ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN XÂY DỰNG ĐẢNG
Câu 1: Nội dung của nguyên tắc TTDC của Đảng Cộng sản Việt Nam và các
giải pháp thực hiện
- Khái niệm:
+ Tập trung trong Đảng là sự liên minh tự nguyện của những người có cùng
chung lý tưởng thống nhất, tập trung với tư cách là một tổ chức, tập trung hàm
nghĩa ý chí và kỉ luật thống nhất.
+ Dân chủ trong Đảng là quyền làm chủ của mọi đảng viên, nó được thể
hiện rõ trong công việc của Đảng đều do mọi đảng viên bàn bạc và quyết định.
- Nội dung của nguyên tắc TTDC
Ngay từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành
và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về TTDC. Nhờ đó mà
Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong cả hai cuộc kháng chiến đầy
gian nan và khốc liệt. Đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước với
một bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, Đảng Cộng sản
Việt Nam kiên trì và thực hiện nghiêm nguyên tắc TTDC.
Trong văn kiện của Đại hội XI, Đảng ta khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt
Nam tổ chức theo nguyên tắc TTDC” (Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: Chương
2, điều 9) Nội dung cơ bản của nguyên tắc bao gồm 6 nội dung sau:
“ 1. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”
- Cơ quan lãnh đạo các cấp do bầu cử lập ra
+ Đại hội đại biểu toàn quốc bầu ra Ban Chấp hành Trung ương, Ban chấp
hành Trung ương bầu Bộ Chính trị; thành lập Ban Bí thư gồm Tổng Bí thư, một số
Uỷ viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công.
+ Đại hội Đảng bộ các cấp bầu ra Ban chấp hành từ Ban chấp hành bầu ra
Ban thường vụ.
Các cơ quan lãnh đạo của Đảng và người đứng đầu cơ quan ấy đều do
bầu cử lập ra, dưới hình thức bỏ phiếu kín.
Trong chế độ bầu cử, bỏ phiếu kín có một ý nghĩa đặc biệt đối với việc dân
chủ hoá sinh hoạt Đảng. Vì bỏ phiếu kín đã trở thành một tiêu chuẩn trong việc bầu
cử tất cả các cơ quan trong Đảng
- Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách phải luôn luôn đi đôi với nhau,
gắn bó với nhau và cũng là nguyên tắc tổ chức trong sinh hoạt đảng.
Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt tới vấn đề này:
+ Người đặt câu hỏi: “Vì sao phải TTLĐ?”: Vì một người dù khôn ngoan tài
giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được
một hoặc khía cạnh của vấn đề, không thể thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một
vấn đề
Vì vậy cần phải nhiều người, nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì
thấy rõ mặt này, người thì thấy rõ mặt khác của vấn đề đó dẫn đến rõ mọi mặt, giải
quyết chu đáo khỏi sai lầm.
+ Nhưng TTLĐ mới chỉ là một vế, một vế nữa là “cá nhân phụ trách”.
Người cũng đặt câu hỏi “Vì sao cần phải cá nhân phụ trách?”. Việc gì đã được
đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng, thì cần phải giao cho một
người hoặc một nhóm người phụ trách theo kế hoạch đó thi hành. Như thế mới có
chuyên trách, công việc mới chạy.
Hồ Chí Minh cho rằng:“tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách
là tập trung. Tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách là dân chủ tập trung”.
“ 2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ
quan lãnh đạo ở mỗi cấp là Đại hội đại biểu hoặc Đại hội đảng viên. Giữa hai
kỳ Đại hội, cơ quan lãnh đạo của đảng là Hội nghị BCHTW; ở mỗi cấp là Ban
chấp hành Đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ)”
Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ quan lãnh đạo (đây là cơ quan lãnh đạo cao
nhất của Đảng có quyền xây dựng, bổ sung, điều chỉnh đường lối, chiến lược,
đường lối tổ chức, đường lối đối ngoại, quốc phòng an ninh, sửa đổi Điều lệ,
Cương lĩnh,…). Giữa hai kỳ đại hội cơ quan lãnh đạo của Đảng là Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là Đại hội đại biểu hoặc Đại
hội đảng viên. Ban Chấp hành các cấp là cơ quan thực hiện chức năng lãnh đạo
thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu cùng cấp, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên,
còn Ban Thường vụ là cơ quan lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết của
Đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ cùng cấp và cấp trên, quyết định
những vấn đề về chủ trương tổ chức, cán bộ quyết định triệu tập và chuẩn bị nội
dung các kỳ họp của cấp uỷ.
“3. Cấp uỷ các cấp phải báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của
mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp uỷ cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông
báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự
phê bình và phê bình
Gắn liền với chế độ bầu cử là chế độ báo cáo của các cơ quan Đảng trước
đảng viên trong các Hội nghị, Hội nghị đại biểu và các Đại hội” (Về nhiệm vụ của
cấp uỷ các cấp)
+ Chế độ báo cáo là kết quả của dân chủ mà cấp ủy là đại diện cho Đảng bộ
cấp mình báo cáo với cấp trên và trước Đại hội.
+ Chế độ báo cáo là một công cụ có hiệu quả để quần chúng, đảng viên
tham gia kiểm tra, giám sát các cán bộ lãnh đạo tôn trọng đến mức độ nào ý kiến
của quần chúng và đảng viên, và tiến hành công việc theo tinh thần của các nghị
quyết đã được tập thể thông qua.
