lý của
trẻ.
+ Cũng có GVCN mời phụ huynh đến để thông báo về tình trạng của trẻ
với mong muốn gia đình kết hợp cùng nhà trường để giáo dục cho các em tốt
hơn, có phụ huynh thì tiếp thu và cũng có phụ huynh lại bực tức con mình và
đánh con trước mặt giáo viên rồi dẫn con về cho... nghỉ học luôn vì cảm thấy
xấu hổ. Điều này đã cho thấy chính phụ huynh cũng bất lực trước con mình...
+ HS không có tội, nếu sống trong một gia đình lành mạnh thì HS sẽ có
một nhân cách tốt và ngược lại, vì thế HS chỉ là nạn nhân mà thôi.
- Tìm hiểu nguyên nhân
+ Lâu nay, chỉ thường nghe cụm từ “học sinh cá biệt” - ám chỉ những đứa
trẻ có vẻ khác thường, khó dạy, thậm chí hư hỏng. Trong trường, HS dạng cá
19


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”

biệt về đạo đức thường quậy phá, đánh lộn, trộm cắp, nổi bật vai trò thủ lĩnh,
lập băng nhóm... nhẹ hơn một chút là dạng nữa về học tập, HS không học bài,
làm bài, HS chậm hiểu và rất mau quên... Và HS bị gọi "cá biệt" là HS có
khiếm khuyết về tâm lý, do HS bị ảnh hưởng từ trong gia đình của HS, đa số
chúng ta khi thấy hành động khác thường, không ngoan của HS thì cho là cá
biệt và xử lý trên hành động do HS gây ra mà quên là cần phải tìm cho ra
nguyên nhân. Đôi khi sự cá biệt của những HS ấy lại do từ cha mẹ
chúng...cuộc sống vợ chồng không hoà thuận, từ đó có ảnh hưởng đến đặc
điểm tâm sinh lý của HS.
+ Không phải tự nhiên mà trẻ trở thành "cá biệt", đó là hậu quả của các vết
thương tâm lý mà vô tình người lớn chúng ta đã gieo vào đầu óc non nớt của
trẻ lúc sống trong môi trường gia đình cũng như ở trường học.
+ Gia đình khó khăn; một số học sinh bị bệnh và điều đáng lưu tâm là một
số học sinh ham chơi, học kém, chán học, bỏ học...
- Giải pháp
+ Trước hết, chúng ta hãy thương yêu HS - GVCN phải mở lòng như người
cha, người mẹ thứ 2 của em, tạo độ tin cậy và tình người ấm áp đối với các em,
hơn thế nữa GV còn như một “chuyên gia tâm lí” của lớp mình phụ trách - cố
gắng để giúp HS vượt qua những biến cố, những vấn đề đã xảy ra trong quá
trình sống và nó đã trở thành vết thương tâm lý khó phai mờ trong tâm hồn HS.
+ HS cá biệt thì cần được sự giúp đỡ trong học hành, lối sống.
+ GVCN cần có nề nếp kỷ cương để HS tự nhận thức, tự khép mình trong
những nội quy, quy chế chặt chẽ nhưng luôn được dân chủ bàn bạc, trao đổi,
thỏa sức đóng góp. Tuân theo tập thể và cống hiến cho tập thể; luôn gắn lợi ích
cá nhân và lợi ích tập thể, chính là một trong những chuẩn mực, điều kiện để
giáo dục HS. Trong trường cần có dân chủ đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng
nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu. Điều gì chưa thông suốt
thì hỏi, bàn cho thông suốt. Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quí
trò. Chúng ta phải hiểu dân chủ trong trường học trước hết là do nhu cầu sống
chính của nhà giáo, của HS và CMHS.

