Tải bản đầy đủ (.docx) (50 trang)

quan hệ Việt Nam - asean

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (293.92 KB, 50 trang )

Mục lục
Lời nói đầu............................................................................................................................................ 2
I.

Cơ sở hình thành quan hệ Việt Nam- Asean..................................................3

II. Quan hệ đa phương giữa Việt Nam- Asean qua những chặng đ ường
lịch sử..................................................................................................................................4
1. Quan hệ Việt Nam Asean từ 1967- 1975................................................................4
1.1.

Quan hệ Việt Nam Asean 1967- 1973...............................................................4

1.2.

Quan hệ Việt Nam- Asean từ năm 1973- 1975.............................................9

2. Quan hệ Việt Nam- Asean 1975- 1991...................................................................10
2.1 Giai đoạn 1975-1979:................................................................................................10
2.2. Giai đoạn 1979 – 1986 :...........................................................................................15
2.3 Giai đoạn 1986 – 1991:............................................................................................18
3. Quan hệ Việt Nam- Asean 1991- 1995...................................................................20
3.1.

Tình hình thế giới...................................................................................................20

3.2.

Khu vực Đông Nam Á.............................................................................................23

3.3 Tình hình trong nước.................................................................................................24


3.4 Quan hệ Việt Nam – ASEAN trong giai đoạn này............................................26
3.5

Việt Nam gia nhập ASEAN...................................................................................31

4. Quan hệ Việt Nam- Asean 1995 đến nay..............................................................32
4.1

Quan hệ Việt Nam với ASEAN giai đoạn 1995 đến nay.........................32

4.2

Thành tựu trong quan hệ Việt Nam với ASEAN :.......................................38

4.3 Thách thức, khó khăn và tiềm năng phát tri ển trong mối quan h ệ
Việt Nam- ASEAN :..............................................................................................................41
III. Những bài học kinh nghiệm trong mối quan hệ ngoại giao giữa Vi ệt
Nam và Asean.................................................................................................................44
IV.

Kết luận................................................................................................................46

Tài liệu tham khảo.......................................................................................................................... 47

1


Lời nói đầu
Từ năm 1967 đến nay, hơn 40 năm đã trôi qua, k ể t ừ ngày thành l ập
ASEAN. Đó cũng là quảng thời gian mà quan hệ Việt Nam - ASEAN đã tr ải

qua nhiều đợt thăng trầm, vượt qua nhiều cơn sóng gió để đến hôm nay,
tất cả các nước khu vực cùng đứng trong một tổ ch ức, cùng nhau ph ấn
đấu vì mọt Đông Nam Á hòa bình, ổn định, hợp tác và phát tri ển
Thực hiện đường lối đổi mới do đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần th ứ
VI đề ra, quan hệ đối ngoại nước ta ngày càng được m ở rộng và phát tri ển.
việt Nam đã dần dần thiết lập và tăng cường quan hệ ngoại giao v ới h ầu
hết các quốc gia trên thế giới và các tổ chức quốc tế, trong vòng 10 năm,
Việt Nam đã cùng các nước Đông Nam Á cải thiện mối quan hệ t ừ đ ối đ ầu
sang đối thoại, từng buocs tham gia vào các hoạt động c ủa ku v ực đ ể đ ến
tháng 7/1995 chính thức trở thành thnhf viên của hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á
Từ mốc thời gian quan trọng đó, Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò và
trách nhiệm của mình, đã góp phần thúc đẩy hoạt động c ủa ASEAN trên
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quan h ệ qu ốc tế
Nhờ vậy, mối quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN ngày càng bền ch ặt, và m ối
quan hệ giữa Việt Nam với từng nocws thành viên ASEAN ngày càng phát
triển

2


I.
Cơ sở hình thành quan hệ Việt Nam- Asean
Trước hết ta cần hiểu ASEAN là gì ? Tính chất, hoạt động nó như thế nào
mà Việt Nam lại đặt quan hệ với ASEAN và ngược lại. Và cơ sở nào để hình
thành nên quan hệ Việt Nam- ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á là một liên minh chính tr ị, kinh t ế, văn
hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. T ổ ch ức này
được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên đầu tiên là
Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, và Philippines, đ ể tỏ rõ tình đoàn

kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng th ời hợp tác ch ống
tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên.
Mục tiêu: Đoàn kết và hợp tác vì một ASEAN hoà bình, ổn đ ịnh, cùng phát
triển.
Những cơ sở hình thành quan hệ Việt Nam- ASEAN:
Sự tương đồng về mặt địa lý: Các nước trong khu vực này đều n ằm chung
1 tổng thể địa lý. Được bao bọc bởi Thái Bình Dương ở phía Đông, Ấn Đ ộ
Dương ở phía Tây, tổng thể địa lý này chiếm 1 vị trí chiến lược quan tr ọng
trên những con đường biển quốc tế chạy từ Thái Bình Dương qua Ấn Đ ộ
Dương. Toàn bộ khu vực đều chịu ảnh hưởng của biển .
Sự tương đồng về mặt văn hóa : Các nước ASEAN từng tồn tại một nền
văn hóa chung mang tính bản địa và đạt đến trình độ cao. Đó là n ền văn
hóa dựa trên những yếu tố:
- Về vật chất : nông nghiệp lúa nước , vì v ậy cho đến nay bi ểu t ượng
chung cho các nước ASEAN vẫn là bó lúa ,thiết chế xã h ội theo ch ế
đ ộ m ẫ u hệ …
- Về tinh thần : thờ cúng tổ tiên, giữ gìn và bảo lưu những phong tục,
tập quán cổ truyền
- Tiếp thu văn hóa Ấn, Hoa: phù hợp với phong tục, t ập quán và ở đây
chủ yếu là Phật giáo.

3


- Văn học nghệ thuật cũng là một đặc trưng cho văn hóa chung c ủa tổ
chức
- Mãi về sau, văn hóa của tổ chức với mục tiêu và nội dung chính là ý
thức dân tộc
- Những nền văn hóa tiêu biểu: Ăngco, Pagan, Chămpa, Đại Việt…
Sự tương đồng về mặt lịch sử: Đều chịu sự thiết lập ách thống trị của chủ

nghĩa tư bản phương Tây, đều bị lệ thuộc hoặc bị biến thành thuộc địa của
các nước tư bản phương Tây( Trừ Thái Lan, Thái Lan thành công trong vi ệc
duy trì được nền độc lập trước sự tấn công của chủ nghĩa th ức dân ), nên
họ có sứ mệnh thiêng liêng là đấu tranh chống chủ nghĩa th ực dân, giành
lại nền độc lập dân tộc ( Trừ Thái Lan, Thái Lan thành công trong vi ệc duy
trì được nền độc lập trước sự tấn công của chủ nghĩa th ức dân )

II.

