HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA Hổ CHÍ MINH
KHOA NHÀ NƯỚC - PHÁP LUẬT
>fc
ífc ífc
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đ Ạ I HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỈ - TẠI CHỨC
LỚP : ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ - TẠI CHỨC LÂM ĐỒNG
Khoá 1(2000 - 2004)
Đ Ẽ TÁI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở TỈNH LÂM ĐồNG
* Người thực hiện I ĐỖ XUÂN HÙNG
SỞ TƯ PHÁP TỈNH LÂM ĐỒNG
* Người hướng dẫn : Tiến sĩ TRẦN ĐÌNH THẮNG
KHOA NHÀ NƯỚC - PHÁP LUẬT
_________ HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA Hổ CHÍ MINH
T:;! -
II TH U -V IEN
!
i
Tỉnh LÂM ĐỒNG - 2004
c_
47ÍM -'
MỤC LỤC
Lời nói đầu ......................................................................... tra
n
g
4
CHƯƠNG 1
Một số vân đề lý luận cơ bản về giáo dục pháp luật
r
a
n
g
8
1.1- N g u ồ n g ố c v à b ả n c h ấ t c ủ a p h á p l u ậ t ............................................................. t
1.2- P h á p lu ậ t x ã hội ch ủ n g h ĩa v à ý th ứ c p h á p lu ậ t x ã hội chủ n g h ĩa ............... t
r
a
n
g1
0
1.3- K h á i n iệ m , đ ặ c đ iể m c ủ a g iá o d ụ c p h á p l u ậ t ....................................................... t
r
a
n
g
1
3
1.4- M ụ c đ ích c ủ a g iá o d ụ c p h á p l u ậ t ............................................................................ t
r
a
n
g
1
5
1.5- N ộ i d un g c ủ a g iá o d ụ c p h á p l u ậ t .........................................................................
t
r
a
n
g
1
7
1.6- C h ủ th ể v à đ ối tượng g iá o d ụ c p h á p l u ậ t .............................................................. t
r
a
n
g
1
9
1.7- T ín h tất y ế u k h á c h q u a n v à s ự c ầ n th iế t p h ả i tăng cư ờ n g g iá o d ụ c
p h á p lu ậ t ............
t
r
a
n
g
2
2
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHAM t ă n g c ư ờ n g g iá o d ụ c
PHÁP LUẬT ở TỈNH LÂM ĐổNG
2.1 - T h ự c trạ ng g iá o d ụ c p h á p lu ậ t ở tỉnh L â m Đ ồ n g ......................................... t
r
a
n
g
2
5
2.2 - M ộ t s ố g iả i p h á p cơ bản nhằm tă n g cư ờ n g g iá o d ụ c p h á p lu ậ t ở tỉnh L â m Đ ồ n g
............................................................................................................................................ t
r
a
n
g
4
0
K ẾT LUẬN ........................................................................... tra
n
g
4
9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM K H Ả O ....................................... trang5
1
3
L ờ i nói đ ầ u
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những
thắng lợi bước đầu hết sức quan trọng. Tình hình an ninh chính trị luôn luôn
đuợc giữ vững và ổn định, tình hình kinh tế liên tục phát triển ở mức cao và
tưcmg đối ổn định trong suốt một thời gian dài. Điều này đã mở ra thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng một nước Việt Nam dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Cùng với thành tựu đã đạt được, thực tiễn quá trình đổi mới đất nước đã
và đang đặt ra nhiều vấn đề về kinh tế - xã hội có tính bức xúc. Một trong
những vấn đề đó là tình trạng vi phạm phát luật và coi thường pháp luật mà
hậu quả của nó là tình hình tội phạm, tình trạng vi phạm trật tự quản lý nhà
nước trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội xảy ra khá phổ biến, đa dạng và
có chiều hướng gia tăng .Các tội phạm về ma tuý, nạn cờ bạc mại dâm ...trước
đây chủ yếu chỉ xẩy ra ở các thành phố, các khu trung tâm thì nay đã lan tràn
về các địa bàn nông thôn, thậm chí cả những nơi hẻo lánh.
Không những thế tình trạng vi phạm pháp luật ở thanh thiếu niên ngày
một gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp về tính chất và mức độ nguy
hiểm .Các tội phạm giết người, hiếp dâm, sử dụng ma tuý ...trước đây chủ yếu
tập trung ở các đối tượng là người lớn thì nay không ít các trường hợp là thanh
thiếu niên phạm tội.
Trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước tình hình vi phạm trật tự
quản lý cũng có chiều hướng gia tăng, như: tình trạng vi phạm pháp luật đất
đai ,trật tự an toàn giao thông ,trật tự quản lý đô th ị...
Lâm Đồng là một tỉnh Nam Tây nguyên cũng không tránh khỏi bối cảnh
chung, hơn thế nữa tình trạng vi phạm pháp luật, nhất là lâm luật ở đây trong
những năm qua cũng diễn ra rất nghiêm trọng. Đó là nạn chặt phá rừng, khai
4
thác khoáng sản trái phép tại các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng diễn ra
khá phổ biến. Điều này làm cho đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng ở
Lâm Đồng giảm một cách nhanh chóng từ trên 750 000 ha trong những năm
đầu của của thập niên chín mươi, nay chỉ còn khoảng 600 000 ha...
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm pháp luật, như: do sự tác
động của mặt trái cơ chế thị trường, do trình trạng di dân tự do quá lớn, do
điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, do trình độ dân trí còn thấp... Một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật là do ý thức
pháp luật của nhân dân còn thấp. Khi mà người dân chưa nhận thức và hiểu
biết về những quy định của pháp luật thì việc vi phạm pháp luật ở họ là điều
dễ hiểu .
Xét về mặt chủ quan là do công tác giáo dục pháp luật trong thời gian
qua trên phạm vi cả nước nói chung và ở Lâm Đổng nói riêng còn nhiều hạn
chế. Hay nói cách khác những quy định của pháp luật chưa đi vào tiềm thức
của mỗi người dân vì vậy mà chưa thể phát huy tính hiệu lực để mọi người
dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật
Về trước mắt cũng như lâu dài, đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật vẫn
là giải pháp cơ bản và có tính chiến lược, và là một trong những nhiệm vụ
hết sức quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhằm từng bước
nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần giữ vững kỷ
cương, phát huy dân chủ, ổn định chính trị - xã hội, xây dựng Nhà nước
pháp quyền của dân, do dân và vì dân, góp phần tạo điều kiện phát triển
kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó cũng là
nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương trong cả nước. Đặc
biệt có ý nghĩa hơn đối với các tỉnh miền núi cao nguyên như Lâm đồng.
Nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, là người cán bộ
công tác trong ngành Tư pháp, là một học viên được học tập, nghiên cứu
Lớp Đại học Chính trị -Tại chức do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh mở tại Lâm Đồng, và được sự quan tâm hướng dẫn của Thầy giáo
TRÂN ĐÌNH THĂNG -Tiến sĩ, Giảng viên Khoa Nhà nước -Pháp luật Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Tôi mạnh dạn chọn đề tài " MỘT
SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ở TỈNH LÂM
ĐồNG" làm luận văn tốt nghiệp.
5
- MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM
vụ CỦA ĐỀ TÀI
:
1. Góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận công tác giáo dục pháp luật,
từ đó đôi chiếu với thực tiễn, phân tích, đánh giá thực trạng công tác giáo
dục pháp luật ở Lâm Đồng trong những năm qua.
2. Xác định những phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường giáo
dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lâm Đồng.
Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này không hy vọng phân tích và làm
sáng tỏ mọi vấn đề về công tác giáo dục pháp luật ,mà chỉ tập trung phân tích
thực trạng công tác này đã và đang được thực hiện ở Lâm đồng, để từ đó đề ra
một số giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả.
