LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
các thầy cô giảng viên tại Khoa Hành chính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
đã chỉ dạy cho em những kiến thức, kinh nghiệm quan trọng cần có để hoàn
thành bài khóa luận này. Đặc biệt là ThS. Tô Trọng Mạnh – giảng viên khoa
Hành chính học đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian nghiên cứu hoàn
thành bài khóa luận.
Bên cạnh đó, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán
bộ, công chức UBND quận Tây Hồ đã giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu, thu
thập thông tin cho đề tài.
Tuy nhiên do trình độ hiểu biết còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có
giới hạn nên bài khóa luận của em không thể tránh được những thiếu sót khi tìm
hiểu về công tác quản lý nhà nước về hộ tịch của UBND quận Tây Hồ, thành
phố Hà Nội, rất mong được sự đóng góp của quý thầy cô để bài khóa luận tốt
nghiệp được hoàn thiện hơn.
Em xin chân trọng cảm ơn !
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nghĩa của từ viết tắt
1
HĐND
Hội đồng nhân dân
2
QLHT
Quản lý hộ tịch
3
QLNN
Quản lý nhà nước
4
UBND
Uỷ ban nhân dân
2
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xét từ phương diện quản lý, quản lý nhà nước về hộ tịch có vị trí là
trung tâm của hoạt động quản lý dân cư. Đây là một lĩnh vực quan trọng của
nền hành chính mà mọi quốc gia đương đại, không phân biệt chế độ chính trị,
trình độ phát triển, đều phải quan tâm. Sự vững mạnh của một quốc gia liên
quan mật thiết với hiệu quả của hoạt động quản lý dân cư nói chung và quản
lý hộ tịch nói riêng. Có thể khẳng định rằng, các vấn đề pháp lý về quản lý hộ
tịch có tầm quan trọng tương tự như các vấn đề pháp lý về quốc tịch, về biên
giới quốc gia, về tổ chức bộ máy nhà nước…
Ở nước ta hiện nay, công tác quản lý nhà nước về hộ tịch đã được các
cấp chính quyền quan tâm tổ chức thực hiện tốt, quản lý hộ tịch đã dần đi vào
nề nếp, đạt được những kết quả nhất định: số trẻ em được đăng ký khai sinh
đạt tỷ lệ cao, đăng ký kết hôn đúng quy định….
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được quản lý hộ tịch còn có
nhiều hạn chế như: thủ tục quản lý hộ tịch chưa khoa học, chưa phù hợp thực
tế, trình độ, năng lực của đội ngũ công chức làm công tác quản lý hộ tịch chưa
đáp ứng được yêu cầu; việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hộ tịch chưa
được quan tâm đúng mức…. Những hạn chế này đã làm giảm đi hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch.
Là một quận của thành phố Hà Nội, trong những năm qua, UBND quận
Tây Hồ đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa
bàn quận.Với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp uỷ, các cấp chính quyền, quản
lý nhà nước về hộ tịch ở UBND quận Tây Hồ từng bước được thực hiện
nghiêm túc đầy đủ, chính xác. Song cũng như nhiều địa phương khác, công
tác quản lý nhà nước về hộ tịch ở UBND quận Tây Hồ cũng còn nhiều hạn
chế như đã nêu ở trên.
3
Vì vậy, qua những kiến thức đã học và nhận thức được công tác quản lý
nhà nước về hộ tịch tại UBND quận Tây Hồ vẫn còn bộc lộ những hạn chế,
trên cơ sở đó nhằm đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện hơn nữa hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn quận Tây Hồ em lựa
chọn đề tài “Quản lý nhà nước về hộ tịch tại UBND quận Tây Hồ, thực
trạng và giải pháp” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều bài nghiên cứu đề cập đến hộ tịch và các chính sách thực
hiện hộ tịch, trong thời gian qua như:
- Luận văn thạc sỹ ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật của
tác giả Bùi Thị Tư bảo vệ năm 2014 với đề tài “Quản lý hộ tịch - qua thực
tiễn Hải Phòng”. Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hộ tịch ở
Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay (những yếu tố tác động, hệ thống văn bản,
tổ chức bộ máy... những kết quả đạt được trong quá trình quản lý và đăng ký
hộ tịch, những hạn chế và nguyên nhân của sự hạn chế đó....). Đề xuất hệ
thống giải pháp có tính khả thi để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý hộ tịch
ở Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.
