Tải bản đầy đủ (.docx) (7 trang)

tiểu luận môn mỹ học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (316.21 KB, 7 trang )

LỚP: MỸ HỌC
Họ và tên: Nguyễn Thị Lan Anh
Mã sinh viên: 1754070462
1. Khái niệm cai Bi trong nghệ thuật.
Cái bi trong nghệ thuật thể hiện ở nghệ thuật bi kịch trong lịch sử phát triển
của mỹ học, của nghệ thuật, nhưng xét cho cùng nó cũng phản ánh cái bi kịch của
cuộc sống, nhưng tùy theo những điều kiện lịch sử nhất định mà có những nội dung và
hình tượng thẩm mỹ về bi kịch cũng khác nhau.
Các nhà nghệ thuật cổ đại như Hômerơ với thiên anh hùng ca Iliát và
Ôđixê hoặc Êsilơ với Prômêtê bị xiềng đều có khát vọng là con người muốn nhận
thức, muốn lý giải nhưng xung đột gay gắt của cuộc sống bằng thẩm mỹ. Các anh
hùng của nghệ thuật bi kịch thời kỳ này đều mang đậm tính bi – hùng kịch thường bị
thất bại thảm thương, bị đọa đầy đau khổ, nhưng nó thể hiện tính bất tử của con người
chân chính biết hy sinh vị lợi ích của nhân dân. Chính vì vậy mà nghệ thuật bi kịch cổ
đại đã biết buộc cái chết, hy sinh để phục vụ cuộc sống.
Bi kịch thời kỳ trung cổ mang mầu sắc tôn giáo, phục vụ cho hệ thống giáo lý
nhà thời công giáo gắn với truyền thuyết phạm tội của Ông bà Ađam và Êva. Cho nên,
bi kịch phương Tây thời trung cổ không mỹ hoá vẻ đẹp con người, mà chỉ mỹ hoá
thảm cảnh của con người, nó ca ngợi sự đau thương của con người bằng triết lý mỹ
học giả dối, ích kỷ phục vụ tôn giáo.
Bi kịch thời kỳ phục hưng là một bước tiến quan trọng, vì nó đặt ra một vấn đề
nhân sinh một cách trực tiếp. Mâu thuẫn bi kịch thời kỳ này phản ánh mâu thuẫn của
bước quá độ từ xã hội phong kiến sang chủ nghĩa tư bản. Nó xây dựng được những
mâu thuẫn điển hình giữa một bên với tính cách là những người khổng lồ muốn xoá
bỏ cái cũ, muốn giải phóng con người nhất là cá nhân con người ra khỏi xiềng xích
của thần quyền tôn giáo với một bên muốn giữa lại những gì của cái cũ. Bi kịch thời
kỳ này gắn liền tên tuổi của Sếchpia với các tác phẩm nổi tiếng: Hămlét, Ôtenlô,
Rômêô và Giuyliét, Ma bét và Vua Lia.
Bi kịch thời kỳ này còn phản ánh những mâu thuẫn sâu sắc giữ lý tưởng nhân
văn, hướng về tự do muốn giải phóng con người với thực tại là con người đang rơi vào
sự trói buộc không chỉ của xiềng xích cũ, mà còn xiềng xích mới đang hình thành với


những khát vọng, ham muốn tình dục tiền bạc của chủ nghĩa cá nhân mang tính phổ
biến.
Bi kịch của thời kỳ khai sáng đã hướng vào những vấn đề cơ bản của cuộc sống
nhằm giải quyết những mâu thuẫn, xung đột của xã hội. Điểm nổi bật nhất của tính
cách các nhân vật trong bi kịch thời kỳ này, là sự nồng nhiệt của những khát vọng, sự
đam mê, căm giận, kiêu hãnh, đau đớn, hy vọng, tuyệt vọng của tình yêu của tuổi trẻ.
Chẳng hạn như trong vở bi kịch: “Âm mưu và tình yêu” của Sinle là một ví dụ.
Bi kịch của phương Tây hiện đại dựa trên triết lý bi đát (chủ yếu là triết học –
mỹ học hiện sinh), để hình thành quan niệm về sự thỏa hiệp đau thương không tránh
khỏi của con người với thực tại nghiệt ngã và bạo tàn. Chính vì thế nghệ thuật phương
Tây hiện đại dựng lên những con người bị tha hoá như: con người vỡ mộng, con


