Tải bản đầy đủ (.doc) (12 trang)

Phân tích chiến lược marketing của công ty CP chứng khoán TP hồ chí minh HSC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (141.58 KB, 12 trang )

Phân tích chiến lược marketing của công ty CP Chứng
khoán TP Hồ Chí Minh - HSC
I. Giới thiệu về doanh nghiệp lựa chọn
-Tên công ty : Công Ty Cổ phần chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
-Tên tiếng Anh: Ho Chi Minh city securities coporation –tên viết tắt :HSC
-Vốn Điều lệ : 59 841 941 000 VND
-Trụ Sở

: trụ sở chính –tầng 1,2,3 cao ốc Capital place, số 6 Thái văn Lung

,P. Bến Nghé ,Quận 1 , thành phố HCM.
- Chi nhánh Hà Nội :Số 6 Lê Thánh Tông , Quận Hoàn Kiếm , Hà Nội
-Website

: www.hsc.com.vn

- Nghành nghề kinh doanh: Kinh Doanh chứng khoán bao gồm các nghiệp vụ
 Môi giới chứng khoán
 Tự doanh chứng khoán
 Bảo lãnh chứng khoán – Ngân hàng đầu tư
 Tư vấn đầu tư, lưu ký chứng khoán
II. Tổng quan về ngành tài chính - chứng khoán:
1. Trong nền kinh tế nhu cầu về vốn để đầu tư và các nguồn tích kiệm có thể phát
sinh từ những chủ thể khác nhau .Những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu
vốn trái lại những người có vốn nhàn rỗi lại ít có cơ hội đầu tư. Do nhu cầu đó đã
hình thành nên một cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư. Cơ chế đó được thực
hiện trong khuôn khổ thị trường tài chính. Những người thiếu vốn huy động vốn


bằng cách phát ra các công cụ tà chính như cổ phiếu trái phiếu. Những người có vốn
dư thừa , thay vào đầu tư vào máy móc thiết bị nhà xưởng để sản xuất hàng hoá hay


cung cấp dịch vụ ,sẽ đàu tư vào các tài sản tài chính được phát hành bởi những
người cần huy động vốn .Vậy thị trường tài chính là nơi diễn ra sự luân chuyển vốn
từ những người có vốn nhàn rỗi tới những người thiếu vốn .Thị trường tài chính
cũng có thể được định nghĩa là nơi mua bán , trao đổi các công cụ tài chính .hoạt
đông trên thị trường tài chính có những hiệu ứng trực tiếp tới sự giàu có của các cá
nhân , tới hành vi của các doanh nghiệp và người tiêu dùng ,và tới dộng thái chung
của toàn bộ nền kinh tế .Căn cứ thị trường tài chính được chia thành thị trường tiền
tệ và thị trường vốn .thị trương tiền tệ mua bán trao đổi các công cụ tài chính ngắn
hạn (thường có thời hạn dưới 1 năm). Thị trường vốn là thị trường mua bán trao đổi
các công cụ tài chính trung và dài hạn (thường có thời hạn trên 1 năm). Vai trò của
chủ yếu của thị trường vốn là cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của
Chính phủ, doanh nghiệp và hộ gia đình. Thị trường vốn bao gồm thị trường chứng
khoán, thị trường vay nợ và thị trường bất động sản.
Từ đó ta có thể thấy, xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là một xu thế tất
yếu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam cũng không thể tách rời xu thế
đó. Thị trường chứng khoán hình thành và phát triển sẽ có vai trò quan trọng trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ, chỉ
với lịch sử hơn 10 năm hoạt động từ quy mô thị trường nhỏ bé, đến nay thị trường
chứng khoán Việt Nam đã có những bước tăng trưởng cao và trở thành lĩnh vực
được quan tâm nhiều nhất về mặt kinh tế-xã hội. Đặc biệt trong vòng 03 năm trở lại
đây, thị trường chứng khoán đã có sự phát triển rất ấn tượng với số lượng công ty
niêm yết đã lên đến hơn 600 công ty trên cả hai sàn là Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội và Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố HCM, tổng mức vốn hoá toàn thị