- Giáo trình “Quy định mới về đăng ký và quản lý hộ tịch”, NXB.
Chính trị quốc gia, 2006; tác giả đã nêu và phân tích các quy định mới trong
công tác đăng ký và quản lý hộ tịch căn cứ theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP.
- Biên soạn: Nguyễn Quốc Cường, Lương Thị Lanh, Trần Thị Thu
Hằng…: Hướng dẫn đăng ký và quản lý hộ tịch, NXB Tư pháp, 2006; tác giả
đã nêu lên thủ tục và các bước cần thiết khi đăng ký hộ tịch như đăng ký khai
sinh, kết hôn, khai tử, thủ tục nhận con nuôi,… trong công tác quản lý hộ tịch.
- Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch, NXB Tư pháp, 2007; tác giả hướng dẫn
nghiệp vụ thực hiện các thủ tục đăng ký hộ tịch như đăng ký khai sinh, khai
tử, kết hôn, nhận cha mẹ con, nhận con nuôi, giảm hộ…
4
- Phạm Hồng Hoàn: Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã, huyện Đan
Phượng, Luận văn thạc sĩ hành chính công, 2011; tác giả phân tích thực trạng
quản lý nhà nước về hộ tịch và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước về hộ tịch ở huyện Đan Phượng;
- Phạm Trọng Cường: Quản lý nhà nước về hộ tịch - Lý luận, thực
trạng và phương hướng đổi mới, Luận văn thạc sĩ luật, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2003; tác giả tiến hành khảo sát thực trạng việc quản lý hộ
tịch ở Việt Nam trong thời gian qua và nêu những ưu nhược điểm của công
việc này đồng thời đưa ra một số quan điểm, phương hướng đổi mới nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch.
Và nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác nhau nữa ở những
phương diện và cấp độ khác nhau về quản lý nhà nước về hộ tịch. Nhìn chung
các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu, phân tích toàn diện những
vấn đề liên quan đến công tác đăng ký và quản lý nhà nước về hộ tịch từ lý
luận đến thực tiễn và đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả của công tác
đăng ký và quản lý nhà nước về hộ tịch. Trong bài khóa luận, em đã khai thác
và kế thừa có chọn lọc những đóng góp đó. Tuy nhiên, trong bối cảnh Luật hộ
tịch 2014 có hiệu lực thì các công trình nghiên cứu trên chưa có tính thời sự.
Cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp về quản lý
nhà nước về hộ tịch ở quận Tây Hồ ở thời điểm hiện tại. Đây là lý do thứ hai
để đề tài này được lựa chọn nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của em trình bày, đánh giá thực trạng công tác
quản lý nhà nước về hộ tịch tại Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ, qua đó đề ra
những giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hộ tịch
tại UBND quận Tây Hồ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
5
Để đạt được mục tiêu trên, bài khóa luận thực hiện các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
+ Khái quát một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về hộ tịch;
+ Phân tích, đánh giá công tác quản lý nhà nước về hộ tịch tại UBND
quận Tây Hồ;
+ Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện công
tác quản lý nhà nước về hộ tịch tại UBND quận Tây Hồ.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước về hộ tịch tại Ủy ban nhân
dân quận Tây Hồ.
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: Công tác quản lý nhà nước về hộ tịch tại Ủy
ban nhân dân quận Tây Hồ.
Phạm vi về không gian: Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà
Nội.
