Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

Kinh tế Nhật Bản từ 2010 đến 2015, mối liên hệ ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (170.5 KB, 24 trang )

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................................3
I. FDI là gì?......................................................................................................................3

I.1. Khái niệm
I.2. Lợi ích của FDI đối với quốc gia thu hút đầu tư
II. Tình hình đầu tư FDI của Nhật Bản ra nước ngoài......................................................4
II.1. Phân bố theo vùng
II.2. Phân bố theo cơ cấu ngành
PHẦN NỘI DUNG......................................................................................................... 6
I. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
2010 – 2015…………………………………………………………………………… 6
I.1. Các yếu tố tác động tới đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam
I.1.1. Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong những năm gần đây
I.1.2. Lợi thế cạnh tranh của Việt Nam
I.2. Thực trạng đầu tư FDI của Nhật Bản vào Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2015
I.2.1. Thành tựu (các dự án, kim ngạch)
I.2.2. Địa bàn và lĩnh vực đầu tư
I.2.3. Triển vọng đầu tư vào Việt Nam
II. TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐẦU TƯ CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI VIỆT NAM........12
II.1. Tác động tích cực
II.1.1. Đối với sự phát triển kinh tế
II.1.2. Đối với dân cư - xã hội
II.2. Tác động tiêu cực
II.2.1. Vấn đề môi trường
II.2.2. Vấn đề dân cư - xã hội
II.2.3. Sự phát triển nền kinh tế trong nước
III. CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN
VÀO VIỆT NAM……………………………………………………………….15
III.1. Chính sách thu hút đầu tư từ Nhật Bản
1




III.2. Cải thiện môi trường đầu tư
III.3. Tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp Nhật Bản
III.3.1. Tăng cường đào tạo nghề
III.3.2. Ngôn ngữ
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................22
TỔNG KẾT.................................................................................................................23
----------------o0o---------------

2


PHẦN MỞ ĐẦU
I. FDI LÀ GÌ?
I.1. Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là
FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng
cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm
quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ
đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản
lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính
khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước
ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được
gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
I.2. Lợi ích của FDI đối với quốc gia thu hút đầu tư
Thứ nhất là việc bổ sung cho nguồn vốn trong nước.
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh

tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không
đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.
Thứ hai là việc tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý.
Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần
nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng". Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì
không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp
một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty
này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên,
việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ
thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
Thứ ba là việc tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công
ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí
nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước
thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh
xuất khẩu.
3


Thứ bốn là việc tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công.
Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản
xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa
phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích
cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các
kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang
phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động
có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà
chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Thứ năm là việc tạo ra nguồn thu ngân sách lớn.

Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải
Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50% số thuế nội địa trên địa bàn
tỉnh năm 2006.
II. TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ FDI CỦA NHẬT BẢN RA NƯỚC NGOÀI
II.1. Phân bố theo vùng
Nguồn vốn FDI của Nhật Bản chủ yếu tập trung ở Bắc Mĩ, Châu Âu và Châu Á.
Bắc Mĩ (đặc biệt là Mỹ) là thị trường thu hút FDI lớn nhất của Nhật Bản. Nửa đầu những
năm 1990, FDI của Nhật Bản vào thị trường Bắc Mĩ chiếm trung bình 40-45%, sau đó
giảm mạnh vào những năm 1997-1998 và tiếp tục giảm trong những năm 2000-2001. Do
sự giảm sút kinh tế trong khu vực, nhất là kinh tế Mỹ, làm giảm nhu cầu đầu tư của các
công ty Nhật Bản.
Bên cạnh xu hướng giảm sút FDI vào Bắc Mỹ, FDI của Nhật Bản vào EU chia
làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (đầu những năm 1990): mức FDI đầu tư vào EU giảm
- Giai đoạn 2 (nửa sau những năm 1990): FDI đầu tư vào EU có xu hướng tăng trở lại

Châu Á vẫn là một thị trường giành được sự chú ý của các công ty Nhật Bản. Từ
cuối những năm 1980 trở lại đây, FDI của Nhật Bản tập trung đầu tư vào thi trường Châu
Á, nhất là Đông Á. Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực vào năm 1997,
FDI của Nhật Bản đầu tư vào Châu Á có xu hướng giảm.
II.2. Phân bố theo cơ cấu ngành

4


Nhật Bản có chính sách cơ cấu ngành, nguồn vốn đầu tư trên phạm vi toàn cầu
cũng như phạm vi của mỗi khu vực. Xét từ năm 1990 đến 2000, nguồn vốn FDI của Nhật
Bản đầu tư chủ yếu vào ba lĩnh vực: chế tạo, phi chế tạo và tài chính bảo hiểm. Trong đó
lĩnh vực chế tạo và phi chế tạo được chú trọng hơn hết. Giai đoạn đầu những năm 1990,

Nhật Bản đầu tư hầu hết vào Bắc Mỹ và Châu Âu chủ yếu ở lĩnh vực chế tạo và phi chế
tạo, ít đầu tư vào Trung và Nam Mỹ. Cho đến năm 2000 khi mức độ đầu tư giảm rõ rệt ở
cả 3 khu vực là Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á thì khu vực Trung và Nam Mỹ lại tăng
đáng kể với sự đầu tư vào cả 3 lĩnh vực nêu trên. Trước đó từ những năm 1997-1999, do
khủng hoảng kinh tế Châu Á, Nhật Bản không đầu tư vào khu vực này, kể cả việc đầu tư
vào thị trường Bắc Mỹ và EU cũng sụt giảm đáng kể.

5


PHẦN NỘI DUNG
I. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM TRONG NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY
I.1. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
I.1.1. Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản
Việt Nam và Nhật bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/09/1973.
Trải qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển
và có những cột mốc đáng chú ý. Sau đây chúng ta sẽ điển qua những cột mốc nổi bật về
Quan hệ giữa hai nước trong những năm gần đây.
Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam và là nước G7 đầu tiên
công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam (tháng 10/2011). Đến nay, Nhật Bản
là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, nhà đầu tư số 1 tại Việt Nam (cả về tổng vốn
đầu tư và vốn đã giải ngân) và là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam
Về đầu tư trực tiếp FDI
Hai bên đã cơ bản hoàn thành Giai đoạn IV Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản về cải
thiện môi trường đầu tư của Việt Nam và thỏa thuận khởi động Giai đoạn V Sáng kiến
chung trong năm 2013.
Năm 2013, FDI Nhật Bản dẫn đầu (trong tổng số 54 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào
Việt Nam) với tổng đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 5,747 tỷ USD (Nguồn: Cục