+ Chế độ báo cáo trở thành một yếu tố cấu thành của chế độ dân chủ bởi vì
qua thảo luận báo cáo đảng viên có thể: cất nhắc, lựa chọn người đứng đầu tổ chức
được đúng đắn; kịp thời đóng góp, bổ sung những ý kiến và giải pháp tốt thuận lợi
cho việc tổ chức và thực hiện thắng lợi nghị quyết.
Đảng coi việc làm này là biện pháp có hiệu lực để củng cố mối liên hệ giữa đảng
và nhân dân và là nguồn sức mạnh của đảng.
“4. Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của đảng;
Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ
chức, các tổ chức trong toàn đảng phục tùng Đại hội đại biểu và Ban chấp hành
Trung ương.”
+Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng: Nghị
quyết là sự kết tinh trí tuệ dân chủ, ý chí của đảng viên xây dựng lên nên phải chấp
hành.
+ Chấp hành trên cơ sở thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp
trên.
+ Các cơ quan trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu Toàn quốc và
Ban Chấp hành Trung ương. Vì đây chính là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng.
“5. Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của đảng chỉ có giá trị thi hành
khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Khi biểu quyết
mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về
thiểu số có quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp trên cho đến Đại hôi đại biểu toàn
quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá
những ý kiến trái với nghị quyết Đảng. Cấp uỷ có thẩm quyền xem xét ý kiến đó;
không được phân biệt đối xử đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.”
+ Nghị quyết là ý chí, trí tuệ của đa số đảng viên nên phải chấp hành. Còn
đối với những người thuộc về ý kiến thiểu số có quyền bảo lưu, quyền phân tích,
quyền chứng minh nhưng phải chấp hành nghị quyết. Đó vừa là sự thể hiện DC
nhưng đồng thời cũng thể hiện sự TT.
Trong thực tế ta thấy vẫn có những vấn đề thuộc về đa số ý kiến sai, nhưng
nhìn chung không phải là phổ biến và thường xuyên. Bởi chúng ta biết mỗi một
quyết định, một nghị quyết của Đảng thường được nghiên cứu, chuẩn bị khá công
phu. Đó là kết quả của trí tuệ tập thể, là kết tinh nhận thức đúng đắn của tập thể, ít
nhất là đến một thời điểm nào đó. Trường hợp một đảng viên thấy nghị quyết là sai
hoặc có điểm sai thì thái độ đúng đắn nhất và kịp thời nhất là thẳng thắn trình bày ý
kiến của mình với tổ chức có thẩm quyền. Nếu ý kiến vẫn chưa được chấp nhận thì
đảng viên có quyền bảo lưu, nhưng phải phục tùng tổ chức, phải thi hành nghị
quyết của tổ chức. Qua thực tế thực hành nghị quyết, cuộc sống sẽ kiểm nghiệm và
khẳng định chân lý thuộc về ai. Lúc đó sẽ có sự điều chỉnh cần thiết. Không như
vậy thì đảng không còn là một tổ chức thống nhất, mà là câu lạc bộ bàn cãi suông,
không có sức lãnh đạo và chiến đấu
+ Cấp uỷ có thẩm quyền xem xét ý kiến đó; không được phân biệt đối xử
đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số. Bởi những người có ý kiến thuộc về thiểu số
không phải là họ cố tình chống lại Đảng, mà đó chỉ là sự thể hiện tư tưởng, quan
điểm của họ mà thôi. Cấp ủy đó phải đối xử công bằng với những người như vậy,
không phân biệt đối xử với họ. Có như vậy mới khích lệ được những sự sáng tạo
trong công tác. Và trong thực tế cũng đã “chứng kiến” nhiều trường hợp từ ý kiến
thiểu số mà sau đó Đảng ta mới phát hiện được những vấn đề mới mẻ và có hiệu
quả.
“6. Tổ chức đảng quyết định những vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của
mình, song không được trái với nguyên tắc của tổ chức, đường lối chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên”
Quyền của tổ chức Đảng không phải là thứ quyền vô hạn mà quyền ấy phải
được đặt trong khuôn khổ Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng và Pháp luật của Nhà
nước. Nhưng tùy điều kiện, hoàn cảnh thích hợp của từng địa phương mà cấp ủy
cơ sở có những sự vận dụng sáng tạo riêng cho phù hợp thực tiễn.
-
Giải pháp thực hiện TTDC:
+ Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về nguyên tắc tập tập trung dân
chủ; làm rõ nội dung, yêu cầu của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tình hình
mới; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc tập trung
dân chủ.
Để tự giác thực hiện và có cơ sở đấu tranh chống lại các biểu hiện vi phạm
trong nội bộ Đảng và trong nhân dân, các tổ chức đảng phải coi trọng việc giáo dục
cho cán bộ, đảng viên về nguyên tắc tập tập trung dân chủ.
+ Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, quy chế hóa nguyên tắc tập trung dân chủ
cho từng lĩnh vực, từng mặt công tác xây dựng Đảng.
Các cấp uỷ đảng phải xây dựng và thực hiện các quy chế hoạt động, trong
đó đặc biệt coi trọng nâng cao tính khoa học, tính cụ thể, tính pháp lý của từng bản
quy chế. Tất cả các điều khoản trong quy chế phải được nghiên cứu kỹ lưỡng nhiều
mặt, được thảo luận dân chủ, đạt được sự thống nhất cao trước khi ban hành. Các
cấp uỷ viên và tất cả cán bộ, đảng viên đều phải nghiên cứu kỹ, nắm vững nội dung
và có trách nhiệm cao trong quá trình thực hiện quy chế. Qua thực hiện, nếu phát
hiện những điều không phù hợp cần kịp thời nghiên cứu, điều chỉnh; khi có những
quy định mới của cấp trên, phải nhanh chóng cụ thể hoá, bổ sung hoàn thiện quy
chế.
+ Mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong
Đảng. Xây dựng các thiết chế, cơ chế cho phép phát huy thật sự mạnh mẽ dân chủ,
trước hết đảm bảo thực hiện các quyền của đảng viên, nhất là quyền được thảo
luận, chất vấn, phê bình, thông tin, bảo lưu ý kiến. Đồng thời với mở rộng dân chủ
phải củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Mọi tổ chức đảng và đảng
viên phải thực hiện nhiệm vụ chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nói và làm
theo nghị quyết của Đảng.
+ Thực hiện nghiêm túc chế độ tập thể thể lãnh đạo đi đôi với cá nhân phụ
trách. Thể chế hoá thành các quy chế, quy định cụ thể về tổ chức, lề lối làm việc,
trách nhiệm của tập thể, cá nhân vừa giữ vững chế độ lãnh đạo tập thể, vừa tăng
cường mạnh mẽ trách nhiệm cá nhân. Tập trung làm rõ trách nhiệm cá nhân, quy
định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng và cơ
quan, đơn vị.
+ Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện nguyên tắc tập trung dân
chủ. Xử lý nghiêm minh, kịp thời những đảng viên, tổ chức đảng vi phạm nguyên
tắc tập trung dân chủ.
* Kiểm tra, giám sát là công việc thường xuyên, càng những lúc khó khăn,
trong những nhiệm vụ quan trọng, lại càng phải coi trọng và tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát, nhằm bảo đảm cho các chủ trương, nghị quyết được triệt để
chấp hành,
* Mặt khác, có kiểm tra, giám sát mới nắm được điển hình tiên tiến để nhân
rộng ra và kịp thời phát hiện, uốn nắn những sai sót, lệch lạc trong chấp hành, hoặc
bổ sung, hoàn chỉnh các chủ trương, nghị quyết.
* Xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh, chính xác các hiện tượng vi
phạm kỷ luật đảng. Những hiện tượng vi phạm pháp luật, nhất thiết phải xử lý theo
pháp luật, không bao che, nhân nhượng để xử lý nội bộ, không để tình trạng “trên
nhẹ, dưới nặng” xảy ra.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản về xây dựng tổ chức, sinh hoạt và
hoạt động của Đảng Cộng sản. Sức mạnh của nó được thể hiện trực tiếp ở hoạt
động của các tổ chức đảng - nhất là tổ chức cơ sở đảng và mỗi đảng viên. Bởi vậy,
việc thực hiện nguyên tắc này là trách nhiệm của toàn Đảng. Các tổ chức đảng chỉ
thực sự làm tròn và xứng đáng vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở, khi biết
quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo những nội dung cơ bản của nguyên tắc
tập trung dân chủ trong xây dựng tổ chức sinh hoạt và hoạt động của mình.
Câu 2: Vị trí, vai trò của TCCSĐ, các giải pháp để nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
*Vị trí, vai trò của TCCSĐ
+Tổ chức cơ sở đảng
Điều 21(chương V) Điều lệ Đảng khoá XI :
Tổ chức cơ sở đảng (đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là
hạt nhân chính trị ở cơ sở.
- Tổ chức cơ sở đảng là tổ chức cơ sở của Đảng được lập ở đơn vị cơ sở, đặt
dưới sự lãnh đạo của cấp ủy huyện và tương đương.
Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là tổ chức của Đảng được
thành lập ở cơ sở. Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập
tổ chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp uỷ cấp huyện). Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác
xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng
viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng.
+Năng lực lãnh đạo là gì?
Là tổng hợp các thuộc tính cơ bản của chủ thể lãnh đạo nhằm đáp ứng yêu cầu
về hoạt động của TCCSĐ, đảm bảo cho hoạt động của tổ chức phù hợp với yêu cầu
khách quan của tình hình chung và tình hình cụ thể của từng địa phương, đơn vị để
hoàn thành nhiệm vụ chính trị đề ra.
+ Sức chiến đấu của TCCSĐ đảng là:
* Thể hiện sự thống nhất ý chí và hành động của mỗi đảng viên;
* Tinh thần đấu tranh thẳng thắn chống lại những biểu hiện tiêu cực bảo vệ cái
đúng trong lý luận cũng như trong thực tiễn;
* Thể hiện ở chất lượng đảng viên
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ là 2 yếu tố tạo thành sức
mạnh của TCCSĐ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau......
•
Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng
- Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng
+ Là cấp tổ chức cuối cùng trong hệ thống tổ chức 4 cấp của Đảng ( cấp
Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở) là cơ sở để xây dựng nên toàn bộ hệ
thống tổ chức của Đảng nhưng là cấp tổ chức sâu rộng nhất, bám sát các đơn vị cơ
sở và các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo cho sự lãnh đạo của
Đảng về mọi mặt ở cơ sở.
+ Nơi trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng vào nhân dân, tuyên
truyền cho nhân dân hiểu và thực hiện, là nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn của
đường lối chính sách của Đảng đồng thời đóng góp cho Đảng những sáng kiến
những kinh nghiệm để hoàn thiện bổ sung đường lối chính sách của Đảng;
+ Là nơi tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng như: kết nạp, quản
lý, phân công nhiệm vụ, kiểm tra đánh giá đảng viên; nơi tiến hành các nguyên tắc
tổ chức và sinh hoạt của Đảng
+ TCCSĐ còn là cầu nối của Đảng với quần chúng nhân dân, là mắt khâu
trọng yếu để duy trì mối quan hệ giữa Đảng và dân - nền tảng sức mạnh của Đảng.