Quan hệ đa phương giữa Việt Nam- Asean qua những chặng

đường lịch sử
1. Quan hệ Việt Nam Asean từ 1967- 1975
1.1. Quan hệ Việt Nam Asean 1967- 1973
Trong lịch sử quan hệ quốc tế của Việt Nam, quan hệ gi ữa Việt Nam và các
nước Đông Nam Á giữa vai trò đặc biệt quan trọng . Do có khoảng cách địa
lý gần nhau, sự tương đồng về văn hóa lịch sử, những điều kiện kinh tế tự
nhiên, nên có quan hệ tốt đẹp láng giềng hữu ngh ị tạo thuận l ợi cho quá
trình phát triển của nhau và ngược lại. Trải qua bao thăng trầm trong
quan hệ khu vực hiện nay Việt Nam là thành viên tích c ực c ủa hi ệp h ội các
quốc gia Đông Nam Á (Asean). Sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1945), các
quốc gia Đông Nam Á từng bước giành được độc lập ở nhiều mức độ khác
nhau. Tuy nhiên các nước này phải đối mặt với nh ững khó khăn to l ớn v ề
kinh tế- chính trị- xã hội, do hậu quả của nền thống trị ch ủ nghĩa th ực dân
hàng trăm năm trong khu vực này. Việc thiếu các điều kiện cơ bản đ ể phát
triển kinh tế như vốn kĩ thuật, lao động có tay nghề…, đã đặc ra nh ững
thách thức cho quốc gia Đông Nam Á xây dựng lại đ ất n ước sau khi giành
được độc lập.

4



Đời sống giáo dục, y tế khó khăn, tỷ lệ mù ch ữ th ất h ọc khá cao, tu ổi th ọ
thất, về mặt chính trị- xã hội cũng đặt ra nhiều vấn đề cho các n ước Đông
Nam Á, chính sách chia để trị của chủ nghĩa th ực dân đã đ ưa đến nh ững
hậu quả tai hại là mâu thuẫn, xung đột sắc tộc, tôn giáo th ường xuyên
diễn ra ở nhiều nước trong khu vực. Những hậu quả này đã kéo dài hàng
chục năm sau khi các quốc gia này giành được độc lập. Như ở Myanma liên
tục diễn ra các hoạt động nổi loạn của các tộc người thiệu số đòi tự tr ị, li
khai. ở Indonesia, mâu thuẫn sắc tộc và những cuộc nổi dậy đ ồi ly khai ở
Đông Timo, Ache, Tây Irian. Ở Philippin, cuộc đấu tranh đ ời ly khai c ủa
người Muslim kéo dài, gây bất ổn tình hình chính trị của n ước này.
Trước những khó khăn trong việc khôi phục, phát triển đất n ước sau
chiến tranh cũng như bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia. Các n ước Đông
Nam Á đã liên kết lại với nhau, để khắc phục những khó khăn đó.
Asean được thành lập vào 8- 8- 1967, tại Băng Cốc- Thái Lan là t ổ ch ức
hợp tác khu vực, buổi đầu thành lập đã quy tựu được 5 trên 10 n ước ở khu
vực Đông Nam Á tham gia Indonexia, Malaixia, Philippin, Xingapo, Thái Lan.
Tuy nhiên ở giai đoạn đầu khi mới thành lập mối quan hệ gi ữa Việt Nam
và Asean không mấy tốt đẹp. Asean được thành lập trong bối cảnh mi ền
Bắc Việt Nam đang tiến hành công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế,
đồng thời chiến đấu chống lại chiến tranh phá hoại c ủa Mỹ. Còn mi ền
Nam đang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ hết sức căng th ẳng
Việt Nam nhận được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa mà quan
trọng nhất là Liên Xô và Trung Quốc. Trong khi đó các nước Asean có nhiều
mối quan hệ ràng buộc với Mỹ, điều này khiến cho Việt Nam và Asean có
nhiều bất đồng trong chính sách đối ngoại, nên khó có th ể phát tri ển các
mối quan hệ ngoại giao tích cực trong giai đoạn này.
5



Đường lồi đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn này là độc l ập, t ự ch ủ
dựa trên phương châm kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa qu ốc t ế,
kết hợp sứ mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kiên trì và triệt đ ể ch ống
chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân: kết hợp hai mặt đoàn kết, h ợp tác
với đấu tranh, vừa tăng cường mở rộng quan hệ với các n ước, các t ổ ch ức
quốc tế, các Đảng phái tiến bộ, vừa đẩy mạnh đoàn kết với các nước láng
giềng. Từ đó Việt Nam đã triển khai mạnh mẽ các hoạt động đối ngoại nhà
nước, ngoại giao nhân dân, thiết lập quan hệ với h ơn 40 n ước và các t ổ
chức khu vực để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối v ới cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam.
Tuy nhiên đối với các nước Asean mối quan hệ giữa Việt Nam với các n ước
này vẫn đóng băng, do sự khác nhau về đường lối đối ngoại của t ừng quốc
gia. Sau khi thành lập Asean hướng các nước thành viên vào các ho ạt ch ủ
yếu là hợp tác kinh tế, kỹ thuật, chính sách h ướng v ề xu ất kh ẩu, các n ước
Asean tăng cường hợp tác kinh tế với Mỹ Nhật Bản và các nước trong kh ối
EEC, nhận nhiều viện trợ của Mỹ, cùng những ràng buộc nh ất định. Hi ện
trạng đó cho thấy nội dung và phương hướng đối ngoại c ủa các n ước
Asean trong thời kì này là ưu tiên phát triển các mối quan h ệ kinh tế h ữu
nghị song phương với Mỹ và Nhật Bản. Ngay khi thành lập thì các quốc gia
trong Asean đã liên tiếp nhận các viện trợ kinh tế và quân s ự c ủa Mỹ v ới
nhiều khoản ràng buộc.
Philippin (8- 1951), Thái Lan (9- 1951), kí hiệp ước liên minh phòng th ủ
với Mỹ. Tháng 9- 1954 Mỹ và các nước T ư bản thành lập khối quân s ự
SEATO, thì Thái Lan và Philippin đã tham gia khối quân s ự này. Đây là kh ối
sự được tổng thống Dwight D.Eisenhower chỉ đạo thành lập đ ể d ựng lên
một liên minh kiềm chế sự xâm lấn của chủ nghĩa cộng sản vào các lãnh
thổ tự do thuộc Việt Nam, Lào, Campuchia và Đông Nam Á nói chung, tr ụ
6



sợ của tổ chức này được đặc tại Băng Cóc (Thái Lan), bộ trưởng Ngoại
giao Thái Lan là Waithaykon là Chủ tịch đầu tiên của Hội đồng Bộ tr ưởng
Ngoại giao của các nước thành viên. điều này hoàn toàn không có l ợi th ậm
chí đối lập với cuộc cách mạng chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.
Malayxia giúp chuyên gia bình định cho Mỹ để th ực hiện kế ho ạch l ập ấp
chiến lược ở miền nam, Singapo cho hàng quân sự của Mỹ quá cảnh tr ước
khi vào Việt Nam. Thái Lan và Philippin cho quân đ ội tham gia tr ực ti ếp
vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam bên cạnh quân đội Mỹ. Căn cứ không
quân của Mỹ ở Thái Lan và Phiplippin là n ơi xuất phát c ủa l ực l ượng không
quân Mỹ trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Bộ chỉ huy t ập đoàn
không quân số 13 cùa Mỹ ở Philippin chỉ huy cả sư đoàn không quân Mỹ ở
miền Nam Việt Nam. “Căn cứ quân sự của Mỹ ở Corat (Thái Lan) và Subic
(Philippin), hàng năm cung ứng 10% vũ khí, ph ương tiện chiến tranh cho
quân đội Mỹ ở Đông Dương”1. “Căn cứ hải quân Clac ở Philippin thường
xuyên đón nhận hạm đội 7 của Mỹ làm nhiệm vủ răng đe khu v ực” 2.
Những sự kiện trên làm Việt Nam có cơ sở để nhận xét các n ước Asean là
đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh cửa Mỹ ở Việt Nam. Chính vì v ậy
Việt Nam hạn chế quan hệ với các thành viên của tổ ch ức này.
Chính sự khác biệt trong nội dung, mục tiêu và ph ương h ướng đ ối ngo ại
của Việt Nam và các nước Asean trong giai đoạn này chính là nguyên nhân
làm cho khoảng cách trong quan hệ đối ngoại gi ữa Việt Nam và các qu ốc
gia trong khối Asean ngày càng xa cách. Chính vì các n ước Asean có quá
nhiều sự ràng buộc với Mỹ, trong khi Việt Nam đang trong cu ộc chi ến
tranh cực kì căng thẳng với Mỹ, đã Mỹ kéo vào cuộc chiến tranh xâm l ược