người nhỏ bé. Chẳng hạn như tác phẩm “Buồn nôn” của J. Pônsắc trong mỹ học hiện
sinh.
Bi kịch hiện thực xã hội chủ nghĩa lại chú trọng mối quan hệ giữa tính cách và
hoàn cảnh và tính trong đại bên trong của nhân vật bi kịch. Ý thức đón nhận sự hy
sinh và tính lạc quan tin vào chiến thắng vì tư tưởng giải phóng con người và giải
phóng xã hội để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn.
2.Vai trò của cai Bi trong một số loại hình nghệ thuật.
2.1. Kịch
Từ trước đến nay, nói đến kịch là chúng ta nói đến xung đột kịch. Xung đột
do đó, là một đặc điểm cơ bản của kịch. Và khi nói đến kịch, nói đến sự xung đột,
nói đến những tấn bi kịch, hầu như trong chúng ta không ai lại không nhớ đến
Shakespeare – nhà soạn kịch vĩ đại Anh. Có thể thấy, mở đầu giai đoạn sáng tác bi
kịch của Shakespeare đó là Hămlet, đây là vở kịch có ý nghĩa tâm lý xã hội sâu sắc
nhất trong các tác phẩm của ông. Hămlet, miêu tả tấn bi kịch trong gia đình hoàng tử
Hămlet và tác phẩm này được ông xây dựng vào thời kỳ đã từng trải nhiều về cuộc
sống, sau hai mươi lăm năm bôn ba, chìm nổi trong xã hội nước Anh thời bấy giờ.
Đó cũng là thời kỳ mà tích lũy sơ khai của tư bản Anh đẻ ra những mâu thuẫn xã hội

chưa từng thấy, sự cướp đoạt làm giàu của giai cấp tư sản cấu kết với phong kiến
đang bần cùng hóa quảng đại quần chúng nhân dân đồng tiền vạn năng và cường
quyền chà đạp lên công lý, bao nhiêu quan niệm nhân đạo làm giá trị tinh thần của
thời đại Phục hưng đổ vỡ trên nền móng thối nát của xã hội tư bản đang thành hình...
Con người lý tưởng của thời đại Phục hưng, mà trước đây Shakespeare đã biểu hiện
trong các vở kịch của ông, cũng bị tan vỡ theo.
Trong hoàn cảnh xã hội tư sản Anh mới ra đời “mình đã tắm đầy bùn máu”
(K.Marx), một kiểu con người mới cũng ra đời theo: Đó là con người đau khổ và bất
bình trước thực tế phũ phàng của một xã hội đen tối đầy rẫy tôi ác, con người băn
khoăn muốn đánh giá lại toàn bộ cuộc sống trước mắt nó. Hămlet chính là hiện thân
của kiểu người mới ấy. Bởi thế, Hămlet là một nhân vật hết sức đặc biết và độc đáo,
chưa từng có trong nền văn hóa thế giới trước đó, cũng như không thể có nữa về sau
này. Đó là một con người vốn thừa kế những tinh hoa của thời đại Phục hưng: bản
chất thông minh, tư tưởng tự do, khoáng đạt, tâm hồn cao quý, tấm lòng nhạy cảm.
Xuất thân trong hàng ngũ quý tộc mà đã sớm gặp cảnh chua xót: cha chết, mẹ lấy
chú ruột, hồn ma của cha về báo mộng, chính là Clôdiut – chú ruột mình đã giết cha,
lấy mẹ; chàng sớm nhìn thấy bộ mặt thật của xã hội, “sự áp bức của kẻ bạo ngược, sự
trì chậm của công lý, hỗn xược của cường quyền, miệt thị của kẻ bất tài...”, cho nên,
trước mắt chàng cả thế giới chỉ là “một ngục thất rộng lớn” và “Đan Mạch này là một
ngục thất đáng ghê tởm nhất”. Thực tế phũ phàng của cuộc sống đã làm cho chàng
phải đánh giá lại tất cả mọi quan hệ trong cuộc sống – tè tình họ hàng, tình vợ chồng,
cho đến tình mẹ con và cả đến tình yêu. Thậm chí, trong cơn dày vò của đau khổ,
chàng đã có lúc băn khoăn đến độ đặt lại cả vấn đề to lớn nhất: “Sống, hay không nên
sống...”.


