ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Đề tài: BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG Ở VIỆT NAM
GVHD: Ths. Châu Quốc An
Nhóm thực hiện: Nhóm 5
Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 12/4/2018
LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu từ đầu thế kỉ XX kéo theo xu thế
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trong lĩnh vực thương mại. Nhiều sản phẩm hàng
hóa trở nên phổ biến trên thị trường như nước giải khát Cocacola, cà phên Nestcafe,…
Những sản phẩm này thực sự đã trở nên nổi tiếng và được biết đến một cách rộng rãi
ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên chính sự nổi tiếng của nhãn hiệu cũng mang lại
không ít khó khăn cho các doanh nghiệp vì nó sẽ rất dễ bị xâm phạm bởi các chủ thể
khác.
Vì vậy, một trong những vấn đề quan trọng đặt ra là phải làm thế nào để ngăn
chặn các hành vi xâm phạm đối với nhãn hiệu nổi tiếng, dẫn đến sự ra đời của các quy
định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, với những đặc trưng riêng so với các
loại nhãn hiệu khác là tất yếu.
Xuất phát từ tầm quan trong của việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam cũng
như các vấn đề phát sinh xoay quanh các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện
nay, nhóm đã bắt tay nghiên cứu đề tài Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam để
đem đến cho bạn đọc những cái nhìn khách quan và tổng thể nhất về các quy định
của pháp luật liên quan tới việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, các bất cập từ các quy
định này, chỉ ra các thực trạng phát sinh hiện nay và đề xuất các giải pháp tương ứng
MỤC LỤC
CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ NHÃN HIỆU
1.1. Khái niệm nhãn hiệu
Nhãn hiệu là một khái niệm sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội nhằm giúp
người tiêu dùng phân biệt được hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức cá nhân khác nhau,
qua đó, thông tin cho người tiêu dùng nhận biết được về sản phẩm. Trong phần này
chúng ta sẽ cùng nhau trả lời cho câu hỏi nhãn hiệu là gì? Và vì sao các nước phải bảo
hộ nhãn hiệu? Đó cũng là câu hỏi được đặt ra cho những nhà quản lý nhà nước, cho
doanh nghiệp và cho các nhà nghiên cứu cũng như người tiêu dùng.
Theo Khoản 16, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ thì “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để
phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.” Qua đó thì nhãn
hiệu trước hết phải là dấu hiệu và dấu hiệu này có chức năng để phân biệt hoặc cá biệt
hóa hàng hóa dịch vụ (cùng loại) của tổ chức cá nhân này với tổ chức cá nhân khác.
Song không phải mọi dấu hiệu đều được bảo hộ mà các dấu hiệu đó phải thỏa mãn
một số điều kiện nhất định thì mới được bảo hộ là nhãn hiệu
1.2. Phân loại nhãn hiệu
Nhãn hiệu nổi tiếng: Nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn
lãnh thổ Việt Nam1.
Nhãn hiệu liên kết: Là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc
tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên
quan với nhau2.
Nhãn hiệu chứng nhận: là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức,
cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận
các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức
1 Khoản 20, Điều 4, Luật sơ hữu trí tuệ
2 Khoản 19, Điều 20, Luật sở hữu trí tuệ
5
cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của
hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu3.
Nhãn hiệu tập thể: là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành
viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá
nhân không phải là thành viên của tổ chức đó4.
1.3. Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu
Theo quy định tại Điều 72, Luật Sở hữu trí tuệ thì điều kiện để nhãn hiệu được
bảo hộ là:
Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả
hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu
sắc.
Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa,
dịch vụ của chủ thể khác (Điều 72, VBHN Luật sở hữu trí tuệ).
1.3.1. Nhãn hiệu trước tiên phải là dấu hiệu
Các dấu hiệu dùng để làm nhãn hiệu là những dấu hiệu có thể nhìn thấy được,
nhận biết được bằng thị giác.
Từ ngữ bao gồm tên của công ty, doanh nghiệp, họ tên của cá nhân, tên địa lý hay
một cụm từ bất kỳ nào không cần có nghĩa, chỉ cần có khả năng phát âm.
Chữ cái và chữ số. Đó là sự sắp xếp một hoặc nhiều chữ cái, một hoặc nhiều con
số hoặc sự kết hợp của các chữ cái và con số.
Các hình họa có thể là hình tả thực, hình vẽ, biểu tượng và các sự thể hiện không
gian hai chiều của hàng hóa hoặc bao bì.
3 Khoản 18, Điều 20, Luật sở hữu trí tuệ
4 Khoản 17, Điều 20, Luật sở hữu trí tuệ
6
Dấu hiệu là màu sắc đó là sự phối kết hợp màu sắc hoặc chính bản thân màu đó
kết hợp với các từ ngữ, hình ảnh.