trường xấp xỉ 40tỷ USD chiếm khoảng 50% GDP (Nguồn: Uỷ ban chứng khoán Nhà
nước - Thống kê dữ liệu chứng khoán).
Thị trường chứng khoán là thể chế bậc cao của nền kinh tế thị trường, một
nguyên tắc đặc trưng cơ bản của thị trường này là nguyên tắc trung gian. Đó là việc

giao dịch mua bán hàng hoá trên thị trường bắt buộc phải được thực hiện qua các cá
nhân làm trung gian, đó là các tổ chức kinh doanh chứng khoán. Như vậy, tổ chức
kinh doanh chứng khoán hay công ty chứng khoán thực hiện các chức năng kết nối
hay giao dịch mua bán, tạo tính thanh khoản cho hàng hoá trên thị trường. Trong quá
trình phát triển của thị trường, với tư cách là trung gian môi giới, các công ty chứng
khoán thúc đấy quá trình phát triển quá trình lưu thông hàng hoá bằng cách rút ngắn
khoảng thời gian tìm kiếm giữa người mua và người bán, đặc biệt là đối với những
hàng hoá mà người có nhu cầu mua không dễ gặp người có nhu cầu bán.Sự lớn
mạnh của thị trường chứng khoán gắn liền với hoạt động của các công ty chứng
khoán mang lại những dịch vụ thiết yếu hỗ trợ các nhà đầu tư và góp phần không
nhỏ vào việc điều tiết nền kinh tế.Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới, điều này đồng nghĩa với việc các công ty chứng khoán đã và
đang cải cách để phát triển về mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển để có thể
nâng cao cạnh tranh không chỉ với các đối thủ trong nước mà còn với các tổ chức
tài chính quốc tế.
2. Môi trường marketing ngành chứng khoán trong thời gian qua
Các công ty chứng khoán bên cạnh việc chịu ảnh hưởng và tác động từ chính những
nhân tố bên trong công ty (hay môi trường vi mô) như các đối thủ cạnh tranh, khách
hàng, nhà cung cấp…họ còn gặp phải những rủi ro từ môi trường vĩ mô gồm: môi
trường kinh tế, luật pháp, văn hoá xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường công
nghệ. Việc xác định, phân tích và đánh giá các tác động ảnh hưởng đến sự phát triển
của công ty chứng khoán là tiêu chí đầu tiên của bất kỳ một kế hoạch chiến lược nào.


Chính vì vậy, các công ty chứng khoán phải xem xét và đánh giá hai hai nhân tố môi
trường vĩ mô và môi trường vi mô:
a. Rủi ro trong môi trường vĩ mô:
- Rủi ro môi trường kinh tế:
Sự phát triển của nền kinh tế thường được đánh giá thông qua tốc độ tăng trưởng
GDP, lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái hay sức mua….Các yếu tố rủi ro mang tính

hệ thống này tác động vào mọi chủ thể tham gia vào nền kinh tế, đặt biệt gây ảnh
hưởng không nhỏ đến hoạt động của thị trường chứng khoán cũng như tình hình
hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư và công ty chứng khoán.
Mặc dù trong những năm vừa qua, Việt Nam luôn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao và bền vững. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong giai đoạn 2002 – 2006
đạt 7,73% và 8,44% trong năm 2007, mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm trở lại
đây (Nguồn: Số liệu trong Bản cáo bạch,Công ty chứng khoán Kim Long,
/>/Bancaobach)
tuy nhiên, kể từ cuối năm 2007 đến nay, nền kinh tế Việt Nam gặp phải rất nhiều khó
khăn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình hoạt động kinh doanh của các công ty
đặc biệt các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính và chứng khoán, cụ thể:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, lạm phát và lãi suất tăng cao:
Về mặt lý thuyết, giá của hàng hóa trên thị trường chứng khoán luôn tỷ lệ nghịch với
lãi suất. Chính vì vậy, sự thay đổi của lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến hành
vi của các nhà đầu tư cũng như các công ty tham gia niêm yết trên thị trường chứng
khoán. Lãi suất tăng làm cho chi phí vay nợ để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của
công ty tăng lên, tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty cũng như mức độ hấp dẫn của thị trường chứng khoán đối với các nhà đầu tư