Nhân vật hoài nghi Hămlet là một hiện tượng có ý nghĩa lịch sử: đó là lần
đầu tiên trong văn học thế giới, một nhân vật dám lên tiếng hoài nghi cả một xã hội
và công nhiên lôi nó ra tòa án của công chúng, của nhân loại. Bởi thế, hoài nghi của
Hămlet không phải là thứ hoài nghi tiêu cực, nó có một tác dụng tích cực đặc biệt, vì

nó chính là phát súng đầu tiên của nhân loại bắn vào thành trì của chủ nghĩa tư bản
ngay giữa lúc đang xây dựng.
Với bi kịch Hămlet, trong văn học thế giới, Shakespeare đã mở đường cho
phương pháp xây dựng nhân vật và triết lý của cuộc sống. Cho đến nay, Hămlet vẫn
không hề mất giá trị hiện đại của nó. Giữa thời kỳ hai hệ thống xã hội song song tồn
tại và thi đua trong hòa bình, Hăm let với ý nghĩa phê phán xã hội cũ của nó, vẫn tiếp
tục nêu lên cho nhân dân các nước một bài học thấm thía để suy nghĩ và hành động.
Đánh giá về tác phẩm, nhiều nhà nghiên cứu nhận định Hămlet thực sự là
một trong những bi kịch nổi tiếng nhất của lịch sử sân khấu thế giới. Trong một hình
thức nghệ thuật kịch – thơ trữ tình tuyệt vời, tác phẩm đã phản ánh được tinh thần
của thời đại với sự khủng hoảng, bế tắc của lý tưởng nhân văn chủ nghĩa. Trong sự
bát nháo của một xã hội với “nhà tù”, “sự bẩn thỉu”, “phải hàng vạn người mới nhặt
ra được một kẻ lương thiện”, vẫn lóe sáng những hạt vàng của chủ nghĩa nhân văn,
với Hămlet, chàng không chỉ quan tâm đến nghĩa vụ trả thù và ngai vàng mà quan
tâm hơn hết đến phẩm giá và lối sống con người. Thực tế xã hội xấu xa, mâu thuẫn
với lý tưởng của chàng, khiến chàng phải đánh giá lại tất cả và tìm cho mình một thái
độ cư xử phải đạo. Quá trình đánh giá thực tế và xác định đó đã gây cho tâm hồn
Hămlet những giây phút đau đớn, bi quan, hoài nghi, do dự, những phút trăn trở “tồn
tại hay không tồn tại”, những phút “chịu đựng hay vùng lên chống lại”. Cuối cùng,
Hămlet đã tìm được chân lý đấu tranh nhưng không đủ tin tưởng và dũng khí để hành
động, nên chàng đã gục ngã vì cạm bẫy của kẻ thù.
Với tấn bi kịch của gia đình, của cuộc đời chàng hoàng tử Hămlet đã phản
ánh mâu thuẫn tất yếu của sự phát triển, của cuộc đấu tranh giữa cái đẹp và cái xấu
trong tồn tại xã hội. Hăm let sẽ luôn làm nảy sinh trong lòng người muôn đời sau
không chỉ tâm trạng trước nỗi buồn mà còn là những xúc cảm thẩm mỹ, hướng họ
đến những suy cảm về cái cao cả luôn hiện hữu giữa cõi đời đục bể dâu, và để cho
“Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Là người biết yêu và có chút văn hóa, không ai lại không biết đến Romeo và
Juliet của Shakespeare, vở kịch được sáng tác cách đây hơn 400 năm. Ngót bốn thế
kỷ nay, Romeo và Juliet luôn được coi là biểu tượng của tình yêu. Khi nói đến mối

tình này, người ta lại thường nghĩ đến xung đột, tấn bi kịch giữa tình yêu của Romeo,
Juliet và mối thù giữa hai dòng họ. Một mối quan hệ giữa tình yêu và thù hận trong
“Romeo và Juliet” của Shakespeare.
“Một mối thù sinh một mối tình”, Juliet đã từng ngao ngán thốt lên như