1
2

7



Việt Nam của Mỹ , đã làm cho mối quan hệ gi ữa Việt Nam v ới các qu ốc gia
này có phần căng thẳng thậm chí là đối đầu với nhau.
Một trong số những nguyên nhân làm mối quan hệ giữa Việt Nam và các
nuốc Asean có phần tẻ nhạt trong giai đoạn này, là nh ững v ướng b ận n ội
bộ của các nước Asean, vấn đề Sabat giữa Malaisia và Philippin, cu ộc n ổi
dậy của những người theo đạo Ixlam ở Mindanao (Philippin), vấn đ ề tranh
chấp biển và biên giới biển giữa Malaisia và xingapo. Vấn đề hợp tác quân
sự và an ninh của các thành viên trong Asean cũng tốn nhiều th ời gian của
tổ chức này. Vấn đề về hợp tác chống nổi dậy của Malaisia và Thái Lan ở
vùng biên giới hai nước, và việc hợp tác quân s ự, an ninh c ủa Maliaxia và
singapo cũng là vấn đề được các nước Asean rất quan tâm.
Có thể nói trong buổi đầu thành lập này các quốc gia trong Asean còn khá
nhiều vấn đề nội bộ cần phải giải quyết, các quốc gia này c ần th ời gian
để giai quyết các vấn đề nội bộ, cũng như những mâu thuẫn xung đ ội v ới
nhau, nên việc phát triển các mối quan hệ ngoại giao ra bên ngo ại cũng
còn nhiều hạn chế, cộng với việc có hợp tác với Mỹ trong m ột s ố v ấn đ ề
quân sự tại Việt Nam, nên mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các
nước Asean trong giai đoạn này gần như đống băng

1.2. Quan hệ Việt Nam- Asean từ năm 1973- 1975
Trong thời kì này quan hệ giữa Việt Nam và các thành viên của Asean có xu
hướng hợp tác đối thoại. Do tình hình quan hệ quốc tế có nhi ều thay đ ổi
quan trọng. Cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới 1973, làm cho n ền
kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng khủng hoảng suy thoái, cùng v ới nh ững th ất
bại của Mỹ ở Đông Dương, đã làm cho vai trò và vị thế của Mỹ ở khu v ực
Đông Nam á thay đổi. Cùng năm 1973, Tổ ch ức hiệp ước Đông Nam Á

8



(SEATO), do Mỹ dựng lên cũng tan rã. Các n ước Asean l ần l ược có nh ững
động thái nhằm thoát khỏi những mối quân hệ ràng buộc v ới Mỹ. thiết l ập
quan hệ ngoại giao với Việt Nam
Việc Philippin và Thái Lan rút quân khỏi miền Nam Vi ệt Nam, đã t ạo ra
những thay đổi đầu tiên về việc thiết lập quan hệ giữa Việt Nam và Asean.
Vào ngày 15- 3- 1973, Ngoại trưởng các nước Asean kiêu gọi thi ết l ập m ột
chương trình viện trợ kinh tế cho cho các n ước Đông Dương và v ận đ ộng
thành lập ủy ban phối hợp Asean để khôi phục lại Đông Dương. tháng 71974, Thái Lan đã thỏa thuận xong với Mỹ việc hạn chế các căn cứ quân s ự
của Mỹ trên đất Thái để chống phá cách mạng Đông Dương. Cũng trong
năm 1974, trong trào đòi Mỹ trao trả các căn cứ quân s ự trên đất Philippin
diễn ra mạnh mẽ. Tháng 5- 1975, hội nghị lần th ứ 5 c ủa các n ước Asean
bày tỏ mong muốn mở rộng quan hệ và tăng cường h ợp tác gi ữa Asean và
Đông Dương. Từ những biến đổi đó mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam
và các nước Asean dần được thiết lập. Tháng 3- 1973, quan hệ ngoại giao
giữa Việt Nam và Malasia được thiết lập. Tháng 8- 1973, quan hệ ngoại
giao giữa Việt Nam và Singapo về đàm phán và thiết lập quan hệ ngoại
giao giữa Việt Nam và Singapo được tiến hành. Tháng 8- 1976, quan hệ
ngoại giao giữa Việt Nam và các thành viên của Asean được thiết lập xong.
Năm 1973- 1974, Asean đề nghị Việt Nam cử quan sát viên dự h ội ngh ị bộ
trưởng Asean
Các mối quan hệ về kinh tế, thương mại bắt đầu được thiết lập, như quan
hệ mua bán dầu thô giữa Việt Nam và Indonexia, dầu c ọ, cao su gi ữa Vi ệt
Nam và Malaixia, lúa gạo giữa Việt Nam và Philippin.
Có thể nói do tình hình chính trị thế giới trong thời gian này có nhiều bi ến
đổi, Đặc biệt vấn đề quan hệ giữa Mỹ các quốc gia này Đông Nam Á đã chi
9



phối rất nhiều tới mối quan hệ ngoại giao giữa nội bộ các quốc gia Đông
Nam Á trong thời gian này. Việc Mỹ giữa vay trò chi ph ối t ại Đông Nam Á
trong những năm sau chiến tranh thế giới th ứ hai, cùng v ới nh ững b ất ổn
của tình hình Việt Nam đã khiến cho Viêt Nam và các n ước thành viên
Asean không thiết lập được mối quan hệ ngoại giao trong giai đo ạn này
từ sau 1973, sau hiệp định Pari, làm cho vai trò của Mỹ ở Đông D ương có có
sự thay đổi, cũng như Vị thế của Việt Nam đã được nâng lên trên tr ường
quốc tế. Những điều đó đã làm cho Việt Nam đã cải thiện đáng kể các m ối
quan hệ ngoại giao của mình, đặc biệt là việc thiết lập được các mối quan
hệ ngoại giao với các nước láng giềng của mình ở khu v ực Đông Nam A!.