Dấu hiệu ba chiều. Một điển hình của các dấu hiệu ba chiều là hình dạng của hàng
hóa hoặc bao vì của chúng.
Như vậy pháp luật Việt Nam chưa bảo hộ các dấu hiệu là âm thanh, mùi vị hoặc
các dấu hiệu không nhìn thấy được bằng mắt thường, nhưng có thể nhận biết được
bằng thính giác hay khứu giác, bởi việc bảo hộ đối với những đặc điểm trên đòi hỏi
quốc gia đó cần phải có trình độ phát triển cao, có đủ các điều kiện vật chất, kỹ thuật
cũng như trình độ của các nhà quản lý.
1.3.2. Dấu hiệu phải có khả năng phân biệt
Pháp luật đã dùng phương pháp loại suy để xác định đối tượng được coi là có khả
năng phân biệt. Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ
một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành
một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp dấu hiệu không
có khả năng phân biệt.
Các dấu hiệu không có khả năng phân biệt và không được bảo hộ bao gồm5:
-
Hình và hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không
thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận
rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;
-
Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng
hóa, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường
xuyên, nhiều người biết đến;
-
Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng,
chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác
mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả
5 Khoản 2, Điều 74, Luật sở hữu trí tuệ
7
năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký
nhãn hiệu;
-
Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;
-
Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu
đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc
được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định
tại Luật này;
-
Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây
nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc
tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn
trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký
nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên;
-
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người
khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc
tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được
hưởng quyền ưu tiên;
-
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người
khác đã đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn
hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị
chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm d
khoản 1 Điều 95 của Luật này;
-
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là
nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự
với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hóa,
dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng
8
đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu
nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;
-
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người
khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về
nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;
-
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử
dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc
địa lý của hàng hóa;
-
Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch
nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh
nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có
nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;
-
Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của
người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày
nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn
đăng ký nhãn hiệu.
1.4. Đối tượng loại trừ, không bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu
Điều 73 Luật sở hữu trí tuệ, quy định việc không bảo hộ dấu hiệu dưới đây nhằm
bảo vệ trật tự công cộng, bảo vệ các quy chuẩn đạo đức xã hội:
-
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc
huy của các nước.
-
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy
hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ
quan, tổ chức đó cho phép.
9
-
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút
danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của
nước ngoài.
-
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu
kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không
được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn
hiệu chứng nhận.
-
Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu
dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các
đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ.
1.5. Chủ thể có quyền nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu
Theo quy định tại Điều 87, Luật SHTT thì các chủ thể sau đây có quyền đăng ký
nhãn hiệu:
-
Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do mình sản
xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.
Ví dụ như A sản xuất nước uống đóng chai thì A có quyền đăng ký nhãn hiệu cho
sản phẩm nước đóng chai nói trên để phân biệt với các sản phẩm nước đóng chai khác
đã và đang lưu hành trên thị trường.
-
Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký
nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản
xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và
không phản đối việc đăng ký đó.
Ví dụ, B đăng ký kinh doanh sản phẩm dịch vụ ăn uống, B đi lấy sản phẩm của các
hộ gia đình khác sản xuất về bán lại cho người tiêu dùng thì B có quyền đăng ký nhãn
hiệu cho sản phẩm mà mình đã đem ra thị trường này nếu những cá nhân hay hộ gia
đình này không phản đối việc đăng ký này.
10
-
Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể
để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể;
đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền
đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh
doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý
đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cho phép.
-
Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc
hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu
chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương
của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho
phép.
-
Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở
thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây:
+ Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc
sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào
quá trình sản xuất, kinh doanh;
+ Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về
nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ.
-
Người có quyền đăng ký nêu trên, kể cả người đã nộp đơn đăng ký có quyền
chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng
bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật với điều
kiện các tổ chức, cá nhân được chuyển giao phải đáp ứng các điều kiện đối với
người có quyền đăng ký tương ứng.
-
Đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế
có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký
11
nhãn hiệu đó mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên thì
người đại diện hoặc đại lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không
được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
1.6. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu
Chủ sở hữu nhãn hiệu là đối tượng được cơ quan nhà nước cấp văn bằng bảo hộ
nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công
nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định
của Cục Sở hữu trí tuệ cấp Văn bằng bảo hộ6 (trừ nhãn hiệu nổi tiếng).
Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu là Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu7.
1.6.1. Quyền của chủ sở hữu
Thứ nhất, sử dụng nhãn hiệu và cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu
Sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau đây8:
-
Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh
doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;
-
Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn
hiệu được bảo hộ;
-
Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.