và điều này sẽ thể hiện ngay trên giá cổ phiếu và tất nhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
kết quả hoạt động của các công ty chứng khoán.
Bên cạnh đó, chỉ số lạm phát của Việt Nam đã vượt lên mức hai con số. Theo tổng
cục thống kê, chỉ số giá tiêu dùng CPI năm 2007 là 12,6% , mức cao nhất trong 11
năm qua. (Nguồn: Tổng cục thống kê; ). Nguyên nhân việc gia
tăng nhanh chóng tỷ lệ lạm phát được các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới nhận
định trong báo cáo ngày 14/11/2007 là do độ mở cao của nền kinh tế Việt Nam cũng
như sự gia tăng của mức giá hàng hóa trao đổi thương mại trên thị trường quốc tế.
Để kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ
khiến cho mặt bằng lãi suất tiếp tục gia tăng.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu:
Trong những ngày gần đây, các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán đặc biệt là
các công ty chứng khoán đang phải đối mặt với một khó khăn vô cùng lớn do phải
chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính của nền kinh tế toàn cầu. Cuộc khủng
hoảng tài chính này bắt nguồn từ nền kinh tế hàng đầu của toàn thế giới đó là nước
Mỹ với rất nhiều sự sụp đổ của các tổ chức tài chính, ngân hàng lớn… cho đến nay,
cuộc khủng hoảng tài chính đã lan sang Châu Âu, Châu Á với mức độ cực kỳ
nghiêm trọng, thị trường chứng khoán toàn cầu đang sụt giảm mạnh mẽ với hầu hết
các cổ phiếu bị bán tháo, các tổ chức tài chính trong đó hoạt động của các công ty
chứng khoán đang phải trải qua những ngày vô cùng ảm đạm, doanh số sụt giảm
nghiêm trọng, nhà đầu tư hoang mang và mang tâm lý vô cùng bất ổn vào nền kinh
tế. Cho dù, trong thời gian qua, rất nhiều tổ chức tài chính có uy tín trên thế giới
nhận định rằng nền kinh tế Việt nam không phải chịu ảnh hưởng nhiều của cuộc đại
khủng hoảng tài chính này, tuy nhiên một cách gián tiếp nền kinh tế Việt nam cũng
đang trong gian đoạn rất khó khăn với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm hơn hẳn so với


năm 2007, GDP giảm, lạm phát vẫn tăng cao. Tất cả những nhân tố này là một trong
những trở ngại lớn đối với cả nền kinh tế nói chúng và ngành tài chính – chứng
khoán nói riêng, cụ thể là các công ty chứng khoán hoạt động trong ngành đang
phải đối mật với một thách thức rất lớn ảnh hưởng đến khả năng sinh tồn của công
ty.
-

Rủi ro môi trường công nghệ:

Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian có nhiệm vụ kết nối giữa
nhà đầu tư và Trung tâm giao dịch chứng khoán để thực hiện hoạt động giao dịch
chứng khoán. Chính vì vậy, môi trường công nghệ hiện đại là một trong những yếu
tố cực kỳ quan trọng đối với lĩnh vực hoạt động này. Do công nghệ luôn thay đổi nên

đòi hỏi các công ty chứng khoán phải có kế hoạch để thích ứng với sự thay đổi
nhanh chóng này.
- Rủi ro môi trường luật pháp
Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO, các công ty trong nước đang đứng trước cơ
hội thông thoáng hơn nhưng cũng bị ảnh hưởng bởi các rủi ro do những biến động
pháp lý mang lại. Hoạt động của các chủ thể trên thị trường chứng khoán Việt nam
trong đó có các công ty chứng khoán luôn chịu sự chi phối trực tiếp bởi hệ thống
pháp luật liên quan như Luật Công ty, Luật chứng khoán, luật đầu tư…do vậy vẫn
tồn tại những rủi ro liên quan do chưa có tính đồng bộ và nhất quán giữa các luật
khác với Luật chứng khoán. Bên cạnh đó, sự thay đổi điều chỉnh hay bổ sung các
văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thị trường chứng khoán, công ty cổ phần,
các loại thuế… đều có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán. Đặc biệt, hiện
nay Chính phủ đang dự kiến sẽ áp dụng đánh thuế thu nhập cá nhân từ việc đầu tư
chứng khoán của các nhà đầu tư. Việc đánh thuế này có thể gây ảnh hưởng trực tiếp


đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư và gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của
thị trường chứng khoán.
b. Rủi ro trong môi trường vi mô:
- Áp lực cạnh tranh từ khách hàng
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh của ngành và của công ty. Công ty phải chịu áp lực cạnh
tranh từ khách hàng về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính khách
hàng là người điều khiển các cạnh tranh trong ngành thông qua các quyết định mua
hàng của họ.
Đối với các công ty trong ngành chứng khoán, sản phẩm đặc thù của các công ty là
sản phẩm tài chính – thực hiện việc đặt lệnh giao dịch cho các nhà đầu tư, do vậy để
tạo sự khác biệt về dịch vụ cung cấp so với các đối thủ cạnh tranh, thu hút được
nhiều nhà đầu tư đến sàn mở tài khoản và thực hiện đặt lệnh giao dịch là một bài
toán cực kỳ nan giải đối với các công ty chứng khoán.

- Áp lực từ đối thủ cạnh tranh:
Cạnh tranh là quy luật tất yếu trong cơ chế thị trường. Nguy cơ rủi ro cạnh tranh
trong sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của thị trường chứng khoán Việt Nam và
trong lộ trình mở cửa theo cam kết của WTO đặt các công ty chứng khoán luôn
trong một áp lực lớn. Tính đến tháng 12/2007, thị trường chứng khoán Việt Nam có
tổng cộng hơn 600 công ty cổ phần và công ty quản lý quỹ niêm yết trên Sở giao
dịch chứng khoán Thành phố HCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội với hơn
500.000 tài khoản giao dịch. Tuy nhiên, thị trường đã có đến hơn 100 công ty chứng
khoán được cấp giấy phép hoạt động, do vậy cuộc cạnh tranh giành thị phần đang
diễn ra rất gay gắt. (Nguồn: Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, dữ liệu chứng khoán;
http: //www.ssc.gov.vn)


III. Phân tích Chiến lược marketing của công ty chứng khoán SSI, KLS có so
sánh với HSC
Trước những thay đổi và tác động mạnh mẽ của môi trường kinh doanh, các công ty
chứng khoán hàng đầu tại Việt nam hiện nay như Công ty cổ phần chứng khoán Kim
Long (KLS) với khẩu hiệu :Trung Thực , Cẩn Trọng ,Công ty cổ phần chứng khoán
Sài Gòn (SSI) với khẩu hiệu : Sức mạnh Của Nhà Đầu Tư , Công ty CP chứng khoán
Hồ Chí Minh (HSC) với khẩu hiệu : Thinking forward, Moving ahead đã chủ động
xây dựng chiến lược marketing của mình phù hợp với sự thay đổi của môi trường
qua đó tạo ra sự khác biệt của công ty so với các đối thủ cạnh tranh khác.
1. Xây dựng chiến lược về sản phẩm (product):
Sản phẩm của các công ty chứng khoán là cung cấp các dịch vụ trong các hoạt động
môi giới chứng khoán cho các cá nhân cũng như các tổ chức trong nước Việt Nam
cũng như nước ngoài , bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các doanh nghiệp nhằm
huy động vốn cho các hoạt động kinh doanh , tư vấn tài chính cho doanh nghiệp
cũng như các tổ chức tài chính thông qua các báo cáo phân tích từ kinh tế vĩ mô ,
báo cáo phân tích các nghành , cũng như báo cáo phân tich chuyên sâu về từng
doanh nghiệp .

_ Về sản phẩm KLS , SSI va HSC đều đầu tư vào công nghệ nhằm cung cấp dịch vụ
trading online cho mọi khách hàng cá nhân cũng như tổ chức .Trong thời gian giao
dich từ 8h30 sáng -11h sáng khách hàng có thể giao dich mua bán chúng khoán tại
Vn dù ở bất cứ vị trí nào trên thế giới có kết nối internet . Đặc biệt về mặt thanh toán
và chuyển khoản HSC linh động hơn do có phần mềm kết nối các ngân hàng như
techcombank, VCB hay BIDV giúp khách hàng dễ dàng chuyển tiền từ tài khoản tại
HSC sang tài khoản ngân hàng và ngược lại mà không cần đến nộp hay rút tiền trực
tiếp tại HSC điều này giup khách hàng tích kiệm rất nhiều thời gian đi lại và thuận