- TCCSĐ là hạt nhân chính trị ở cơ sở
Vị trí hạt nhân chính trị của TCCSĐ thể hiện vai trò đoàn kết và lãnh đạo
toàn diện các tổ chức chính trị, xã hội ở cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chi Minh, kiên
định nguyên tắc tập trung, dân chủ.
Đồng thời cơ sở đảng còn là nơi giáo dục, tổ chức, động viên nhân dân thực
hiện có hiệu quả Cương lĩnh đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước.
- Giải pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ:
(phân tích các giải pháp)
a. Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng dội ngũ cán
bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức
cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực sự tiền phong gương mẫu, đủ năng
lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Các cấp ủy phải quan tâm làm tốt công tác chính trị tư tưởng, chủ động dự
báo tình hình để kịp thời trang bị những thông tin có định hướng của Ðảng cho
cán bộ, đảng viên. Ðổi mới, nâng cao chất lượng công tác giảng dạy và học tập lý
luận chính trị; chú ý bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên kỹ năng lãnh đạo, giải quyết
những tình huống cụ thể xảy ra ở cơ sở. Chủ động khắc phục những biểu hiện
phai nhạt lý tưởng; chống chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, vụ lợi, cá nhân, trung bình
chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phản
động, góp phần làm thất bại mọi âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù
địch.
Thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự
chuyển hóa" trong nội bộ.
- Xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong cấp ủy, chi bộ, Đảng bộ trên cơ sở
Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, đường lối, chính sách của Ðảng và tình đồng
chí. Cấp ủy phải nắm chắc tình hình tư tưởng, phát hiện kịp thời những cán bộ,
đảng viên vi phạm về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực
khác; có biện pháp cụ thể để phòng ngừa, giáo dục, giúp đỡ và xử lý nghiêm minh
đối với những cán bộ, đảng viên sai phạm.
-
Vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên
-
Chống chủ nghĩa cá nhân, chông các tiêu cực trong công tác cán bộ
-
Đoàn kết thông nhất trên cơ sở cương lĩnh, điều lệ đường lối chính sách
của Đảng và tình đồng chí…
b. Hoàn thiện mô hình của các loại hình TCCSĐ theo hướng gắn TCCSĐ
với sự lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và lãnh đạo các tổ chức chính
trị- xã hội
Theo hướng dẫn số 38-HD/BTCTW (09/03/2010) về “Xây dựng và hoàn
thiện mô hình tổ chức của một số loại hình tổ chức cơ sở đảng”. Có thể khái quát
một số nội dung như sau:
- Tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tổ chức của các tổ chức cơ sở đảng cho đồng
bộ, thống nhất với các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở. Ðồng thời, xây
dựng mô hình tổ chức phù hợp với những tổ chức cơ sở đảng có tính đặc thù, vừa
tạo sự thống nhất chung, vừa phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng địa phương,
đơn vị.
- Ðối với khu vực xã, phường, thị trấn, tiến hành sắp xếp mô hình tổ chức
của Đảng bộ, chi bộ, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn dân
cư theo hướng: dưới Đảng bộ xã là chi bộ thôn (ấp, bản); dưới Đảng bộ phường,
thị trấn nói chung là chi bộ tổ dân phố. Những thôn, tổ dân phố có đông đảng viên
thì thành lập Đảng bộ bộ phận, có các chi bộ trực thuộc. Ðối với những Đảng bộ
cơ sở trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước hoạt động trên địa
bàn nhiều tỉnh, thành phố, tổ chức đảng và các đoàn thể quần chúng trực thuộc
nhiều cấp trên khác nhau, cần sắp xếp lại cho phù hợp, bảo đảm sự lãnh đạo của
tổ chức cơ sở đảng trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác cán bộ và
lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội.
- Ðối với tổ chức cơ sở đảng trong các tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn
hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con và các tổng công ty hạng đặc
biệt có nhiệm vụ chính trị thống nhất, có cùng ngành nghề và sản phẩm chính, gắn
bó và chi phối lẫn nhau, thì trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm những mô hình
đã có để từng bước thực hiện chủ trương thành lập tổ chức đảng toàn tập đoàn,
toàn tổng công ty; đồng thời cũng cho phép có một số mô hình có tính đặc thù.
Gắn công tác xây dựng Ðảng với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh, công tác cán bộ của doanh nghiệp; có quy định cụ thể về mối quan hệ giữa
Đảng ủy tập đoàn, Đảng ủy tổng công ty với các cấp ủy địa phương có liên quan.
- Ðối với các tỉnh, thành phố có nhiều khu công nghiệp tập trung thì thành
lập Đảng bộ cơ sở khu công nghiệp, đặt trực thuộc cấp ủy cấp trên trực tiếp phù
hợp. Những doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có
quy mô lớn, đông công nhân và đông đảng viên thì thành lập tổ chức cơ sở đảng;
những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, số lượng công nhân và đảng viên ít
thì thành lập chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở phù hợp.
- Những địa phương còn nhiều thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố, trường học,
doanh nghiệp chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên, cấp ủy cấp trên trực tiếp
của cơ sở phân công cấp ủy viên và các ban, ngành, đoàn thể phụ trách từng đơn
vị để chỉ đạo công tác kết nạp đảng viên, xây dựng tổ chức đảng và các tổ chức
chính trị - xã hội. Những đảng viên làm việc ổn định trong các doanh nghiệp phải
chuyển sinh hoạt Đảng về nơi làm việc hoặc tổ chức đảng phù hợp. Nâng cao chất
lượng kết nạp Đảng viên mới, khắc phục bệnh thành tích, chỉ chú ý nhiều đến số
lượng mà hạ thấp tiêu chuẩn.
c. Thực hiện mạnh mẽ chủ trương trẻ hoá, tiêu chuấn hoá, thể chế hoá và
từng bước nhất thể hoá chức danh cán bộ; tạo bước chuyển có tính đột phá về
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở.