2. Quan hệ Việt Nam- Asean 1975- 1991
2.1 Giai đoạn 1975-1979:
Hoàn cảnh trong nước và tình hình quốc tế:
Với việc Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) tuyên bố tự giải tán vào
ngày 26 tháng 9 năm 1975 , ảnh hưởng của các c ường quốc ngoài khu v ực
phần nào suy yếu , bầu không khí bước đầu được thiết lập.
Năm 1975 - năm mở đầu , có ý nghĩa quan trọng đối v ới Vi ệt Nam , năm
không còn bóng đế quốc Mỹ trên đất nước Việt Nam, n ước ta th ực sự
giành được độc lập, thống nhất hai miền Nam Bắc. Đó không ch ỉ là s ự
thống nhất về chủ quyền và lãnh thổ mà còn là sự độc l ập tuy ệt đ ối v ề
hành chính và chính trị.
Quan hệ Việt Nam - ASEAN trong giai đoạn này :
Tuy nhiên, sau khi giành được độc lập, Việt Nam ph ải đ ối mặt v ới hàng
loạt những thách thức do chiến tranh để lại với nền kinh tế nghèo nàn, lạc
hậu và hàng loạt các vấn đề xã hội. Chính sách đóng c ửa, tự cung t ự c ấp,

10



kinh tế bao cấp, tất cả phụ thuộc vào Đảng và Nhà n ước đã khi ến trong
giai đoạn này, nước ta rơi vào khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã h ội tr ầm
trọng.
Đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á, giai đoạn này là giai đo ạn mà
các nước tập trung cho việc phát triển kinh tế trong th ời đại m ới hòa bình
và ổn định. Sau khi Mỹ rút quân khỏi chiến trường Việt Nam, Liên Xô và
Trung Quốc đã đẩy mạnh tăng cường sự hiện diện và chi ph ối ở khu v ực
này. Có một vấn đề mang tính chất quan trọng quyết định tới quan hệ gi ữa
Việt Nam và ASEAN trong giai đoạn này đó là sự dính líu c ủa các n ước
Đông Nam Á với Mỹ trong cuộc chiến tranh của n ước ta :
- Thái Lan có hai sư đoàn bộ binh cùng chiến đấu với quân đội Mỹ ở
miền NamViệt Nam.
- Philippin có đội “công dân vụ” 2000 người làm công vi ệc “xã h ội”
và xây dựng lại cơ sở hạ tầng ở miền Nam, máy bay và tàu chiến Mỹ hàng
ngày xuất phát từ những căn cứ quân sự ở Philippin sang đánh phá n ước
ta.
- Xingapore là nơi quân đội viễn chinh Mỹ tới nghỉ ngơi giải trí và
cũng là căn cứ hậu cần tiếp tế lương thực th ực phẩm và s ửa ch ữa nh ững
chiến cụ của Mỹ bị hư hỏng ở Việt Nam.
- Mailaixia giúp huấn luyện lực lượng cảnh sát cho chính quy ền Ngô Đình
Diệm
Tất nhiên lúc đó ta coi tất cả các nước tiếp tay cho Mỹ-Ngụy dù d ưới hình
thức nào cũng là kẻ thù của nhân dân ta.
Và do hầu hết các nước ASEAN đứng về phía Mỹ-Nguỵ chống ta nên ta
cũng dễ dàng chấp nhận quan điểm cho rằng tổ chức ASEAN là sản ph ẩm

11


của Mỹ và là khối quân sự xâm lược trá hình, các n ước ASEAN là s ản ph ẩm

của Mỹ và là khối quân sự xâm lược trá hình, các n ước ASEAN ch ỉ là thu ộc
địa kiểu mới và là tay sai của Mỹ3(?).
Tuy nhiên trước những động thái thân thiện thể hiện việc sẵn sàng tạo c ơ
sở cho việc đặt quan hệ với Việt Nam của các nước ASEAN trong giai đoạn
sau Hiệp định Paris 1973, phía Việt Nam cũng đã bắt đầu tích c ực tri ển
khai chính sách khu vực, đẩy mạnh quan hệ song ph ương v ới các n ước
thuộc tổ chức ASEAN. Trong các năm 1974,1975 Việt Nam đã đón m ột s ố
đoàn từ các nước ASEAN như đoàn tổ chức Á- Phi của Malaysia (12/1974),
đoàn 16 hạ nghị sĩ Thái Lan (11/1975). Cũng trong thời gian này, Việt Nam
đã xúc tiến đàm phán lập quan hệ ngoại giao với Philippines và Singapore.
Đại hội IV (năm 1976) chúng ta đã phát biểu: “Hoàn toàn ủng h ộ sự
nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các n ước Đông Nam Á vì đ ộc
lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và trung lập thực sự và không có quân đ ội
đế quốc trên đất nước mình, sẵn sàng thiết lập và phát triển quan hệ h ữu
nghị và hợp tác với các nước trong khu vực này” 4.
Và ngày 25/7/1976 chúng ta đã nêu bốn nguyên tắc trong quan h ệ v ới
ASEAN, đó là:
- Tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh th ổ c ủa nhau, không
xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng
cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình.
- Không để lãnh thổ của mình cho bất cứ nước nào s ử dụng lập căn
cứ xâm lược và can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào nước kia và các n ước
khác trong khu vực.
3 Một vài suy nghĩ về chính sách của ta đối với các nước ASEAN và đối với Mỹ từ năm 1975 -1979
– Trịnh Xuân Lãng
4 Chính sách đối ngoại Việt Nam 1975-1996, Bộ Ngoại giao Việt Nam , tr16

12



- Thành lập quan hệ hữu nghị láng giềng tốt, hợp tác kinh tế và trao
đổi văn hóa trên cơ sở cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tranh ch ấp gi ữa
các nước trong khu vực thông qua thương lượng theo tinh th ần bình đẳng,
hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.
- Phát triển sự hợp tác trong khu vực theo điều kiện riêng c ủa m ỗi
nước vì lợi ích của độc lập, hòa bình, “ trung lập thật sự” ở Đông Nam Á,
góp phần vào sự nghiệp hòa bình khu vực.Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta
vẫn duy trì chủ trương: “Tăng cường liên minh ba nước Đông Dương là đối
trọng với các nước ASEAN…”
Để tranh thủ sự ủng hộ cho chính sách trên, tháng 7 năm 1976, Th ứ
trưởng ngoại giao Việt Nam Phan Hiền đã lần lượt đi thăm Philippines,
Singapore, Indonesia, Malaysia và các nước ASEAN đều tuyên bố ủng hộ
chính sách bốn điểm của Việt Nam. Trong thời gian này quan hệ ngoại giao
Việt Nam – Malaysia đã được thiết lập và phía Malaysia đã h ứa giúp Vi ệt
Nam khôi phục kinh tế theo khả năng của họ, đặc biệt là trong lĩnh v ực
cao su. Tháng 8 năm 1976, Việt Nam và Thái Lan cũng thoả thuận lập quan
hệ ngoại giao giữa hai nước.
Việt Nam lần lượt lập Đại sứ quán tạo Manila (11/1976), Cuala Lămpơ
(7/1977), Băng Cốc (2/1978) và các nước Philippin. Malaixia. Thái Lan
cũng đã lập Đại sứ quán tại Việt Nam vào các thời điểm tương ứng.
Hơn nữa , kể đến chuyến thăm của Bộ trưởng Ngoại giao Nguy ến Duy
Trinh thăm 5 nước ASEAN vào tháng 12/1977 và tháng 1/1978. Đ ặc bi ệt
trong chuyến thăm ASEAN của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cuối tháng 9 ,
đầu tháng 10 năm 1978 các nước này và Việt Nam đã ra thông cáo chung
nêu lên các nguyên tắc chỉ đạo quan hệ chung sống hòa bình. Nh ững
chuyến viếng thăm này cho thấy Việt Nam cũng có quan tâm đ ến vi ệc
thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực, tuy nhiên nh ững
13



