BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
-----------------------
HỌ VÀ TÊN: TRẦN THỊ KIM HUẾ
LỚP: CQ50/21.02
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH
DOANH TẠI CÔNG TY TNHH KỸ NGHỆ KIM LONG
Chuyên ngành:
Kế toán doanh nghiệp
Mã số:
21
Giáo viên hướng dẫn: PGS., TS. TRƯƠNG THỊ
THUỶ
HÀ NỘI - 2016
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn
vị thực tập.
Tác giả luận văn
Trần Thị Kim Huế
SV: Trần Thị Kim Huế
3
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
SV: Trần Thị Kim Huế
4
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHTN:
Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH:
Bảo hiểm xã hội
BHYT:
Bảo hiểm y tế
CP:
Chi phí
CPBH:
Chi phí bán hàng
CPQLDN:
Chi phí quản lý doanh nghiệp
CPTC:
Chi phí tài chính
DTBH:
Doanh thu bán hàng
DTHĐTC:
Doanh thu hoạt động tài chính
DTT:
Doanh thu thuần
GTGT:
Giá trị gia tăng
GVHB:
Giá vốn hàng bán
HH:
Hàng hoá
KH TSCĐ:
Khấu hao tài sản cố định
KPCĐ:
Kinh phí công đoàn
NSNN:
Ngân sách Nhà nước
TK:
Tài khoản
TN:
Thu nhập
TNDN:
Thu nhập doanh nghiệp
TNHH:
Trách nhiệm hữu hạn
TSCĐ:
Tài sản cố định
SV: Trần Thị Kim Huế
5
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ - HÌNH ẢNH
SV: Trần Thị Kim Huế
6
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, với sự hoạt động của nhiều thành phần kinh tế
độc lập tự chủ trong nền kinh tế ngày càng cao, mỗi doanh nghiệp phải năng
động sáng tạo trong kinh doanh phải chịu trách nhiệm trước kết quả kinh
doanh của mình, bảo toàn được vốn kinh doanh và quan trọng hơn là mục tiêu
tối đa hoá lợi nhuận, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Để thực hiện được mục tiêu trên, vấn đề kinh doanh đạt hiệu quả vô cùng
quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng.
Hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua các bộ phận trong các doanh
nghiệp kinh doanh bao gồm hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng lao động
và đặc biệt thông qua xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc bán hàng trong doanh nghiệp thương mại là cầu nối giữa nhà cung cấp
đến người sử dụng, từ đó đưa ra những hoạch định, quyết sách trong quá trình
hoạt động của doanh nghiệp để có hiệu quả cao nhất, thu được lợi nhuận lớn
nhất.
Do vậy, bên cạnh các biện pháp quản lý chung, việc tổ chức hợp lý kế toán
bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là rất cần thiết, giúp doanh nghiệp
có đầy đủ thông tin kịp thời và chính xác để phân tích, đánh giá, lựa chọn
phương án đầu tư hiệu quả.
Sau thời gian thực tập tại Công ty TNHH Kỹ nghệ Kim Long, với sự giúp đỡ
của các anh, chị nhân viên công ty và sự giúp đỡ nhiệt tình của PGS., TS.
Trương Thị Thủy, cùng với kiến thức đã được học ở trường em nhận thức
được vai trò quan trọng của tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
SV: Trần Thị Kim Huế
7
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
doanh đối với sự hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.Vì vậy, em đã
chọn đề tài “Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty
TNHH Kỹ nghệ Kim Long” để nghiên cứu và viết luận văn của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định
kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Kỹ nghệ Kim Long.
• Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi nội dung: Các vấn đề liên quan đến tổ chức, hạch toán về bán
hàng và xác định kết quả kinh doanh.
• Phạm vi thời gian: Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/03/2016. Số liệu
về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh năm tài chính
2015.
• Phạm vi không gian: Tại công ty TNHH Kỹ nghệ Kim Long.
3. Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tế, em đã tìm hiểu sâu về công tác kế toán bán
hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Kỹ nghệ Kim Long
và đưa ra những nhận xét tổng quan về những thành tựu đã đạt được cũng như
những tồn tại trong công tác tổ chức và kế toán bán hàng và xác định kết quả,
từ đó đưa ra những ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng và xác
định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Kỹ nghệ Kim Long.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho quá trình hoàn thiện khóa luận, em có sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu sau:
SV: Trần Thị Kim Huế
8
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
• Phương pháp thống kê kinh tế, thu thập và tổng hợp số liệu.