- C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u :
+CƠSỞ lý luận : Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của
Chủ nghĩa Mác -lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật,
các quan điểm của Đảng về đổi mới Nhà nước, pháp luật nói chung và về
giáo dục pháp luật nói riêng.
-I-Phương pháp nghiên cứu : sử dụng phương pháp nghiên cứu của
Triết học Mác -Lê nin, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp
phân tích và tổng hợp; phương pháp lịch sử cụ thể để nghiên cứu...
-Ý
NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
: góp phần tăng cường công tác giáo dục pháp
luật cho cán bộ, nhân dân ở tỉnh Lâm Đồng. Riêng đối với cá nhân, đây là
cơ hội để vận dụng những kiến thức đã học để nghiên cứu một vấn đề thực
tiễn cấp bách đang đặt ra, qua đó góp phần nâng cao năng lực công tác của
bản thân trong quá trình quản lý và triển khai thực hiện công tác này.
- KẾT
CẤU CỦA ĐỀ TÀI
: Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tham
khảo, nội dung gồm có 2 chương :
6
Chương 1 : Một sô" vân đề lý luận cơ bản về giáo dục pháp luật.
Chương 2 : Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường giáo dục pháp
luật ở tỉnh Lâm Đồng.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN
VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
1.1.
Nguồn gốc và bản chất của pháp lu ậ t:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lê Nin, lịch sử phát triển của xã
hội loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội. Nhưng không phải ở
mọi hình thái kinh tế xã hội đều có pháp luật .Trong xã hội cộng sản nguyên
thuỷ chưa có nhà nước và vì vậy cũng chưa có pháp luật .Việc điều chỉnh các
hành vi giữa các thành viên trong xã hội lúc này dựa vào những quy tắc xử sự
chung theo những phong tục tập quán và các tín điều tôn giáo. Nếu có thành
viên nào đó xử sự trái với các quy tắc cùng lắm cũng chỉ bị cộng đồng lên án
hoặc bị ruồng bỏ vì lúc bấy giờ mọi thành viên trong xã hội đều có tư cách
bình đẳng trong đòi sống cũng như trong việc hưởng thụ những sản phẩm làm
ra. Sở đĩ các quy phạm xã hội điều chỉnh được các quan hệ xã hội trong cộng
đồng bầy người nguyên thuỷ, là vì trình độ sản xuất,trình độ phát triển kinh tế
xã hội còn rất thấp kém , để duy trì sự tổn tại của mình, đồng thòi để hạn chế
được sức mạnh của tự nhiên, không còn con đường nào khác là họ phải sống
theo cộng đồng, cùng làm chung, hưởng chung sản phẩm lao động làm ra hay
nói cách khác là tại thời điểm này xã hội chưa xuất hiện chế độ tư nhân về tư
liệu sản xuất và xã hội chưa phân chia thành giai cấp đối kháng nhau về lợi
ích.
Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, làm cho
năng suất lao động xã hội tăng lên, sản phảm làm ra không những đáp ứng
nhu cầu của đời sống xã hội mà còn có sự dư thừa của cải .Chính điều này làm
cho chế độ tư hữu xuất hiện. Chế độ tư hữu bước đầu hình thành,từng bước
được củng cố và ngày càng mở rộng đã làm cho xã hội công xã nguyên thuỷ
bị phân rã sâu sắc. Xã hội phân chia thành các tầng lớp khác nhau, một nhóm
người chuyên đi tước đoạt của cải làm ra và trở thành giai cấp thống trị, một
nhóm người chuyên bị bóc lột đến mức bần cùng hoá trở thành giai cấp bị trị
hai giai cấp này mâu thuẫn gay gắt đến mức không thể điều hoà được .Từ địa
8
vị của những người đi tước đoạt, giai cấp thống trị thấy cần thiết phải thiết lập
một tổ chức “tựa hồ ” như đứng trên xã hội để duy trì và bảo vệ nhũng của cải
của mình. Tổ chức đó chính là nhà nước . Giai cấp thống trị dùng nhà nước
để hợp pháp hoá những tập quán có lợi cho mình, đồng thời có sự thay đổi và
phát triển cho phù hợp với ý chí của mình, nhằm mục đích duy trì trật tự xã
hội, củng cố và bảo vệ quyền thống trị giai cấp.Thông qua nhà nước mà các
tập quán trước đây trở thành những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung cho
mọi thành viên trong xã hội, đó chính là các quy phạm pháp luật. “Quy tắc đó
thoạt nhiên là thói quen ,sau thành pháp luật ”(Ă ng-ghen).
Lực lượng sản xuất càng phát triển kéo theo sự phát triển của các quan hệ
sản xuất, làm nảy sinh các quan hệ xã hội mà pháp luật cần điều chỉnh, vì vậy
bắt buộc nhà nước phải ban hành các quy phạm mới nhằm kịp thòi điều chỉnh
các quan hệ xã hội này nghĩa là việc xây dựng pháp luật được tiến hành thực
hiện ngay sau khi nhà nước ra đời . Nhà nước càng phát triển thì hệ thống
pháp luật càng được xây dựng , phát triển và dần được hoàn thiện .
Như vậy pháp luật ra đời cùng với nhà nước và là công cụ sắc bén để thực
hiện quyền lực của nhà nước, duy trì và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
Nhà nước và pháp luật là sản phẩm của sự phát triển xã hội đến một trình độ
nhất định. Khi mà xã hội xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất, xã hội phân chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp thì nhà nước ra
đời. Khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất còn tồn tại, xã hội còn
phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp thì nhà nước và pháp luật còn tồn tại.
Chừng nào các điều kiện khách quan này không còn tồn tại thì sự tổn tại của
nhà nước và pháp luật không còn ý nghĩa hay nói cách khác là nhà nước sẽ
tiêu vong .
Cũng giống như nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện trước hết ở
tính giai cấp .
Tính giai cấp của pháp luật thể hiện ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà
nước của giai cấp thống trị. Khi nghiên cứu về pháp luật tư sản ,Các Mác và
A ng-ghen đã khẳng định: Pháp luật của các ông chẳng qua chỉ là ý chí của
giai cấp các ông được đề lên thành lu ật, cái ý chí mà nội dung của nó là do
các điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định .
Giai cấp thống trị xã hội thông qua Nhà nước để biến ý chí của giai cấp
mình thành ý chí của nhà nước mà nội dung của ý chí đó được truyền tải qua
các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và
bảo đảm thực hiện .
9
Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan
hệ xã hội . Mục đích của pháp luật trước hết nhằm để điều chỉnh các quan hệ
giữa các tầng lớp, các giai cấp để duy trì trật tự xã hội phù hợp với ý chí của
giai cấp thống trị .Vì vậy pháp luật cũng chính là công cụ để thực hiện sự
thống trị giai cấp.Tuỳ theo mỗi kiểu pháp luật mà tính giai cấp được thể hiện
một cách khác nhau. Chẳng hạn, pháp luật của nhà nước chiếm hữu nô lệ công
khai quy định quyền lực vô hạn của giai cấp chủ nô, coi nô lệ chỉ là thứ hàng
hoá biết nói . Pháp luật của nhà nước phong kiến quy định những đặc quyền
đặc lợi của giai cấp địa chủ phong kiến đồng thời cũng quy định các chế tài hà
khắc, dã man đàn áp sự phản kháng của nông nô. Pháp luật tư sản thể hiện ý
chí của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền chiếm hữu tư nhân của những người hữu
sản. Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động, là phương tiện để người dân thực hiện và bảo vệ quyền làm chủ
của mình và là công cụ để nhà nước quản lý điều hành đất nước .
Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn mang tính xã hội bởi pháp luật là do
nhà nước đại diện chính thức cho toàn xã hội ban hành .Vì vậy trong những
chừng mực nhất định pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai cấp
các từng lófp khác nhau trong xã hội .Điều này được thể hiện rõ trong pháp
luật xã hội chủ nghĩa .
Xét về mặt nội dung, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp
vừa thể hiện tính xã hội .Hai thuộc tính này có quan hệ mật thiết và gắn bó
chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất.
Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và được bảo đảm
thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, là yếu tố bảo đảm sự Ổn
định và trật tự xã h ộ i.
1.2. Pháp luật xã hội chủ nghĩa và ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa :
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới , nhà nước khác về
bản chất so với các nhà nước bóc lột trước đó. Nếu các nhà nước bóc lột trước
đây chỉ đơn thuần là bộ máy trấn áp của một giai cấp để trấn áp các giai cấp
khác thì nhà nước xã hội chủ nghĩa không chỉ là bộ máy trấn áp mà còn là
công cụ để nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ của mình trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội, nhằm xây dựng một xã hội mới-xã hội chủ nghĩa.
10
Chính vì vậy mà pháp luật xã hội chủ nghĩa là pháp luật kiểu mới. Nếu như
pháp luật của các nhà nước trước đó là ý chí của giai cấp thống trị chiếm thiểu
số trong xã hội thì pháp luật xã hội chủ nghĩa là ý chí của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động chiếm tuyệt đại đa số trong xã hội . Mục đích của pháp
luật các nhà nước bóc lột là duy trì, bảo vệ và củng cố chế độ chiếm hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất thì pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm
mục đích bảo vệ chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, bảo vệ quyền lợi của
nhân dân lao động, tiến tới xây dựng một xã hội không có sự bóc lộc, không
có giai cấp. Nghĩa là xoá bỏ cơ sở khách quan sự tồn tại của nhà nước.
Như vậy, pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự chung
do nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nguyện
vọng và quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam và được bảo đảm thực hiện bằng sức
mạnh cưỡng chế của nhà nưóc, pháp luật xã hội chủ nghĩa là yếu tố đảm bảo
sự ổn định chính trị và trật tự xã hội .
Nhà nước ban hành pháp luật là để quản lý con người, quản lý xã hội
thông qua việc điếu chỉnh các hành vi xử sự của họ .Tuy nhiên pháp luật có
được chấp hành một cách nghiêm chỉnh hay không phụ thuộc vào trình độ
nhận thức và ý thức pháp luật ở mỗi người dân .
-Ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội, do đó ý
thức pháp luật tuân thủ những quy luật của ý thức xã hội .Đó là, ý thức pháp
luật chịu sự tác động của các điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội .Tuy nhiên ý
thức pháp luật cũng có những đặc trưng bởi tính độc lập tương đối của nó ; cụ
thể:
-Ý thức pháp luật phần lớn lạc hậu hơn so với trình độ phát triển của tồn
tại xã h ộ i.
-Ý thức pháp luật có sự tác động qua lại với hình thái ý thức xã hội khác.
Sự tác động của ý thức pháp luật đối với ý thức đạo đức, những quan điểm về
cái thiện, cái ác về công bằng hay không công bằng thông qua nội dung các
quan niệm, quan điểm về pháp luật từ đó làm cơ sở cho hình thành ý thức đạo
đức .
- Ý thức pháp luật có tính kế thừa sâu sắc từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Các tư tưởng pháp luật tiến bộ của nhân loại luôn được kế thừa và phát triển .
11
- Ý thức pháp luật tác động trở lại đối với các quan hệ xã hội như là một
nhân tố tích cực tạo ra nhũng khả năng thay đổi các quan hệ xã hội hoặc
ngược lại như là một lực lượng kìm hãm thậm chí là triệt tiêu động lực phát
triển các quan hệ xã hội .
t ính
độc lập tương đối của ý thức pháp luật do nội dung của nó bao gồm
nhũng quan điểm thịnh hành trong xã hội, phản ánh quan niệm, thái độ của
con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua, cũng như pháp luật
cần phải có; phản ánh quan niệm về quyền và nghĩa vụ, về tính hợp pháp hay
không hợp pháp của hành vi xử sự, về tính công bằng hay không công bằng
của nội dung các quy phạm pháp luật.
Trong một xã hội có nhiều giai cấp thì ý thức pháp luật cũng có sự khác
nhau, thậm chí ngay trong ý thức pháp luật của một giai cấp cũng không thuần
nhất .Trong xã hội ý thức pháp luật của giai cấp nắm quyền lực nhà nước là ý
thức pháp luật giữ địa vị thống tr ị .
Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội độc lập, ý thức pháp luật xã
hội chủ nghĩa chỉ hình thành và phát triển trong hình thái kinh tế-xã hội xã hội
chủ nghĩa. Cùng với sự ra đời và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa ,ý
thức pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng từng bước phát triển và loại bỏ dần các
ảnh hưởng của các hình thái ý thức pháp luật trước đó.
Ý thức pháp luật có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng và thực
hiện pháp lu ật. Chính vì vậy trong thực tiễn xây dựng pháp luật các quy phạm
pháp luật phải xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi thực tế, xuất phát từ nhận thức và ý
thức pháp luật của người dân để làm sao đơn giản, dễ hiểu và nhất quán, có
như vậy pháp luật mới thâm nhập vào đòd sống xã hội, được mọi người tôn
trọng và nghiêm túc thực hiện .
Ý thức pháp luật là nhân tố rất năng động và thường xuyên bám sát thực
tiễn đang luôn luôn biến đổi để kịp thời phát hiện đề xuất, kiến nghị, sửa đổi,
ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với hiện thực khách quan.
Pháp luật khi đã được ban hành thì mọi thành viên trong xã hội phải có thái độ
đúng đắn và tôn trọng .Thái độ tôn trọng pháp luật chỉ có thể hình thành trên
cơ sở ý thức pháp luật đúng đắn.
12
1.3. Khái niệm, đặc điểm của giáo dục pháp l u ậ t :
Một trong những vấn đề cơ bản của lý luận giáo dục pháp luật là làm
rõ bản chất của giáo dục pháp luật. Đây là khái niệm xuất phát, quyết định
nội dung của một loạt các khái niệm, phạm trù khác của lý luận và định
hướng cho các hoạt động thực tiễn. Vì vậy toàn bộ lý luận về giáo dục
pháp luật phụ thuộc vào việc xác định bản chất và nội hàm của khái niệm
pháp luật.
Ớ Việt Nam những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật chưa được
nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thông. Do vậy trong thực tiễn hiện
nay đang tồn tại các khái niệm khác nhau về giáo dục pháp luật, như cho
rằng giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng và
giao dục đạo đức, hay là quan điểm đồng nhất giáo dục pháp luật với tuyên
truyền, phổ biến hay giải thích pháp luật. Thậm chí có quan điểm cực đoan
cho rằng không có khái niệm giáo dục pháp luật mà pháp luật là các quy
tắc bắt buộc chung, mọi người phải có nghĩa vụ tuân thủ. Tất cả các quan
điểm nói trên đều là phiến diện, giản đơn, một chiều, chưa thấy hết đặc thù
của sự tác động hoặc giá trị xã hội vốn có của pháp lu ậ t. Vì vậy đã hạ thấp
vai trò và giá tri xã hội của pháp lu ậ t.
Để tìm hiểu khái niệm giáo dục pháp luật đúng đắn phải dựa trên
quan điểm lý luận về giáo dục Mácxít, trong đó khái niệm giáo dục pháp
luật thường xuất phát từ khái niệm giáo dục của khoa học sư phạm thể hiện
trên hai phương diện.