chuyến thăm này mới dừng lại ở mức thăm dò, bước đầu hàn gắn quan h ệ
hai phía, còn hiệu quả từ những hiệp định kí được trong các chuy ến viếng
thăm còn rất hạn chế.
Về phía ASEAN, họ cũng có những động thái hợp tác ban đầu ví d ụ nh ư
Philippin tặng một số tiền xây dựng trạm nghiên cứu giống lúa tuy nhiên
nhìn chung cũng còn dè dặt.
Đánh giá
Quan hệ Việt Nam – ASEAN trong giai đoạn này ta có th ể th ấy r ằng m ối
quan hệ này đã phát triển theo hướng khá tốt đẹp và c ả hai bên đã có
những bước đầu đặt nền móng cho quan hệ hai bên .
Tuy nhiên do những sự dính líu của ASEAN với đế quốc Mỹ th ời kì tr ước,
trong quan hệ hai bên vẫn tồn tại nhiều nghi kị và chưa đi vào h ợp tác
thực sự. Văn bản nổi bật nhất trong giai đoạn này là Chính sách Bốn đi ểm
của Việt Nam – thể hiện thiện chí của Việt Nam trong việc h ợp tác v ới các
quốc gia ASEAN.
Như tác giả Nguyễn Duy Trinh đã băn khoăn: “Phải chăng trong giai đo ạn
1975-1979 ta đã thiếu tỉnh táo. Nhạy bén tình hình một cách bất biến và
đánh giá bạn thù một cách cứng nhắc qua lăng kính của hai cuộc chi ến
tranh ác liệt ta đã trải qua trong 30 năm trước đó và lăng kính c ủa cuộc
chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường Xô-Mỹ mà ta đã bị cuốn vào, do đó ta
đã không thấy những chuyển biến to lớn, thuận và không thu ận cho ta,
trong tình hình khu vực không có một chính sách khôn khéo, uy ển chy ển,
mềm dẻo đối với các đối tượng liên quan phù h ợp v ới tình hình khu v ực
sau chiến tranh. Vì vậy ta đã để lỡ cơ hội trong quan hệ ngoại giao v ới các
nước ASEAN…”5
5 Trịnh Xuân Lăng, “Một vài suy nghĩ về chính sách của ta đối với các nước ASEAN và đối với Mỹ từ năm 1975
đến năm 1979”, Chính sách đối ngoại Việt Nam từ 1975-2006, tr 19

14



2.2. Giai đoạn 1979 – 1986 :
Hoàn cảnh trong nước và tình hình quốc tế:
Vấn đề Campuchia là nút thắt quan trọng nhất trong giai đo ạn này , ảnh
hưởng đến mối quan hệ giữa Việt Nam - Asian . Với mục đích “d ạy cho
Việt Nam một bài học” của chính quyền Trung Hoa đã gây nên cuộc chiến
biên giới giữa hai nước , hơn nữa , Trung Quốc cũng hỗ trợ tiền tài, vũ khí
cho quân Khmer Đỏ tiến hành những cuộc tấn công quân sự, tàn sát đ ẫm
máu người dân Việt Nam. Trước những tội ác của Khmer Đỏ quân dân Vi ệt
Nam đã tiến hành đưa quân vào Campuchia.
Quan hệ Việt Nam - ASEAN trong giai đoạn này :
Trong giai đoạn này, sau khi xuất hiện vấn đề Campuchia, quan h ệ gi ữa
Việt Nam và ASEAN chuyển sang đối đầu, quan hệ song ph ương c ủa Vi ệt
Nam với từng nước ASEAN giảm xuống mức rất th ấp. Việt Nam v ừa ph ải
đấu tranh với ASEAN về vấn đề Campuchia vừa triển khai đấu tranh ngo ại
giao, gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với việc xây dựng khu v ực hoà
bình, ổn định ở Đông Nam Á, thúc đẩy đối thoại để đẩy lùi s ự đối đầu,
phân hoá liên minh chống Việt Nam.
Xuất phát từ chính sách trên, cùng với việc đưa ra các đ ề ngh ị gi ải quy ết
vấn đề Campuchia, Việt Nam đã đưa ra nhiều đề nghị về hoà bình và h ợp
tác ở Đông Nam Á. Tại 13 cuộc Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước
Đông Dương ( từ tháng 1/1980 đến tháng 8/1986) Việt Nam đã đ ưa ra
một loạt các đề nghị như tháng 1/1980, Việt Nam đề nghị ký hiệp định
không xâm lược giữa các nước Đông Nam Á và sẵn sàng thảo luận việc l ập
một “khu vực Đông Nam Á hoà bình, độc lập, tự do, trung lập, ổn đ ịnh và
phồn vinh” với các nước ASEAN. Tháng 1/1981, Việt Nam đề ngh ị họp Hội
nghị khu vực giữa hai nhóm nước Đông Dương và ASEAN. Tháng 7/1982,
Việt Nam tuyên bố đơn phương rút một số quân khỏi Campuchia, đồng
15



thời đề nghị họp “Hội nghị quốc tế về Đông Nam Á” v ới s ự tham gia c ủa
hai nhóm nước Đông Dương và ASEAN. Tháng 3/1983, theo đề ngh ị của
Việt Nam, Hội nghị cấp cao không liên kết lần th ứ bảy ở New Delhi đã ra
nghị quyết kêu gọi tất cả các nước Đông Nam Á tiến hành đối thoại đ ể gi ải
quyết mối bất đồng. Tháng 7/1983, Việt Nam đề ngh ị đối thoại không có
điều kiện tiên quyết giữa hai nhóm nước và lấy đề nghị của ASEAN v ề
ZOPFAN ( khu vực tự do, hoà bình, trung lập ở ASEAN) làm c ơ s ở đ ể th ảo
luận về việc biến Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định.
Tháng 4/1985, Việt Nam khẳng định lại đề nghị triệu tập hội nghị quốc tế
bàn tất cả các vấn đề có liên quan đến hoà bình, ổn đ ịnh ở Đông Nam Á
bao gồm các nước trong và ngoài khu vực liên quan tr ực tiếp hoặc đã đóng
góp vào hoà bình, ổn định ở khu vực. Tại diễn đàn Liên Hợp Quốc, từ năm
1980 đến năm 1985, hàng năm Việt Nam, Lào cùng v ới m ột s ố n ước b ạn
bè đều nêu vấn đề “hoà bình, ổn định và cùng h ợp tác ở Đông Nam Á”
nhằm thúc đẩy xu hướng đối thoại giữa Đông Dương và ASEAN đổi l ại v ấn
đề tình hình Campuchia do ASEAN đưa ra tại diễn đàn này. Tuy nhiên, t ất
cả các đề nghị nêu trên về đối thoại và hợp tác khu vực đều không đ ược
ASEAN chấp nhận với lý do vấn đề Campuchia là nguyên nhân chủ y ếu gây
mất ổn định khu vực; phải giải quyết vấn đề Campuchia tr ước rồi m ới
giải quyết vấn đề hoà bình, hợp tác khu vực.6
Giai đoạn này có thể nhận thấy có hai nhóm n ước tách biệt ph ản ảnh l ợi
ích an ninh và quan niệm về mối đe doạ về an ninh khác nhau trong các
nước ASEAN. Một nhóm tỏ ra lo ngại về nguy cơ cơ bản và lâu dài là Trung
Quốc đối với khu vực, do vậy chủ trương đối thoại với Việt Nam nhằm tìm
một giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia. Nhóm nước còn lại ch ủ
trương dựa vào Trung Quốc gây sức ép toàn diện với Việt Nam.
6 Vai trò của Việt Nam trong ASEAN