• Phương pháp phân tích số liệu thu thập được.
• Phương pháp hạch toán kế toán.
5. Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 : Lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh trong doanh nghiệp thương mại.
Chương 2 : Thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
tại công ty TNHH Kỹ nghệ Kim Long.
Chương 3 : Giải pháp hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh tại công ty TNHH Kỹ nghệ Kim Long.
SV: Trần Thị Kim Huế
9
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT
QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh
nghiệp thương mại
1.1.1. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh thương mại
Doanh nghiệp thương mại là một tổ chức kinh tế được thành lập với mục
đích chủ yếu là tiến hành các hoạt động kinh doanh thương mại. Thực chất
kinh doanh thương mại là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các
chủ thể kinh tế mà mỗi thành phần tham gia vào quá trình này đều đạt được
lợi ích của mình.
Hoạt động kinh doanh thương mại có các đặc điểm sau:
• Đặc điểm về hoạt động: Hoạt động kinh tế cơ bản của kinh doanh
thương mại là lưu chuyển hàng hóa. Lưu chuyển hàng hóa là quá trình
vận động của hàng hóa, khép kín một vòng luân chuyển của hàng hóa
trong các doanh nghiệp thương mại. Lưu chuyển hàng hóa gồm 3 khâu:
Mua vào – dự trữ – bán ra. Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, xu
hướng hội nhập kinh tế, tự do thương mại ngày càng nhiều, các doanh
nghiệp thương mại cần phát huy tính chủ động, sáng tạo trong kinh
doanh, khai thác tối đa lợi thế của mình để kinh doanh đạt hiệu quả
nhất. Để thực hiện được điều đó, các doanh nghiệp thương mại phải
huy động tối đa nguồn lực, tổ chức khai thác mặt hàng, đảm bảo số
lượng, chất lượng và kết cấu hàng hoá đầy đủ để cung cấp cho nhu cầu
tiêu dùng của xã hội.
SV: Trần Thị Kim Huế
10
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
• Đặc điểm về hàng hóa: Hàng hóa trong kinh doanh thương mại gồm
các loại: vật tư, sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất ra mang hình
thái vật chất hay không có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về
với mục đích để bán.
• Đặc điểm về phương thức lưu chuyển hàng hóa: Lưu chuyển hàng hóa
trong kinh doanh thương mại có thể theo một trong hai phương thức là
bán buôn và bán lẻ.
• Đặc điểm về tổ chức kinh doanh thương mại: Có thể theo nhiều hình
thức khác nhau như Tổng công ty, công ty kinh doanh, công ty bán
buôn, bán lẻ,…
• Đặc điểm về sự vận động hàng hóa: Sự vận động hàng hóa trong kinh
doanh thương mại không giống nhau tùy thuộc vào nguồn hàng và
ngành hàng (hàng lưu chuyển trong nước; hàng xuất nhập khẩu; hàng
công nghệ phẩm). Do đó, chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng
hóa cũng khác nhau giữa các loại hàng.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh
nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra các sản phẩm và cung
cấp dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của thị trường với mục tiêu là lợi nhuận.
Để thực hiện được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải thực hiện được giá trị
của hàng hoá thông qua quá trình bán hàng.
Bán hàng là quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa gắn với phần lợi
ích hoặc rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc
chấp nhận thanh toán. Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất
kinh doanh, đây là quá trình chuyển hóa vốn từ hình thái hàng hóa sang hình
SV: Trần Thị Kim Huế
11
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán. Vì vậy, đẩy nhanh quá trình bán
hàng đồng nghĩa với việc rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, tăng nhanh
vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
• Đặc điểm của quá trình bán hàng
• Có sự thỏa thuận trao đổi giữa người mua và người bán. Người bán
đồng ý bán, người mua đồng ý mua, chấp nhận thanh toán và thanh
toán.
• Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hóa: người bán mất quyền sở hữu,
người mua có quyền sở hữu hàng hóa được đem ra trao đổi.
• Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa các đơn vị kinh tế cung cấp cho
khách hàng một khối lượng hàng hóa nhất định và nhận lại từ khách
hàng một khoản tiền gọi là doanh thu bán hàng.
Để thực hiện được quá trình bán hàng doanh nghiệp phải phát sinh các
khoản chi phí làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ dưới hình thức các khoản tiền
đã chi ra, các khoản khấu trừ vào tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ làm
giảm vốn chủ sở hữu. Đồng thời, doanh nghiệp cũng thu được các khoản
doanh thu và thu nhập khác, đó là tổng các giá trị các lợi ích kinh tế thu được
trong kỳ phát sinh từ các hoạt động góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Sau một quá trình hoạt động, doanh nghiệp xác định được kết quả của từng
hoạt động. Kết quả hoạt động kinh doanh là kết quả cuối cùng về các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kì kế toán nhất định,
hay kết quả kinh doanh là biểu hiện bằng tiền phần chênh lệch giữa tổng
doanh thu và tổng chi phí của các hoạt động kinh tế đã được thực hiện. Kết
quả kinh doanh được biểu hiện bằng số tiền lãi (nếu doanh thu lớn hơn chi
phí) hoặc lỗ (nếu doanh thu nhỏ hơn chi phí).
SV: Trần Thị Kim Huế
12
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt
động kinh doanh thông thường và kết quả hoạt động khác.
Kết quả hoạt động kinh doanh thông thường là kết quả từ những hoạt động
tạo ra doanh thu của doanh nghiệp, đây là hoạt động bán hàng, cấp dịch vụ và
hoạt động tài chính.
Kết quả từ hoạt
động bán hàng
và cung cấp
dịch vụ
=
Doanh thu thuần
bán hàng và
cung cấp dịch
vụ
-
Giá vốn
hàng bán và
CP thuế
TNDN
-
CPBH và
CPQLDN
Trong đó,
Doanh thu thuần bán
=
hàng và cung cấp dịch vụ
Kết quả từ hoạt động
=
tài chính
Kết quả từ hoạt động khác
Doanh thu bán
hàng và cung cấp
dịch vụ
Doanh thu từ hoạt
động tài chính
=
Thu nhập khác
Các khoản giảm trừ
doanh thu
-
-
Chi phí tài chính
-
Chi phí khác
Kết quả từ
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
Lợi nhuận sau t
1.1.3. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
Kế toán cung cấp dịch vụ và xác định kết quả kinh doanh có vai trò to lớn
đối với doanh nghiệp, vì vậy kế toán phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ sau:
SV: Trần Thị Kim Huế
13
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
• Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời,chính xác tình hình hiện có và sự
biến động của từng loại hàng hoá theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng,
chủng loại và giá trị.
• Phản ánh và ghi chép đầy đủ,kịp thời, chính xác các khoản doanh
thu,các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong
doanh nghiệp, đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của
khách hàng.
• Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát
tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tình hình phân phối kết
quả các hoạt động.
• Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập Báo cáo tài chính
và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình cung cấp
dịch vụ, xác định và phân phối kết quả.
1.2. Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
1.2.1. Phương thức bán buôn hàng hóa
Bán buôn là sự vận động ban đầu của hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất đến
lĩnh vực tiêu dùng, trong khâu này hàng hoá mới thực hiện được một phần giá
trị, chưa thực hiện được giá trị sử dụng. Bán buôn thường được áp dụng đối
với trường hợp bán hàng với khối lượng lớn và được thực hiện bởi hai hình
thức: hình thức bán buôn qua kho và hình thức bán buôn vận chuyển thẳng.
SV: Trần Thị Kim Huế
14
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
1.2.1.1. Hình thức bán buôn qua kho
Theo hình thức này, hàng hoá được xuất bán cho khách hàng từ kho
dự trữ của doanh nghiệp và thực hiện theo hai cách: Xuất bán trực tiếp
và xuất gửi đi bán.
• Hình thức xuất bán trực tiếp: Xuất bán trực tiếp là hình thức bán hàng
mà doanh nghiệp xuất hàng giao trực tiếp cho khách hàng tại kho hoặc
nơi bảo quản hàng hoá của doanh nghiệp. Hàng hoá được coi là bán và
hình thành doanh thu bán hàng khi khách hàng nhận đủ hàng hoá và ký
hoá đơn xác nhận đủ hàng.
• Hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, định kỳ căn cứ vào hợp
đồng kinh tế và kế hoạch giao hàng, doanh nghiệp xuất hàng gửi đi cho
khách và giao tại địa điểm dã ký trong hợp đồng. Hàng hoá gửi đi vẫn
thuộc quyền sở hữu của bên bán. Chỉ khi khách hàng thông báo nhận
được hàng và chấp nhận thnah toán hoặc thanh toán tền hàng ngay thì
khi đó hàng hoá mới chuyển quyền sở hữu được xác định là bán hàng
và doanh nghiệp mới được ghi nhận doanh thu bán hàng. Chi phí vận
chuyển do doanh nghiệp bán hoặc doanh nghiệp mua chịu tuỳ từng hợp
đồng ký kết giữa hai doanh nghiệp.
1.2.1.2. Hình thức bán buôn vận chuyển thẳng
Bán buôn vận chuyển thẳng là hình thức bán hàng mà bên bán mua hàng
của nhà cung cấp để bán cho khách hàng; hàng hoá không qua ko của bên
bán. Hình thức này cũng gồm nhiều hình thức nhỏ như giao hàng tay ba, hình
thức vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán hoặc không tham gia thanh
toán.
SV: Trần Thị Kim Huế
15
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
• Bán buôn giao tay ba (Bán buôn vận chuyển thẳng trực tiếp): Theo hình
thức này, doanh nghiệp thương mại mua hàng của bên cung cấp để giao
bán thẳng cho người mua do bên mua ký uỷ nhiệm đến nhận hàng trực
tiếp tại địa điểm do hai bên thoả thuận. Hàng hoá được coi là bán khi
người mua đã nhận đủ hàng và ký nhận trên chứng từ bán hàng của
doanh nghiệp, còn việc thanh toán tiền tuỳ thuộc vào hợp đồng đã ký
giữa hai bên.
• Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Theo hình
thức này, doanh nghiệp thương mại mua hàng của bên cung cấp và
chuyển hàng đi để bán thẳng cho bên mua hàng bằng phương tiện vận
tải của mình hoặc thuê ngoài. Hàng hoá gửi đi bán vẫn thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp, khi nào bên bán xác nhận đã nhận được hàng
hoặc chấp nhận thanh toán thì lúc đó mới xác nhận là tiêu thụ. Chi phí
vận chuyển tuỳ theo hợp đồng ký kết có thể do bên bán hoặc bên mua
chịu.
1.2.2. Phương thức bán lẻ hàng hoá
Bán lẻ hàng hoá là khâu vận động cuối cùng của hàng hoá từ lĩnh vực sản
xuất đến lĩnh vực tiêu dùng. Tại khâu này, hàng hoá kết thúc lưu thông, thực
hiện được toàn bộ giá trị và giá trị sử dụng. Bán lẻ thường bán với khối lượng
ít, giá bán ổn định. Bán lẻ thường áp dụng các phương thức sau:
1.2.2.1. Bán hàng thu tiền trực tiếp
Theo hình thức này, nghiệp vụ bán hàng hoàn thành trực diện với khách
hàng. Khách hàng thanh toán tiền, người bán hàng giao hàng cho khách hàng.
SV: Trần Thị Kim Huế
16
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
1.2.2.2. Bán hàng thu tiền tập trung
Theo hình thức này, khách hàng nộp tiền cho người thu tiền và nhận hoá
đơn để nhận hàng tại quầy giao hàng do một nhân viên bán hàng khác đảm
nhận.
1.2.2.3. Bán hàng theo hình thức khách hàng tự chọn
Theo hình thức này, khách hàng tự chọn mặt hàng mua trong các siêu thị và
thanh toán tiền hàng tại các cửa thu tiền của siêu thị.
1.2.2.4. Bán hàng theo phương thức đại lý
Theo hình thức này, doanh nghiệp bán ký hợp đồng với cơ sở đại lý, giao
hàng cho các cơ sở này bán và dành hoa hồng bán hàng cho họ.
1.2.2.5. Bán hàng theo phương thức trả góp, trả chậm
Theo hình thức này, doanh nghiệp bán chỉ thu được một phần tiền của
khách hàng, phần còn lại khách hàng sẽ được trả dần và phải chịu số tiền lãi
nhất định.