20


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
+ Tổ chức vận động các gia đình, các đoàn thể XH cùng phối hợp, thống
nhất nội dung, mục đích, biện pháp giáo dục HS trong trường và cụm dân cư.
+ Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể lớp, trường, địa phương.
+ Thuyết phục bằng lời lẽ có lý, có tình, bằng tình cảm và phép tắc tác
động lên nhận thức và tình cảm của HS như: trò chuyện, nêu gương tốt, thưởng
việc tốt.
+ Đưa các em vào hoạt động tập thể thực tiễn như hoạt động tập thể trong
và ngoài nhà trường, vui chơi, thăm quan du lịch… qua đó hiểu thêm HS, gắn
bó học sinh với tập thể, xoá đi những thiếu sót.
+ Khuyến khích khen chê đúng mục đích, đúng việc, đúng lúc, tế nhị mà
hiệu quả.
+ Xây dựng nếp sống văn minh, văn hoá thanh lịch, xây dựng tình thương
yêu đoàn kết.
+ Nhà trường, các đoàn thể, các ngành các gia đình cùng tổ chức giáo dục
đạo đức cho HS.
+ Đầu tư cho con em học tập, vui chơi thoả đáng.
+ Không nên chỉ mời CMHS khi thấy cần thiết hay xảy ra sự cố trong
trường học, lớp học mà nên xem việc gặp gỡ, trao đổi với CMHS là chuyện
bình thường.
+ Dự giờ của GVBM để biết tình hình lớp học từ đó có biện pháp giáo dục
thấu đáo hơn đối với từng học sinh
+ Kết hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn, nhà trường, Đội, cha mẹ học
sinh, địa phương nơi HS cư trú …
+ Tìm hiểu tâm lí của từng học sinh mà có biện pháp GD phù hợp.
+ Tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh: giúp học sinh có kĩ năng
nhận biết và sống với chính mình, kĩ năng nhận biết và sống với người khác, kĩ

năng ra quyết định và giải quyết các vấn đề, kĩ năng ứng phó với những vấn đề
của lứa tuổi như: Phòng tránh lạm dụng game, phòng tránh rủi ro trong quan
hệ giới tính, phòng tránh sử dung chất gây nghiện, phòng tránh bạo lực học
đường…
21


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
+ Tập trung vào những thông điệp tích cực, hạn chế sử dụng những thông
điệp mang tính chất đe dọa để động viên sự thay đổi hành vi.
+ Khuyến khích tư duy phê phán trong những tình huống lựa chọn.
+ Sử dụng tác động của người có uy tín và phương pháp đồng đẳng.
+ Phòng ngừa sự lặp lại thói quen cũ.
+ Giáo dục các em biết kiểm soát hành vi và biết kiềm chế cảm xúc của bản
thân.
+ Ngăn ngừa và giải quyết những xung đột trong tập thể lớp kịp thời.
+ Lắng nghe tích cực và cảm thông với HS.
+ GV phải kiểm soát làm chủ được cảm xúc của bản thân không nóng nảy.
+ Tạo động lực học tập và hoàn thiện nhân cách cho học sinh.
c) Xây dựng tiêu chí đánh giá, xếp loại hạnh kiểm HS
- Ngay từ buổi họp mặt với CMHS đầu năm, chúng tôi đã cùng nhau thảo
luận và đi đến thống nhất những tiêu chí để xếp loại hạnh kiểm HS (có thông
qua tập thể HS ở tiết sinh hoạt lớp) theo công văn của nghành.
* Chú ý : GVCN phải luôn luôn bám sát vào nội dung của thông tư 23/29 v/v
hướng dẫn đánh giá, xếp loại học sinh THCS- Bộ GD & ĐT; chủ trương, nội
quy HS của Nhà trường. Xếp hạnh kiểm HS theo từng tháng, trong tiết sinh
hoạt lớp, bình xét công khai dân chủ, có biên bản kèm theo.
4. Giáo dục đạo đức HS thông qua tiết sinh hoạt lớp.
Theo qui định, tiết chủ nhiệm chỉ dành khoảng 15 phút để GV tổng kết tình
hình học tập, vệ sinh, chuyên cần... của lớp; 30 phút còn lại tổ chức cho HS

sinh hoạt ...Mỗi tiết sinh hoạt chủ nhiệm đều phải có biên bản ghi chép và lưu
lại.
Giờ sinh hoạt bắt đầu bằng những tóm tắt kết quả học tập và rèn luyện của
cả lớp trong tuần của ban cán sự lớp. Thông qua sổ đàu bài, sổ sao đỏ của Đội,
các giáo viên bộ môn, tôi nhận xét, đánh giá từng HS. Tôi luôn luôn nhắc nhở
và động viên tinh thần các em, tạo động lực giúp cả lớp cố gắng hơn (dù lớp
tôi xếp thi đua của trường có tiến bộ hơn).