16



Đầu năm 1984, tình hình bắt đầu có thay đ ổi. M ặc dù ch ịu nhi ều s ức ép
song chính quyền cách mạng Campuchia vẫn đứng vững và đ ến mùa khô
1984-1985 còn đạt được thắng lợi lớn về quân sự. Trong khi đó Việt Nam
vẫn đang thực hiện việc rút quân từng phần.Trên bình diện quốc tế, quan
hệ Xô – Mỹ, Xô – Trung bắt đầu được cải thiện, gây nguy c ơ các n ước l ớn
sẽ vượt lên trước ASEAN để giải quyết vấn đề Campuchia.
Trong bối cảnh đó, sự phân hoá giữa các nước ASEAN ngày càng rõ nét
hơn. Indonesia và Malaysia muốn thoát ra và vượt lên trên vấn đ ề
Campuchia để giải quyết các vấn đề rộng lớn hơn của khu v ực. Tháng
9/1984, Indonesia và Malaysia bắt đầu nêu ra sáng kiến thực hiện khu v ực
phi vũ khí hạt nhân ở Đông Nam Á, coi đó là một ph ần quan tr ọng đ ể th ực
hiện ZOPFAN mà không chờ kết thúc vấn đề Campuchia.
Những chuyển biến quan trọng trong chính sách của ASEAN đ ối v ới Việt
Nam được đánh dấu bằng việc tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN
(AMM) tháng 2/1985, các nước ASEAN đã nhất trí cử Indonesia làm đại
diện đối thoại với các nước Đông Dương 7 , khẳng định xu thế đối thoại
giữa hai nhóm nước Đông Nam Á.
Đánh giá :
Quan hệ Việt Nam - Asian giai đoạn này có thể nhận th ấy đây là th ời kì vô
cùng căng thẳng giữa hai bên do không có sự song trùng trong l ợi ích qu ốc
gia đặc biệt là về an ninh. Với hành động mang tính quốc t ế đã đ ược xem
là “ý định” xâm lược , can thiệp vào nước khác , không còn là “hòa bình
trung lập”. Sự tham gia của Trung Quốc vào cuộc chiến Việt Nam –
Campuchia đã gián tiếp gây ra sự chia rẽ, đối nghịch giữa Vi ệt Nam và các
nước Đông Nam Á.
7 Tuyên bố của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN về vấn đề Campuchia, Bằn Côc, 12/2/1985, Văn kiện ASEAN
1967-1988. Tr160


17


2.3 Giai đoạn 1986 – 1991:
Hoàn cảnh trong nước và tình hình quốc tế:
Năm 1986 đánh dấu một bước ngoặt đối với Việt Nam trong việc th ực
hiện đường lối đổi mới toàn diện được thông qua tại Đại hội Đ ảng VI
(6/1986) trong đó Việt Nam chủ trương đường lối đổi m ới toàn di ện ,
thực thi chính sách đối ngoại “thêm bạn , bớt thù”, đa dạng hoá, đa ph ương
hoá quan hệ . Nghị quyết 13 của Bộ chính trị với tiêu đề “Giữ vững hòa
bình, phát triển kinh tế” chính là văn bản quan trọng nh ất th ể hiện s ự đ ổi
mới tư duy về đối ngoại của Đảng ta. Nghị quyết đổi mới một loạt chủ
trương, biện pháp đối ngoại lớn, nhất là giải pháp cho vấn đ ề Campuchia,
bình thường hóa quan hệ với Mỹ, Trung Quốc, ASEAN.
Quan hệ Việt Nam – ASEAN trong giai đoạn này :
Thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã rút hết quân kh ỏi Campuchia.
Trở ngại lớn nhất trong quan hệ hai bên đang dần được gỡ bỏ, v ấn đề
Campuchia đi dần vào giải pháp hoà bình. Trong tình hình đó, các n ước
ASEAN bắt đầu phát triển quan hệ song phương với Việt Nam và hoan
nghênh việc Việt Nam tham gia vào hợp tác khu v ực. Tháng 12/1987, t ại
Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ ba họp tại Manila, Tổng thống Philippines
tuyên bố không coi Việt Nam là mối đe doạ. Tiếp đó , Philippines cũng t ỏ
rõ “không chống việc Việt Nam gia nhập ASEAN”. Thủ t ướng Thái Lan khi
lên nắm quyền tháng 8/1988 đã đưa ra chủ trương biến Đông D ương t ừ
chiến trường thành thị trường. Chính sách trên của Thái Lan đã đ ược Th ủ
tướng Malaysia tuyên bố ủng hộ (6/1989). Về phần mình, Việt Nam cũng
luôn bày tỏ lòng mong muốn phát triển quan hệ h ữu ngh ị và h ợp tác v ới
các nước ASEAN.
Sự xích lại gần nhau giữa Việt Nam và ASEAN có thêm những nhân tố thúc
đẩy mới bởi thái độ của Việt Nam kiên trì chính sách đàm phán đ ể gi ải

18


quyết mọi tranh chấp về lãnh thổ với các nước láng giềng, cùng v ới vi ệc
Việt Nam giữ đúng cam kết rút hết quân khỏi Campuchia tr ước th ời h ạn
vào năm 1988, mặc dù lúc đó chưa đạt được giải pháp về vấn đề
Campuchia. Điều đó đã tạo dựng được lòng tin vào thiện chí của Vi ệt Nam
trong chính sách tăng cường hợp tác ở khu vực. Quan hệ Việt Nam –
ASEAN được đẩy mạnh trong năm 1989 và các năm tiếp theo.
Các quan chức và các học giả ASEAN cũng bắt đầu th ể hiện thiện chí và
mong muốn có sự hội nhập của Việt Nam và các nước Đông D ương khác
vào khu vực Đông Nam Á. Tháng 1/1989, tại Hội ngh ị bàn tròn các nhà báo
Châu Á – Thái Bình Dương ở thành phố Hồ Chí Minh, Tổng bí th ư Đảng
Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh tuyên bố “Cộng Hoà Xã hội Ch ủ
nghĩa Việt Nam sẵn sàng phát triển quan hệ hữu nghị với các nước ASEAN
và các nước khác trong khu vực”. Cũng tại H ội nghị này, Bộ tr ưởng Ngo ại
giao Nguyễn Cơ Thạch tuyên bố “ Việt Nam sẵn sàng gia nhập Hiệp hội các
nước Đông Nam Á”. Tại Hội nghị liên Bộ trưởng các n ước ASEAN 2
(2/1989), Việt Nam và Lào tuyên bố sẵn sàng tham gia Hiệp Ước Bali
(1976) của ASEAN.
Sự kiện chính trị nổi bật và quan trọng nhất trong quan hệ hai bên là
tháng 1 năm 1990 , Thủ tướng Thái Lan Chuhawan tuyên bố ủng h ộ vi ệc
gia nhập ASIAN của các nước Đông Dương với điều kiện sau khi v ấn đ ề
Campuchia được giải quyết . Tháng 11 năm 1990 , Tổng thống Suharto của
Indonexia là nguyên thủ đầu tiên của các n ước ASIAN thăm chính th ức Việt
Nam .
Những diễn biến mới trong tình hình quốc tế và khu vực cũng đã tạo thêm
điều kiện để thúc đẩy xu hướng tích cực trên quan hệ Việt Nam – ASEAN.
Từ đây, quan hệ hai bên bắt đầu có những biến chuy ển tích cực và việc
Hiệp định Pari về Campuchia được ký kết tháng 10/1991 đã dánh d ấu s ự