1.3. Nguyên tắc đánh giá hàng hoá và cách đánh giá hàng hoá
1.3.1. Nguyên tắc đánh giá hàng hoá
Hàng hoá thuộc hàng tồn kho của doanh nghiệp, do đó về nguyên tắc đánh
giá hàng hoá cũng phải tuân thủ nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho. Theo
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 “Hàng tồn kho”. Hàng tồn kho của doanh
nghiệp được đánh giá theo giá gốc và trong trường hợp giá trị thuần có thể
thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực
hiện được.
SV: Trần Thị Kim Huế
17
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng hoá là giá ước tính của hàng
hoá trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường trừ đi chi phí ước tính để hoàn
thành sản phẩm và chi phí ước tính phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm.
Giá gốc của hàng hoá được xác định cụ thể cho từng loại, bao gồm: giá
mua; các loại thuế không được hoàn lại; chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo
quản trong quá trình mua hàng hoá trừ ra các khoản chiết khấu thương mại và
giảm giá hàng mua.
1.3.2. Cách đánh giá hàng hoá
Hàng hoá của doanh nghiệp có thể được đánh giá theo trị giá gốc (hay còn
gọi là giá vốn thực tế) và giá hạch toán.
1.3.2.1. Đánh giá theo trị giá vốn thực tế
Trị giá vốn thực tế của hàng hoá bao gồm: Giá mua ghi trên hoá đơn (cả
thuế nhập khẩu – nếu có) cộng với các chi phí mua thực tế. Chi phí mua thực
tế gồm chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, công tác phí của cán bộ mua
hàng, chi phí của bộ phận mua hàng độc lập và khoản hao hụt tự nhiên trong
định mức thuộc quá trình mua hàng hoá.
1.3.2.2. Đánh giá theo giá hạch toán
Đối với các doanh nghiệp mua hàng hoá thường xuyên có sự biến động về
giá cả, khối lượng và chủng loại thì có thể sử dụng giá hạch toán để đánh giá
hàng hoá.
Giá hạch toán là giá ổn định do doanh nghiệp xây dựng phục vụ cho công
tác hạch toán chi tiết hàng hoá. Giá này không có tác dụng giao dịch với bên
ngoài. Sử dụng giá hạch toán, việc xuất kho hàng ngày được thực hiện theo
giá hạch toán, cuối kỳ kế toán phải tính ra giá thực tế để ghi sổ tổng hợp. Để
SV: Trần Thị Kim Huế
18
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
tính được giá thực tế, trước hết phải tính hệ số giữa giá thực tế và giá hạch
toán của hàng hoá trong kỳ (H) theo công thức sau:
Trị giá thực tế của hàng hoá
Trị giá thực tế của hàng hoá
+
tồn đầu kỳ
nhập trong kỳ
H =
Trị giá hạch toán của hàng hoá
Trị giá hạch toán của hàng hoá
+
tồn đầu kỳ
nhập trong kỳ
Sau đó, tính giá vật hàng hoá xuất trong kỳ theo công thức:
Trị giá hạch toán của hàng hoá luân chuyển trong kỳ
1.3.3. Các phương pháp tính trị giá vốn thực tế hàng hoá xuất kho
Trị giá vốn thực tế của hàng hoá xuất kho được tính bằng hai bộ phận là trị
giá mua hàng hoá và chi phí mua phân bổ cho hàng hoá xuất kho.
Cuối kỳ kế toán phân bổ chi phí thu mua cho số hàng hoá xuất kho đã bán
theo công thức:
Chi phí mua hàng phân bổ cho hàng đã bán trong kỳ
(Trong đó: Hàng hoá tồn cuối kỳ bao gồm hàng hoá tồn trong kho; hàng
hoá đã mua nhưng còn đang đi trên đường và hàng hoá gửi đi bán nhưng
chưa được đủ điều kiện ghi nhận doanh thu).
Sau đó kế toán xác định trị giá vốn thực tế của hàng hoá đã bán theo công
thức:
Trị giá vốn thực tế của
Trị giá hàng hoá xuất kho được thực hiện theo các phương pháp sau đây:
1.3.3.1. Phương pháp tính theo giá đính danh
Theo phương pháp này, doanh nghiệp phải quản lý hàng hoá theo từng lô
hàng. Khi xuất lô hàng nào thì lấy giá thực tế của lô hàng đó.