- Ðể trẻ hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở, cần
sớm ban hành chính sách thu hút để thực hiện chủ trương đưa sinh viên tốt nghiệp
đại học, cao đẳng về công tác ở xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp; có cơ chế,
chính sách để giải quyết đối với những cán bộ chưa được chuẩn hóa nhưng chưa
đủ tuổi, đủ năm công tác để nghỉ theo chế độ. Ðối với các tỉnh miền núi, vùng có
đông đồng bào dân tộc thiểu số, cần tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng đào
tạo của các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường thiếu sinh quân; phối hợp với
các quân khu lựa chọn những thanh niên người dân tộc thiểu số đã hoàn thành
nghĩa vụ quân sự đưa đi đào tạo nâng cao trình độ học vấn, lý luận chính trị, kiến
thức chuyên môn, nghiệp vụ để tạo nguồn cán bộ cho cơ sở.
- Xây dựng hệ thống chính sách phù hợp và đồng bộ đối với cán bộ, công
chức cơ sở xã, phường, thị trấn theo hướng: Một số chức danh cán bộ chuyên
trách ở xã, phường, thị trấn cần và có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của
Chính phủ thì được xem xét chuyển thành công chức nhà nước để tạo sự liên
thông trong đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp; các chức danh cán bộ chuyên
trách khác không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành công chức nhà nước thì
thực hiện theo chế độ hiện hành, khi được giữ chức vụ do bầu cử thì hưởng chế độ
phụ cấp trách nhiệm và thực hiện chế độ bảo hiểm, khi thôi đảm nhiệm chức vụ
thì thôi hưởng phụ cấp và đóng bảo hiểm tự nguyện. Cán bộ không chuyên trách
thì thực hiện theo hướng khoán kinh phí hoạt động và đóng bảo hiểm tự nguyện.
Chính phủ quy định khung số lượng và khung mức phụ cấp để các địa phương
thực hiện phù hợp với tình hình cụ thể. Thực hiện chế độ phụ cấp trách nhiệm đối
với cấp ủy viên các cấp như đối với đại biểu hội đồng nhân dân cùng cấp; có chế
độ phụ cấp thu hút đối với cán bộ công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới,
hải đảo, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Hằng năm, dành một số biên chế
dự phòng để các địa phương thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và
tăng cường cán bộ cho cơ sở. Kinh phí để thực hiện chế độ, chính sách đối với
cán bộ xã, phường, thị trấn do Chính phủ quy định phù hợp với Luật Ngân sách
Nhà nước.
- Ðổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán
bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị trấn theo chức danh cán bộ; chú ý bồi dưỡng
kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm giải quyết những tình huống cụ thể
ở cơ sở. Hằng năm, cán bộ chuyên trách, cấp ủy viên cơ sở xã, phường, thị trấn
phải được bồi dưỡng để cập nhật kiến thức mới tại trung tâm bồi dưỡng chính trị
cấp huyện hoặc trường chính trị tỉnh, thành phố.
- Bổ sung, sửa đổi một số quy định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ
sở đảng nhằm xác định rõ hơn vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng trong lãnh đạo
thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác cán bộ. Bổ sung, sửa đổi các quy định,
hướng dẫn về đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và Đảng viên theo hướng
đánh giá đúng thực chất. Ban hành hướng dẫn về Đảng viên làm kinh tế tư nhân,
việc kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân vào Ðảng; xử lý đối với Đảng viên có liên
quan đến yếu tố nước ngoài... để thực hiện thống nhất trong toàn Ðảng.
Thực hiện thí điểm chủ trương nhất thể hóa hai chức danh cán bộ chủ chốt ở
cơ sở. Thực hiện thí điểm từng bước việc đại hội Đảng bộ cơ sở bầu cấp ủy, ban
thường vụ, bí thư và phó bí thư. Ðối với những nơi có khó khăn về cán bộ, có thể
vận dụng linh hoạt hơn chủ trương chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban
nhân dân xã, phường, thị trấn không giữ một chức vụ quá hai nhiệm kỳ.
- Các tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự
nghiệp, thực hiện thống nhất chủ trương thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc một
đồng chí lãnh đạo của cơ quan, đơn vị trực tiếp làm bí thư cấp ủy. Ðối với các
doanh nghiệp nhà nước, thực hiện thống nhất chủ trương chủ tịch hội đồng quản
trị hoặc tổng giám đốc (giám đốc) đồng thời là bí thư cấp ủy. Ðối với những công
ty cổ phần có vốn nhà nước, cấp ủy và lãnh đạo cấp trên của doanh nghiệp cần lựa
chọn những cán bộ, Đảng viên có phẩm chất, năng lực và có đủ điều kiện đại diện
phần vốn của Nhà nước để tham gia cấp ủy và hội đồng quản trị của công ty.