Thứ hai, ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu trái phép
6 Điều 6, Nghị định 103/2006/NĐ-CP
7 Khoản 3, Điều 92, Luật sở hữu trí tuệ
8 Khoản 5, Điều 125, Luật sở hữu trí tuệ
12
Về nguyên tắc mọi hành vi sử dụng đều phải xin phép chủ sở hữu. Việc sử dụng
nhãn hiệu trong hoạt động thương mại không có sự xin phép của chủ sở hữu là hành vi
trái luật. Tuy nhiên, quyền sở hữu trí tuệ như trên đã phân tích là một quyền độc
quyền khai thác thương mại có giới hạn tài sản trí tuệ của mình, nên luật cũng quy
định những trường hợp gọi là sử dụng hợp lý. Hay nói cách khác, đó là trường hợp sử
dụng mà không phải xin phép chủ thể quyền nhưng không được coi là hành vi vi
phạm pháp luật. Đó là những hành vi sau:
Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường,
kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính
chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị
trường nước ngoài;
Sử dụng một cách trung thực tên người, dấu hiệu mô tả chủng loại, số lượng, chất
lượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc địa lý và các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ.
Thứ ba, định đoạt nhãn hiệu.
1.6.2. Nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu
Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu của mình, nếu
không sử dụng liên tục trong 5 năm có thể bị chấm dứt hiệu lực bảo hộ9.
1.7. Những hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu
Theo khoản 1, Điều 129, các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của
chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, bao gồm:
– Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với
hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;
9 Khoản 2, Điều 136, Luật sở hữu trí tuệ
13
– Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự
hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó,
nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
– Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng,
tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn
hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
– Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới
dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả
hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch
vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có
khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối
quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.
1.8. Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu
Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu (Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu) có hiệu lực từ
ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn song có thể gia hạn liên tiếp mỗi lần gia
hạn là 10 năm10.
10 Khoản 6, Điều 93, Luật sở hữu trí tuệ
14
CHƯƠNG II: NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI
TIẾNG Ở VIỆT NAM
2.1. Khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng
Theo quy định tại Khoản 20, Điều 4, Luật sở hữu trí tuệ:
Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn
lãnh thổ Việt Nam.
Điểm cần lưu ý tại quy định này đó là quy định đã giới hạn phạm vi nổi tiếng là
trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này có nghĩa là dù một nhãn hiệu có nổi tiếng thế nào
trên toàn thế giới nhưng không được người tiêu dùng tại Việt Nam biết đến rộng rãi
thì không phải là một nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Ngoài ra để đánh giá một nhãn hiệu thế nào là nổi tiếng còn được thể hiện qua các tiêu
chí quy định tại Điều 75, Luật sở hữu trí tuệ hiện hành và các tiêu chí này sẽ được làm
rõ hơn ở chương sau.
2.2. Đặc điểm của nhãn hiệu nổi tiếng
Qua định nghĩa đã được nên như trên, nhãn hiệu nổi tiếng có điểm khác biệt so
với các nhãn hiệu thông thường và sự khác biệt đó được thể hiện thông qua những đặc
điểm cơ bản của nhãn hiệu nổi tiếng. Những đặc điểm đó bao gồm:
Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi hay nói
cách khác khi nhắc đến một loại hàng hóa dịch vụ nào đó người ta sẽ nghĩ ngay đến
nhãn hiệu này.
Nhãn hiệu nổi tiếng là sự kết tinh của nhiều yếu tố trong suốt quá trình kinh
doanh, phát triển sản phẩm dịch vụ lâu dài. Những yếu tố đó có thể là uy tín , chất
lượng sản phẩm, cung cách phục vụ,....
15
Nhãn hiệu nổi tiếng là một ưu thế kinh doanh của chủ sở hữu nhãn hiệu. Vì khi
được khách hàng biết đến một cách rộng rãi, được khách hàng tin tưởng thì công ty đã
có một lợi thế cạnh tranh rất lớn đối với những nhãn hiệu cùng loại.
Nhãn hiệu nổi tiếng là một tài sản vô hình và có giá trị rất lớn đối với doanh
nghiệp.
2.3. Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
2.3.1. Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
Trước hết, bảo hộ là khái niệm dùng để chỉ hoạt động của Nhà nước trong việc
xác lập và bảo vệ các quan hệ xã hội phát sinh.