19


chấm dứt của “thời kỳ Campuchia” trong quan hệ Việt Nam – ASEAN, và
mở ra một thời kỳ mới- thời kỳ của hợp tác hai bên.
Đánh giá :
Như vậy , Việt Nam và các nước Asian ngày càng ý th ức đ ược vai trò c ủa
mình trong việc giải quyết những vấn đề khu vực . Đồng th ời nh ững di ễn
biến của tình hình quốc tế và khu vực cũng tạo thêm đi ều kiện thu ận l ợi
để thúc đẩy xu hướng tích cực đó .
Việc giải quyết vấn đề Campuchia ,Việt Nam tiếp tục coi trọng , c ủng c ố
và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống , đoàn kết đặc bi ệt h ợp tác
toàn diện Việt Nam - Lào và nêu cao vấn đề hợp tác khu v ực, s ự đoàn k ết
ASEAN và vai trò của tổ chức ASEAN ngày càng được củng cố và tăng
cường ở khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó những cố gắng của Việt
Nam, Lào, Indonesia, Malaysia và các quốc gia Đông Nam Á khác trong vi ệc
tìm kiếm một giải pháp hoà bình cho vấn đề Campuchia, xây d ựng Đông
Nam Á thành một khu vực hoà bình và ổn định cho th ấy Vi ệt Nam và các
nước ASEAN ngày càng ý thức được vai trò của mình trong vi ệc gi ải quy ết
các vấn đề của khu vực.

3. Quan hệ Việt Nam- Asean 1991- 1995
3.1. Tình hình thế giới
Ngày 9/11/1989, bức tường Berlin sụp đổ sau hơn 28 năm tồn tại, đã đ ưa
đến việc tái thống nhất nước Đức, và đây cũng là lúc hàng loạt bi ến c ố
quan trọng ở Đông Âu đưa đến sự thây đổi của các chính quy ền c ộng s ản
bằng các chính thể dân chủ tả, hữu đủ loại, và là lúc Liên Xô th ật s ự tan rã
vào tháng 12/1991 sau sự khủng hoảng quyền lực chính tr ị nghiêm tr ọng
của Đảng cộng sản. đây chính là những cơ sở không thể phủ nh ận cho một


20


thực tế là chiến tranh lạnh với cơ cấu đối đầu lưỡng cực của nó đã kết
thúc khi một “cực” đã tan rã hoàn toàn về mặt tổ ch ức, và lâm vào tình
trạng khủng hoảng nặng nề về cả sức mạnh của hệ tư tưởng lẫn vật chất
đã từng có một thời. sự tan rã của Liên Xô dẫn đến s ự tan rã của tr ật t ự hai
cực Yanta do Liên Xô và Mỹ đứng đầu
Bên cạnh đó siêu cường Mỹ cũng có sự thây đổi mạnh mẽ trong chính n ội
bộ của nó và trong hệ thống mà nó là hạt nhân. Mỹ là siêu cường duy nh ất
còn lại sau khi Liên Xô sụp đỗ, song chính Mỹ cũng ph ải tr ả giá r ất đắt cho
cuộc chạy đua vũ trang khiến cho Mỹ không còn s ức m ạnh và ưu th ế nh ư
trước nữa, trong khi các đồng minh của Mỹ, t ừ lớn đến bé đ ều đã t ự đ ứng
được bằng đôi chân của chính mình và trở thành những đối th ủ cạnh tranh
gây gắt với Mỹ. đây là cơ sở quan trọng nhất đứa đến thực trạng quy ền l ực
quốc tế không bị hút về một phía mà có chiều h ướng “khuếch tán” ra
những nhóm với trung tâm ở cả châu Mỹ, châu âu và châu á, c ụ th ể là Mỹ,
liên minh châu âu, Nhật BẢn, Trung Quốc, Nga.
Các nước còn lại của thế giới, với nhiều mức độ biểu hiện, song xu h ướng
chung là tìm cách xác định một thế đứng độc lập để có th ể giao tiếp, h ợp
tác trong cơ chế đa phương bình đẳng, có lợi cho mình song v ẫn tôn tr ọng
lọi ích của người khác, chứ không phải chờ đợi các siêu c ường đ ịnh đo ạt,
chi phối các vấn đề của họ như trước đây nữa. đây chính là n ền t ảng cho
xu thế đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại đang ph ổ bi ến
trên toàn cầu
Sau chiến tranh lạnh tất cả các quốc gia đều tiến hành điều ch ỉnh chi ến
lược phát triển, hướng vào lĩnh vực kinh tế. thực tế cho th ấy không ph ải
tìm lực quân sự mà nền kinh tế phồn vinh mới chính là sức mạnh của m ỗi
quốc gia


21


Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại nửa sau thế kỷ XX đã thúc đẩy
quá trình quốc tế hóa trên cơ sở toàn cầu hóa nền kinh t ế th ế gi ới, đ ưa
đến sự phụ thuộc lẫn nhau mạnh mẽ về kinh tế và do đó kéo theo s ự ph ụ
thuộc trong các quan hệ quốc tế tổng thể, hình thành một xu th ế chủ đạo
của dòng chảy lịch sử mà khó có quốc gia, dân tộc nào có th ể cưỡng l ại
được nếu muốn tồn tại và phát triển. đều này còn xác l ập v ị trí hàng đ ầu
thuộc về mục tiêu phát triển kinh tế trong toàn thể các n ước từ l ớn đ ến
nhỏ, quy định nội dung chạy đua giữa các nước lớn đã chuy ển t ừ quân s ự,
vũ trang sang lĩnh vực kinh tế và khoa học – kỹ thuật. mặt khác, cũng chính
là do tác động của khoa học – kỹ thuật đưa đến xu h ướng toàn cầu hóa
kinh tế và tính chất phụ thuộc lẫn nhau của mọi mặt đời sống quan hệ
quốc tế, khiến cho chạy đua kinh tế - thương mại ngày nay dù di ễn ra r ất
gây gắt nhưng không thể với phương châm “một mất một còn”, vì không
những làm thiệt hại cho hai phía cạnh tranh mà còn cho c ả n ền kinh t ế thương mại của toàn thế giới. do đó khi những áp lực và c ơ cấu nagjw n ề
của chiến tranh lạnh bị dỡ bỏ, đã tạo ra một môi tr ường cực kỳ thu ận l ợi
cho việc củng cố và hình thành những liên kết khu vực và hội nh ập vào
trào lưu toàn cầu hóa kinh tế của hầu hết các quốc gia trên th ế gi ới. làn
sống tập hợp các quốc gia trong một khu vực địa lý, hoạt động m ạnh mẽ
hơn bao giờ hết của các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia ở khắp n ơi
trên thế giới, chính là sự thể hiện của xu hướng liên kết khu v ực và nh ất
thể hóa kinh tế toàn cầu này
Chiến tranh lạnh kết thúc, vai trò của Liên Hợp Quốc ngày càng giảm
xuống. sự tan rã của trật tự hai cực tạo ra những cơ sở vững chắc cho quá
trình dân chủ hóa mạnh mẽ đời sống quan hệ quốc tế, đồng th ời cũng là
tiền đề cho việc nâng cấp vai trò tích cực hơn, chủ động h ơn c ủa t ổ ch ức
Liên Hợp Quốc để thực hiện tốt hơn những mục tiêu đã nêu ra trong hiến
chương