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về hộ
tịch tại Uỷ ban nhân dân quận Tây Hồ từ năm 2015 - 2017.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu và hoàn thành bài khóa luận em đã sử dụng các
phương pháp sau:
- Phương pháp luận: Vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ
nghĩa duy vật biện chứng làm phương pháp luận.
- Các phương pháp cụ thể:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đề tài đã sử dụng phương pháp
này để phân loại, lựa chọn, khái quát, so sánh thông tin từ tài liệu, tìm ra
những nội dung, những vấn đề có liên quan đến quản lý nhà nước về hộ tịch.
+ Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đề tài đã sử dụng phương pháp
6
này để phân tích các tài liệu về quản lý nhà nước về hộ tịch để tìm ra những
bộ phận, những mối quan hệ theo lịch sử thời gian để phát hiện và khai thác
các khía cạnh khác nhau từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho
đề tài nghiên cứu.
+ Phương pháp thống kê: Đề tài đã sử dụng phương pháp này để thu
thập số liệu, dữ liệu về quản lý nhà nước về hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân quận
Tây Hồ từ năm 2015-2017.
+ Phương pháp phỏng vấn: Đề tài đã sử dụng phương pháp này để
thực hiện phỏng vấn cán bộ, công chức của Uỷ ban nhân dân quận Tây Hồ về
công tác quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn quận.
Đối tượng phỏng vấn: Công chức phòng Tư pháp-Hộ tịch
Nội dung phỏng vấn: Công tác quản lý nhà nước về hộ tịch, thuận lợi
và khó khăn trong thực tiễn.
+ Phương pháp so sánh: Đề tài đã sử dụng phương pháp này để so
sánh, đối chiếu công tác quản lý nhà nước về hộ tịch của Uỷ ban nhân dân
quận Tây Hồ qua các năm.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì bài
khóa luận gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về hộ tịch tại Uỷ ban
nhân dân cấp huyện.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân
quận Tây Hồ.
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản
lý nhà nước về hộ tịch tại Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ.
7
B. NỘI DUNG
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TẠI ỦY BAN
NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1. Một số khái niệm cơ bản về hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ
tịch
1.1.1. Hộ tịch
Về khía cạnh ngôn ngữ: Hộ: dân cư; tịch: sổ sách.
Nhưng có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hộ tịch:
-“ Hộ tịch: quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi
người trong một địa phương.
- Hộ tịch: sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã
phường.
- Hộ tịch: sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của
từng người.
- Hộ tịch: quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và
tịch quán của từng người.
- Hộ tịch: quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại
nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do
chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần”. [8;tr25]
Về khía cạnh pháp lý
- Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật hộ tịch,
xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết.
“Điều 3. Nội dung đăng ký hộ tịch
1. Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch:
a) Khai sinh;
b) Kết hôn;
8
c) Giám hộ;
d) Nhận cha, mẹ, con;
đ) Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch;
e) Khai tử.
2. Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án,
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
a) Thay đổi quốc tịch;
b) Xác định cha, mẹ, con;
c) Xác định lại giới tính;
d) Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi;
đ) Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn;
e) Công nhận giám hộ;
g) Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất
hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
3. Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết
hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay
đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài.
4. Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy
định của pháp luật”.
Đặc điểm:
+ Là những sự kiện quan trọng trong cuộc sống của mỗi cá nhân;
+ Là những sự kiện có nghĩa xác định những đặc điểm riêng biệt về
tình trạng dân sự của mỗi cá nhân;
+ Các sự kiện hộ tịch gắn liền với sự ra đời, quá trình tồn tại và mất đi
của mỗi con người, gắn liền với quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân.
1.1.2. Đăng ký hộ tịch
9
Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc
ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà
nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân
cư.
1.1.3. Quản lý nhà nước
Khi Nhà nước xuất hiện thì phần lớn (và là phần quan trọng) các công
việc của xã hội do nhà nước quản lý. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt
động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm thực hiện các
chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước. Nói cách khác, quản lý hành
chính nhà nước là hoạt động chấp hành Hiến pháp, luật và tổ chức đời sống xã
hội theo Hiến pháp, luật của các chủ thể có thẩm quyền (mà phần lớn là do cơ
quan hành chính nhà nước thực hiện).