Theo quy định tại Phụ lục Điều 3, Điều 4 của Hiệp định TRIPs, “thuật ngữ bảo
hộ phải bao gồm các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng đạt được, phạm vi, việc duy trì
hiệu lực và việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến
việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ…”
Như vậy, là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng là
một bộ phận của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung. Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
không chỉ giới hạn ở việc xác lập quyền mà còn bao gồm cả việc thực thi quyền đó
trên thực tế, cụ thể là việc áp dụng những biện pháp theo quy định của pháp luật nhẳm
bảo vệ quyền sở hữu của chủ nhãn hiệu đồng thời ngăn chặn, xử lí những hành vi sử
dụng, khai thác trái phép nhãn hiệu nổi tiếng đó.
2.3.2. Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng
Theo quy định tại Điều 75, Luật sở hữu trí tuệ, thì các tiêu chí được xem xét để
đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng bao gồm:
-
Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua
bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo.
16
Về yếu tố này và cả định nghĩa về nhãn hiệu nổi tiếng có ý nghĩa là: Nhãn hiệu
hàng hóa nổi tiếng phải có danh tiếng trong một bộ phận công chúng nhất định. “Bộ
phận công chúng” được hiểu là những người có liên quan đến loại nhãn hiệu hàng hóa
đó, những khách hàng tiềm năng11.
Ví dụ, khi nói đến xe HONDA, nhiều người chỉ có trình độ hiểu biết trung bình
cũng có thể biết được đó là xe mô tô của Nhật Bản, chất lượng tốt, bền bỉ, kiểu dáng
đẹp.
-
Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành.
Về yếu tố phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành: Đây
là tiêu chí xác định yếu tố không gian mà nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng. Nhãn hiệu hàng
hóa nổi tiếng không những được sử dụng tại các nước đăng ký bảo hộ lần đầu tiên mà còn
được sử dụng rộng rãi ở khu vực và trên toàn thế giới. Mặt khác, nhãn hiệu hàng hóa đó phải
được sử dụng lâu dài kể từ thời điểm đăng ký bảo hộ lần đầu tiên hoặc được sử dụng lần đầu
tiên. Hai yếu tố không gian và thời gian tỉ lệ thuận với mức độ nổi tiếng của một nhãn hiệu
hàng hóa. Chính phạm vi sử dụng rộng rãi và sự tồn tại, phát triển lâu dài của nhãn hiệu hàng
hóa tạo nên uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu hàng hóa; ngược lại, nhãn hiệu hàng hóa càng
nổi tiếng thì càng nhiều người biết đến, sử dụng, công nhận nó. Song quy định này lại mang
tính chung chung mà không cụ thể phạm vi sử dụng như thế nào là đủ rộng và đủ để được xác
định rằng nó phổ biến với người tiêu dùng.
-
Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số
lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp.
-
Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu.
Có rất nhiều nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng có thời hạn sử dụng liên tục trong nhiều
năm, được nhiều người tiêu dùng biết đến. Ví dụ như COCACOLA cho sản phẩm đồ
uống có gas đã tồn tại hàng trăm năm. Song quy định này mang hướng mở mặc dù có
tính định lượng về thời gian sử dụng liên tục song thời gian sử dụng như thế nào là
liên tục? Là 10 năm, 20 năm, 50 năm hay 100 năm? Hiện nay vẫn không có văn bản
11
17
quy phạm pháp luật nào hướng dẫn cho vấn đề này và đây vẫn là một vấn đề còn bỏ
ngỏ.
-
Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu
Thông qua các tiêu chí như chất lượng, mùi vị, giá thành,...nhiều người biết đến
hàng hóa đó và tín nhiệm không chỉ ở quốc gia đăng ký nhãn hiệu mà còn trên phạm
vi khu vực hoặc trên thế giới.
- Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu.
- Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng.
- Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn
hiệu.
Nhìn nhận một cách tổng quan thì pháp luật Việt Nam vẫn đưa ra được những tiêu
chí để đánh giá thế nào là một nhãn hiệu nổi tiếng, song các tiêu chí này không cụ thể
rõ ràng khi chỉ mang hướng mở và không đưa ra một mức cụ thể nào để đánh giá được
mức độ nổi tiếng, phổ biến rộng rãi của nhãn hiệu để từ đó có thể kết luận được rằng
nhãn hiệu này có nổi tiếng hay không. Đơn cử như tiêu chí Số lượng quốc gia bảo hộ
nhãn hiệu và tiêu chí Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng vậy bao
nhiêu quốc gia bảo hộ và bao nhiêu quốc gia công nhận nhãn hiệu là nhãn hiệu nổi
tiếng thì nhãn hiệu này mới được xem xét là nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Việt
Nam? Đối với các quốc gia theo hệ thống pháp Anh Mỹ thì những quy định này
thường được áp dụng dựa vào án lệ. Việt Nam gần đây đã công nhận những án lệ đầu
tiên song những án lệ này vẫn chưa điều chỉnh những vấn đề quyền sở hữu trí tuệ nối
chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng nên trong thực tiễn để dựa vào những
tiêu chí này mà xem xét một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không sẽ là một việc khó
khăn.