- Theo nghĩa rộng : Giáo dục đó là quá trình ảnh hưởng của những
điều kiện khách quan (như chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi
trường sống...) và cả những tác động của nhân tố chủ quan (tác động tự giác
định hướng của nhân tố con người).
- Theo nghĩa hẹp: Giáo dục đó là quá trình tác động định hướng của
nhân tô" chủ quan lên khách thể giáo dục. Như vậy những ảnh hưởng hay
tác động của các yếu tố khách quan không nằm trong nội hàm của khái
niệm giáo dục .
Theo lý luận chung khái niệm giáo dục pháp luật thường đựơc xây
dựng theo nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục khoa học sư phạm với lý do
sau:
Thứ n h ấ t: Mặc dù sự hình thành ý thức của con người là quá trình
ảnh hưởng tác động thống nhâ"t của các điều kiện khách quan lẫn các nhân
tô" chủ quan, nhưng những nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác Lê Nin lẫn
những nhà lý luận giáo dục đều phân biệt hai mặt của quá trình, về điều
13
kiện khách quan các nhà kinh điển cho rằng trong quá trình giáo dục người
lao động không được tách rời những điều kiện tồn tại của xã hội như chê
độ kinh tế, chính trị với những giai đoạn cụ thể của sự phát triển xã hội ấy.
Không có sự hoàn thiện “ Văn hoá trừu tượng của cá nhân” mà trước hết là
sự thay đổi các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đời sống con người
sẽ tạo ra khả năng phát triển đời sông tinh thần của quần chúng và ảnh
hưởng đến chât lượng giáo dục. Vì vậy nghiên cứu sự ảnh hưởng của các
điều kiện khách quan lên việc hình thành ý thức con người được các nhà
giáo dục quan tâm.
Tuy thừa nhận ảnh hưởng của điều kiện khách quan là to lớn đối với
việc hình thành ý thức con người nhưng các nhà kinh điển lại nhấn mạnh
tác động yếu tố hàng đầu, cực kỳ quan trọng của nhân tô" chủ quan mà hoạt
động giáo dục định hướng, có tổ chức, có chủ định của các cơ quan Đảng,
Nhà nước, các tổ chức xã hội. C.Mác đã viết: “ Con người chính là sản
phẩm của hoàn cảnh và giáo dục. Và do đó con người thay đổi vốn là sản
phẩm của hoàn cảnh và giáo dục đã thay đổi”. V.I. Lênin cũng nhân mạnh
ý thức chính trị, ý thức pháp luật được hình thành trong quá trình giáo dục.
Người cho rằng: giáo dục là phương pháp hoạt động chính của các tổ chức
Đảng và của các cơ quan nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhiều
lần nói rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người
xã hội chủ nghĩa.
Như vậy sự hình thành ý thức cá nhân của con người là sản phẩm của
quá trình phức tạp, trong đó có nhiều yếu tố cùng ảnh hưởng và tác động,
nhưng điều kiện khách quan là nhân tô" ảnh hưởng còn nhân tô" chủ quan là
nhân tô" tác động. Nhân tô" ảnh hưởng có thể là tự phát theo chiều này hoặc
chiều khác, còn nhân tố tác động là tự giác, có ý thức có chủ định theo một
hướng xác định.
Thứ h a i: Xây dựng khái niệm giáo dục pháp luật xuất phát từ nghĩa
hẹp có ý nghĩa trong việc phân biệt phạm trù giáo dục pháp luật với phạm
trù hình thành ý thức pháp luật. Hai phạm trù này có quan hệ mật thiết với
nhau, nhưng không phải là một. Hoạt động giáo dục pháp luật chính là sự
tác động của nhân tô" chủ quan mà trước hết đó là hoạt động có định hướng,
có tổ chức, có chủ định thành một hệ thông của nhiều chủ thể. Còn sự hình
thành ý thức pháp luật là sản phẩm của các ảnh hưởng của điều kiện khách
quan lẫn sự tác động định hướng của nhân tô" chủ quan. Sự phân biệt hai
phạm trù này có ý nghĩa trong việc phân định về nội dung, phương pháp,
hình thức, phương tiện giáo dục pháp luật cho phù hợp. Thực tiễn chỉ ra
rằng kết qủa của giáo dục pháp luật chỉ đạt được khi xác định đúng đắn nội
14
dung, hình thức, phương tiện và phương pháp giáo dục pháp luật, ngược lại
nếu buông trôi, thả lỏng thì các ảnh hưởng tiêu cực khách quan sẽ có điều
kiện lan rộng.
Thứ ba : xuất phát từ nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục trong khoa
học sư phạm để hình thành khái niệm giáo dục pháp luật cho phép chỉ ra
môi quan hệ giữa “ cái chung” và “ cái riêng”. Giáo dục pháp luật là “cái
riêng” cái đặc thù trong mối quan hệ với giáo dục nói chung là “ cái
chung”, cái phổ biến.
Cái riêng vừa phải mang những đặc điểm chung lại vừa thể hiện
những nét đặc thù. Vì vậy, giáo dục pháp luật phải “hút vào” trong đó
những nét chung của quá trình giáo dục, vừa sử dụng các hình thức và
phương pháp của giáo dục nói chung lại vừa chứng tỏ mình có những nét
riêng đặc thù.
Như trên đã trình bày về bản chất và nội hàm của giáo dục pháp
luật, còn đặc điểm giáo dục pháp luật thì được thể hiện sau :
Một là, giáo dục pháp luật có mục đích riêng của mình. Đó là hoạt
động nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với
quy định của pháp luật.
Hai là, giáo dục pháp luật có nội dung riêng mình. Đó là sự tác động
định hướng với nội dung cơ bản là chuyền tải tri thức của nhân loại nói
chung, của một nhà nước nói riêng về hai hiện tượng Nhà nước và pháp
luật, trong đó pháp luật thực định là bộ phận cực kỳ quan trọng.
Ba là, xét trên các yếu tô" chủ thể, khách thể, đôi tượng, hình thức và
phương pháp giáo dục cũng có thể chỉ ra các nét đặc thù riêng có của giáo
dục pháp luật là quá trình tác động liên tục, thường xuyên, lâu dài chớ
không phải một lần, vì thế giáo dục pháp luật trở thành một hoạt động rất
quan trọng trong gia đình trường học, các tập thể lao động, các tổ chức
Đảng, nhà nước và đoàn thể xã hội.
Tóm lại, giáo dục pháp luật là hoạt động định hướng có tổ chức, có
chủ định của chủ thể giáo dục và tác động lên đối tượng giáo dục một cách
có hệ thống nhằm hình thành ở họ tri thức pháp luật tình cảm và hành vi
phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành.
1.4. Mục đích của giáo dục pháp l u ậ t :
Một trong những yếu tố tạo nên cấu trúc bên trong đặc thù của giáo
dục pháp luật là mục đích của nó, bởi vì các phạm trù nội dung, hình thức,
phương pháp của giáo dục pháp luật trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào
15
việc xác định những mục đích xã hội nào được đặc trước quá trình giáo
dục. Chẳng hạn truyền bá tri thức pháp luật được coi là mục đích của giáo
dục pháp luật thì khi đó giáo dục pháp luật có thể xem là đồng nhất với
hình thức dạy và học pháp luật. Do đó xác định đúng đắn, chính xác hay
phiến diện, sai lầm mục đích của giáo dục pháp luật đều có ảnh hưởng đên
chất lượng tốt hay xấu của giáo dục pháp luật, ngoài ra mục đích của giáo
dục pháp luật còn giúp cho việc xác định hiệu qủa của quá trình giáo dục.