22


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
Đối với HS lớp gần cuối cấp THCS nên việc học như thế nào là rất quan
trọng quyết định cho tương lai từng HS. GVCN phải thật sự gắn bó, quan tâm
tới lớp mới nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý và tình hình học tập của từng em. Từ
kết quả học tập, năng khiếu, tính cách của mỗi HS mà GVCN góp ý kiến với
từng HS về việc lựa chọn nghề nghiệp cho mình thật phù hợp.
Qua tiết sinh hoạt lớp, các HS sẽ tự tin không bỡ ngỡ trong việc lựa chọn
nghề theo lực học của mình, theo sở thích…
Tôi luôn dạy các em cách học làm người, cách sống, cách ứng xử với mọi
người. Có buổi sinh hoạt lớp tôi không nhận xét kết quả thi đua của lớp trong
tuần mà tôi tổ chức cho các em nghe kể chuyện trong sách, báo, internet mà tôi
sưu tầm được để các em tự rút ra bài học cho mình. Ví dụ: Bằng cả quyết tâm
và nghị lực Nguyễn Ngọc Kí sau này trở thành một giáo viên ưu tú…Từ đó các
em thấy rằng để trở thành con tốt không phải là khó và các em sẽ cố gắng hơn
trong học tập cũng như trong rèn luyện đạo đức, lối sống.

V. Kết quả
Sau khi thực hiện những biện pháp trên với lớp 8B, chỉ qua một học kì I
năm học 2013-2014 nhưng lớp đã đạt được nhiều kết quả khả quan.

Việc phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng HS trong Ban cán sự lớp đã đem
lại hiệu quả trong việc quản lí nề nếp và chất lượng học tập. Các em thực hiện
nhiệm vụ đầy đủ với tinh thần trách nhiệm cao. Có những trường hợp GVCN
không cần có mặt nhưng các em vẫn quản lí lớp tốt. Đây là một trong những
nhân tố quyết định thành tích lớp 8B đạt được.
Cùng với việc duy trì nề nếp sinh hoạt 15 phút đầu giờ đã giúp HS chủ động
trong học tập.
Lập sơ đồ lớp như trên đã đưa lại hiệu quả rõ rệt trong học tập của học sinh.
Những em trong Ban cán sự lớp ngồi sau có thể quản lí, theo dõi, nhắc nhở các
bạn trong các giờ học. Những em học sinh yếu kém ngồi đầu được giáo viên
bộ môn quan tâm theo dõi và giúp đỡ nên đã có nhiều tiến bộ. Vì vậy, đã giúp
HS từ bỏ thói quen thụ động, trông chờ, ỷ lại trong học tập, góp phần vào công
cuộc đổi mới chống tiêu cực trong thi cử mà ngành giáo dục đang thực hiện.
23


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
GVCN đã thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm trong việc phối hợp với các
tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nhà trường có hiệu quả về công tác giáo dục
đạo đức cho HS yếu kém, HS cá biệt và loại bỏ được nguy cơ bỏ học giữa
chừng. Ví dụ: Em: Đỗ Danh Diễn, Thái Thế Anh đều là những học sinh cá biệt
năm trước vô lể với thầy cô, bỏ học giữa chừng, trốn tiết chơi game, chán nản
trong học tập hoặc có nguy cơ bỏ học năm học này các em đã chăm ngoan có
tiến bộ trong học tập, có ý thức kỉ luật hơn và đã đảm bảo sĩ số 27/27.
Theo thời gian, những bài học về đạo đức, nhân cách trong tiết sinh hoạt lớp
giúp HS luôn nhớ, vững bước hơn trước những khó khăn trong cuộc sống.
Trong học kì I của năm học này, lớp 8B đạt được những thành tích như sau:
- Giải văn nghệ đạt giải nhì, báo tường đạt giải ba thi đua do Đội phát động
nhân dịp chào mừng ngày 20-11;
- Được chọn tham gia dự lễ chào mừng ngày 20-11 tại xã.

- Chỉ còn 1 em học sinh cá biệt (nhưng so với năm học trước thì em có tiến
bộ hơn).
- Kết quả xếp loại thi đua toàn trường trong học kì I lớp đứng thứ 5 toàn
trường.
- Kết qủa xếp loại thi đua trong 2 tuần đầu học kì II : hai lần đứng thứ 4
- Là một trong những chi đội mạnh của trường.
KẾT QUẢ HẠNH KIỂM VÀ HỌC LỰC NĂM TRƯỚC (2012 - 2013)
HẠNH
KIỂM
HỌC LỰC

TỐT

KHÁ

12

9

GIỎI

KHÁ

7

11

TRUNG
BÌNH
6

TRUNG
BÌNH
8

YẾU

KÉM

0

0

YẾU

KÉM

1

0

KẾT QUẢ HẠNH KIỂM VÀ HỌC LỰC LỚP 8B - HKI
NĂM (2013- 2014)
TỐT

KHÁ

TRUNG
24

YẾU


KÉM


“Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THCS”
HẠNH
KIỂM
HỌC LỰC

12

10

GIỎI

KHÁ

7

11

BÌNH
5
TRUNG
BÌNH
8

25

0


0

YẾU

KÉM

0

0


×