18
2.3.3. Căn cứ xác lập quyền và bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
Vấn đề xác lập quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại Khoản 2,
Điều 6 của Nghị định 103/2006/NĐ - CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
SHTT về sở hữu công nghiệp (đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 122/2010/NĐ CP), theo quy định tại điều này thì quyền sở hữu công nghiệp của một nhãn hiệu nổi
tiếng được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó theo quy định tại
Điều 75 Luật sở hữu trí tuệ hay cụ thể hơn sẽ là xem xét các tiêu chí mà bài viết đã
phân tích và đề cập ở mục trên. Đây cũng là điểm khác nhau cơ bản giữa căn cứ xác
lập quyền sở hữu công nghiệp giữa nhãn hiệu thông thường và nhãn hiệu nổi tiếng là
bởi nhãn hiệu thông thường để xác lập quyền cần phải nộp đơn đăng ký đến cơ quan
quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp để cơ quan này cấp Văn bằng bảo hộ cho
nhãn hiệu, đối với nhãn hiệu nổi tiếng lại được bảo hộ một cách tự động mà không
thông qua đăng ký. Song đó là tinh thần của pháp luật và cũng không có nghĩa là chủ
sở hữu không được đăng ký và không nên đi đăng ký, bởi lẽ cơ chế bảo hộ tự động
này gây khó khăn cho chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng một khi có sự tranh chấp xảy ra,
khó khăn ở việc chứng minh nhãn hiệu của mình là một nhãn hiệu nổi tiếng khi căn cứ
theo những tiêu chí đã được phân tích tại Điều 75. Trên thực tế dù là nhãn hiệu của
mình có nổi tiếng hay không chủ sở hữu vẫn đi đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của mình để
giảm bớt rủi ro khi có tranh chấp xảy ra. Đó chỉ là việc bảo hộ nhãn hiệu thông
thường, vấn đề được đặt ra là bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam là như thế nào?
Cụ thể của việc bảo hộ là theo như điểm 42.2, Điều 42, Thông tư 01/2007/TT BKHCN thì quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ và thuộc về chủ sở hữu
nhãn hiệu đó mà không cần thủ tục đăng ký mà đổi lại sẽ được ghi nhận vào Danh mục
nhãn hiệu nổi tiếng được lưu giữ tại Cục Sở hữu trí tuệ.
Và để chứng minh quyền sở hữu của mình đối với nhãn hiệu và chứng minh nhãn
hiệu của mình là nhãn hiệu nổi tiếng thì cần phải có các tài liệu theo quy định tại điểm
Điểm a, Điều 35 Thông tư 16/2016/TT - BKHCN bao gồm: các thông tin về phạm
vi, quy mô, mức độ, tính liên tục của việc sử dụng nhãn hiệu, trong đó có thuyết minh
về nguồn gốc, lịch sử, thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; số lượng quốc gia nhãn
hiệu đã được đăng ký hoặc được thừa nhận là nhãn hiệu nổi tiếng; danh mục các loại
19
hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu; phạm vi lãnh thổ mà nhãn hiệu được lưu hành,
doanh số bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ; số lượng hàng hóa, dịch vụ mang
nhãn hiệu đã được sản xuất, tiêu thụ; giá trị tài sản của nhãn hiệu, giá chuyển
nhượng hoặc chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu; đầu
tư, chi phí cho quảng cáo, tiếp thị nhãn hiệu, kể cả cho việc tham gia các cuộc triển
lãm quốc gia và quốc tế; các vụ việc xâm phạm, tranh chấp và các quyết định, phán
quyết của tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền; số liệu khảo sát người tiêu dùng biết
đến nhãn hiệu thông qua mua bán, sử dụng và quảng cáo, tiếp thị; xếp hạng, đánh giá
uy tín nhãn hiệu của tổ chức quốc gia, quốc tế, phương tiện thông tin đại chúng; giải
thưởng, huy chương mà nhãn hiệu đã đạt được; kết quả giám định của tổ chức giám
định về sở hữu trí tuệ.
Theo đó hai cơ quan có thẩm quyền công nhận nhãn hiệu nổi tiếng là Tòa án và
Cục sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, khi một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi
tiếng dẫn đến quyết định xử lý xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng đó theo
quy định tại điểm d khoản 1 Điều 129 của Luật Sở hữu trí tuệ hoặc dẫn đến quyết
định không bảo hộ nhãn hiệu khác theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 74 của
Luật Sở hữu trí tuệ thì nhãn hiệu nổi tiếng đó sẽ được ghi nhận vào Danh mục nhãn
hiệu nổi tiếng được lưu giữ tại Cục Sở hữu trí tuệ để làm thông tin tham khảo phục vụ
công tác xác lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 12. Song thực tiễn của việc bảo hộ nhãn
hiệu này như thế nào sẽ được trình bày cụ thể hơn ở Chương III.