Khi xác định mục đích của giáo dục pháp luật đã xuất hiện các kiến
giải khác nhau. Một sô" người cho rằng giáo dục pháp luật có mục đích râ"t
rộng rãi bao gồm từ việc hình thành thái độ đúng đắn đôi với lao động và
sở hữu xã hội, bồi dưỡng tình cảm làm chủ, tình đồng chí, chủ nghĩa yêu
nước cho đến hình thành thói quen tuân theo những quy phạm pháp luật,
cũng cô" pháp chê", thiết lập trật tự pháp lu ậ t. Một sô" khác lại xác định mục
đích giáo dục pháp luật là tạo ra khả năng lớn lên của văn hoá chính trị ở
công dân, thiết lập trong ý thức công dân các quan điểm đạo đức chính
thông. Có ý kiến cho rằng giáo dục pháp luật có mục đích nhận thức, tình
cảm và hành vi hợp pháp ở người lao động. Với những ý kiến về mục đích
giáo dục pháp luật nói trên nhiều nhà khoa học cho rằng chưa phải là tôi ưu
nhìn từ phương diện lý luận và thực tiễn của vân đề. Bởi vậy ý kiến chung
nhân mạnh cần phải xác định mục đích giáo dục pháp luật như thế nào
phản ảnh được mong đợi cụ thể của xã hội, phù hợp với các điểu kiện
khách quan và chủ quan của xã hội để khả năng đạt được nó là hiện thực,
phản ánh được môi quan hệ trực tiếp với thực tiễn hoạt động giáo dục pháp
luật, giúp cho việc xác định và nâng cao được hiệu quả hoạt động đó.
Với ý kiến chung đó trong điều kiện nước ta hiện nay mục đích giáo
dục pháp luật được xác định cụ thể như sau:
Một là: Trang bị, cung cấp, bồi dưỡng và nâng cao tri thức pháp luật
xuất phát từ đòi hỏi của các đội tượng giáo dục khác nhau phù hợp với các
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
Hai là: Hình thành lòng tin vào pháp luật.
Ba là: Xây dựng thói quen xử sự theo đòi hỏi của pháp luật.
Lý luận và thực tiễn giáo dục pháp luật chỉ ra rằng khi xác định mục
đích cần phải chú ý đến những nhu cầu và lợi ích xã hội. Trong việc xác
định mục đích của bất kỳ một việc nào bao giờ cũng đòi hỏi phải ý thức về
những điều kiện khách quan và những khả năng chủ quan của hoạt động,
16
lường trước một kết qủa và thực tê sẽ xảy ra. Do vậy giữa các mục đích có
môi quan hệ lẩn nhau không tách rời, chúng phôi hợp, bổ sung cho nhau.
Môi quan hệ không tách rời giữa các mục đích là đòi hỏi khách quan bắt
nguồn từ chính bản chất của hoạt động con người.
Như vậy, giáo dục pháp luật là quá trình tác động định hường của các
nhân tô" chủ quan nhằm hình thành tri thức pháp luật (mục đích nhận thức),
lòng tin pháp luật (mục đích cảm xúc) và động cơ hành vi hợp pháp (mục
đích hành vỉ). Giữa các mục đích có sự đan xen, quan hệ qua lại thông nhất
chặt chẽ từ tri thức pháp luật đến tính tự giác, từ tính tự giác tới tính tích
cực, từ tính tích cực đến thói quen xử sự theo pháp luật.
Thực tiễn giáo dục pháp luật ở nước ta chỉ ra rằng do nhận thức
không đầy đủ hệ thông các mục đích giáo dục nói trên nên đã hạn chế hiệu
qủa của công tác giáo dục. Việc tiến hành giáo dục pháp luật không dưa
trên sự tác động qua lại của hệ thông các mục đích nên thiếu khoa học,
đồng bộ và phôi hợp. Các hình thức phương tiện và phương pháp giáo dục
chỉ tập trung cho việc trang bị các quy định thực định của nhà nước, mặc dù
trên phương tiện đại chúng đã mở nhiều chuyên mục tuyên truyền giải
thích pháp luật, nhưng châl lượng chưa đáp ứng việc hình thành hệ thông
các mục đích nói trên ở người lao động.
1.5. Nội dung của giáo dục pháp ỉu ậ t:
Giáo dục pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động quản lý
nhà nước, khắc phục sự bảo thủ của tư duy, những tư tưởng ích kỷ và cục
bộ, kích thích các hành vi tự giác tuân theo pháp luật. Giáo dục pháp luật
tạo ra khả năng hình thành các điều kiện và nhân tô" thuận lợi cho quá trình
quản lý nhà nước, quản lý xã hội, làm xuất hiện và củng cô" những phẩm
chất tích cực của ý thức và hành vi quản lý, mặt khác tạo ra khả năng
không tiếp nhận những hiện tượng tiêu cực, chống đối pháp luật diễn ra
trong quá trình quản lý. Chính vì thê" đổi mới hệ thông chính trị nói chung,
cải cách bộ máy nhà nước nói riêng đang tiến hành ở nước ta trên thực tế
không thể tiến hành và tồn tại bên ngoài quá trình giáo dục pháp luật,
không thể không tính đến kết qủa và mức độ giáo dục pháp luật. Vì vậy,
nội dung giáo dục pháp luật là yếu tô" quan trọng của quá trình giáo dục
pháp luật, xác định đúng nội dung giáo dục pháp luật sẽ đảm bảo được
hiệu qủa và tác dụng trong thực tê". Nội dung chủ yếu của giáo dục pháp
luật được xác định trên cơ sở mục đích, đôi tượng, chủ thể giáo dục pháp
17
luật. Do vậy, nội dung giáo dục pháp luật có phạm vi rất rộng bao gồm tất
cả các mốì quan hệ trong xã hội được pháp luật điều chỉnh: dân sự, hình sự,
hành chính, kinh tế,lao động, tài nguyên, môi trường, tài chính tín dụng. Do
đó các thông tin về pháp luật trong đó có các kiến thức về pháp luật cơ bản
và văn bản quy phạm pháp luật, tình hình vi phạm pháp luật. Các thông tin
về thực hiện pháp luật của các cơ quan tư pháp, các thông tin về nghiên
cứu, điều tra về xã hội học, về thực hiện áp dụng pháp luật đối với từng đốì
tượng. Đồng thời phản ánh những yêu cầu, đề xuất của các tầng lớp dân cư,
các chuyên gia pháp luật và các ngành khác trong việc hoàn thiện hệ thông
pháp luật các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân.
Trên cơ sở đốì tượng giáo dục pháp luật đã nêu trên thì nội dung giáo
dục pháp luật phải được thực hiện theo hướng:
Một là, giáo dục pháp luật phổ cập cho mọi công dân với những kiến
thức pháp luật phổ thông cơ bản, phù hợp với mọi đôi tượng nhằm hình
thành ở họ những kiến thức pháp lý từ đó họ làm tốt quyền và nghĩa vụ
pháp luật quy định, tuân thủ những quy tắc xử sự chung do nhà nước quy
định.
Hai là, giáo dục pháp luật phải được thực hiện theo nhu cầu ngành
nghề, từng lĩnh vực chuyên biệt. Nội dung này có tính tổng hợp, hệ thông
bao gồm các khái niệm cơ bản, các phạm trù cơ bản của khoa học pháp lý
như: bản chất, vai trò của pháp luật, hệ thống pháp lu ậ t, các quy định của
pháp luật thực định liên quan đến tổ chức quản lý, thực hiện cho các chủ
thê giáo dục và đốì tượng giáo dục pháp luật trong từng lĩnh vực, ngành
nghề cụ thể , các trình tự thủ tục giải quyết các tranh chấp xảy ra.
Ba là, nội dung tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật có tính
chuyên ngành, đây là cấp độ cao nhất của giáo dục pháp luật gồm những
nguyên lý về pháp luật mang tính chuyên sâu trong hệ thông pháp lý.
