Tải bản đầy đủ (.docx) (7 trang)

lý luận chung nhà nước và pháp luận

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (94.74 KB, 7 trang )

1 Tên đề tài: “Phản biện xã hội – Một hình thức chế ước quyền lực nhà nước”

Người đề nghị: GV. ThS. Lê Việt Tuấn
“Bản tính con người là đam mê quyền lực và sự tuỳ tiện khi dùng quyền lực” (PGS. TS.
Nguyễn Đăng Dung) – Quyền lực nhà nước cần phải bị chế ước và phản biện xã hội là
một trong những hình thức. Phản biện là một nhu cầu của cuộc sống bởi nhờ đó con
người có thể loại bỏ những cái sai, tiệm cận tới chân lý, và là một công cụ không thể
thiếu để tổ chức ra một xã hội dân chủ.
Đã không ít những chính sách, quyết định của nhà nước chúng ta phải điều chỉnh, thay
đổi từ sự góp ý, phản ứng của người dân. Chẳng hạn như từ những việc nhỏ như quyết
định không bắn pháo bông của UBND Tp.HCM vào tết năm 2008, cho đến những chính
sách lớn của xã hội hay những tiêu cực trong lỗ hổng ở chân cầu Văn Thánh, nhưng
ngần ấy vẫn chưa đủ (đặc biệt là về mặt pháp lý). Như PGS. Đào Công Tiến có nói: “Phải
kiên quyết thể chế hóa, luật hóa việc tiếp nhận và xử lý phản biện từ dư luận nhân dân tức vì dân quyền, pháp quyền không thể không vào cuộc”.
Đề tài sẽ tìm hiểu dưới góc độ lý luận của phản biện xã hội với vai trò là một hình thức
của chế ước quyền lực nhà nước. Tiếp đó đi vào nghiên cứu vấn đề phản biện xã hội
trong thực tế Việt Nam ở các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đề tài sẽ giúp có
được cái nhìn tổng quát về phản biện xã hội, thấy được những yếu tố tác động đến hoạt
động phản biện xã hội để từ đó thấy được hướng hoàn thiện trong quan hệ chế ước quyền
lực nhà nước.


Phản biện xã hội
1.1

1.2

Định nghĩa
+Phản biện là một nhu cầu của cuộc sống bởi nhờ đó con người có thể loại bỏ những
cái sai, tiệm cận tới chân lý, và là một công cụ không thể thiếu để tổ chức ra một xã
hội dân chủ.


+Phản biện xã hội là sự phản tư của các lực lượng xã hội đối với những kiến tạo chính
sách, thể chế... trực tiếp liên quan đến quyền lợi của các thành viên trong cộng đồng,
từ đó giúp các cơ quan hữu quan điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp với
tình hình thực tiễn.
+ Bản chất, phản biện xã hội là sự tương tác, giao thoa về quan điểm, tư tưởng giữa
các lực lượng (chính trị, kinh tế, xã hội) trong một cộng đồng.
Do đó, thực tiễn và
chất lượng của hoạt động phản biện nói lên tính chất tiến bộ, trình độ dân chủ, văn
minh của cộng đồng ấy.
Chức năng của phản biện xã hội
-Phản biện xã hội giúp điều tiết xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội để tạo ra đồng
thuận xã hội
Xã hội là một tập hợp của nhiều nhóm lợi ích. Trong quá trình phát triển, các nhóm có
nguy cơ mâu thuẫn về quyền lợi, dẫn đến những ẩn ức, ức chế xã hội (trong trường
hợp không được giải tỏa); cao hơn, có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng xã hội thường
trực, thậm chí là tiền đề cho các cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội trên diện rộng. Sở
dĩ có tình trạng như vậy là bởi xã hội đã thiếu đi một cơ chế đối thoại, phản biện để
điều hòa mâu thuẫn, cân đối lợi ích giữa các nhóm liên quan. Nếu chúng ta xem xã hội
như một chỉnh thể toàn vẹn thì vận động xã hội là quá trình “trao đổi chất” giữa các
lực lượng xã hội. Mâu thuẫn/xung đột xã hội sẽ làm gián đoạn phương thức trao đổi
này cho đến khi cơ chế đối thoại, phản biện xã hội xuất hiện. Phản biện xã hội góp
phần tái tạo, phục hồi trạng thái cân bằng vốn đã bị phá vỡ trước đó, mở đường cho
trạng thái đồng thuận xã hội xuất hiện. Khi một xã hội trở nên đồng thuận, bản thân nó
đã tự tạo cho mình những tiền đề phát triển mới. Vì đồng thuận xã hội là điều kiện cần
để phát triển các nguồn vốn cộng đồng, mở rộng mạng lưới xã hội mà ở đó, các thành
viên dễ dàng tương tác với nhau nhờ cùng chia sẻ những niềm tin và giá trị chung.
-Phản biện xã hội góp phần khắc phục những khiếm khuyết của các kiến tạo chính
sách - thể chế, qua đó nâng cao chất lượng quản trị của bộ máy nhà nước
Khi hoạt động phản biện diễn ra, người ta hiểu rằng, trước đó, đã tồn tại một số vấn đề
nhất định trong sự kiến tạo chính sách của cơ quan nhà nước chuyên trách công việc