- Trong các đơn vị cơ sở thuộc Công an nhân dân, thực hiện chế độ thủ
trưởng đơn vị đồng thời làm bí thư cấp ủy, đồng chí lãnh đạo cấp phó làm phó bí
thư và phụ trách công tác xây dựng lực lượng. Ðồng thời, nghiên cứu việc thực
hiện chế độ chính ủy, chính trị viên ở một số đơn vị cơ động, chiến đấu tập trung
và có tính đặc thù. Trong các học viện, trường đại học thuộc Bộ Công an cần có
khoa chuyên ngành để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng ,
công tác chính trị và công tác quần chúng trong lực lượng công an nhân dân.
d. Nâng cao chất lượng, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt
động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng theo hướng vừa mở rộng dân chủ,
vừa tăng cường kỷ cương, kỷ luật; khắc phục tình trạng hình thức, đơn điệu
trong sinh hoạt, đảm bảo tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu của
TCCSĐ
- Tập trung sức củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh về chính
trị, tư tưởng và tổ chức. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, nâng cao
chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ nghiêm kỷ luật,
tăng cường đoàn kết trong Ðảng. Thường xuyên giáo dục, rèn luyện, nâng cao
phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trình độ, kiến thức và năng lực công tác
cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
- Các cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở thực hiện nghiêm túc, có nền nếp chế độ
sinh hoạt đảng định kỳ. Nội dung sinh hoạt chi bộ phải cụ thể, thiết thực, giải
quyết kịp thời những vấn đề bức xúc xảy ra ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Mỗi
quý, các chi bộ phải sinh hoạt chuyên đề ít nhất một lần để bồi dưỡng, cập nhật
kiến thức mới cho đảng viên trong chi bộ.
- Việc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng cần tiến hành thường
xuyên, nghiêm túc, thiết thực, nhất là trong các đợt tự phê bình và phê bình trong
quá trình thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh"; kịp thời phát hiện và nêu gương những đảng viên tiền phong gương
mẫu, có thành tích xuất sắc và giáo dục, giúp đỡ những đảng viên có sai phạm.
Thi hành kỷ luật nghiêm minh đối với đảng viên vi phạm Ðiều lệ Ðảng và đưa ra
khỏi Ðảng những người không đủ tư cách đảng viên. Ðộng viên những đảng viên
không còn tác dụng tự nguyện xin ra Ðảng.
- Thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy về kỹ năng cụ
thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Ðảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên; về biện
pháp quy tụ, tập hợp quần chúng, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính
trị ở cơ sở để thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan,
đơn vị. Những cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp có đủ số lượng đảng viên
để bố trí cán bộ chuyên trách thì phân công những đảng viên có phẩm chất, năng
lực, kinh nghiệm làm chuyên trách và hưởng lương từ ngân sách Đảng.
e. Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát quản lý đảng viên; dựa
vào dân để xây dựng Đảng.
- Các cấp ủy cấp trên phải nắm chắc tình hình cơ sở, phân công cấp ủy viên
trực tiếp phụ trách cơ sở, kịp thời tháo gỡ khó khăn, giải quyết những vấn đề xảy
ra ở cơ sở. Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cấp ủy cấp trên phải có nội dung
ngắn gọn và dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, dễ quy trách nhiệm. Cán
bộ lãnh đạo, quản lý và các cấp ủy viên cấp trên của tổ chức cơ sở đảng phải bố
trí thời gian để gặp gỡ đảng viên và nhân dân tại cơ sở, giải quyết kịp thời những
kiến nghị chính đáng của đảng viên và quần chúng; bảo vệ những cán bộ tốt,
những người trung thực, thẳng thắn đấu tranh chống tiêu cực.
- Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 30/7/2007 của Hội
nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát của Ðảng; Quy định số 181-QĐ/TW ngày 30/3/2013 của Bộ
Chính trị về xử lý đảng viên vi phạm; Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01/11/2011
của BCH TW về những điều đảng viên không được làm; Nghị quyết Hội nghị lần
thứ tư BCH TW khóa XI ngày 16/01/2012 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng
Đảng hiện nay; Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XII về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự
chuyển hóa" trong nội bộ”. Cấp ủy cơ sở phải giám sát đảng viên về các mặt, kể
cả đảng viên là cán bộ do cấp ủy cấp trên quản lý. Phát huy vai trò của Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc vận động nhân dân giám sát
cán bộ, đảng viên ở địa bàn dân cư; tổ chức tốt việc lấy phiếu tín nhiệm đối với
các chức danh do hội đồng nhân dân cấp xã bầu ra.
- Các chi bộ phải thực hiện tốt việc phân công công tác cho đảng viên, bảo
đảm mọi đảng viên trong chi bộ đều được phân công công tác phù hợp. Ðối với
những đảng viên là cán bộ nghỉ hưu, sức khỏe yếu và tự nguyện, được chi bộ và
cấp ủy cơ sở đề nghị, cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng xem xét,
cấp giấy chứng nhận miễn sinh hoạt và công tác. Những đảng viên 2 năm liền xếp
loại vi phạm tư cách thì đưa ra khỏi Ðảng bằng hình thức phù hợp.
- Hằng năm, các tổ chức cơ sở đảng phải đăng ký phấn đấu thực hiện các
nhiệm vụ với cấp ủy cấp trên, trong đó có nội dung cam kết không có cán bộ, đảng
viên tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực. Cuối năm, cấp ủy cấp trên căn cứ vào nội dung đăng ký để đánh
giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.
- Tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp đánh giá chất lượng tổ chức cơ
sở đảng và đảng viên. Ðánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng phải gắn với kết quả
thực hiện nhiệm vụ chính trị, sự vững mạnh của các tổ chức trong hệ thống chính
trị và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đồng thời thông báo để cán bộ, đảng
viên và nhân dân tham gia ý kiến. Cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng
phải kiểm tra, thẩm định chặt chẽ và chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá chất
lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Biểu dương, khen thưởng những tổ chức
cơ sở đảng, đảng viên có thành tích xuất sắc và tuyên truyền, phổ biến kinh nghiệm
để nhân rộng.