Ngoài ra nghiệp vụ về phổ biến giáo dục pháp luật như kỹ năng, kỹ xảo,
thao tác về nghề nghiệp và chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật trong việc áp
dụng pháp luật và thực thi pháp luật cũng phải được coi trọng. Trong điều
kiện nước ta hiện nay nói chung và Lâm Đồng nói riêng thì nội dung giáo
dục pháp luật cho tầng lớp nhân dân như phụ nữ, trẻ em, người nghèo, đôi
tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số cần phải được quan tâm để
thực hiện công tác giáo dục pháp luật đạt yêu cầu. Ngoài ra tuỳ theo ngành
nghề, lĩnh vực mà có nội dung giáo dục pháp luật theo từng thời gian, điều
kiện trong giai đoạn hiện nay.
18
1.6. Chủ thể và đôi tượng giáo dục pháp lu ậ t:
- Chủ thể giáo dục pháp luật:
Giáo dục pháp luật chỉ là một yếu tô" trong quá trình hình thành ý
thức pháp luật ở cá nhân con người và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình
này. Hai khái niệm giáo dục và hình thành ý thức pháp luật không đồng
nhâ"t về bản chất nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Hình thành ý thức
pháp luật có nội hàm rộng hơn giáo dục pháp luật, việc phân biệt này đốì
với Nước ta cũng như tỉnh Lâm Đồng càng có ý nghĩa về mặt lý luận và
thực tiễn. Bởi vì khi tri thức, tình cảm và thói quen xử sự theo pháp luật
chưa có điều kiện về mặt khách quan đầy đủ và thuận lợi thì vai trò nhân
tô" chủ quan hết sức quan trọng, do đó nỗ lực chủ quan tức là bằng hoạt
động có tổ chức, có ý thức tự giác cao của chủ thể giáo dục pháp luật nhằm
hình thành tri thức, tình cảm và thói quen pháp luật ở đôi tượng giáo dục .
Với quan niệm về bản chất của giáo dục pháp luật là hoạt động định hướng
có tổ chức , có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo
dục nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý , tình cảm và hành vi
phù hợp với các đòi hỏi của hệ thông pháp luật hiện hành. Như vậy ở nước
ta trong điều kiện hiện nay, việc trang bị tri thức pháp lu ậ t, bồi dưỡng tình
cảm và thói quen xử sự theo pháp luật cho nhân dân lao động là trách
nhiệm của các tổ chức Đảng, các cơ quan trong bộ máy nhà nước , các tổ
chức xã hội, tổ chức kinh tê", trong đó trách nhiệm trước hết thuộc về hệ
thông các cơ quan chức năng giáo dục, đào tạo còn người. Với chủ thể trên
có thể hiểu đó là các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật ở hệ thông
các cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước , tổ chức xã hội các cấp, các phóng
viên, biên tập viên trong cơ quan, thông tin đại chúng, các giáo viên giảng
dạy pháp luật trong các trường từ phổ thông đến đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp và dạy nghề, các chuyên gia làm công tác nghiên cứu
và chỉ đạo giáo dục pháp luật.
Ngoài ra còn có những người tuy chức năng nhiệm vụ chính không
phải là giáo dục pháp luật nhưng thông qua hoạt động chuyên môn, nghiệp
vụ để thực hiện công tác giáo dục pháp luật như cán bộ ở các cơ quan lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Thực tiễn chỉ ra rằng các hoạt động lập pháp,
lập quy, áp dụng và bảo vệ pháp luật nếu định hướng hoạt động của mình
nhằm vào việc giáo dục pháp luật thì đây là những “kênh” cung câ"p tri
thức, bồi dưỡng tình cảm và hướng dẫn hành vi hợp pháp tô"t nhâ"t.
19
-Đôi tượng giáo dục pháp luật:
Nghị quyết Đại hội l ầ n thứ VIII của Đảng khẳng định : “ Triển khai
mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật, huy động lực lượng
của các đoàn thể, chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin
đại chúng tham gia các đợt vận động thiết lập trật tự, kỹ cương và các hoạt
động thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong cơ
quan nhà nước và trong xã hội”. Trong những năm qua nhiều Bộ ngành ở
Trung ương và chính quyền đ ị a phương các cấp đã có cố gắng trong việc tổ
chức giáo dục pháp luật và đ ã thu được những kết qủa đáp ứng được một
phần yêu cầu của việc tăng cường quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng
pháp luật. Tuy nhiên công tác giáo dục pháp luật chưa đặt ngang tầm với
yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, chưa tiến hành thường xuyên, liên
tục, đồng bộ rộng khắp, chưa có trọng tâm trọng điểm, còn thiếu cơ chế, kế
hoạch phối hợp. Để đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật nhằm nâng cao
hiểu biết và ý thức tôn trọng pháp luật, bảo đảm hiệu qủa thực thi pháp
luật, cần xác định được đối tượng giáo dục pháp luật là những cá nhân, các
nhóm cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, cần chú ý các đôi tượng sau :
+ Giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức : Có thể nói không có
một hệ thông cơ quan nhà nước và hệ thông xã hội nào có sô" lượng cán bộ
nhiều, trình độ cao và được bô" trí rộng khắp như đội ngũ cán bộ qủan lý
nhà nước. Hơn nữa vị trí, thẩm quyền cán bộ quản lý nhà nước rất quan
trọng, rất rộng như ban hành những quy định qủan lý làm phát sinh, thay
đổi hoặc làm châm dứt một hay nhiều quan hệ pháp luật, có thể đưa lại lợi
ích hoặc thiệt hại về vật ch ất, tinh thần cho các đôi tượng khác, có thể làm
phát sinh, chi phôi tư tưởng, tình cảm pháp luật và cả hành vi pháp luật của
nhiều đôi tượng trong xã hội. Hoạt động của cán bộ quản lý nhà nước góp
phần quan trọng trong việc duy trì kỷ cương nhà nước, là lực lượng có
nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật bảo đảm đưa pháp luật vào cuộc
sống, tiến hành quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực . Do đó cần tuyên
truyền giáo dục pháp luật để cán bộ quản lý nhà nước có trình độ hiểu biết
pháp luật toàn diện sâu sắc, có thái độ tôn trọng pháp luật, có hành vi tích
cực chấp hành pháp luật.
+ Giáo dục pháp luật trong các loại hình nhà trường có vị trí đặc
biệt quan trọng trong các hình thức, con đường giáo dục pháp luật nói
chung, có ý nghĩa chiến lược trong việc đào tạo giáo dục để hình thành một
20
cách vững chắc những thế hệ công dân - người lao động đáp ứng các yêu
cầu của xã hội hiện tại và tương lai. Do đó trong hơn mười năm qua, Đảng
và Chính phủ đã ra nhiều Nghị quyết, chỉ thị trong đó khẳng định một hình
thức, biện pháp cơ bản, chiến lược và hữu hiệu để xây dựng và nâng cao ý
thức pháp luật của nhân dân là “ Đưa việc giáo dục pháp luật vào các
trường học, các cấp học, từ phổ thông đến đại học, trung học chuyên nghiệp
và các trường của các đoàn thể nhân dân”.
+ Giáo dục pháp luật cho người lao động, người quản lý và cán bộ
công đoàn trong các doanh nghiệp vì nền kinh tế thị trường hiện nay hàng
chục triệu cán bộ quản lý và người làm công ở các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế đang là đôi tượng rất quan tâm của Đảng và nhà nước.
Cùng với việc yêu cầu về kiến thức nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật,
nghiệp vụ quản lý họ buộc phải có những hiểu biết nhất định về pháp luật,
đặc biệt là những văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực mà
họ hoạt động, nếu đối tượng mà họ đang quản lý, sử dụng. Chính vì vậy
công tác giáo dục pháp luật trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế từng bước được quan tâm.
+ Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp là một khâu của hoạt
động tổ chức thực hiện pháp luật, là sự tác động có hệ thống có mục tiêu
của nhà nước nói chung và của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, nghề nghiệp nói riêng, có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc đưa hệ thông pháp luật đi vào cuộc sống. Trong điều kiện kinh tế thị
trường và dân chủ hoá đời sông xã hội, việc giáo dục pháp luật không thể
chỉ dừng lại mức cung cấp , phổ biến các thông tin pháp luật. Giáo dục
pháp luật còn phải đáp ứng các nhu cầu hiểu biết đa dạng của từng người
dân, nhu cầu hiểu biết pháp luật một cách cụ thể, chính xác và thiết thực
đê bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, để tổ chức công việc làm ăn, để mở
rộng quan hệ giao dịch xã hội và khi có bất đồng tranh chấp đang là đòi hỏi
cấp thiết của từng cá nhân, gia đình và từng tập thể. Do đó giáo dục pháp
luật qua hoạt động tư pháp chính là một trong những hình thức đáp ứng nhu
cầu đó. Ngoài ra đối tượng giáo dục pháp luật cần chú ý thêm là các tầng
lớp nhân dân nói chung và các đôi tượng ưu tiên khác như đồng bào dân
tộc thiểu sô", thanh thiếu niên, phụ nữ, đối tượng đã phạm tội hoặc bị xử lý
về hành chính.
21
1.7. Tính tất yếu khách quan và sự cần thiết phải tăng cường giáo
dục pháp lu ậ t:
Pháp luật chỉ có thể được thực hiện khi mỗi người dân có sự nhận thức
và hiểu biết đế từ đó có được những hành vi xử sự của mình phù hợp với
những quy định của pháp luật.
Sở dĩ trong thời gian vừa qua tình trạng vi phạm pháp luật nói chung và
tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng, một trong những lý do dẫn đến
tình trạng này đó là sự nhận thức về pháp luật của nhân dân còn nhiều hạn
chế .Vì vậy mà nhìn chung xã hội đang trong trạng thái kém hiểu biết về pháp
luật. Mục đích hàng đầu của việc giáo dục pháp luật hướng vào việc nhận thức
,bởi lẽ sự am hiểu pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự
phát triển ý thức pháp luật, tư duy pháp lý và hình thành tính tích cực ở con
người . V.I Lê Nin đã xem đó là điều kiện cần thiết để tiếp cận với chính trị và
văn hoá . Khẳng định về vấn đề này V.I Lê Nin chỉ rõ : “ Sự am hiểu trong đó
sự am hiểu pháp luật là điều kiện cần thiết mà thiếu nó không nên nói đến
chính trị . Người mù chữ thì đứng ngoài chính trị. Trước tiên cần phải hiểu
điều sơ đẳng đó ”(V.I Lê Nin toàn tập 44,T'r.l74-Tiếng Nga) .Vì vậy, không
thể nói việc mở rộng và nâng cao tri thức pháp lý nếu như không thực hiện
việc giáo dục pháp luật để trang bị cho con người những kiến thức cơ bản về
pháp luật .Thông qua việc giáo dục pháp luật mà tri thức pháp luật được hình
thành và ngày càng phát triển. Tri thức pháp luật càng đầy đủ thì tình cảm
pháp luật càng mạnh mẽ bởi tri thức pháp luật tạo nên cơ sở của sự định hướng
lòng tin ổn định vào các giá trị của pháp luật. Hơn nữa tri thức pháp luật giúp
cho con người nhận thức và thực hiện hành vi của mình một cách có ý thức và
kiểm tra được hành vi của mình từ các quan điểm, chuẩn mực pháp lý .Vì vậy
thông qua giáo dục mà mở rộng tri thức và nâng cao trình độ hiểu biết pháp
luật, đây là yếu tố hết sức quan trọng .Trong thực tế không ít người có tri thức
pháp luật nhưng ở họ lại không có tình cảm đúng đắn với pháp luật nên xử sự
của họ không theo đúng những quy định của pháp luật, tuy nhiên số này
không nhiều mà phần lớn công dân nước ta do bị ảnh hưởng nặng nề của hệ
thống pháp luật phong kiến và thực dân đế quốc với những hình phạt tàn
khốc, độc ác dã man, lại thiếu tri thức pháp luật cho nên làm cho tình cảm
pháp luật ở họ trở nên sợ hãi chứ chưa được xây dựng trên cơ sở niềm tin vào
pháp luật . Hơn nữa thời gian qua do những thiếu sót trong lĩnh vực lập pháp
và thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước,
các vụ án tiêu cực tham nhũng lớn., làm cho niềm tin vào pháp luật và tình
cảm pháp luật của người dân bị sụt giảm . Khi người dân hoài nghi về pháp
22
luật, nghĩa là họ không tin vào nhà nước, vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa
.Rõ ràng đã đến lúc không thể không quan tâm đến công tác giáo dục pháp
luật để thông qua đó mà mọi người hiểu biết một cách sâu sắc về sự cần thiết,
tính hợp lý và lợi ích của các mệnh lệnh pháp luật đối với xã hội và tất cả các
thành viên trong xã hội. Làm sao sự tuân theo những quy định của pháp luật
trở thành thói quen là biểu hiện của lòng tin nội tâm để có cách xử sự phù hợp
vói những đòi hỏi của các quy phạm pháp luật trên cơ sở tính tự giác cao.
Đặc biệt trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay, việc tăng
cường giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa đối
với nhân dân đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và xác định là một
trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần
chúng từ trung ương đến địa phương. Bởi hiệu quả của việc chấp hành pháp
luật tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa
quyết định về mặt chủ quan, đó là ý thức pháp luật. Không có ý thức pháp luật
và sự hiểu biết pháp luật thì cũng không thể có sự tự giác tuân theo và chấp
hành nghiêm chỉnh cũng như không thể thực thi và áp dụng pháp luật một
cách đúng đắn trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội . Chính vì vậy mà trong
báo cáo của Ban chấp hành trung ương (Khoá VII) tại Đại hội VIII của Đảng
đã nhấn mạnh 'Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp
luật, huy động lực lượng của các đoàn thể chính trị xã hội, nghề nghiệp, các
phương tiện thông tin đại chúng tham gia các đợt vận động thiết lập trật tự,
kỷ cương và hoạt độnq thường xuyên, xây dựng nếp sống và làm việc theo
pháp luật trong cơ quan nhà nước và trong xã hội ” (Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII - NXB Chính trị quốc gia, Hà nội - 1996, Tr. 241)
Tuyên truyền giáo dục pháp luật là việc làm cần thiết vừa để nâng cao ý
thức pháp luật , đồng thời cũng là biện pháp tích cực đấu tranh chống lại
những hành vi vi phạm pháp luật .Công tác giáo dục pháp luật phải được xác
định là nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương , đặc biệt là hệ
thống các trường học từ trung ương đến cơ sở. Để công tác này đạt hiệu quả
thiết thực cần sử dụng nhiều hình thức, biện pháp phong phú đa dạng và sinh
động. Kết hợp chặt chẽ với việc học tập chính trị, chuyên môn rèn luyện đạo
đức xã hội chủ nghĩa nhằm giáo dục có hệ thống ý thức công dân và kiến thức
pháp luật, tạo lập thói quen sống và làm việc theo pháp luật cho mọi người .
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, công tác tuyên truyền giáo dục
pháp luật tiếp tục được khẳng định “ Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện
khung phấp luật phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
.Nghiên cứu sủa đổi, hổ sung pháp luật hiện hành phù hợp với yêu cầu thực
23
hiện chiến lược kinh tế xã hội và yêu cầu hội nhập kinh t ế ... đổi mới và hoàn
thiện quy trình xây dựng luật, han hành và thực thi pháp luật trong đó chú
trọng việc tuyền truyền, giáo dục pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật một
cách nghiêm minh” (V ăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB
Chính trị quốc gia ,Tr.329).