Quản lý là một hoạt động phức tạp và có nhiều chức năng. Quản lý ở
góc độ quản lý học là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý nhằm hướng hành vi của đối tượng đạt mục tiêu đã
định trước.
Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy. Có tổ chức thì mới
phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những
người tham gia hoạt động. Có quyền uy thì mới đảm bảo sự phục tùng của cá
nhân đối với tổ chức, quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý
điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lý thực hiện các
yêu cầu, mệnh lệnh của mình.
Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội. Chính vì nó là dạng quản lý
xã hội nên nó có đặc trưng của quản lý xã hội.
1.1.4. Quản lý nhà nước về hộ tịch
Quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính
quyền các cấp nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở
10
đó bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình.
Quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động quản lý con người, hoạt
động quản lý hộ tịch hướng đến đối tượng quản lý là các đặc điểm nhân thân
làm nên căn cước của mỗi cá nhân.
Quản lý nhà nước đối với hộ tịch ở nước ta có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, quản lý hành chính nhà nước đối với hộ tịch là hoạt động
mang quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước đối với hộ tịch
trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước
thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt
quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hộ tịch.
Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hộ tịch thể hiện ý chí của
mình dưới dạng các hoạt động áp dụng pháp luật; dưới dạng các mệnh lệnh cá
biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa
vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo
trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng
những thông tin hướng dẫn người dân để thực hiện việc đăng ký hộ tịch thông
qua hệ thống của bộ máy quản lý hộ tịch của Nhà nước.
Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có
thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí
nhà nước, như các biện pháp về tổ chức, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục,
hòa giải … Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét của
sức mạnh nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước , nhờ đó ý chí
của chủ thể quản lý hộ tịch được bảo đảm thực hiện.
Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là hoạt động được tiến
hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp là các công chức trong bộ
máy nhà nước
11
Chủ thể chủ yếu thực hiện quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là
các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (Chính phủ, Bộ, Ủy ban nhân dân,
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, đội ngũ công chức làm công tác
tư pháp- hộ tịch).
Thứ ba, quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là hoạt động có tính
thống nhất, được tổ chức chặt chẽ
Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hộ tịch, bộ máy các cơ quan
hộ tịch được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa
phương, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống
nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp
nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả nước, tránh được
sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau.
Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều
kiện kinh tế - xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa
phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy quản lý
hộ tịch còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự
chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương.
Thứ tư, hoạt động quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch có tính chấp
hành và điều hành
Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch
thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật
và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng
tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật,
điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động
thực tiễn…, trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật.
Tính điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện
trong việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống
12
xã hội. Trong quá trình đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp
luật mà quan trọng hơn cả chúng đảm nhận chức năng chi đạo nhằm vận hành
hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất;
tổ chức để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa
các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý.
Thứ năm, quản lý hành chính nhà nước đối với hộ tịch là hoạt động
mang tính liên tục
Quản lý nhà nước đối với hộ tịch luôn cần có tính liên tục, kịp thời và
linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội. Chính
điểm đặc thù này được coi là một cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy
định về tổ chức và hoạt động, quy chế công chức của bộ máy quản lý hộ tịch;
tạo ra bộ máy quản lý hộ tịch gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội
ngũ công chức quản lý hộ tịch năng động sáng tạo, quyết đoán và chịu sự ràng
buộc trách nhiệm đối với hoạt động của mình.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch
Nội dung QLNN về hộ tịch được xác định cụ thể trong hệ thống các
quy phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch hiện hành nhằm điều chỉnh
các quan hệ về hộ tịch phục vụ hoạt động QLNN.