- Liên hệ việc thực hiện
+ Khái quát tình hình chi bộ, đảng bộ nơi công tác
+ Kết quả đạt được: với chức năng là một đơn vị sự nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực giáo dục trong những năm qua đảng bộ….đã có những thành tựu…( Học
viên bám vào các giải pháp đã nêu để liên hệ)
Bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế…
Đề xuất giải pháp khăc phục….
Câu 3: Nội dung công tác đảng viên của tổ chức cơ sở đảng?
-
-
Khái niệm công tác đảng viên: Công tác đảng viên là hệ thống các hoạt
động của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi đảng viên nhằm xây dựng đội
ngũ đảng viên không ngừng phát triển và vững mạnh cả về số lượng, chất
lượng, cơ cấu, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của Đảng.
Nội dung công tác đảng viên của tổ chức cơ sở đảng
Gồm nhiều nội dung, cụ thể, trong bài học này chỉ tìm hiểu 3 nội dung cơ
bản
+ Giáo dục, rèn luyện đảng viên
Ý nghĩa
- Là việc làm thường xuyên của Đảng.Từ ngày thành lập Đảng đến nay,
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác giáo dục, rèn luyện đảng
viên
- Nhằm nâng cao trình độ mọi mặt về học vấn, về lý luận chính trị, về trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác cho mỗi đảng viên, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ chính trị.
- Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên cũng như trình độ trí tuệ của
Đảng ngang tầm với nhiệm vụ chính trị, hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ chính trị
của Đại hội Đảng đề ra.
Nội dung giáo dục, rèn luyện đảng viên
-Tăng cường giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, nắm vững và thực hiện tốt chủ trương, đường lối, nhiệm vụ chính trị của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn cho đảng viên còn thiếu
và yếu.
- Tăng cường đào tạo mới và đào tạo lại những đảng viên là cán bộ trong
diện luân chuyển và quy hoạch.
- Tùy theo vị trí công tác cụ thể của từng đảng viên để lựa chọn nội dung
giáo dục cho hợp lý; trên cơ sở nhiệm vụ được phân công của từng đảng viên, nhất
là đối với đảng viên trong diện quy hoạch, tổ chức đảng rèn luyện năng lực công
tác cho đảng viên bằng cách đưa đảng viên vào công tác thực tiễn, giao các nhiệm
vụ khác nhau để thử thách
- Tổ chức đảng cần thông qua đánh giá phẩm chất, năng lực của đảng viên
để để bố trí, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ đúng đắn, đạt yêu cầu.
Hình thức giáo dục, rèn luyện đảng viên.
Có thể tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau:
- Phối hợp với các cơ quan đào tạo, phối hợp cấp ủy cấp trên để mở các lớp
học chính quy, tại chức, đặt ở nhiều địa điểm khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi
cho người vừa học, vừa làm.
- Hình thức rèn luyện đảng viên hết sức phong phú như: phân công nhiệm vụ
khó để thử thách, rèn luyện; điều động, luân chuyển cán bộ, đảng viên qua các địa
bàn dân cư và qua các chức vụ đảng, đoàn thể, chính quyền địa phương, cơ quan,
đơn vị.
Biện pháp:
Một là, Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, nhất là cấp ủy cơ sở về vị trí,
tầm quan trọng của công tác đảng viên nói chung và công tác giáo dục rèn luyện
đảng viên nói riêng.
Hai là, cấp ủy cơ sở lập chương trình, kế hoạch cụ thể cho công tác giáo
dục, rèn luyện đảng viên trong từng năm. Sau 1 năm thực hiện phải có tổng kết,
đánh giá, rút kinh nghiệm.
Ba là, sau khi thực hiện công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên phải gắn với
phân công công tác đúng người đúng việc, đúng trình độ năng lực, phù hợp nguyện
vọng mỗi đảng viên.
Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cấp trên và phối, kết hợp
giữa Đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở trong công tác
giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên.
+ Kết nạp đảng viên
Ý nghĩa:
- Kết nạp đảng viên mới đảm bảo liên tục bổ sung lực lượng cho Đảng về số
lượng và chất lượng, tránh được sự hao hụt lực lượng của Đảng. Bởi vì trải qua
thời gian, số lượng đảng viên của Đảng sẽ giảm do tuổi cao, sức yếu; do tiêu chuẩn
không đảm bảo phải đưa ra khỏi Đảng. Công tác kết nạp đảng viên là bù đắp sự
hao hụt đó.
- Là một đòi hỏi tất yếu của sự phát triển của Đảng, là biện pháp trực tiếp
nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng.
- Trẻ hóa đội ngũ đảng viên, đưa những nguồn lực mới, trẻ, khỏe, năng
động, sang tạo vào Đảng, kế thừa truyền thống, kinh nghiệm quý báu của thế hệ
đảng viên cao tuổi.
Phương châm:
- Coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng đơn thuần. Số lượng và
chất lượng đảng viên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, chất lượng từng
đảng viên là yếu tố hàng đầu tạo nên chất lượng đội ngũ đảng viên, nhưng chỉ khi
nào có một số lượng đảng viên đầy đủ, cần thiết thì Đảng mới có sức mạnh. Ngược
lại, cũng không vì số lượng mà coi nhẹ chất lượng.
- Kết nạp đảng viên phải luôn luôn đi đôi với củng cố Đảng, làm trong sạch
đội ngũ đảng viên.
- Cảnh giác đề phòng những phần tử xấu cơ hội, phản động chui vào Đảng.
Văn kiện Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ:
+ Chú trọng và tăng cường công tác phát triển Đảng, sớm khắc phục tình
trạng một số cơ sở địa bàn chưa có đảng viên, tổ chức đảng.