1.3.3.2. Phương pháp bình quân gia quyền
SV: Trần Thị Kim Huế
19
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Theo phương pháp này, kế toán phải tính đơn giá bình quân gia quyền tại
thời điểm xuất kho hoặc ở thời điểm cuối kỳ, sau đó lấy lượng hàng hoá xuất
kho nhân với đơn giá bình quân đã tính.
1.3.3.3. Phương pháp nhập trước, xuất trước
Theo phương pháp này, giả thiết số hàng hoá nào nhập trước thì xuất trước
và lấy giá thực tế của lần đó là giá của hàng hoá. Do đó, vật tư tồn cuối kỳ
được tính theo đơn giá của những lần nhập sau cùng.
1.3.3.4. Phương pháp nhập sau, xuất trước
Theo phương pháp này, giả thiết số hàng hoá nào nhập sau thì xuất trước và
lấy giá thực tế của làn đó là giá của hàng hoá. Do đó, hàng hoá tồn cuối kỳ
được tính theo đơn giá của những lần nhập đầu tiên.
(Phương pháp nhập sau, xuất trước chỉ còn được dụng đối với các doanh
nghiệp áp dụng chế độ kế toán là quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày
14/09/2006).
Việc áp dụng phương pháp nào để tính giá xuất kho là do doanh nghiệp tự
quyết định. Song, cần đảm bảo sự nhất quán trong niên độ kế toán và phải
thuyết minh trong Báo cáo tài chính.
1.4. Kế toán chi tiết hàng hoá
1.4.1. Chứng từ kế toán sử dụng
Theo chế độ chứng từ kế toán ban hành theo thông tư 200/2014/TT-BTC
ngày 22/12/2014, các chứng từ kế toán về hàng hoá bao gồm:
• Phiếu nhập kho
• Phiếu xuất kho
• Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá
SV: Trần Thị Kim Huế
20
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
• Phiếu báo vật tư còn loại cuối kỳ
• Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
• Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý
• Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá
• Bảng kê mua hàng
• Hoá đơn GTGT
• Hoá đơn bán hàng thông thường
• Hoá đơn dịch vụ cho thuê tài chính
• Bảng kê thu mua hàng hoá mua vào không có hoá đơn
• Bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi
• Thẻ quầy hàng
1.4.2. Các phương pháp hạch toán chi tiết hàng hoá
Hàng hoá trong doanh nghiệp dược hạch toán chi tiết theo từng người chịu
trách nhiệm vật chất và theo từng lô, từng loại và từng thứ vật tư. Tuỳ theo
yêu cầu quản lý của doanh nghiệp để lựa chọn phương pháp hạch toán chi tiết
thích hợp.
Tổ chức hạch toán chi tiết vật tư trong các doanh nghiệp cần kêt hợp chặt
chẽ với hạch toán nghiệp vụ ở kho bảo quản nhằm giảm bớt việc ghi chép
trùng lặp giữa các loại hạch toán, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát của kế toán đối với hạch toán nghiệp vụ ở nơi bảo quản.
Hiện nay, các doanh nghiệp thường hạch toán chi tiết vật tư theo một trong
ba phương pháp, đó là mở thẻ song song, phương pháp số dư và phương pháp
ghi sổ đối chiếu luân chuyển.
SV: Trần Thị Kim Huế
21
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
1.4.2.1. Phương pháp mở thẻ song song
• Điều kiện áp dụng
Những đơn vị thường xuyên áp dụng phương pháp hạch toán thẻ song song
thường có đặc trưng chủng loại vật tư ít, mật độ nhập xuất nhiều cần giám sát
thường xuyên, hệ thống kho tàng tập trung kế toán có thể kiểm tra và đối
chiếu thường xuyên.
• Sơ đồ phương pháp mở thẻ song song
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Bảng kê nhập - xuất - tồn
Sổ kế toán chi tiết
Sổ kế toán tổng hợp
Phiếu xuất kho
tổng hợp
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Ghi chú:
Đối chiếu hàng ngày
Đối chiếu cuối tháng ags
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ phương pháp mở thẻ song song
• Trình tự ghi chép
Ở kho: Ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho hàng hoá do thủ kho tiến
hành theo chỉ tiêu số lượng trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho.