này và khiếm khuyết ấy có thể làm cho bản thân chính sách, quyết định đó trở nên bất
khả thi khi áp dụng vào điều kiện thực tế. Cho nên, phản biện xã hội thực chất là đưa
ra một cách nhìn khác của cộng đồng đối với chất lượng và triển vọng của chính sách
vừa được ban hành - một cách nhìn mang tính ngoại thể so với cách nhìn mang tính
nội thể của người trong cuộc.
Trong ý nghĩa tích cực của nó, phản biện xã hội không có mục đích phủ định sạch trơn
hay tìm cách đánh đổ kiến tạo chính sách của cơ quan công quyền. Ngược lại, nó giúp
cơ quan kiến tạo chính sách nhận ra những vết rạn hay lỗ hỏng của bản thân chính
sách, kể cả việc đề xuất các hướng đi hay giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế ấy.
Rõ ràng, việc bổ sung cách nhìn ngoại thể đưa đến một tác động kép: một mặt, nó trực
tiếp nâng cao tính hiệu quả của quá trình lập định chính sách; mặt khác, từng bước
thay đổi tư duy kiến tạo chính sách, kể cả tư duy quản lí của giới kĩ trị theo hướng bám
sát thực tiễn hơn.
-Phản biện xã hội góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của cộng đồng, phát triển ý
thức về quyền và nghĩa vụ của người công dân, qua đó từng bước hình thành môi
trường xã hội dân chủ, tiến bộ.
Do bản chất xã hội của nó, các hoạt động phản biện thường gây ảnh hưởng đáng kể lên
đời sống cộng đồng. Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, vai trò tích cực của
cộng đồng truyền thông càng giúp đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động phản
biện. Thông qua quá trình này, cộng đồng dần nắm bắt được căn nguyên xuất hiện của
hoạt động phản biện, từ đó dấy lên nhu cầu quan tâm, nhận thức vấn đề đang được đặt
ra. Bằng cách này hay cách khác, hoạt động phản biện luôn ủ sẵn khả năng tạo ra một
trường tương tác xã hội (social interaction sphere) giữa cộng đồng trí thức (phát hiện
và lí giải vấn đề), cộng đồng truyền thông (phổ quát thông tin) và cộng đồng xã hội
(hưởng ứng thông tin và hình thành dư luận). Quá trình tương tác ấy phá vỡ ốc đảo
khép kín của đời sống cá thể, nối kết cá thể với cộng đồng rộng lớn bên ngoài, từ đó
giúp họ hình thành nên tính năng động xã hội - một phẩm chất không thể thiếu của
người công dân hiện đại.

1.3 Các điều kiện nền tảng để hình thành phản biện xã hội
-Hệ thống thể chế minh bạch, dân chủ, tiến bộ
Kinh nghiệm quốc tế và trong nước ngày càng cho thấy rằng, hệ thống thể chế có vai
trò đòn bẩy đối với tốc độ và chất lượng phát triển của toàn xã hội. Thể chế không chỉ
tạo cơ sở pháp lý mà còn kích thích và định hình chiều hướng vận động của các nguồn


lực xã hội. Ở các quốc gia phát triển, với sự tồn tại của một nhà nước pháp quyền dân
chủ và một nền kinh tế thị trường lành mạnh, phản biện xã hội diễn ra như một hiện
tượng tất yếu, tự nhiên của đời sống dân sự. Sự tương tác qua lại thường xuyên giữa
nhà nước – thị trường – xã hội dân sự thông qua cơ chế phản biện xã hội đã giúp các
quốc gia này giảm thiểu được xung đột, căng thẳng xã hội, điều chỉnh năng lực quản
trị của bộ máy nhà nước, cũng như phát triển trách nhiệm xã hội, ý thức cộng đồng ở
từng cá thể công dân lẫn các tập đoàn doanh nghiệp. Rõ ràng, trong điều kiện lí tưởng
của trạng thái phát triển, phản biện xã hội trở thành cơ chế đảm bảo cho quá trình cộng
thông liên tục giữa các lực lượng xã hội, nhờ vậy, đảm bảo tính bền vững cho lộ trình
phát triển nói chung.
-Sự hiện diện của xã hội dân sự
Giữa xã hội dân sự và phản biện xã hội tồn tại một mối quan hệ mang tính nhân quả.
Nói cách khác, sự hiện diện của xã hội dân sự là một đảm bảo tiên quyết để hoạt động
phản biện xã hội được diễn ra. Về bản chất, xã hội dân sự là lực lượng trung gian đứng
giữa nhà nước và thị trường, được hình thành trên nền tảng của một môi trường xã hội
dân chủ và tiến bộ. Chủ thể của nền tảng ấy là những người công dân đã biết tổ chức ra
các đoàn thể, hiệp hội để thông qua các tổ chức đại diện ấy thực hiện quyền lợi và
nghĩa vụ công dân của họ dưới rất nhiều cách thức, mà phản biện xã hội là một trong
số đó. Điều này nói lên rằng, phản biện xã hội chính là chức năng cơ bản nhất của xã
hội dân sự: các lực lượng dân sự sử dụng cơ chế phản biện để bày tỏ quan điểm, thái
độ của họ đối với các kiến tạo chính sách, thể chế, định chế … của nhà nước. Trong
một chừng mực nhất định, có thể diễn đạt rằng, phản biện xã hội là sự cụ thể hóa năng
lực và phẩm chất của xã hội dân sự trước những vấn đề mà thực tiễn đặt ra cho bản