2.3.4. Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
Nghị định số 06/2001/NĐ - CP ngày 01 tháng 02 năm 2001 của Chính phủ quy
định13: “Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ vô thời
12 Điểm b, Điều 35, Thông tư 16/2016/TT- BKHCN, sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 01/2007/ttbkhcn ngày 14 tháng 02 năm 2007 hướng dẫn thi hành nghị định số 103/2006/nđ-cp ngày 22 tháng 9 năm 2006
của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp,
được sửa đổi, bổ sung theo thông tư số 13/2010/tt-bkhcn ngày 30 tháng 7 năm 2010, thông tư số 18/2011/ttbkhcn ngày 22 tháng 7 năm 2011 và thông tư số 05/2013/tt-bkhcn ngày 20 tháng 02 năm 2013
13 Khoản 1, Điều 7, Nghị định 06/2001/NĐ-CP, của chính phủ số 06/2001/nđ-cp ngày 01 tháng 02 năm 2001
sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 63/cp ngày 24 tháng 10 năm 1996 của chính phủ quy định chi tiết
về sở hữu công nghiệp.
20
hạn tính từ ngày nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng ghi trong Quyết định công
nhận nhãn hiệu nổi tiếng”
Từ năm 2001, pháp luật sở hữu trí tuệ đã quy định quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ vô thời hạn tính từ ngày nhãn hiệu được công
nhận là nổi tiếng (tức là việc bảo hộ cho nhãn hiệu nổi tiếng sẽ liên tục cho tới khi
nhãn hiệu đó không được coi là nổi tiếng nữa). Nhưng hiện nay, pháp luật hiện hành
lại không có bất cứ một quy định nào về thời hạn bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Song
nếu chủ sở hữu đăng ký bảo hộ cho nhãn hiệu nổi tiếng của mình chỉ với tư cách là
nhãn hiệu thì hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký này (thời hạn bảo hộ nhãn hiệu)
sẽ là 10 năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn thêm nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10
năm.
21
CHƯƠNG III. THỰC TRẠNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
3.1. Thực trạng
Thứ nhất, các quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam còn thiếu sự
đồng bộ, nhiều quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn trong việc thực
hiện và áp dụng. Chẳng hạn như, khoản 20 điều 4 của Luật SHTT quy định: “20.
Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn
lãnh thổ Việt Nam." Tuy nhiên, tại Điều 75 của Luật SHTT lại đưa ra các tiêu chuẩn
đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng, trong đó có quy định tại Khoản 7, Điều 75 rằng ‘’Số
lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng,” , tức là nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt
Nam phải là nhãn hiệu được công nhận nổi tiếng trên nhiều quốc gia và đáp ứng được
điều kiện được phổ biến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, giữa hai quy phạm
này có sự không thống nhất về tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng. Điều này đã gây
khó khăn cho cơ quan chức năng khi xác định nhãn hiệu nổi tiếng và quyền của chủ sỡ
hữu các nhãn hiệu nổi tiếng cũng khó có thể được bảo vệ.