SV: Trần Thị Kim Huế
22
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ (thẻ) kế toán chi tiết để ghi chép tình
hình nhập, xuất, tồn kho theo chỉ tiêu số lượng trên cơ sở các chứng từ nhập,
xuất do thủ kho gửi lên sau khi đã được kiểm tra hoàn chỉnh và đầy đủ. Cuối
tháng, sau khi xác định được giá trị hàng hoá nhập, xuất, tồn kế toán mới tiến
hành ghi sổ (thẻ) chi tiết theo chỉ tiêu giá trị.
1.4.2.2. Phương pháp số dư
• Điều kiện áp dụng
Phương pháp này thích hợp cho những doanh nghiệp có đặc trưng: chủng
loại hàng hoá phong phú, mật độ nhập xuất lớn, hệ thống kho phân tán và
quản lý tổng hợp, thường sử dụng giá hạch toán để ghi chép, lao động kế toán
không đủ để thực hiện đối chiếu, kiểm tra thường xuyên nhưng đòi hỏi phải
có chuyên môn vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, đảm bảo số liệu được
ghi chép chính xác trung thực.
• Sơ đồ phương pháp số dư
SV: Trần Thị Kim Huế
23
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Phiếu nhập kho
Luận văn tốt nghiệp
Bảng luỹ kế nhập
Phiếu giao nhận chứng từ nhập
Thẻ kho
Sổ kế toán
Sổ số dư Bảng kê tổng hợp nhập- xuất - tồn
tổng hợp
Phiếu xuất kho Phiếu giao nhận chứng từ xuất
Bảng luỹ kế xuất
Ghi chú: cchudchúchúchú:
Ghi cuối ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu hàng ngày
Đối chiếu cuối tháng ags
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ phương pháp số dư
• Trình tự ghi chép
Ở kho: Mở các thẻ kho để ghi chép, phản ánh số hiện có và sự biến động
của hàng hoá về số lượng trên cơ sở các chứng từ nhập xuất kho.
Ở phòng kế toán:
Mở bảng kê lũy kế nhập, bảng kê luỹ kế xuất phản ánh trị giá hạch toán của
hàng nhập, xuất, tồn kho theo nhóm hàng hoá của từng kho. Cuối tháng, căn
cứ bảng kê luỹ kế nhập, bảng kê luỹ kế xuất lập bảng tổng hợp nhập – xuất –
tồn theo chỉ tiêu giá trị, chi tiết từng nhóm với số liệu hạch toán nghiệp vụ ở
kho hàng.
SV: Trần Thị Kim Huế
24
Lớp: CQ50/21.02
Học viện Tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Hàng ngày hoặc định kỳ ngắn, kế toán phải kiểm tra việc ghi chép nghiệp
vụ trên các thẻ kho ở các kho bảo quản và tính số dư vật tư hiện còn tại thời
điểm đã kiểm tra ngay trên các thẻ kho. Cuối tháng, sau khi kiểm tra lần cuối
cùng, kế toán kê số dư hiện có cả về số lượng và giá trị hạch toán vào bảng kê
số dư để đối chiếu với sổ chi tiết của kế toán.
1.4.2.3. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
• Điều kiện áp dụng
Phương pháp này thích hợp với doanh nghiệp có quy mô họat động vừa,
chủng loại nguyên vật liệu không nhiều, khối lượng chứng từ nhập xuất
không quá nhiều, không bố trí riêng nhân viên kế toán vật liệu, do vậy không
có điều kiện ghi chép, theo dõi hàng ngày.
• Sơ đồ phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Phiếu nhập kho
Bảng kê nhập
Thẻ kho
Sổ đối chiếu luân chuyển
Phiếu xuất kho
Bảng kê xuất
Sổ kế toán tổng hợp
tổng hợp
Ghi hàng ngày
Ghi chú:
Ghi cuối tháng
Đối chiếu hàng ngày
Đối chiếu cuối tháng ags
Sơ đồ 1.3. Sơ đồ phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
SV: Trần Thị Kim Huế
25
Lớp: CQ50/21.02