Xét về khía cạnh pháp lý có thể thấy, hiện nay các quy phạm pháp
luật quy định cụ thể, chi tiết về quản lý hộ tịch không còn dừng lại ở mức
Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn do Bộ Tư pháp ban hành như
trước đây nữa mà vấn đề này đã được quy định trong văn bản Luật (Luật Hộ
tịch năm 2014) do Quốc hội ban hành. Như vậy, có thể thấy tính ổn định trong
pháp luật về QLHT đã cao hơn và sẽ ít bị sửa đổi, bổ sung hơn so với trước
đây.
Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch tập trung chủ yếu vào các hoạt
động:
13
- Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật về hộ tịch;
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch, định hướng về
hoạt động hộ tịch;
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch;
- Thực hiện đăng ký hộ tịch;
- Quản lý hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong
hoạt động hộ tịch;
- Đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ về hộ tịch;
- Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong hoạt động hộ tịch;
- Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho một số hoạt động
hộ tịch;
- Hợp tác quốc tế về hộ tịch;
- Thống kê nhà nước về hộ tịch;
- Tổng kết hoạt động hộ tịch; báo cáo cơ quan nhà nước cấp trên về
hoạt động hộ tịch.
1.3. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch
1.3.1. Trách nhiệm của Chính phủ
a) Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch. Bộ Tư pháp giúp
Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch.
b) Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch bao gồm:
- Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch; tổ chức triển khai thực hiện
pháp luật về hộ tịch;
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch; xây
dựng và quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử;
14
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp
luật về đăng ký và quản lý hộ tịch;
- Thống kê hộ tịch;
- Hợp tác quốc tế về hộ tịch.
1.3.2. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp
a) Quy định, hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về đăng ký,
quản lý hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch ở trong nước;
b) Ban hành, hướng dẫn sử dụng, quản lý Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh,
Giấy chứng nhận kết hôn, trích lục hộ tịch và các biểu mẫu hộ tịch khác; quy
định cụ thể điều kiện, trình tự đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử lưu động;
c) Xây dựng và quản lý thống nhất Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; hướng
dẫn, chỉ đạo địa phương trong việc quản lý, sử dụng phần mềm đăng ký và
quản lý hộ tịch, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, cung cấp thông tin hộ tịch cơ
bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư;
d) Hằng năm tổng hợp tình hình, phân tích, đánh giá, thống kê hộ tịch
báo cáo Chính phủ.
1.3.3. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao
a) Quy định, hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra công tác đăng ký
và quản lý hộ tịch tại các Cơ quan đại diện;
b) Tổ chức việc bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho viên chức ngoại giao,
lãnh sự;
c) Lập Sổ hộ tịch để quản lý thông tin hộ tịch của công dân Việt Nam
đã đăng ký tại Cơ quan đại diện;
d) Cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích
lục hộ tịch theo quy định;
đ) Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch của Cơ quan đại diện gửi Bộ
Tư pháp theo quy định của Chính phủ.
15
Cơ quan đại diện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch của công dân
Việt Nam cư trú ở nước ngoài và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Thực hiện việc đăng ký hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở nước
ngoài theo quy định của pháp luật về hộ tịch, pháp luật về lãnh sự và điều ước
quốc tế liên quan;
b) Bố trí viên chức ngoại giao, lãnh sự thực hiện nhiệm vụ đăng ký và
quản lý hộ tịch tại Cơ quan đại diện;
c) Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch theo quy định;
d) Quản lý, cập nhật và khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp
bản sao trích lục hộ tịch theo quy định;
đ) Báo cáo Bộ Ngoại giao nội dung đăng ký hộ tịch để cập nhật vào Cơ
sở dữ liệu hộ tịch;
e) Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Bộ Ngoại giao theo
quy định;
g) Lưu giữ giấy tờ, đồ vật và chứng cứ khác liên quan đến đăng ký hộ
tịch;
h) Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về hộ tịch theo thẩm
quyền.
Viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch có trách nhiệm giúp
Cơ quan đại diện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại các điểm a,
c, d, đ, e và g khoản 2 Điều này.
1.3.4. Trách nhiệm của Bộ Công an
a) Bảo đảm kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu
hộ tịch điện tử theo quy định của pháp luật;
b) Bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện
tử;
c) Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến công tác hộ tịch.
16
1.3.5. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương
a) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi
là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa
phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện công tác đăng ký và quản
lý hộ tịch;
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch;
- Căn cứ quy định của Chính phủ, quyết định việc bố trí công chức làm
công tác hộ tịch ở cấp huyện, cấp xã; bảo đảm cơ sở vật chất để phục vụ hoạt
động đăng ký và quản lý hộ tịch;
- Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy
định;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp
luật về hộ tịch theo thẩm quyền;
- Thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp
trái quy định của Luật này, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật;
- Định kỳ tổ chức việc bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm
công tác hộ tịch;
- Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Bộ Tư pháp theo quy
định.
b) Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn quy định tại các điểm a, b, d, đ, g và h khoản 1 Điều này.
c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm về công tác
đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ
tịch do buông lỏng quản lý.
17
1.3.6. Trách nhiệm Ủy ban nhân dân cấp huyện trong quản lý nhà
nước về hộ tịch
Căn cứ Điều 70, Luật Hộ tịch năm 2014, trách nhiệm của Ủy ban nhân
dân cấp huyện trong quản lý nhà nước về hộ tịch được quy định như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại
địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật này;
- Chỉ đạo, kiểm tra việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân
cấp xã;
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về hộ tịch;
- Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định;
- Căn cứ quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bố trí công chức làm
công tác hộ tịch;
- Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản
sao trích lục hộ tịch theo quy định;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp
luật về hộ tịch theo thẩm quyền;
- Thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái
quy định của Luật này, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật;
- Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh theo quy định của Chính phủ;
- Lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch.
b) Phòng Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, d, e, g, i và k khoản 1 Điều này.
c) Đối với đơn vị hành chính cấp huyện không có đơn vị hành chính
cấp xã thì ngoài việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về đăng ký và quản lý hộ
tịch của Ủy ban nhân dân cấp huyện, còn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đăng
18
ký và quản lý hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại Điều 71
của Luật này.
d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm về công tác
đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ
tịch do buông lỏng quản lý.
1.3.7. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã
a) Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa
phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật này;
- Căn cứ quy định của Ủy ban nhân dân cấp trên, bố trí công chức tư
pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký hộ tịch;
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch;
- Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định;
- Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản
sao trích lục hộ tịch theo quy định;
- Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp
huyện theo quy định của Chính phủ;
- Lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về hộ tịch theo thẩm
quyền.
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc việc
khai sinh, khai tử; chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và
những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý.
Công chức tư pháp - hộ tịch giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều này.