Đầu tư nước ngoài, tính đến ngày 15/12/2013).
Trong 4 tháng đầu năm 2014, Nhật Bản có 104 dự án cấp mới và tăng vốn với tổng số
vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm đạt 531,06 triệu USD, đứng thứ 2/36 (sau Hàn Quốc).
Thống kê đến hết tháng 4/2014, Nhật Bản có 2.226 dự án còn giá trị hiệu lực với tổng số
vốn đạt 35,5 tỷ USD, đứng đầu trong tổng số 101 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào
Việt Nam (Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài).
I.1.2. Lợi thế cạnh tranh của Việt Nam
Có tới 70% các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam có kế hoạch mở rộng
kinh doanh và tiếp tục coi Việt Nam là điểm đến quan trọng để đầu tư. Đây là tỉ lệ cho
6


thấy Việt Nam đã vượt qua các đối thủ lớn trong cạnh tranh thu hút vốn đầu tư Nhật Bản
là Indonesia, Thái Lan và Philippines.
Trong Báo cáo xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam của
Tổ chức thúc đẩy ngoại thương Nhật Bản (JETRO) công bố cho thấy: hầu hết các Doanh
nghiệp Nhật Bản đánh giá cao về tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam, sự ổn định về
chính trị an ninh và đặc biệt là giá nhân công rẻ hơn nhiều nước khác trong khu vực. Đây
thực sự là một tín hiệu vui trong bối cảnh Việt Nam đang cạnh tranh để thu hút và đón
đầu làn sóng đầu tư của Nhật Bản. Như vậy, có thể tóm tắt một số lợi thế cạnh tranh của
Việt Nam trong việc thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) từ Nhật Bản như sau:
Do có vị trí địa lý thuận lợi, các vùng đồng bằng rộng lớn, các vùng đất rộng và
bằng phẳng thích hợp cho việc xây dựng nhà xưởng; khí hậu ôn hoà và tương đối ổn định
nên đã góp phần thu hút tầm nhìn của các doanh nghiệp Nhật Bản. Hơn nữa, Việt Nam có
một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trong khối ASEAN. Để từ đó, khi đầu tư vào thị
trường Việt Nam, các doanh nghiệp Nhật Bản ngoài việc tin tưởng vào khả năng tăng
trưởng và tiềm năng phát triển của Việt Nam, hầu hết đều có mục đích mở rộng thị
trường trong khối ASEAN thông qua Việt Nam. So sánh với các quốc gia khác trong khu
vực, các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam để xuất khẩu luôn đạt mức doanh thu cao hơn
(60%) so với các sản phẩm sản xuất nhằm tiêu thụ trong nước. Nếu đầu tư vào Việt Nam,

kim ngạch xuất khẩu sẽ cao hơn so với kim ngạch nhập khẩu. Đây hoàn toàn là một lợi
thế cạnh tranh lớn của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh quan hệ hợp tác kinh tế nội khối
ASEAN đang phát triển mạnh mẽ.
Tiếp đến, nền chính trị - an ninh ổn định của Việt Nam cũng là yếu tố thu hút sự
đầu tư của Nhật Bản. Một đất nước muốn phát triển kinh tế thì trước hết phải là một đất
nước có nền chính trị ổn định, mà Việt Nam là một trong số đó. Thật hiếm thấy ở Việt
Nam có các cuộc bạo động hay biểu tình chính trị. Đây là một nhân tố rất lớn về tư tưởng
của người Việt Nam khiến các doanh nghiệp Nhật Bản chú ý quan tâm và có ý hướng đầu
tư.
Ngoài đánh giá cao về khả năng tăng trưởng, sự ổn định về chính trị, khảo sát của
JETRO cũng cho thấy, chi phí cho người lao động thấp cũng là một trong những nguyên
nhân hàng đầu khiến các doanh nghiệp Nhật Bản lựa chọn đầu tư tại Việt Nam, so với các
quốc gia láng giềng. Theo JETRO, công nhân Việt Nam làm việc trong công ty Nhật
được trả trung bình khoảng 3000 USD/ năm trong năm 2013, tương đương 250 USD/
tháng (khoảng 5,3 triệu VND). Mức lương này cao hơn tại Lào, Campuchia và Myanmar
nhưng chỉ bằng 1/8 lương công nhân tại Singapore và bằng ½ tại Thái lan. Với mức
lương trung bình như thế, các doanh nghiệp Nhật Bản càng có thêm cơ hội để đầu tư vào
thị trường Việt Nam và thu lợi nhuận như mong muốn. Cùng với lực lượng lao động dồi
7


dào, có thể đáp ứng nhu cầu tuyển dụng hàng loạt của các doanh nghiệp Nhật Bản khi
đầu tư vào thị trường Việt Nam cũng là một nhân tố quan trọng trong việc thu hút làn
sóng đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài, Nhật Bản là một trong số đó.

I.2. Thực trạng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam (2010 - 2015)
I.2.1. Thành tựu (các dự án, kim ngạch)
Trong 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng trên tất các lĩnh vực, điển hình là về kinh tế. Từ một nước có nền
kinh tế lạc hậu, phát triển chậm, đến nay Việt Nam đã trở thành một nước có tốc độ phát

triển cao và ổn định, từng bước hội nhập với khu vực và thế giới. Trong những thành tựu
kinh tế đạt được, có thể nói FDI đóng một vai trò rất quan trọng, là một trong những trụ
cột góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục Thống
kê và Cục Đầu tư nước ngoài, từ năm 2010 đến cuối năm 2015 thì tổng lượng vốn FDI
đăng ký (cộng dồn) đạt 117.192,7 triệu USD (Xem bảng 1).
Bảng 1: Nguồn vốn FDI đăng ký từ 2010 đến 2015
Năm

Số dự án

Vốn đăng kí (Triệu
USD)

Quy mô (Triệu
USD/ dự án)

2010

1.240

19.886,8

15,94

2011

1.091

15.618,7


13,47

2012

1.287

16.348,0

12,70

2013

1.530

22.352,2

14,60

2014

1.843

20.230,0

11,89

Sơ bộ 2015

2.120


22.757,0

11,37

Tổng số

9.111

117.192,7

Nguồn: nguồn số liệu của Tổng cục Thống kê (Luỹ kế các dự án hiệu lực đến năm 2014)
và Cục Đầu tư nước ngoài (Tính đến ngày 20 tháng 12 năm 2015).
Trong các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, tính đến cuối
năm 2015, Nhật Bản đứng thứ hai với 2.914 dự án với tổng số 38.973,6 triệu USD vốn
đầu tư (Bảng 2). Qua đó, có thể thấy rằng Nhật Bản luôn giữ tốc độ đầu tư cao, ổn định,
là một trong số các nhà đầu tư nước ngoài chiến lược quan trọng, luôn là một trong hai
quốc gia dẫn đầu về thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
8