thân nó.
-Năng lực và trách nhiệm xã hội của giới trí thức
Karl Marx từng nhấn mạnh đến một chức năng rất cơ bản của người trí thức: chức
năng phê phán hay phản biện xã hội [1]. Thực ra, công tác phản biện xã hội thuộc về
trách nhiệm của toàn cộng đồng. Tuy nhiên, với ưu thế đặc biệt về năng lực và do sự
thôi thúc lương tâm, người trí thức luôn nhận lãnh trách nhiệm của người tiền phong.
Họ thường nhạy cảm phát hiện ra các vấn đề mới của cuộc sống, đặt chúng trong một
hệ qui chiếu rộng lớn của đời sống cộng đồng, từ đó đánh giá những tác động lợi - hại
của chúng đối với lợi ích trước mắt và lâu dài của xã hội. Trong điều kiện đã tồn tại xã
hội dân sự, hoạt động phản biện do giới trí thức khởi xướng sẽ hình thành nên một
không gian công cộng (public sphere) mà những sinh hoạt gắn liền với nó được qui về


cái gọi là nền văn hóa công luận (public culture). Về mặt lịch sử, sự ra đời của không
gian công cộng là một nỗ lực nhằm ngăn ngừa tính độc đoán, áp đặt của các hệ thống
chính trị và các phong trào xã hội có nguy cơ bị chính trị hóa.
-Trình độ dân trí của cộng đồng
Tác động của trình độ dân trí đối với phản biện xã hội được biểu hiện dưới hai khía
cạnh cụ thể sau đây: Thứ nhất, trong một xã hội có nền dân trí cao, người dân nhận
thức rất rõ về quyền lợi và trách nhiệm công dân của họCon người tìm thấy hạnh phúc
trong sự gắn nối tự nguyện với không gian bên ngoài: Không thể gọi là hạnh phúc, mà
không tham gia vào công việc công cộng. Không thể gọi là tự do nếu không thể
nghiệm thế nào là tự do công cộng. Không thể là tự do hay hạnh phúc mà không có
chút quyền hành nào trong quyền lực công cộng [2]. Những người công dân năng động
này rất quan tâm đến các vấn đề liên quan đến quyền lợi của cộng đồng, chẳng hạn
việc ban hành một chính sách, quy định, nghị định … nào đó của các tổ chức/cơ quan
nhà nước. Hệ quả, họ đủ khả năng tự nhận ra những hệ lụy mà mình đang hoặc chuẩn
bị đối mặt, hoặc dễ dàng đồng cảm với những phát hiện và cảnh báo của giới trí thức tầng lớp hoa tiêu của xã hội. Từ đây, dư luận xã hội sẽ hình thành để vừa trực tiếp tác
động tới thái độ của cơ quan công quyền, vừa hậu thuẫn đắc lực cho tiếng nói của
những người trực tiếp tham gia vào công tác phản biện. Thứ hai, nền dân trí cao là điều