vậy khi biết Romeo thuộc về dòng họ Montague. Bởi vì, hai dòng họ Montague và
Capulet vốn có sẵn mối thâm thù. Chẳng ai biết nguyên nhân của mối thù. Chỉ thấy
giai nhân hai nhà gặp nhau là rút kiếm ra đánh nhau và kéo theo cả chủ nhân của họ.
Có thể khẳng định rằng, hằn thù nằm sâu trong tiềm thức của mọi người, chỉ cần có
dịp là bùng phát khó lòng dập tắt được. Và mối thù cũ chưa được xóa thì thù mới lại
xuất hiện: đó là cuộc chạm trán giữa Romeo và Tybalt với một kết cục thật bi thảm,
Tybalt chết, Romeo bị lưu đày; cái thù mới đó càng làm cho hố sâu ngăn cách giữa
hai nhà như rộng thêm ra. Vậy, với mối thâm thù đó, tình yêu của đôi trể sẽ ra
sao?
Cần khẳng định rằng, Romeo và Juliet đến với nhau bằng những rung động
đầu đời chân thành, đằm thắm. Đó là sự gắn bó trong sáng, không gợn chút toan
tính của những tâm hồn vốn thuộc về nhau, vốn sinh ra là để dành cho nhau. Tình
yêu đó bất chấp mọi khoảng cách về tuổi tác, địa vị, danh vọng, và mặc dù biết rõ
người mình yêu vốn là kẻ thù, nhưng cả hai đều không kiểm soát nổi tình cảm của
mình, để rồi kết thúc là cái chết của đôi bạn trẻ!
Ai đã từng đọc hoặc xem vở kịch này lại không khỏi bùi ngùi, thương cảm
cho mối tình thật đẹp, dám bất chấp tất cả để “thách thức hoặc phản ứng chống lại”,
bất chấp tất cả để vượt qua mối thâm thù của hai dòng họ, và khi đã vượt qua khỏi sự
kiểm tỏa của sức ép, tình yêu tự do cũng không tránh khỏi những mất mát, đau đớn.
Đó là sự hy sinh cần thiết cho tình yêu thăng hoa.
Romeo và Juliet là hiện thân của một tình yêu đẹp, một tình yêu đích thực và
lý tưởng, có sức lôi cuốn diệu kỳ và đánh thức mọi trái tim khao khát yêu đương.
Qua bao thăng trầm, tình yêu vẫn tỏa sáng, vẹn nguyên trong lòng độc giả. Thế
nhưng, tại sao Shakespeare lại để cho chuyện tình của chàng Romeo và nàng Juliet

kết thúc thảm thương đến vậy? Có thể hiểu, có hai lý do để cuộc tình của Romeo –
Juliet kết thúc bằng cái chết. Thứ nhất, dù tình yêu đồng nghĩa với những gì lãng
mạn nhất, nhưng tình yêu Romeo và Juliet không tồn tại ở một thế giới siêu nhiên
nào, nó là sản phẩm của thời đại Phục hưng, thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên
chế độ tư bản chủ nghĩa, Shakespeare đủ sáng suốt để không sa vào ảo tưởng, ông
biết chủ nghĩa nhân văn chưa thể cắm cơ toàn thắng. Lý do thứ hai có cơ sở từ lý do
đầu tiên: đó là hiện thực cuộc sống thời Phục hưng tràn đầy những mâu thuẫn xã hội
khốc liệt phù hợp với loại hình bi kịch. Cái chết của Romeo và Juliet là kết quả của
mâu thuẫn không thể giải quyết được của thời đại, hay để giải quyết mâu thuẫn,
Shakespeare đã đưa ra giải pháp hy sinh những đứa con lý tưởng của mình, bởi
những tệ nạn xã hội đương thời như mối thù dòng họ, lễ giáo phong kiến không dễ gì
xóa bỏ. Có thể Shakespeare cũng không ngăn nổi dòng lệ khi để cho Romeo và Juliet
phải chết, nhưng với nhãn quan sáng suốt của mình, ông biết họ là những người “tử
vì đạo”. Ông buộc phải mượn cái chết của đôi trai gái để “giết” luôn một di sản đồi


bại của chế độ phong kiến Trung cổ. Và ông đã làm được điều đó: “Trên xác con,
cha mẹ mới quên thù”.
2.2. Hội họa