Bảng 2: Các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư lớn nhất vào Việt Nam

STT

Đối tác đầu tư

Số dự án

Tổng vốn đầu tư đăng
ký (USD)


1

Hàn Quốc

4.970

45.191,1

2

Nhật Bản

2.914

38.973,6

3

Singapore

1.544

35.148,5

4

Đài Loan

2.478


30.997,4

5

British VirginIslands

623

19.275,3

Nguồn: số liệu của Tổng cục Thống kê (Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến năm 2014) và
Cục Đầu tư nước ngoài (Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2015).
Cụ thể, trong giai đoạn từ năm 2010 - 2015, tình hình đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào
Việt Nam được thể hiện như biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 1: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015
(đơn vị: tỷ USD)

9


Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Trong giai đoạn 2010 - 2013, tổng vốn đăng ký đầu tư của Nhật Bản tăng nhanh.
Năm 2011, Nhật Bản đứng vị trí thứ hai trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư
FDI vào Việt Nam về tổng số vốn đầu tư và đăng ký cấp mới. Có thể thấy rằng, giai đoạn
2011-2012 tăng nhanh nhất, gấp 2,1 lần. Đỉnh điểm là năm 2013 với tổng vốn đăng ký
lên đến 5,75 tỷ USD. Trong 2 năm 2012 và 2013, Nhật Bản liên tục dẫn đầu về tổng số
vốn đầu tư và đăng ký cấp mới của từng năm. Giai đoạn 2013-2014 giảm mạnh, từ mức
5,75 tỷ USD (2013) xuống còn 2,05 tỷ USD (2014), giảm 2,8 lần, tổng vốn đăng ký quay
trở về gần bằng mức của năm 2010. Với đà giảm này, xét về đối tác đầu tư vào Việt Nam

năm 2014, Nhật Bản tụt xuống vị trí thứ 4 sau Hàn Quốc, Hồng Kông và Singapore. Đây
cũng là vị trí thấp nhất của các nhà đầu tư Nhật Bản sau nhiều năm chiếm vị trí quán
quân và á quân. Tuy nhiên năm 2014 và 2015, đầu tư của các doanh nghiệp lớn của Nhật
Bản tại Việt Nam đang có dấu hiệu chững lại, tiếp tục giảm nhưng giảm nhẹ, với tổng
vốn đăng ký là 1,84 tỷ USD, Nhật Bản đứng vị trí thứ ba sau Hàn Quốc và Malaysia.
Giải thích cho sự sụt giảm lượng vốn FDI từ Nhật, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho
biết, trong mắt các nhà đầu tư Nhật Bản, môi trường kinh doanh Việt Nam còn nhiều hạn
chế. Các chính sách thiếu đồng bộ, thủ tục hành chính còn quan liêu, chi phí thuế cao, tồn
tại tham nhũng tại nhiều dự án liên quan đến ODA, chính sách tăng lương. Cụ thể, có tới
60% doanh nghiệp Nhật đầu tư tại Việt Nam phàn nàn về chi phí lao động tăng nhanh,
thủ tục hành chính phức tạp, các chính sách thiếu minh bạch… ảnh hưởng đến hoạt động
đầu tư kinh doanh của họ tại đây. Một nguyên nhân khác được chỉ ra là có ảnh hưởng lớn
đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp Nhật đó là ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát
triển, làm cho tỷ lệ nội địa hoá tại Việt Nam thấp hơn so với các nước khác trong khu
vực. Tỷ lệ chi phí nguyên vật liệu, linh kiện chiếm 70% trong tổng chi phí sản xuất.
Nếu tính riêng theo số dự án cấp mới và tăng vốn thì trong 6 tháng đầu năm 2015
Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam 131 dự án mới với tổng vốn đăng ký là 280 triệu USD
và 61 dự án tăng vốn với tổng vốn tăng thêm là 216 triệu USD. Như vậy, mặc dù số
lượng dự án tăng nhưng lại giảm tới gần 40% giá trị vốn so với cùng kỳ năm 2014 (6
tháng đầu năm 2014 đạt hơn 806 triệu USD). Điều này cho thấy, dự án đầu tư mới của
Nhật Bản vào Việt Nam chủ yếu vẫn là các dự án nhỏ, giống như xu hướng của năm 2013
và 2014.
Các dự án quy mô lớn được cấp phép trong giai đoạn 2010 - 2015 gồm:
Dự án xây dựng nhà máy thép tại Khu công nghiệp Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An do Công ty
TNHH Sắt xếp KOBELCO Việt Nam thuộc Tập đoàn Thép Kobe Steel đầu tư, có giá trị
1 tỷ USD (Năm 2010).
10


Dự án khu đô thị Tokyu Bình Dương do nhà đầu tư Nhật Bản đầu tư tại Bình Dương với

tổng vốn đầu tư đăng ký 1,2 tỷ USD (Năm 2012).
Dự án Công ty TNHH lọc hóa dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) của nhà đầu tư Nhật Bản điều
chỉnh tăng vốn đầu tư 2,8 tỷ USD (Năm 2013).
Dự án Công ty TNHH Terumo BCT Việt Nam (Đồng Nai) của nhà đầu tư Terumo
Corporation - Nhật Bản để sản xuất thiết bị y tế với tổng đầu tư là 98 triệu USD (Năm
2013).
Dự án Công ty TNHH Wonderful Sài Gòn Electrics điều chỉnh tăng vốn đầu tư 210 triệu
USD (Năm 2014).
Dự án Cty TNHH Chuo Việt Nam tại Hải Phòng điều chỉnh tăng vốn đầu tư 50 triệu USD
(Năm 2015).
I.2.2. LĨNH VỰC VÀ ĐỊA BÀN THU HÚT ĐẦU TƯ FDI
I.2.2.1. Theo lĩnh vực đầu tư
Theo Tạp chí điện tử Diễn Đàn Đầu Tư, tính đến năm 2015, trong 18 chuyên
ngành lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam thì lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo được các
doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư nhiều nhất với 1404 dự án với tổng số vốn đăng ký là
31,79 tỷ USD (chiếm 82,1% tổng vốn đầu tư). Đứng thứ 2 là lĩnh vực kinh doanh bất
động sản, mặc dù số dự án không nhiều nhưng quy mô của các dự án lớn với tổng số vốn
là 1,74 tỷ USD (chiếm 4,5% tổng vốn đầu tư). Đứng thứ 3 là lĩnh vực xây dựng với tổng
số vốn đầu tư là 1,52 tỷ USD (chiếm 3,9% tổng vốn đầu tư). Khu vực nông, lâm, ngư
nghiệp được khuyến khích nhưng lĩnh vực này lại thu hút rất ít dự án. Quy mô vốn của
các dự án đều nhỏ, chủ yếu được sử dụng vào hoạt động chăn nuôi, sản xuất thức ăn gia
cầm, chế biến sản phẩm gia cầm để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
I.2.2.2. Theo địa bàn đầu tư
Xét theo địa bàn đầu tư, nguồn vốn FDI chủ yếu đầu tư vào khu vực Đông Nam
Bộ, với các tỉnh thành đầu não về công nghiệp như thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương,
Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu. Xếp sau đó là khu vực Đồng bằng sông Hồng mà điển
hình là Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh. Nhật Bản cũng đã tăng cường đầu tư vào Bắc
Trung Bộ qua việc mở rộng đầu tư vào Thanh Hoá, Nghệ An. Xét về khía cạnh số lượng
dự án đầu tư, đây là 3 khu vực thu hút nhiều vốn FDI của Nhật bản nhiều nhất với số
lượng dự án tăng đáng kể qua các năm. (Theo số liệu của Tổng cục thống kê và Cục đầu