tiện .KLS và SSI lại có ưu thế về bảo lãnh phát hành do quy mô lớn về vốn và mối
quan hệ tốt đặc biệt với các doanh nghiệp phía bắc .Thêm nữa KLS là công ty chứng
khoán đầu tiên tại VN cung cấp dịch vụ tocken tài khoản nhà đầu tư , đây là dịch vụ
mang tinh bảo mật cao cho tài khoản nhà đầu tư khi giao dich trực tuyến mà thường
chỉ có các ngân hàng áp dụng .

2. Xây dựng chiến lược về giá thành sản phẩm (Price):
Để có thể cạnh tranh trên thị trường đặc biệt trong giai đoạn khó khăn như hiện nay,
các công ty chứng khoán cần phải xây dựng một chính sách phí giao dịch khác biệt
dựa trên ưu thế về uy tín công ty và chất lượng của các sản phẩm dịch vụ. HSC KLS
và SSI chủ trương xây dựng một biểu phí linh hoạt và cạnh tranh. Trong giai đoạn
hiện nay, nhằm hỗ trợ khách hàng và thu hút khách hàng, HSC KLS và SSI có thể
xây dựng biểu phí giao dịch theo phương pháp luỹ thoái: phí giao dịch giảm dần
theo giá trị giao dịch, và thỉnh thoảng lại áp dụng chương trình phí khuyến mại đồng
nhất cho mọi khách hàng.Đặc biệt HSC cung cấp dịch vụ cho vay tiền trên chứng
khoan cầm cố tạo sự linh hoạt cho khách hàng về tiền mặt tạo ra sức mua cho nhà
đầu tư với lãi vay hấp dẫn , đây là dịch vụ mà SSI và KLS chưa triển khai .
3. Thị trường và chiến lược khách hàng (Place):
a. Nghiên cứu và phát triển thị trường:
Dựa vào tiềm lực sẵn có về vốn và nguồn nhân lực,các công ty chưng khoán cần

nghiên cứu đối thủ cạnh tranh kết hợp với nghiên cứu để phát triển sản phẩm dịch vụ
mới. Để nghiên cứu đối thủ cạnh tranh SSI, KLS và HSC tiến hành nghiên cứu, thu
thập và điều tra các sản phẩm dịch vụ của đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu về biểu phí
giao dịch của các công ty chứng khoán khác, nghiên cứu về nhu cầu sử dụng dịch vụ
của các nhà đầu tư.


Tìm hiều nhu cầu của khách hàng thông qua nhiều hình thức khác nhau như phát
phiếu thăm dò ý kiến trực tiếp tại sàn giao dịch, xây dựng hòm thư góp ý của khách
hàng…
b. Xây dựng chiến lược khách hàng:
Hiện tại, thị phần của KLS chủ yếu là ở phía Bắc_ trụ sở chính ở phía bắc_, công ty
chưa khai thác tìm kiếm và phát triển thị trường ở miền Trung và miền Nam. Chính
vì vậy, do môi trường kinh doanh luôn biến động cộng với đối thủ cạnh tranh trong
ngành ngày càng nhiều, dựa vào khả năng chiến lược sẵn có của KLS như cơ sở vật
chất, tiềm lực tài chính, con người, sản phẩm dịch vụ KLS hoàn toàn có thể mạnh
dạn tìm kiếm thêm đoạn thị trường mới, từ đó xác định khách hàng mục tiêu và
quyết định thâm nhập thị trường.
Bên cạnh đó, do khách hàng hiện tại của Kim Long chủ yếu là những nhà đầu tư cá
nhân, nên ngoài việc mở rộng thêm đoạn thị trường mới và tiếp tục chăm sóc những
khách hàng cũ, Kim Long cần tập trung xây dựng kế hoạch nhằm từng bước thu hút
thêm các nhà đầu tư tổ chức là các công ty lớn, các quỹ đầu tư.
Cũng như KLS có trụ sở chính ở Hà Nội nhưng SSI có thị phần khá tốt trong Sài
Gòn , ngoài ra SSI cũng đã mở các văn phòng chi nhánh tại miền trung và Sài
Gòn .Đặc biệt SSI rất mạnh về nghiên cứu với đội ngũ phân tích được đánh giá nằm
trong tốp 5 của các công ty chứng khoán điều này giúp SSI tạo ra thế mạnh khi tiếp
xúc khách hàng nước ngoài cụ thể thị trường NHÂT BẢN , hầu như khách hàng cá
nhân cũng như tổ chức tại NHẬT đều mở tài khoản giao dịch tại SSI .
Khác với KLS và SSI , HSC có tông giám đốc cũng như giám đốc các bộ phận
nghiên cứu , giám đốc khối khách hàng tổ chức là người nước ngoài nên HSC rất có