Như vậy, để pháp luật đi vào cuộc sống cần phải kiên trì giáo dục ý thức
pháp luật cho mọi thành viên trong xã hội, nâng cao hiểu biết về pháp luật
không chỉ cho cán bộ, công chức thuộc bộ máy nhà nước, các cơ quan bảo vệ
pháp luật mà trước hết là các tầng lớp nhân dân, trau dồi thái độ và tình cảm
đúng đắn của họ đối với pháp luật, tuân thủ pháp luật trở thành hành vi và lối
sống của mọi người trong xã hội. Thực tế cho thấy rằng chỉ khi đông đảo các
tầng lóp nhân dân có hiểu biết đầy đủ pháp luật, về hoạt động đúng đắn của
các cơ quan nhà nước thì việc chấp hành pháp luật mới đầy đủ ,việc đấu tranh
chống các vi phạm pháp luật và tội phạm mới mang lại hiệu quả, có như vậy
thì pháp luật mới thực sự đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng . Trên tinh
thần đó, ngày 7/01/1998 Thủ tướng chính phủ đã có chỉ thị 02 /1998/CT-TTg
v/v tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
Và, ngày 17/01/2003, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định sô"
13/2003/QĐ -TTg phê duyệt Chương trình phổ biến giáo dục pháp luật giai
đoạn 2003 - 2007. Đặc biệt ngày 09/12/2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng
đã ban hành Chỉ thị sô" 32/CT -TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành
pháp luật của cán bộ, nhân dân. Đây chính là cơ sở lý luận và pháp lý
quan trọng trong triển khai và đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật, càng
khẳng định tầm quan trọng và tính câ"p thiết của công tác giáo dục pháp
luật, đưa pháp luật vào cuộc sông trong giai đoạn hiện nay.
24
Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
NHẰM TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
ở TỈNH LÂM ĐỔNG
2.1. Thực trạng giáo dục pháp luật ở tỉnh Lâm Đồng :
2.1.1. Tình hình kinh t ế - xã h ộ i :
- Điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý : Lâm Đồng nằm ở phía Nam Tây Nguyên, độ cao trung
bình từ 800-1000 m so với mực nước biển. Phía Bắc giáp tỉnh Phú yên và tỉnh
Đắc lắc; phía Nam giáp tỉnh Đồng Nai; phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận và
tỉnh Ninh Thuận; phía Tây giáp tỉnh Bình Phước và tỉnh Đắk Lắk. Việc giao
lưu và thông thương giữa Lâm Đổng với các địa phương khác chủ yếu bằng
đường bộ. Hệ thống đường bộ bao gồm các trục lộ chính như : Quốc lộ 20
,quốc lộ 27, 28 nối Lâm đồng với Đắc lắc và các tỉnh phía Nam trung bộ,
Đông nam bộ và thành phố Hồ Chí Minh .
+ Về địa hình Lâm Đồng nằm trên ba cao nguyên lớn xen kẽ giữa núi
cao, bình nguyên và thung lũng nên địa hình rất phức tạp. Bề mặt địa hình
giảm dần độ cao từ đông bắc xuống tây nam kéo dài tới trên 200 Km vì vậy
hội đủ các yếu tố tự nhiên như : khí hậu, thảm thực vật, thổ nhưỡng và tạo ra
những cảnh quan phong phú, đa dạng .
+ Vê khí hậu : Lâm Đồng nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu
nhiệt đới gió muà vùng cao nguyên. Nhiệt độ giảm dần theo độ cao, ở những
vùng có độ cao trên 800 m nhiệt độ trung bình từ18C-20 c và trên 1000 m
thì thời tiết quanh năm mát mẻ .Với tài nguyên khíhậunày Lâm đồng rất có
lợi thế về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ du lịch .
+ Vê đất đai : Lâm Đồng có diên tích tự nhiên là : 976 478,8 ha, trong đó
Đất nông nghiệp : 240 902,6 ha
Đất lâm nghiệp : 617 814,6 ha
Đất ở
:
6 336,5 ha
25
Đất chuyên dùng : 21 170,9 ha
Đất chưa sử dụng : 90 254,1 ha
Thế mạnh về đất đai ở Lâm Đồng đó là nhóm đất đỏ ba zan với diện tích
hơn 200 ha phân bố trên cao nguyên Bảo lộc, Bảo lâm, Di linh , Đức Trọng và
Lâm hà rất thích hợp với cây công nghiệp dài ngày. Nhóm đất phù sa có
khoảng 55.000 ha phân bố dọc sông suối ở huyện Cát tiên, Đạ tẻh loại đất
này thích hợp với trổng lúa và cây công nghiệp ngắn ngày. Đất nông nghiệp ở
Lâm đồng tăng lên rất nhanh trong những năm gần đây, từ chỗ có khoảng trên
100 ha trong những năm 1990 nay đã có trên 250.000 ha . Đất lâm nghiệp có
rừng ở Lâm Đồng hiện có khoảng 575.000 ha với trữ lượng gỗ 50,4 triệu m3
gỗ, 544 triệu cây tre.Tập đoàn cây rừng phong phú có nhiều loại cây có giá trị
kinh tế cao, là một trong những tỉnh có độ che phủ lớn nhất nước (khoảng
60%).
Bên cạnh đó, Lâm đồng là một tỉnh có tiềm năng rất lớn về thuỷ điện , ở
đây có thể xây dựng đến 16 trạm thuỷ điện với tổng công suất khoảng 900
MW, hiện tại nhà nước đã đầu tư xây dựng nhà máy thuỷ điện Hàm thuận ĐạmBri với công suất 450MW, dự án tiền khả thi nhà máy thuỷ điện Đại ninh
có công suất 375 MW và một số nhà máy thuỷ điện nhỏ đã đưa vào sử dụng .
Ngoài ra Lâm đồng còn có nhiều loại khoáng sản, một trong những
khoáng sản đã được xác định đó là bô xit vói trữ lượng quặng nguyên là 1,5 tỷ
tấn, quặng tinh 447 triệu tấn, hàm lượng Oxít nhôm rất cao từ 35-40% tập
trung ở cao nguyên Di linh, Bảo lộc, Bảo lâm. Nơi đây đã có một dự án tiền
khả thi là xây dựng nhà máy luyện nhôm với công suất lớn nhất nước (khoảng
300 000 tấn /năm)
- Điều kiện xã h ộ i:
Tổng dân số toàn tỉnh tính tới thời điểm 01/04/2002 là 1.020.602 người
gồm nhiều dân tộc ( trên 40 dân tộc) cùng sinh sống, trong đó dân tộc ít người
chiếm khoản 25-26 %. Dân cư ở Lâm Đồng được phân bố thành 3 nhóm
chính:
Thứ nhất, cư dân bản địa (gốc địa phương). Đông nhất là dân tộc K’ho
chiếm khoảng 14% , dân tộc Mạ chiếm trên 3% đặc điểm cơ bản của nhóm cư
dân này là tổ chức thành buôn ,PLây, đây là các đơn vị dân cư có tính cộng
đồng tương đối hoàn chỉnh, độc lập và khép kín về khu vực canh tác, khu vực
cư trú với thiết chế xã hội chặt chẽ, ranh giới lãnh thổ, quyền sử hữu đất đai,
rừng được xác định thông qua các luật tục, lễ thức gắn bó với mỗi buôn làng.
Hiện nay mặc dù nhà nước đã chủ chương phát triển nền kinh tế hàng hoá
26