tư nước ngoài)
Tính đến năm 2015, Nhật Bản đã đầu tư vào 49/63 tỉnh thành phố trong cả nước.
Xét về tổng số vốn đầu tư vào các dự án, Thanh Hóa thu hút nhiều vốn đầu tư từ Nhật
11


Bản nhất với 10 dự án, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng vốn là 9,68 tỷ USD (chiếm
25% tổng vốn đầu tư). Đứng thứ hai là Hà Nội với 693 dự án, với với tổng vốn đầu tư là
4,16 tỷ USD (chiếm 10,7% tổng vốn đầu tư). Bình Dương đứng thứ 3 với 255 dự án với
tổng số vốn là 3,95 tỷ USD (chiếm 10,2% tổng vốn đầu tư). Còn lại là các địa phương
khác. (Tạp chí điện tử Diễn Đàn Đầu Tư).
II. TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐẦU TƯ CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI VIỆT NAM
II.1. TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC
Việc đầu tư FDI của Nhật Bản vào Việt Nam đã mang lại nhiều ảnh hưởng tích cực đối
với nước ta, trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội.
II.1.1. Đối với sự phát triển kinh tế:
FDI có tác động tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Việc đầu tư
vốn trực tiếp vào Việt Nam là nguồn hỗ trợ cho sự phát triển của nước ta, góp phần làm
tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu của Việt Nam, thu một phần lợi
nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ các hoạt động dịch vụ cho FDI.
Bên cạnh đó, cùng với FDI là quá trình chuyển giao khoa học công nghệ. Việc đầu
tư của Nhật Bản vào Việt Nam có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, dịch
chuyển cơ cấu kinh tế của nước ta. Nhật Bản đã chuyển giao rất nhiều công nghệ tiên tiến
cho Việt Nam như công nghệ chế biến gạo, công nghệ nước sạch, công nghệ điện hạt
nhân, sản xuất vắc-xin sởi… thậm chí là công nghệ môi trường cho Việt Nam. Năm
2013, Nhật Bản dự định thiết lập tại Hà Nội các trung tâm phân tích dữ liệu môi trường
như chất lượng nước, không khí, lắp đặt các thiết bị cảm ứng tại nhiều nơi ở Việt Nam;
tiến hành điều tra mực nước và chất lượng nước của sông Mekong và chất lượng không
khí ở TP HCM, đồng thời xác định nguyên nhân và tìm ra biện pháp khắc phục. Tại khu
công nghiệp ở ngoại ô phía bắc Hà Nội, thì tiến hành đo nhiệt độ, độ ẩm, lượng điện năng

tiêu thụ để từ đó đề ra phương án sử dụng năng lượng một cách hiệu quả.
Ngoài ra, việc đầu tư FDI vào Việt Nam còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng phát triển bền vững và đáp ứng được sự mất cân đối trong điều tiết nguồn
nhân lực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo điều tiết của thị trường, giúp nền
kinh tế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, nâng cao vị thế của Việt Nam. Bởi vì,
thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và
ngành kinh tế mới ở nước ta. Thứ đến, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp phát triển nhanh
chóng trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng năng
suất lao động ở một số ngành này và tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế. Cuối cùng là,
một số ngành được kích thích phát triển bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng cũng có
nhiều ngành bị mai một đi, rồi đi đến chỗ bị xóa bỏ.
12


Không những thế, việc Nhật Bản đầu tư FDI vào Việt Nam còn tác động lên các
thành phần kinh tế khác; đồng thời, giúp Việt Nam tiếp cận và mở rộng thị trường quốc
tế, nâng cao năng suất xuất khẩu. Một số tác động tích cực khác như: hoạt động của khu
vực FDI tạo ra tác động lan tỏa tích cực đối với các doanh nghiệp trong nước, nhất là
doanh nghiệp tư nhân ở các vùng kém phát triển và ít có FDI xuất hiện qua kênh liên kết
sản xuất và kênh cạnh tranh. Việc quản lý, điều hành hoạt động của các doanh nghiệp
FDI giúp chúng ta có thêm kinh nghiệm thực tiễn để tiếp tục hình thành các yếu tố của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự hiện diện của các doanh nghiệp
FDI đã góp phần ghi nhận các quyền cơ bản của nền kinh tế thị trường như quyền tự do
kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ.
II.1.2. Đối với dân cư - xã hội:
Đầu tư FDI còn mang đến những ảnh hưởng tích cực về xã hội. Đầu tiên, FDI
Nhật Bản góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm cho người dân Việt Nam. Những
khu vực có vốn FDI đã tạo ra việc làm cho hơn 1,2 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu
lao động gián tiếp. Hoạt động đầu tư này đã góp phần làm giảm tỉ lệ thất nghiệp tại Việt
Nam.