1.4. Cơ sở pháp lý cho quản lý nhà nước về hộ tịch của Ủy ban
nhân dân cấp huyện
19
Ở nước ta, vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch được thực hiện từ rất sớm
(thời nhà Trần). Trải qua các thời kỳ phong kiến, thực dân, hộ tịch luôn gắn
với vấn đề quản lý con người bên cạnh vấn đề quản lý đất đai là hai vấn đề đã
từng được thực hiện một cách bài bản, có hệ thống. Sau Cách mạng tháng
Tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa tiếp tục duy trì và phát triển. Theo tinh thần Sắc lệnh số
47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thể lệ đăng ký hộ tịch
đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng ở Nam kỳ, Hoàng
Việt hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc kỳ tiếp tục được áp
dụng ở Việt Nam. Điều đó cho thấy công tác hộ tịch đóng vai trò quan trọng
và luôn được duy trì trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Trong công cuộc cải cách nền hành chính nói chung ở nước ta hiện nay
và ngành Tư pháp nói riêng được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm. Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ
trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ ra các nhiệm vụ cụ
thể trong các hoạt động bổ trợ tư pháp. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 định
hướng nhiệm vụ và hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp. Và căn cứ vào quy
định của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình và các Luật liên quan
khác, Chính phủ đã ban hành 8 Nghị định điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch (Nghị
định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch; Nghị định số
77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo
Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và
gia đình; Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng
Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số; Nghị định số
68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
20
ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày
27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch; Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày
02/02/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn
nhân gia đình và chứng thực; Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài); (cả hộ tịch trong nước và hộ
tịch có yếu tố nước ngoài). Ngày 20/11/2014, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Hộ tịch và
Luật chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Luật Hộ tịch được ban hành
nhằm luật hóa các quy định về đăng ký, quản lý hộ tịch trong các Nghị định
của Chính phủ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, bảo đảm tính kế thừa và phát
triển, cụ thể hóa thẩm quyền và quy trình thực hiện công tác hộ tịch. Trên cơ
sở quy định của Luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 123/2015/NĐ-CP
ngày 15/11/2015 quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch;
Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP
ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định một số điều và biện pháp thi hành
Luật Hộ tịch để bảo đảm các nội dung của Luật được triển khai thực hiện có
hiệu quả. Từ đó đến nay, các chính sách về hộ tịch thường xuyên được điều
chỉnh, bổ sung và thay thế cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước.
21
Tiều kết chương 1
Chương này em trình bày khái quát những vấn đề lí luận chung về công
tác quản lý nhà nước về hộ tịch. Trong đó, em đi sâu nghiên cứu sâu vào các
nội dung sau: Một số khái niệm cơ bản, nội dung của công tác quản lý nhà
nước về hộ tịch, trách nhiệm quản lý nhà nước về hộ tịch…. Chương này sẽ
làm cơ sở cho việc phân tích cũng như đánh giá thực trạng công tác quản lý
nhà nước về hộ tịch tại UBND quận Tây Hồ ở chương tiếp theo.
22
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TẠI ỦY
BAN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ
2.1. Khái quát chung về quận Tây Hồ và Uỷ ban nhân dân quận
Tây Hồ
2.1.1. Về vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế - xã hội của quận Tây Hồ
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ những năm 1990 của thế kỷ
XX, cùng với nhịp độ phát triển kinh tế, tốc độ đô thị hóa trên địa bàn Hà Nội
diễn ra ngày càng nhanh. Để đáp ứng với yêu cầu xây dựng, phát triển Thủ đô
trong giai đoạn mới, ngày 28/10/1995, Chính phủ ra Nghị định số 69/CP
thành lập quận Tây Hồ thuộc Thành phố Hà Nội trên cơ sở 5 xã của huyện Từ
Liêm và 3 phường thuộc quận Ba Đình gồm: Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ,
Quảng An, Nhật Tân, Phú Thượng, Xuân La, Tứ Liên. (Xem tại phụ lục số
03)
Quận Tây Hồ nằm ở phía bắc nội thành thủ đô Hà Nội, Việt Nam. Phía
đông giáp quận Long Biên, phía tây giáp quận Bắc Từ Liêm, phía nam giáp
quận Ba Đình, phía bắc giáp huyện Đông Anh. Quận Tây Hồ có điều kiện môi
trường thiên nhiên ưu đãi. Nổi bật với Hồ Tây rộng khoảng 527,1 ha được coi
là “lá phổi của Thành phố”. Từ xa xưa, Hồ Tây đã giữ một vị trí quan trọng về
du lịch nhờ vào vị trí và giao thông thuận lợi. Tây Hồ là quận lớn thứ 4 về
diện tích đất tự nhiên sau quận Hà Đông, Long Biên và Hoàng Mai. Quận có
khoảng 2.401 ha trong tổng số hơn 17.878 ha (chiếm 13,4%) diện tích đất khu
vực nội thành Hà Nội.