thế mạnh về khách hàng nước ngoài . Thêm nữa các khách hàng cá nhân tại HSC


đều được quản lý bởi các Broker (nhân viên môi giới ) nên được chăm sóc tốt hơn ,
mặc dù chưa có chi nhánh miền Trung nhưng HSC có 5 văn phòng tại Hà Nội .
Theo thông kê mới nhất của sở giao dịch chứng khoán HCM cũng như Hà Nội SSI
và HSC nằm trong tốp 3 công ty chứng khoán có thị phần môi giới cổ phiếu và
chứng chỉ quỹ . Đây là mảng tạo ra doanh thu rất ổn định cho các công ty chứng
khoán
4. Chiến lược quảng bá sản phẩm (Promotion):
-Cả KLS , SSI và HSC đều đẩy mạnh chiến lược quảng bá sản phẩm cũng như các
hoạt động để tạo thương hiệu công ty theo nhiều cách giống và khác nhau .Cả KLS
SSI và HSC đều tham gia ủng hộ đòng bào lũ lụt miền trung , tạo quỹ hàng năm cho
người nghèo hay bà mẹ VN anh hùng .Bên cạnh đó là tài trợ cho sinh viên các
trường khối kinh tế các cuộc thi về đầu tư chứng khoán hay các suất học bổng cho
các sinh viên chuyên nghành tài chính ngân hàng hay chứng khoán
-Ngoài ra hàng năm KLS thường là công ty có các hội nghị khách hàng rất lớn tại
trung tâm hội nghị quốc gia để tri ân khách .
- HSC có các cuộc hội thảo hàng năm ( 2 lần 1 năm ) về các cô hội đầu tư trên thị
trương chứng khoán Vn dưới góc nhìn của HSC và thường thu hút rất đông sụ chú ý
của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
-SSI có hội thảo khá nổi tiếng GATEWAY VN thường dành cho các nhà đầu tư tổ
chức vào đầu năm để giới thiệu các cơ hội đầu tư tại VN .

IV.Kết luận


Thị trường chứng khoán đang có những phiên phục hồi liên tiếp trong ngày
đầu năm 2011 . Cơ hội lại mở ra trước mắt cho tất cả các Công ty chứng khoán,
trong đó có KLS,SSI và HSC .Thị trường chứng khoán của VN còn rất non trẻ và rất

nhiều tiêm năng để phát triển .Với sự phục hồi của nèn kinh tế thế giới cũng như
phát triển o ngừng của nền kinh tế VN cơ hội cho các công ty chứng khoán là rất lớn
, tuy nhiên còn rất nhiều thách thức mà các công ty cứng khoán phải vượt qua đặc
biệt là dưới áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt .Cùng kinh nghiêm đã góp nhặt
trên thị trường đặc biệt giai đoạn tăng trưởng nóng năm 2006 , 2007 và giai đoạn trì
trệ năm 2008 , 2010 KLS SSI và HSC cần phát huy những điểm mạnh của mình,
đồng thời khắc phục và loại bỏ dần các điểm còn hạn chế kết hợp với việc xây dựng
một chiến lược marketing quy mô và hoàn hảo để tạo ra lơi thế cạnh tranh cho
mình . Với tầm nhìn xa , nỗ lực o ngừng và 1 chiến lược marketing rõ ràng sẽ giúp
KLS SSI và HSC nắm lấy những cơ hội mới mà thị trường mang lại, đem lại lợi ích
tối đa cho khách hàng, cho đối tác và cho tất cả các cổ đông.



×