Thứ đến, chế độ phúc lợi dành cho người lao động tại các doanh nghiệp Nhật Bản
rất được chú trọng. Ngoài những chính sách về lương bổng, bảo hiểm xã hội như Nhà
nước ban hành, các công ty Nhật còn chú trọng đến những chế độ phúc lợi khác cho công
- nhân viên như: trợ cấp tiền nhà ở, đi lại, trách nhiệm, và đặc biệt hơn cả là trợ cấp về
ngoại ngữ. Điển hình như công ty TNHH Olympus Việt Nam, KCN Long Thành - Đồng
Nai, có một mức trợ cấp rất cao cho các công nhân viên biết ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng
Nhật, tiếng Trung và tiếng Anh. Trợ cấp cho người có trình độ JLPT N1 lên tới 6 triệu
VNĐ/tháng, N2 là 4 triệu/tháng. Điều này càng thể hiện rõ hơn sự quan tâm và đãi ngộ
đặc biệt cho người lao động có trình độ, nhằm khuyến khích công nhân viên không
ngừng học tập và trau dồi ngoại ngữ.
Một tác động tích cực nữa mà việc đầu tư của Nhật Bản đem lại cho Việt Nam đó
là, hình thành tác phong làm việc chuyên nghiệp cho người lao động Việt Nam. Khi làm
việc trong các công ty Nhật, điều đầu tiên mà người lao động được đào tạo chính là kĩ
năng làm việc tại công ty Nhật. Thông qua các buổi huấn luyện về kĩ năng như: kĩ năng
5S, kĩ năng quản lí thời gian, kĩ năng viết báo cáo,... tất cả đều được học hoàn toàn miễn
phí. Thông qua các khoá học, người lao động sẽ tự chủ và tự tin hơn trong công việc của
mình; tăng khả năng tư duy, sáng tạo, đặc biệt là tâm huyết với công việc. Đặc biệt hơn
cả, các công ty rất chú trọng tính kỉ luật và đoàn kết. Vì thế sẽ hình thành nên thói quen
giữ kỉ luật và làm việc có trách nhiệm trong bản thân người lao động. Cùng với quá trình
học hỏi lẫn nhau trong công ty sẽ tạo dựng nên mối quan hệ gắn khít hơn giữa người lao
13


động và các cấp lãnh đạo. Đồng thời cũng tạo được một môi trường làm việc năng động,
hiệu quả và hình thành tác phong làm việc chuyên nghiệp cho người lao động Việt Nam.
II.2. TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC
II.2.1. Tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên
Quá trình đầu tư FDI bao gồm xây dựng nhà máy, nhà xưởng… Việc xử lý chất
thải, rác thải, khí thải công nghiệp không hiệu quả sẽ gây nên những tác động tiêu cực
đến môi trường tự nhiên như sông, hồ, bầu không khí; ảnh hưởng đến một số tài nguyên

rừng và khiến nhiều sinh vật mất đi môi trường sống; ngoài ra còn làm biến đổi hệ sinh
thái rừng, làm tăng khả năng xảy ra thiên tai. Ngoài ra, rác thải sinh hoạt cũng là một vấn
đề lớn. Việc dân cư tập trung đông đúc ở các khu công nghiệp cũng làm tăng số lượng rác
thải sinh hoạt thải ra môi trường. Điều này cũng gây nên những tác động xấu đến môi
trường. Các doanh nghiệp Nhật Bản tuy được đánh giá là chấp hành tốt luật Môi trường ở
Việt Nam nhưng dù cho quá trình xử lý chất thải có tốt đến đâu đi chăng nữa, việc đầu tư
ồ ạt tại một khu vực, ít nhiều vẫn vẫn gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường tự nhiên,
hệ sinh thái và bầu không khí tại khu vực được đầu tư.
II.2.2. Gây nên những biến động về dân cư và xã hội
Quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp sẽ thu hút
một lượng lớn dân cư đến tập trung sinh sống và làm việc, hình thành các dãy trọ tập
trung. Thêm nữa, việc chịu ảnh hưởng từ tiếng ồn, nước thải quanh các khu công nghiệp
và sinh sống tại khu vực bị quy hoạch xây dựng nhà máy cũng là một trong những lí do
khiến người dân phải chuyển đến nơi khác sống. Vùng mà dân cư rời đi sẽ thưa dần, vùng
dân cư chuyển tới sống và làm việc sẽ trở nên đông đúc, dẫn đến sự biến động về dân cư
giữa các khu vực. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng đầu tư và thu được lợi
nhuận. Do đó, nếu doanh nghiệp đó hoạt động không hiệu quả, bị thua lỗ thì sẽ có rất
nhiều người bị thất nghiệp.
Ngoài ra, đầu tư FDI vào Việt Nam cũng dẫn đến sự xuất hiện của một số vấn đề
xã hội mới. Ví dụ như “chảy máu chất xám”, những khu vực đầu tư FDI có xu hướng thu
hút nhân lực giỏi từ khu vực doanh nghiệp trong nước do thu nhập và đãi ngộ tốt hơn.
Hay là sự chênh lệch trong thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp được
đầu tư FDI, do có sự chênh lệch rất cao giữa thu nhập của người quản lý và của người lao
động trực tiếp. Thu nhập của người làm việc trong các doanh nghiệp FDI cũng cao hơn
so với các doanh nghiệp trong nước cùng loại, tạo ra sự phân biệt về thu nhập, đời sống
giữa các tầng lớp trong xã hội. Bên cạnh đó, phần lớn người lao động ở Việt Nam do
không am hiểu luật pháp nên dễ dẫn đến một số tình trạng bị bóc lột sức lao động, bắt

14



làm thêm giờ quá quy định, chậm trả lương… Tuy nhiên, ở các doanh nghiệp Nhật Bản
tại Việt Nam hiếm xảy ra tình trạng này.
II.2.3. Tác động đến nền kinh tế trong nước
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sung quan trọng cho
quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu
tư. Đồng thời, thông qua các công ty xuyên quốc gia thì chúng ta có thể tiếp cận với
những bên đối tác nước ngoài để có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này nắm hầu hết
các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước khác. Do đó, nếu càng dựa nhiều vào
đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các nước công nghiệp
phát triển càng lớn. Và nếu nền kinh tế dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sự
phát triển của nó chỉ là vỏ bọc bởi nó bắt nguồn từ những thứ vốn có được từ các nước
khác, không phải từ nội lực thật sự của chính đất nước mình.
Để thu hút đầu tư FDI, Việt Nam đã thực hiện các chính sách ưu đãi về thuế như
giảm thuế hoặc miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn các dự án đầu tư
nước ngoài, hoặc giảm thuế xuống rất thấp trong việc thuê đất, nhà xưởng và một số các
dịch vụ khác so với các nhà đầu tư trong nước. Hay trong một số lĩnh vực, họ còn được
Nhà nước bảo hộ thuế quan... Tuy nhiên điều này dẫn đến các tình trạng vi phạm không
đăng kí mã số thuế, trốn thuế, giấu lợi nhuận thật, không báo cáo về hoạt động kinh
doanh như quy định, kêu lỗ không đóng thuế. Thậm chí còn có tình trạng bỏ trốn không
thấy tung tích. Ở Hà Nội vào năm 2013, người ta nhận thấy rằng doanh nghiệp bỏ trốn
nhiều nhất là từ Nhật.
Cuối cùng, có thể nói, trong thời gian qua, tác động tiêu cực của FDI đối với
doanh nghiệp trong nước thông qua việc cạnh tranh chưa nhiều; nhưng đang có xu hướng
tăng cạnh tranh trong thời gian tới. Những doanh nghiệp FDI, nhất là những công ty
xuyên quốc gia có ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, quản lý sản xuất do đó, gây sức ép
cạnh tranh đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của những doanh nghiệp trong nước,
với cùng một loại mặt hàng. Nhiều trường hợp, hàng hóa và dịch vụ của công ty xuyên
quốc gia lấn át, dẫn đến doanh nghiệp trong nước mất dần thị trường, dễ lâm vào tình
trạng phá sản. Nhiều ngành sản xuất mới trong nước khó có thể cạnh tranh được với các