Quận Tây Hồ có rất nhiều địa điểm nổi tiếng như: làng hoa Nghi Tàm,
làng đào Nhật Tân… Đây cũng là điểm mạnh và tiềm năng quý báu góp phần
tạo điều kiện cho sự phát triển của Quận. Bên cạnh đó cũng gặp không ít khó
khăn như: là Quận được mới thành lập, cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị còn yếu,
23
không đồng bộ, một phần lớn dân cư chưa quen nếp sống đô thị, các hoạt
động dịch vụ thương mại mới đang phát triển, tập quán sinh hoạt của nhân
dân vẫn mang tính nông thôn làng xã. Trong khi đó dân số có trình độ tăng
nhanh, số lượng người ngoại tỉnh cư trú trên địa bàn cũng khá đông nên sức
ép về cơ sở hạ tầng cũng như các vấn đề phục vụ dân sinh,vấn đề lao động,
việc làm và các vấn đề xã hội nảy sinh ngày càng lớn với quận.
Xác định rõ những thuận lợi và khó khăn, Quận ủy - HĐND - UBND
Quận Tây Hồ đã tập trung kiện toàn củng cố nâng cao hiệu lực quản lý Nhà
nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó nâng cao hiệu quả hơn nữa về công tác
hộ tịch được quận hết sức quan tâm.
Sau thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội Khóa XIV và đại
biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, quận Tây Hồ đã nhanh chóng
củng cố, kiện toàn và hoàn thiện các chức danh lãnh đạo chủ chốt của UBND
Quận và tổ chức bộ máy của các đơn vị từ quận đến phường. Với bộ máy
được kiện toàn và một thế hệ lãnh đạo mới trẻ trung, năng động, quyết liệt,
quận đã triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 tích cực, toàn
diện, bám sát Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ V, Nghị quyết của
HĐND và phù hợp tình hình thực tiễn của quận.
Với sự chủ động, sáng tạo, xây dựng nhiều chương trình, kế hoạch, đề
án được triển khai, trong đó có chương trình về “Phát triển kinh tế; quản lý,
khai thác hiệu quả Hồ Tây và các vùng phụ cận giai đoạn 2015 - 2020”. Đồng
thời, tranh thủ mọi nguồn lực, phát triển hạ tầng đô thị, hạ tầng xã hội, duy trì
tốc độ tăng trưởng kinh tế vững chắc theo đúng định hướng cơ cấu dịch vụ công nghiệp - nông nghiệp. Quận đã tập trung tạo môi trường kinh doanh
thuận lợi cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, dần thu hút được các doanh
nghiệp đến sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Năm 2016, doanh nghiệp mới
trên địa bàn là 732 doanh nghiệp, hộ kinh doanh mới là 476 hộ.
24
Trong các giai đoạn tiếp theo, quận sẽ tiếp tục phát triển kinh tế theo cơ
cấu dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp; quản lý, giữ gìn cảnh quan, nâng
cao chất lượng môi trường, khai thác có hiệu quả Hồ Tây và các vùng lân cận;
từng bước xây dựng đồng bộ, hiện đại hạ tầng đô thị; bảo đảm an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa
phương; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; xây dựng quận Tây Hồ trở thành
Trung tâm dịch vụ - du lịch - văn hóa của Thủ đô.
2.1.2. Địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Uỷ ban nhân dân quận Tây Hồ
a) Địa vị pháp lý
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, địa vị pháp lý
của UBND quận Tây Hồ được quy định tại Khoản 1, Điều 8 như sau:
“Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp
hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,
chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và
cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”.
Như vậy, UBND quận Tây Hồ do Hội đồng nhân quận Tây Hồ bầu, là
cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân quận Tây Hồ, Hội đồng nhân
dân quận và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
UBND quận Tây Hồ có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là nơi thực
hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng an ninh ở địa phương, bảo đảm cho các
đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật đi vào cuộc sống.
b) Chức năng của UBND quận Tây Hồ
25