22


Chính vì vậy, sự kết thúc chiến tranh lạnh đã tạo ra những thông số m ới và
loại trừ nhiều căng thẳng chính trị vốn hạn chế phạm vi áp dụng các bi ện
pháp để gìn giữ hòa bình cho thế giới của tổ chức này
Nhận thức đầy đủ về nhân tố “Liên Hợp Quốc” khi hoạch định chính sách
của quốc gia trong bối cảnh quốc tế hậu chiến tranh lạnh là đều mà m ọi
quốc gia, mọi khu vực phải tính đến, không loại tr ừ một ai trừ phi h ọ đ ịnh
tự cô lập, tách ra khỏi dòng chảy mạnh mẽ của xu hướng th ời đại
Đối với Châu Á – Thái Bình Dương: sau chiến tranh lạnh là khu v ực năng
động nhất trên thế giới. Sự lên ngôi của Châu Á – Thái Bình Dương th ực ra
đã được dự đoán ngay từ những thập niên đầu thế kỷ XX, sự chuy ển dịch
này đã được nhận thấy ngay từ sau chiến tranh thế giới th ứ hai v ới vi ệc
quy tụ ở đây siêu cường kinh tế thế giới là Mỹ và tiếp theo là sự xuất hiện
các nền kinh tế “thần kỳ”, thoạt đầu là Nhật đến Đài Loan, Hồng Kong,
Singapo, Hàn Quốc. đặc biệt từ sau chiến tranh Việt nam, s ự tăng tr ưởng
kinh tế của Châu Á - Thái Bình Dương th ật đáng kinh ng ạc

3.2. Khu vực Đông Nam Á
Chiến tranh lạnh lùi dần, trật tự mới của thế giới đang đ ược hình thành
mở ra nhiều cơ hội cho hòa bình, phát triển và tiến bộ, nh ưng cũng đặt ra
rất nhiều thách thức đa dạng, phức tạp đối với toàn cầu cũng nh ư từng
khu vực, quốc gia mà Đông nam Á không phải là ngoại lệ.
Sự tan rã của chiến tranh lạnh đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình khu
vực, hình thành một khung cảnh mới cho các mối quan hệ. gi ải quy ết xung
đột khu vực, mà vào cuối thập niên 80 cụ thể là cuộc xung đột ở
Camphuchia trở thành nhu cầu cấp thiết, sự xuất hiện nh ững nhân tố m ới
cho phép giải quyết cuộc xung đột này bằng hòa giải và đ ối tho ại, có th ể
nhận thấy như sau:

23


-

Những chuyển biến sâu sắc như là hệ quả của sự tan rã chiến

tranh lạnh, nhất là từ sau năm 1989, đã tạo ra nh ưng điều ki ện r ất thu ận
lợi cho xu hướng đối thoại thây vì đối đầu trong việc giải quy ết hàng lo ạt
vấn đề quốc tế và khu vực
-

Sự chuyển biến trong lập trường của các nước khu vực, liên

quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc xung đột. trong khung cảnh qu ốc
tế những năm cuối thập niên 80, trước xu thế không thể cưỡng lại đ ược,
các bên liên quan chắc chắn sẽ phải chấp nhận sự nhượng bộ cần thiết
nào đó để đạt đến một nền hòa bình và ổn định cho khu v ực, ch ỉ có nh ư
thế mới bảo đảm cho tiến trình cải cách và đẩy mạnh phát triển kinh tế,
tiến bộ xã hội.
Những cố gắng nhằm đẩy mạnh vai trò cả về kinh tế, chính tr ị, quân s ự
của một vài cường quốc Châu Á đã làm tăng mối lo ngại truy ền th ống
trong các nước ASEAN và các nước Đông Nam Á khác về một nguy c ơ th ật
sự đối với khu vực. hơn nữa, sự rút lui của Mỹ đã làm m ất đi ch ỗ d ưahj
truyền thống, mà các nhà phân tích chiến lược gọi là “khoảng trống quy ền
lực” về an ninh của các nước ASEAN, trong khi vấn đề Campuchia cg ưa
phải đã thực sự chấm dứt và bên cạnh đó lại nảy sinh nh ững nguy c ơ tiềm
tàng ở biển đông, do lịch sử để lại mà chưa được giải quyết.
Bên cạnh đó, một thách thức vô cùng quan trọng đối với các n ước Đông
Nam Á thời kì hậu chiến tranh lạnh là việc phát tri ển kinh tế. ch ỵ đua kinh

tế đã thay thế chạy đua vũ trang và là làn sóng tập trung phát tri ển kinh t ế
ngày càng trở nên mạnh mẽ, thu hút và lôi cuốn tất cả các n ước phát tri ển
và đang phát triển.
Sự ra đời của liên minh châu âu, sự hình thành khu v ực tự do bắc mỹ, khái
niệm đồng Yên ở Châu Á – Thái Bình Dương của Nhật và nhiều tổ ch ức

24


khác , đã đẩy mạnh xu thế khu vực hóa đang ngày càng phát tri ển m ạnh
trên thế giới.
 Đây là những đặc điểm cơ bản của thế giới sau chiến tranh lạnh
đang tác động chi phối tới tất cả các n ước trên th ế gi ới làm cho các
nước trong khu vực liên kết lại với nhau
3.3 Tình hình trong nước
Những sai lầm trong chính sách về giá, lương tiền được triển khai vào năm
1985 đã góp phần đẩy nước ta vào cuộc khửng hoảng kinh tế - xã h ội tr ầm
trọng. trong lúc nước ta đang lâm vào tình trạng nh ư v ậy, thì các n ước và
vùng lãnh thổ láng giềng ở Đông và Đông Nam Á lại đang g ặt hái đ ược
nhưng thành công vang dội trong quá trình phát triển kinh t ế xã h ội: Hàn
Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Xingapo. Các nền kinh tế ASEAN, đ ặc bi ệt là
hai nền kinh tế Thái Lan và Malaxia đang tăng tr ưởng rất nhanh. S ự xu ất
hiện của các nước, những vùng lãnh thổ vốn có điểm xuất phát v ề kinh t ế
xã hội tương tự như Việt Nam, khiến cho các nhà lãnh đạo Việt Nam ph ải
suy nghĩ
Đối với Việt Nam, sau khi đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh nên l ợi ích
lớn nhất đối với Việt Nam lúc này là duy trì ổn định, hòa bình khu v ực t ạo
dựng một môi trường quốc tế và khu vức thuận lợi cho công cuộc đổi m ới.
Việt Nam tập trung sức lực vào phát triển kinh tế vốn bị chiến tranh tàn
phá, đưa đát nước đi lên theo kịp nhịp độ phát tri ển chung c ủa các n ước

trong khu vực và trên thế giới
Sự nghiệp đổi mới đất nước diến ra trong bối cảnh khu v ực và qu ốc t ế
đang diễn biến phức tạp. sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu vào đ ầu
những năm 90 đã làm cho nước ta mất một chỗ dựa quan trọng về an ninh
và kinh tế. bên cạnh đó, chính sách cấm vận kinh tế của Mỹ là m ột đòn
nặng đối với Việt Nam
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×