công ty xuyên quốc gia, do vậy, sẽ bị ảnh hưởng trong quá trình phát triển. Đồng thời
khiến cho nền kinh tế của quốc gia bị lệ thuộc nhiều vào hệ thống thương mại quốc tế.
Chẳng hạn như sự nổi lên của bia Sapporo của Nhật, một doanh nghiệp với 100% vốn
đầu tư nước ngoài, với 140 năm lịch sử cùng chất lượng, niềm tin, đang ngày càng thu
hút được nhiều người tiêu dùng Việt, đặc biệt là hướng tới nhóm khách hàng trẻ, năng
động, hiện đại. Sapporo đang cạnh tranh với bia Heineken, Budweiser, bia Sài Gòn… tức
15


là không chỉ cạnh tranh với sản phẩm bia nội địa Việt Nam mà còn với bia nước ngoài
đầu tư sản xuất ở Việt Nam.
III. CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT
BẢN VÀO VIỆT NAM
III.1. CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TỪ NHẬT BẢN
III.1.1. Chiến lược quảng bá, xúc tiến đầu tư
Yếu tố quan trọng để thu hút vốn đầu tư Nhật Bản là chiến lược quảng bá của Việt
Nam. Công tác quảng bá có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là khi chủ đầu tư còn đang
trong giai đoạn tìm hiểu, lựa chọn địa điểm đầu tư. Hoạt động này mang đến cho chủ đầu
tư những thông tin quan trọng liên quan đến ý định đầu tư của họ, giúp các nhà đầu tư có
cái nhìn tổng quát, chính xác và kịp thời về quốc gia hay vùng lãnh thổ – nơi mà họ định
đầu tư, để họ có cơ sở cân nhắc và đi đến quyết định cuối cùng.
Nhà nước hiện đã và đang có những hoạt động để quảng bá nhằm thu hút sự đầu
tư của nước ngoài. Có thể hiểu xúc tiến đầu tư là các hoạt động nhằm giới thiệu, quảng
cáo cơ hội đầu tư và hỗ trợ đầu tư của nước chủ nhà. Việt Nam được biết đến là một quốc
gia có vị trí địa lí rất thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế với nước ngoài. Bên cạnh đó
nguồn nhân lực dồi dào cũng là yếu tố hấp dẫn các doanh nghiệp đầu tư Nhật Bản. Nắm
bắt được những lợi thế như vậy kết hợp với sự phát triển công nghệ thông tin như hiện
nay, Nhà nước đã áp dụng những phương thức quảng bá hình ảnh con người và đất nước
qua các phương tiện thông tin đại chúng. Một mặt là để đưa hình ảnh đất nước vào tầm
mắt của những nhà đầu tư, mặt khác là làm mới hơn biện pháp tiếp thị tổng hợp các chiến

lược về đầu tư, xúc tiến, giá cả cạnh tranh. Một môi trường đầu tư tốt song ít được thế
giới biết đến hoặc biết đến không đầy đủ, sai lệch thì cũng kém thu hút các nhà đầu tư.
Chính sách tiếp theo nhà nước ta đã và đang thực hiện với quy mô hình thức lớn
hơn trong tương lai là việc mở các văn phòng tư vấn cho doanh nghiệp Nhật Bản khi họ
có ý định đầu tư vào Việt Nam. Việc làm này giúp nhà đầu tư hỗ trợ nghiên cứu đánh giá
thị trường, tìm kiếm thông tin đối tác, đánh giá các lợi ích và rủi ro của doanh nghiệp dựa
trên các chính sách đầu tư của Chính phủ và chính quyền địa phương. Tư vấn và tìm địa
điểm đầu tư trong và ngoài các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, giới thiệu các ưu đãi
đầu tư của từng địa phương theo yêu cầu của chủ đầu tư. Tư vấn các điều kiện ưu đãi đầu
tư, trình tự thực hiện thủ tục về ưu đãi đầu tư.
Nói về các điều kiện ưu đãi, trong thời gian vừa qua, nước ta đã đưa ra những
chính sách rất hấp dẫn nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Giới thiệu các chính sách
ưu đãi cho các nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư như: chính sách ưu đãi về thuế (thuế thu
nhập doanh nghiệp), chính sách ưu đãi về đất đai (phí thuê đất), chính sách về quản lý
16


hoạt động đầu tư, các chính sách và quy định khác. Chính sách thuế bao gồm các nội
dung liên quan đến các loại thuế, mức thuế, thời gian miễn thuế, thời gian khấu hao và
các điều kiện ưu đãi khác. Chính sách lệ phí quy định về các khoản tiền nộp như phí dịch
vụ cấp phép đầu tư, dịch vụ cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông, thông tin liên lạc,..).
Song song với việc mở các văn phòng tư vấn, chúng tôi muốn đề cập tới một hoạt
động xúc tiến mời gọi đầu tư khác là trực tiếp dẫn các doanh nghiệp có ý định đầu tư đi
khảo sát thực địa. Nhưng trước đó, điều cần làm là phải có sự chuẩn bị sẵn sàng trong
công tác tổ chức. Phải thực hiện được những báo cáo sơ bộ về hoạt động kinh doanh của
các khu công nghiệp tại các vùng miền, những lợi thế về tự nhiên và dân cư xã hội từng
vùng; sau đó lựa chọn những điểm mạnh nhất và đáp ứng đây đủ nhất yêu cầu của nhà
đầu tư. Sau đó mới là quá trình dẫn họ đi thực nghiệm, lựa chọn địa điểm đầu tư. Công
tác này cũng có ý nghĩa thực tiễn gắn với lợi ích của chính doanh nghiệp đầu tư như việc
mở các văn phòng đầu tư.