kiện nền tảng để hình thành nên một đội ngũ trí thức cho cộng đồng - đội ngũ mà về
sau sẽ đảm nhận sứ mệnh tiền phong trong công tác phản biện xã hội. Một lô-gic mang
tính phổ quát được vạch ra: trên một mặt bằng dân trí cao, tầng lớp trí thức phát triển
thành một lực lượng xã hội độc lập, cầm trịch nền văn hóa công luận và không gian
công cộng để đảm trách công việc khai sáng cộng đồng, phê phán/phản biện xã hội.
1.4. Các chủ thể phản biện xã hội chủ yếu
+ Các cơ quan quyền lực nhà nước
+ Cộng đồng doanh nghiệp doanh nhân
+ Xã hội dân sự
+ Những ý kiến cá nhân
+ Các tổ chức quốc tế và nước ngoài
+ Dư luận xã hội
+ Truyền thông đại chúng
=>Là sự phản tư của các lực lượng xã hội đối với những kiến tạo chính sách, thể chế...
trực tiếp liên quan đến quyền lợi của các thành viên trong cộng đồng, phản biện xã hội
đã trở thành một cơ chế động năng cho quá trình vận động, đổi mới của xã hội. Tuy
nhiên, để hóa thân thành hiện thực, phản biện xã hội cần đến những điều kiện cơ bản,
trong đó quan trọng nhất là tính chất dân chủ của hệ thống thể chế, sự hiện diện của xã


hội dân sự, năng lực - trách nhiệm của giới trí thức và nền tảng dân trí của cộng đồng.
Trong bối cảnh Việt Nam, để cụ thể hóa các nội dung của Báo cáo chính trị Đại hội X
của Đảng về Công tác phản biện xã hội , việc xác lập và phát triển các điều kiện vừa
nêu là những nhu cầu bức thiết đòi hỏi nỗ lực, trách nhiệm và lương tri của toàn thể
các lực lượng xã hội.

Chế ước quyền lực
+ Định nghĩa : là quy luật lịch sử không thể vi phạm. Chế ước quyền lực là nhận thức về
tính quy luật trong sự phát triển chính trị của loài người; là nguyên tắc quan trọng và con
đường thực hiện chính trị dân chủ mà thế giới công nhận,


Mối quan hệ giữa phản biện xã hội và chế ước quyền lực nhà nước
2.1

Phản biện xã hội đối với xây dựng pháp luật

-Nội dung các vấn đề được yêu cầu phản biện tuỳ thuộc vào đối tượng phản biện
-Chủ thể phản biện cũng có thể bằng những lập luận và luận cứ khoa học thuyết phục chỉ
ra những khiếm khuyết, hạn chế của các vấn đề thuộc đối tượng phản biện, có thể đề xuất
những ý kiến, những nội dung đề nghị tác giả của đối tượng phản biện cần phải bổ sung,
sửa chữa, hoàn thiện cho đối tượng phản biện hoàn thiện hơn, có giá trị khoa học và thực
tiễn cao hơn.
- Nói: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã
nhấn mạnh: “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc, các tổ
chức chính trị- xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính
sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức
cán bộ” [2] trong đó đặc biệt “Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện giám định xã hội của
các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng,
Nhà nước và các dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Gắn bó mật thiết giữa Đảng và
Nhà nước với trí thức, giữa trí thức với Đảng và Nhà nước” [3] Nghị quyết của Đảng
cũng yêu cầu: “Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các Đoàn thể nhân dân thực
hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”
3.2 Vai trò của phản biện xã hội đối với xây dựng pháp luật


-Những ý kiến đóng góp và kiến nghị của các tổ chức và cá nhân, mà nhờ đó Chính phủ
và các cấp chính quyền đã kiên quyết điều chỉnh, thay đổi một số dự án văn bản quy
phạm pháp luật cho phù hợp và hiệu quả hơn
-Lợi ích lâu dài của đất nước, lòng tin của nhân dân vào sự sáng suốt, đúng đắn của Đảng
-Những kết quả đó có tác dụng cổ vũ, khuyến khích các tổ chức, cộng đồng, cá nhân chủ

động tham gia và tham gia tích cực, có hiệu quả vào việc đóng góp ý kiến, kiến nghị với
Đảng và Nhà nước về các chủ trương, quyết sách, những văn bản, quy định pháp luật
quan trọng của có ảnh hưởng lớn tới lợi ích của đất nước và nhân dân.
3.3 Giải pháp nâng cao vai trò của phản biện xã hội đối với hoạt động xây dựng pháp
luật
- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên các mặt hệ
thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, phương thức
hoạt động
- Hoàn thiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước.
Đối với những quyết định lớn của Đảng và Nhà nước phải bảo đảm phát huy trí tuệ tập
thể và phải có cơ chế để nhân dân bày tỏ ý kiến.
- Xây dựng Luật trưng cầu dân ý (để tranh thủ ý kiến nhân dân, hạn chế những biểu hiện
phản đối, bất bình của nhân dân đối với các chính sách, các văn bản của các cơ quan nhà
nước). Đối với những chính sách, dự thảo văn bản pháp luật có ảnh hưởng lớn tới quốc
kế, dân sinh thì ngoài việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, thì trong những
điều kiện cho phép các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tổ chức yêu cầu phản biện
xã hội của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân
- Thực hiện đầy đủ việc công khai, minh bạch những chủ trương, chính sách của Đảng
và pháp luật của nhà nước (trừ những gì cần phải bí mật)



×