+ Việc kết nạp đảng phải coi trọng chất lượng, tiêu chuẩn, đặc biệt tiêu
chuẩn giác ngộ lý tưởng của Đảng, đạo đức lối sống, năng lực hoàn thành nhiệm
vụ.
+ Trọng tâm phát triển hướng vào thế hệ trẻ, công nhân, nông dân, trí thức,
quân nhân, cán bộ con em các gia đình có công với cách mạng.
Các bước tiến hành
- Khoa học, đúng quy định và kế hoạch.
- Đảm bảo chất lượng, không chạy theo thành tích (Cụ thể xem phần 2.1 Nội
dung, thủ tục kết nạp đảng viên)
+ Đưa người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng
Ý nghĩa
- Đưa người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng làm cho số lượng
đảng viên đi đôi với chất lượng đảng viên tránh được tình trạng Đảng đông nhưng
không mạnh
- Đưa người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng thể hiện kỷ luật của
Đảng là kỷ luật “sắt”, tự giác, nghiêm minh, Đảng ta không dung túng và bao che
khuyết điểm cho bất kỳ đảng viên nào
- Làm gương cho người khác, nhắc nhở và giáo dục cho mọi đảng viên luôn
giữ vững danh hiệu đảng viên, giữ vững vai trò tiên phong gương mẫu và hoàn
thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Nội dung, hình thức đưa người không đủ tư cách ra khỏi Đảng
- Xóa tên đảng viên:
Điểm 8(8.1) QĐ số 29 Quy định thi hành Điều lệ Đảng khóa XI quy định:
Chi bộ xem xét đề nghị lên cấp ủy có thẩm quyền quyết định xóa tên trong
danh sách đảng viên đối với các trường hợp sau :
+ Đảng viên (kể cả đảng viên dự bị) bỏ sinh hoạt đảng hoặc không đóng
đảng phí 3 tháng trong năm mà không có lý do chính đáng.
+ Đảng viên tự ý trả thẻ đảng hoặc tự hủy thẻ đảng viên
+ Đảng viên giảm sút ý chí phấn đấu, không làm nhiệm vụ đảng viên, đã
được chi bộ giáo dục nhưng sau thời gian 12 tháng phấn đấu không tiến bộ.
+ Đảng viên 2 năm liền vi phạm tư cách đảng viên
+ Đảng viên không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị theo quy định của Bộ Chính
trị.
- Đảng viên xin ra khỏi Đảng: Chỉ xem xét cho ra khỏi Đảng đối với những
đảng viên chưa vi phạm tư cách. Nếu vi phạm tư cách đảng viên thì phải xử lý kỷ
luật về Đảng, sau đó mới xét cho ra khỏi Đảng
- Khai trừ khỏi Đảng:
Phải kiên quyết khai trừ đảng viên ra khỏi Đảng trong các trường hợp sau:
+ Những người cơ hội về chính trị, có quan điểm đa nguyên chính trị, đa
đảng đối lập, nói và làm trái với ĐL, NQ của Đảng.
+ Những đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu.
+ Vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng.
+ Quần chúng không tín nhiệm.
+ Đảng viên bị phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên phải khai trừ ra khỏi
Đảng.
Giải pháp đưa người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng
Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng về sự cần thiết và kiên quyết thực
hiện đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng làm trong sạch Đảng, chỉnh
đốn Đảng
Căn cứ vào nhiều kênh thông tin để phát hiện đảng viên vi phạm tư cách để
kiểm tra, giáo dục nếu không sửa chữa khuyết điểm mà còn tiếp tục vi phạm thì
phải kiên quyết đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức thích hợp.
Thủ tục tiến hành đưa người không đủ tư cách ra khỏi Đảng phải đúng các
bước theo quy định
Tăng cường sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên trong việc đưa những người
không đủ tư cách ra khỏi Đảng
Câu 4: Quan điểm của Đảng ta về xây dựng đội ngũ cán bộ thời kì CNHHĐH đất nước; quy chế đánh giá cán bộ hiện nay
Cán bộ là một trong những nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại
của cách mạng. Qua thực tiễn cách mạng của mình, các Đảng Cộng sản và công
nhân quốc tế đều khẳng định vai trò quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ. Ở
nước ta, Chủ Tịch Hồ Chí Minh viết: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc","Công
việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém".
Đảng ta đã luôn quan tâm đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ. Đảng đã
giành nhiều công sức để xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, đặc biệt là việc bồi
dưỡng, đào tạo, bố trí đội ngũ cán bộ chủ chốt càng cấp bách. Kinh nghiệm thực
tiễn đã chỉ ra rằng, độ chính xác của đường lối, chính sách đều tuỳ thuộc cuối
cùng ở chất lượng của công tác cán bộ. Chính vì vậy, Đảng ta khẳng định, công
tác cán bộ là khâu then chốt trong toàn bộ hoạt động của Đảng.
- Quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đất nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH trong bối cảnh
nhiều thời cơ nhưng cũng đầy thách thức, đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng đội ngũ
cán bộ ngang tầm, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ và
được tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả.
Trong Chiến lược thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước tại Nghị quyết
TW 3 khóa VIII, Đảng ta đưa ra năm quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ. Kết
luận Hội nghị lần thứ chín, Ban chấp hành Trung ương khóa X đã bổ sung, hoàn
thiện thành sáu quan điểm. Cấp uỷ cơ sở cần quán triệt sáu quan điểm đó vào
công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của
cơ sở trong thời kỳ mới:
Thứ nhất, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là
khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Phải thường xuyên chăm lo