Tóm lại, tất cả các chính sách kể trên nhằm góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài một cách tối ưu nhất.
III.1.2. Cải thiện môi trường đầu tư:
Để thu hút vốn đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam, điều kiện đầu tiên là đất nước đó
phải có tiềm năng thì mới gây sức hút cho các nhà đầu tư. Môi trường đầu tư là một lợi
thế trong sự nghiệp phát triển kinh tế và thu hút đầu tư. Môi trường đầu tư bao gồm: môi
trường chính trị, môi trường luật pháp, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và trình độ phát
triển kinh tế… Yếu tố hàng đầu để thu hút vốn đầu tư là việc ổn định chính trị. Bởi nó
đảm bảo việc thực hiện các cam kết của chính phủ trong các vấn đề sở hữu vốn đầu tư,
hoạch định các chính sách ưu tiên, định hướng phát triển đầu tư của một nước, ổn định
chính trị sẽ tạo ra sự ổn định về kinh tế - xã hội và giảm bớt độ rủi ro cho các nhà đầu tư
Nhật Bản.
Để cải thiện cũng như làm mới lại môi trường đầu tư, việc cần làm là xây dựng
các nhà xưởng cho thuê tại những khu vực có điều kiện địa lí thích hợp. Các nhà xưởng
được xây dựng khang trang cùng với cơ sở vật chất tốt, có khả nặng chịu đựng trước mọi
điều kiện thời tiết là một điểm hấp dẫn sự đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản. Bên
cạnh đó, đối với các nhà xưởng đã xây dựng qua nhiều năm tháng, tuy còn hoạt động
nhưng đã dần hao mòn thì cần phải tiến hành nâng cấp, sửa chữa các chỗ hư hỏng, lắp đặt
các máy móc trang thiết bị đầy đủ và có tính ứng biến cao. Đó không chỉ để thu hút
những nhà đầu tư mà quan trọng hơn là để người lao động có được chỗ làm tốt hơn,
không phải chịu những khó khăn thiệt hại do tai nạn lao động đem đến.

17


Việt Nam ta là một quốc gia có sự phân bố dân cư không đồng đều, hầu hết các
thành phố lớn đều là nơi tập trung đông dân cư của cả nước. Đây là một điều đáng quan
ngại. Để giải quyết tình trạng này, Nhà nước cần khuyến khích các doanh nghiệp Nhật
Bản đầu tư vào các tỉnh để tránh tình trạng công nhân ồ ạt kéo vào thành phố sinh sống,
điều này sẽ gây một bất lợi về việc biến động dân số trong nước và gây nên những vấn đề

về môi trường. Khi các tỉnh được đầu tư, phát triển công nghiệp thì người dân sẽ an cư ở
quê mình, không cần đi xa lập nghiệp. Từ đó, không chỉ ở các thành phố lớn mà cả khắp
Việt Nam sẽ phát triển nền công nghiệp đúng như mục tiêu mà nhà nước đặt ra là “đưa
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
III.2. TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN
III.2.1. Cải thiện chất lượng lao động
Khi đầu tư, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng chú ý tới một điều vô cùng quan
trọng đó là nguồn nhân lực, cụ thể là chất lượng lao động. Đặc biệt, muốn thu hút đầu tư
vào lĩnh vực công nghệ cao, tạo ra nhiều giá trị gia tăng thì Việt Nam cần có sự cải thiện
chất lượng lao động, trước hết là trong giáo dục phổ thông và đào tạo nghề.
Đào tạo nghề là một chính sách quan trọng cho sự phát triển kinh tế, nhất là khi Nhật Bản
đầu tư trực tiếp vào Việt Nam thì việc đào tạo các ngành nghề kĩ thuật có vị trí vô cùng
quan trọng. Việc tăng cường, khuyến khích người dân theo học các ngành nghề mang tính
kĩ thuật như: điện tử, đóng tàu, môi trường, tiết kiệm năng lượng và sửa chữa ô tô - phụ
tùng... sẽ tạo cơ hội nghề nghiệp rất lớn, để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh
nghiệp Nhật Bản. Để tiến hành một cách hiệu quả, Nhà nước đã có những chính sách cụ
thể về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Sở dĩ đào tạo lao động ở nông thôn là vì
nước ta đang khuyến khích Nhật Bản đầu tư vào các tỉnh, các vùng nông thôn để tạo cơ
hội việc làm cư dân nông thôn. Một số đề án cụ thể là: tuyên truyền, tư vấn học nghề và
việc làm; điều tra, khảo sát dự báo nhu cầu dạy nghề, thí điểm các mô hình dạy nghề,
tăng cường cơ sở vật chất, các trang thiết bị ngày càng tân tiến cho các cơ sở dạy nghề;
nâng cao trình độ giáo viên, cán bộ quản lí dạy nghề; hỗ trợ chi phí cho lao động nông
thôn học nghề và giám sát đánh giá tình hình học tập.
Việc đào tạo, nâng cao chất lượng dạy nghề cũng nên áp dụng với lao động sẵn có.
Đây là một nhân tố tiềm năng nếu được đào tạo đúng cách. Họ vốn dĩ đã được đào tạo
qua một lớp huấn luyện, tuy tay nghề chưa cao nhưng nếu Nhà nước có những biện pháp,
kế hoạch để khuyến khích đào tạo những lớp học kĩ năng khác, chắc chắn sẽ là một lợi
thế cho lao động Việt Nam khi làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, không chỉ Nhật Bản mà còn các tập đoàn xuyên quốc gia khác. Bên cạnh đó, ở
những thành phố lớn, nếu tập trung những lao động trẻ đã trải qua quá trình đào tạo, nếu