Thứ hai, một điều cần nhìn nhận đối với các quy định của pháp luật về nhãn hiệu
nổi tiếng và bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng đó là pháp luật sở hữu trí tuệ đã đưa ra được
định nghĩa và các tiêu chí để xác định đâu là một nhãn hiệu nổi tiếng cùng với cơ chế
bảo hộ tự động dành cho nhãn hiệu nổi tiếng điều này phù hợp với các hiệp định và
điều ước mà nước ta đã ký kết. Song cơ chế bảo hộ dành cho nhãn hiệu nổi tiếng lại là
cơ chế bảo hộ tự động khi các văn bản hướng dẫn cho vấn đề này lại quy định là
quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ và thuộc về chủ sở hữu nhãn hiệu đó
mà không cần thủ tục đăng ký, vì vậy để bảo hộ cho nhãn hiệu nổi tiếng thì không
phải đi đăng ký bảo hộ như nhãn hiệu thông thường mà là được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền công nhận. Một câu hỏi đặt ra là liệu rằng khi một nhãn hiệu đã đáp ứng
đầy đủ các tiêu chí để được công nhận là một nhãn hiệu nổi tiếng thì chủ sở hữu có thể
gửi những văn bản tài liệu chứng minh việc đó đến Cục sở hữu trí tuệ và yêu cầu Cục
công nhận nhãn hiệu của mình là nhãn hiệu nổi tiếng hay không? Pháp luật sở hữu trí
tuệ chỉ quy định thế nào là một nhãn hiệu nổi tiếng, các tiêu chí đánh giá nó, cơ chế
22
bảo hộ tự động và việc xác lập quyền song sự việc hay sự kiện nào để xác lập quyền
hay làm thế nào để công nhận một nhãn hiệu là nổi tiếng thì không được quy định rõ,
điều này gây ra trở ngại không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho cơ quan quản lý nhà
nước. Thực tế thì nhiều doanh nghiệp phản ánh rằng mặc dù đã đáp ứng đủ các tiêu
chí và cũng rất mong muốn nhãn hiệu của mình sẽ được công nhận là nhãn hiệu nổi
tiếng nhưng đến nay, doanh nghiệp vẫn chưa được công nhận. Theo như Tiến sĩ Lê
Nam Giang thì “Do những vướng mắc từ quy định pháp luật như trong Luật Sở hữu trí
tuệ hiện hành chưa có những quy định cụ thể về việc những chủ thể như Vinamilk
được chủ động nộp đơn xin công nhận nhãn hiệu nổi tiếng. Và nếu đơn vị này có yêu
cầu được công nhận nhãn hiệu nổi tiếng thì bản thân Cục Sở hữu trí tuệ cũng sẽ lúng
túng vì Luật không có một quy trình cụ thể nào để xem xét nhãn hiệu nổi tiếng”14.
Thực tế thì không phải là doanh nghiệp chủ động gửi yêu cầu công nhận đến Cục
sở hữu trí tuệ thì sẽ được công nhận và nhãn hiệu được ghi nhận vào Danh mục nhãn
hiệu nổi tiếng. Cục sở hữu trí tuệ hay Tòa án sẽ xem xét và công nhận một nhãn hiệu
nổi tiếng theo yêu cầu của người yêu cầu theo từng vụ việc cụ thể, chẳng hạn như:
Khi một cá nhân, tổ chức (chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng) yêu cầu hủy bỏ hiệu
lực của một văn bằng bảo hộ (theo khoản 1, khoản 3, Điều 96, Luật sở hữu trí tuệ)
một nhãn hiệu của một cá nhân hay tổ chức khác vì họ căn cứ cho rằng tổ chức hay cá
nhân này sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn đến nhãn hiệu nổi
tiếng của họ (Khoản 2, Điều 74, Luật sở hữu trí tuệ), và để chứng minh cho điều
này tổ chức hay cá nhân sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng phải chứng minh được nhãn hiệu
của mình là nhãn hiệu nổi tiếng thông qua các tài liệu, chứng cứ được quy định tại
Điểm a, Điều 35, Thông tư số 16/2016/TT - BKHCN, cơ quan có thẩm quyền xem
xét nếu như họ quyết định hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu của bên bị yêu
cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng thì đương nhiên nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu nổi
tiếng thì nhãn hiệu của họ được công nhận là nổi tiếng (điểm b, Điều 35, Thông tư số
16/2016/TT - BKHCN).
14 2017, Việt Nam chưa có nhãn hiệu nào được công nhận nổi tiếng, được lấy về từ:
ngày truy cập: 20/3/2018.
23
Tổ chức, cá nhân (chủ sở hữu một nhãn hiệu nổi tiếng) bị xâm phạm quyền khi có
một cá nhân hay tổ chức xâm phạm quyền của họ theo quy định tại điểm d, khoản 1,
Điều 129 thì cá nhân nay phải chứng minh là nhãn hiệu của họ là nhãn hiệu nổi tiếng
khi yêu cầu xử lý vi phạm quyền.
Thứ ba, theo quy định của pháp luật hiện nay, nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ tại
Việt Nam không cần qua đăng kí, tính nổi tiếng của nhãn hiệu chủ yếu phụ thuộc vào
quá trình tự chứng minh của các chủ thể và khi xảy ra tranh chấp, hoạt động công
nhận và bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng mới được thực hiện. Quy định này khiến công tác
chứng minh nhãn hiệu nổi tiếng mất nhiều thời gian, tiền của, gây nhiều khó khăn, từ
đó kéo theo quyền lợi của chủ sở hữu những nhãn hiệu này bị xâm hại sẽ không được
bảo vệ một cách kịp thời.