Hội họa là nghệ thuật không gian mặt phẳng – tìm không gian ba chiều
trên mặt phẳng. Tuy chỉ ghi được một khoảnh của hành động, song nó vẫn có
khả năng thể hiện được ý nghĩa của cử chỉ, động tác của đối tượng và nó cũng
thể hiện được hình khối của đối tượng dưới những hình thức cụ thể khác nhau.
Khi cảm thụ tác phẩm hội họa chúng ta vẫn có cảm giác được chiều sâu, độ gần
xa về khoảng cách của bố cục theo tiêu điểm, diện về mặt đường nét, mầu sắc
của đối tượng phản ánh, thậm chí cả cảm giác được cái sinh động, sống động
như thật của đối tượng.
Trong hội họa đường nét, màu sắc là ngôn ngữ đặc trưng của hội họa. Hội
họa có ưu thế đặc biệt trong việc phản ánh thế giới với mọi màu sắc phong phú,

tinh tế của nó và hòa sắc của tác phẩm làm cho nó có sức biểu hiện sâu sắc, tế
nhị về tình cảm. Ánh sáng, bóng tối và sự kết hợp uyển chuyển giữa các đường
nét, màu sắc với các thủ pháp xa – gần (khoảng cách phù hợp) của hội họa tạo
ra cảm giác không gian ba chiều[5]. Khả năng tạo hình của hội có ý nghĩa rất lớn,
nó nói lên được tư tưởng và tình cảm con người trên mọi cung bậc và sắc thái
khác nhau. Song hội họa chỉ có thể gợi lên quá trình phát triển của các biến cố
trong phạm vi những khoảnh khắc mà nó thể hiện chứ không miêu tả được đầy
đủ quá trình phát triển sinh động của hiện thực như văn chương, điện ảnh, hoặc
sân khấu.
Về thể loại hội họa có tranh trên giá, tranh hoành tráng, tranh chân
dung, tranh phong cảnh, tranh “bố cục”, tranh tĩnh vật…


2.3. Điện ảnh
Điện ảnh là loại hình nghệ thuật trẻ, nó xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX.
Tuy nhiên, sau khi ra đời nó đã trở thành loại hình quan trọng bậc nhất xét về
tính quần chúng rộng lớn của nó, đáp ứng cao nhu cầu thẩm mỹ của thời đại.
Sự ra đời của điện ảnh gắn liền với tiến bộ của khoa học – kỹ thuật và
công nghệ; nó kết hợp các thành tựu của khoa học và công nghệ với các phuơng
tiện của nhiều loại hình nghệ thuật khác tạo cho điện ảnh có tính tổng hợp cao
nhất.
Phương tiện ngôn ngữ của điện ảnh cũng là hành động nhưng nó khác với
sân khấu. Ở đây hành động nhân vật vẫn là yếu tố hạt nhân, nhưng đồng thời
nghệ thuật quay phim, dựng phim, cũng có một ý nghĩa quyết định. Bởi hình
ảnh phim là hình ảnh không gian đa chiều hết sức đa dạng và phong phú được
đạo diễn và nghệ sỹ quay phim biến đổi liên tục theo những góc độ, tầm cỡ, cự
ly khác nhau để biểu đạt tư tưởng, tính cách, nhân vật.
Cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật điện ảnh lệ thuộc vào nghệ thuật dựng
phim khi xét nó từ quá trình kịch bản văn học sang kịch bản phim, kịch bản
phân cảnh đến dựng phim đó là cả một quá trình sáng tạo thể hiện ý đồ của đạo

diễn trong việc tạo ra tác phẩm điện ảnh. Ngoài ra còn có vô số các yếu tố nghệ
thuật và kỹ thuật khác có vai trò hỗ trợ quan trọng dưới nhiều hình thức khác
nhau: âm nhạc và âm thanh nói chung (tiếng động), ánh sáng, hội họa, trang trí thiết kế nhân vật và bối cảnh. Với kỹ thuật điện toán (kỹ thuật số), ngày nay


điện ảnh đã tiến những bước dài về kỹ thuật (kỹ xảo) về kỹ thuật hỗ trợ cho điện
ảnh.
Về thể loại, điện ảnh có: phim nghệ thuật trong điện ảnh và phim truyền
hình, phim họa hình, phim tài liệu, phim thời sự.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×