Thứ tư, ngoài những bất cập nêu trên, một trong những hạn chế trong quá trình
bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng chính là thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến
nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam. Theo thực tế áp dụng pháp luật, cơ quan giải quyết
tranh chấp là Tòa án, trong khi cơ quan công nhận và xem xét nhãn hiệu nổi tiếng lại
là Cục SHTT, đồng thời hai cơ quan này còn chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, khiến
quá trình chứng minh nhãn hiệu và giải quyết các vụ tranh chấp kéo dài, phức tạp,
không hiệu quả, làm giảm mức độ bảo hộ đối với quyền sở hữu trí tuệ nói chung và
với nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng.
3.2. Những giải pháp kiến nghị
Thứ nhất, cần có quy định hướng dẫn áp dụng thống nhất quy định tại khoản 20
Điều 4 và Điều 75 của Luật SHTT 2005. Chúng ta nên chia mức độ nổi tiếng của các
nhãn hiệu thành các cấp độ khác nhau và tương ứng với đó thì sẽ có những biện pháp,
cấp độ bảo hộ khác nhau được áp dụng. Bởi vì trong thực tế, thường thì những nhãn
hiệu vô cùng nổi tiếng như Cocacola, Microsolf, Sony,…thì đã đáp ứng đầy đủ các
tiêu chí tại Điều 75 Luật SHTT và được công nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Tuy
nhiên có những nhãn hiệu chỉ đáp ứng được một vài trong số đó những tiêu chí đó
nhưng cũng là nổi tiếng ở nhiều quốc gia mặc dù không phải cả thế giới đều biết đến
24
nó. Khi phân ra các cấp độ khác nhau sẽ đảm bảo khả năng áp dụng của các quy định
pháp luật đã được ban hành và tạo sự công bằng cho các nhãn hiệu. Một vấn đề nữa là
cần xác định các tiêu chí thế nào là nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia, thế nào là nhãn hiệu
nổi tiếng thế giới và cấp độ bảo hộ ra sao. Như vậy sẽ đảm bảo quyền lợi cho các chủ
thể một cách toàn diện hơn, bởi các nhãn hiệu được biết đến rộng rãi ở Việt Nam
nhưng lại chưa đáp ứng đủ các tiêu chí để được đánh giá là nhãn hiệu nổi tiếng thế
giới, nên khi xảy ra tranh chấp quyền lợi sẽ được bảo hộ ở cấp độ khác mà không phải
là nhãn hiệu nổi tiếng.
Thứ hai, để tránh tranh chấp phát sinh khi cùng một nhãn hiệu mà quốc gia này
công nhận là nổi tiếng, còn quốc gia khác lại không, nên lập danh mục các nhãn hiệu
nổi tiếng và được bổ sung hàng năm như một số nước trên thế giới đã vận dụng. Thủ
tục lập các danh mục này có thể là do các chủ sở hữu đăng kí tại Cục SHTT hoặc giao
cho các Hiệp hội về công thương nghiệp, dịch vụ thành lập ban thẩm định. Hơn nữa
danh mục các nhãn hiệu nổi tiếng cũng là một văn bản cần thiết mà Việt Nam nên xem
xét ban hành để tiện quản lí và tránh tình trạng đã cấp văn bằng bảo hộ cho các nhãn
hiệu vi phạm rồi mới phát hiện ra nó gây nhầm lẫn với nhẫn hiệu nổi tiếng. Mặt khác,
danh sách này cần được thừa nhận trong nội bộ các quốc gia thành viên như WTO hay
Công ước Paris.
Thứ ba, pháp luật Việt Nam nên quy định một thủ tục công nhận nhãn hiệu nổi
tiếng, tạo điều kiện cho các chủ thể chủ động yêu cầu công nhận nhãn hiệu của mình
là nhãn hiệu nổi tiếng khi đủ các tiêu chí theo quy định và ghi nhận các nhãn hiệu nổi
tiếng này vào một Danh mục nhãn hiệu nổi tiếng (pháp luật có quy định song thực
tiễn là chưa có Danh mục này). Điều này nhằm tạo cơ sở pháp lí để chủ thể có thể hạn
chế được nguy cơ xâm phạm đối với nhãn hiệu của mình, tránh tình trạng bị xâm
phạm rồi mới xử lí. Mặt khác, để được công nhận, chủ thể đăng kí có nghĩa vụ chứng
minh nhãn hiệu của mình đáp ứng các tiêu chí của nhãn hiệu nổi tiếng, còn cơ quan
đăng kí chỉ việc thẩm định hồ sơ. Và khi phát sinh tranh chấp, các cán bộ Tòa án chỉ
cần dựa vào hồ sơ sẵn có của Cục SHTT để xác định nhãn hiệu đó thuộc đối tượng
nào, người bị xâm phạm cũng không tốn thời gian, công sức, tiền của để chứng minh
nhãn hiệu của mình có được bảo hộ theo cơ chế nhãn hiệu nổi tiếng hay không. Khi
25