18


mở thêm những khóa học chất lượng cao, đào tạo chuyên sâu hơn thì chắc chắn sẽ thu hút
tầm nhìn từ các doanh nghiệp Nhật Bản.
Bên cạnh những lao động cơ bản, cần một lượng lớn đội ngũ có khả năng quản lí giám
sát, điều phối các hoạt động lớn của doanh nghiệp. Chính vì thế, việc mở các lớp chuyên
sâu chất lượng cao về kĩ năng quản lý, đào tạo để đáp ứng nhu cầu này là rất cần thiết.
Các chuyên gia của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch và
Đầu tư) trong một báo cáo cũng đã nhận định, ngày nay các cuộc đình công của công
nhân ngày càng nhiều mức lương họ nhận được không đủ để lo chi phí sinh hoạt cho
cuộc sống thường ngày; tất cả các nguyên nhân đình công sâu xa là do trình độ học vấn
trình độ kĩ thuật tay nghề của họ không cao nên dẫn đến thu nhập thấp. Bên cạnh hệ lụy
đó, nền kinh tế nếu thiếu đi chất lượng giáo dục, đào tạo nghề cũng khiến các nhà đầu tư
cân nhắc đắn đo hơn khi đầu tư. Một môi trường như vậy chắc chắn sẽ kém hấp dẫn hơn
so với đầu tư vào các nước khác có chất lượng lao động cao. Hơn thế nữa, chất lượng lao
động kém còn khiến các nhà đầu tư Nhật Bản đến Việt Nam chỉ để đầu tư vào những dự
án sử dụng nhiều lao động, để thu hút lượng lao động rẻ mạt, mà không đầu tư vào các dự
án lớn, ngành nghề kĩ thuật cao. Và nếu như vậy thì mục tiêu thu hút những dự án FDI
công nghệ cao, hướng tới trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020 của
Chính phủ sẽ mãi chỉ là mục tiêu không thể thực hiện được. Đặc biệt, trong bối cảnh nền
kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, nguồn vốn FDI ngày càng bị thu hẹp dần, trong khi các
quốc gia trên thế giới lại ra sức nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thu hút nguồn vốn
này. Vì thế, nếu Việt Nam không có những cải thiện về chất lượng lao động thì sẽ rất khó
có thể thu hút được nguồn vốn FDI. Như vậy, đã đến lúc Việt Nam phải nâng cao chất
lượng lao động, đó không chỉ là cách nâng cao số lượng nguồn vốn đầu tư mà hơn nữa đó
còn là cách giúp nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển.
III.2.2. Nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ
Song song với đào tạo lao động nghề thì việc đạo tạo ngoại ngữ cũng là một giải
pháp quan trọng trong việc thu hút FDI của doanh nghiệp Nhật Bản.

Về việc đạo tạo ngoại ngữ, đầu tiên phải kể đến đào tạo tiếng Nhật cho người Việt, cụ thể
là các lao động đang làm việc hoặc có dự định làm việc trong công ty có vốn đầu tư Nhật
Bản. Trong khoảng mười năm trở lại đây, cơ hội tìm kiếm việc làm dành cho những
người biết tiếng Nhật ngày càng nhiều. Một môi trường mà có nhiều người dân biết ngoại
ngữ cũng như văn hóa của họ cũng góp phần tạo sức hấp dẫn thu hút các nguồn vốn đầu
tư của nhiều tổ chức, doanh nghiệp, không chỉ của Nhật Bản mà còn nhiều quốc gia khác
nữa.

19


Nước ta đã và đang xuất hiện các trung tâm tiếng Nhật, nhưng chủ yếu ở các thành
phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng hướng tới là học sinh, sinh
viên, người muốn đi du học hay xuất khẩu lao động, người đi làm tại các công ty Nhật
Bản. Tuy nhiên do được thành lập từ sớm, các trang bị cơ sở vật chất, mô hình dạy học
vẫn còn khá sơ sài. Để hòa nhập với nền kinh tế đang phát triển hiện nay, Nhà nước cần
đưa ra các chính sách cải thiện cơ sở vật chất, từ đó mới tăng chất lượng dạy và học. Nên
có những kế hoạch đào tạo giảng viên - những người có chuyên môn cao, có kinh nghiệp
tiếp xúc và làm việc tại Nhật Bản để hiểu rõ về ngôn ngữ và văn hóa nước họ, từ đó đem
đến cho lao động Việt Nam những kiến thức cần thiết, không chỉ về ngôn ngữ mà còn
đem đến những kĩ năng cần thiết để làm việc hiệu quả trong các công ty Nhật Bản; đón
đầu làn sóng đầu tư từ Nhật Bản theo hướng thích nghi tốt.
Để nâng cao trình độ ngoại ngữ cho các lao động làm việc tại công ty Nhật, cần
phải mở thêm các Trung tâm ngoại ngữ (không chỉ dạy tiếng Nhật mà còn các ngoại ngữ
khác) tại những vùng miền có sự đầu tư FDI nhiều. Điều này tạo nên những cơ hội nghề
nghiệp mới cho các giảng viên ngành ngoại ngữ, những cơ hội học tập ngoại ngữ cho
người lao động. Để từ đó, công tác dạy và học ngoại ngữ của nước ta ngày càng được cải
thiện. Không những thế, còn đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các doanh
nghiệp Nhật Bản, tạo tiền đề cho sự phát triển của đất nước.
Cùng với việc tổ chức giảng dạy tiếng Nhật của các trung tâm, Nhà nước cũng đưa

ra những giải pháp cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giảng dạy tiếng Nhật.
Hiện nay có thể thấy tại một số trường đại học, cao đẳng trên khắp cả nước đưa tiếng
Nhật trở thành một ngành học để giảng dạy trong giảng đường. Bên cạnh đó một số
trường trung học phổ thông cũng đưa tiếng Nhật vào giảng dạy, cùng một số ngôn ngữ
khác làm môn học tự chọn. Tại nước ta, cụ thể là ở các thành phố lớn, đặc biệt ưu tiên
đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ dạy và học ngoại ngữ cho các trường dạy tiếng
Nhật. Tăng cường hợp tác với các tổ chức của Nhật Bản đang hoạt động trong nước và
trong việc giảng dạy tiếng Nhật, cũng như xây dựng kế hoạch tuyển chọn cán bộ, giáo
viên đi học tập nâng cao trình độ tiếng Nhật tại Nhật Bản, làm nòng cốt cho việc giảng
dạy và quản lý dạy học tiếng Nhật trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên điều này chỉ có thể
thấy ở các trường thành phố lớn, còn ở các tỉnh việc giảng dạy tiếng Nhật còn khá xa lạ
với bộ phận học sinh trung học. Để tiếng Nhật trở nên phổ biến hơn với học sinh sinh
viên cả nước, Nhà nước nên có chính sách khuyến khích đưa tiếng Nhật vào môn tự chọn
trong các trường chuyên hoặc trường điểm ở các tỉnh, cũng như đẩy mạnh bồi dưỡng đào
tạo giáo viên tiếng Nhật. Điều này không chỉ đem lại một số lượng lao động trí óc mà
cũng góp phần phát triển kinh tế. Cùng với làn sóng đầu tư của Nhật vào thị trường Việt
Nam thì cơ hội việc làm càng được mở rộng cho sinh viên yêu thích tiếng Nhật. Bên cạnh
20


đó, một số công ty tổ chức của Nhật cũng góp phần hỗ trợ các chương trình du học Nhật
Bản để giúp sinh viên có cơ hội được khám phá, giao lưu văn hóa, thể hiện tình hữu nghị
giữa hai quốc gia.
Tuy nhiên kinh phí cho việc dạy và học phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện xã hội,
dân cư ở từng vùng miền trên cả nước. Điều này cũng gây khó khăn cho việc phát triển,
mở rộng quy mô dạy tiếng Nhật trong các trường phổ thông hiện nay. Mặt khác, hiện ở
các thành phố đang thiếu giáo viên tiếng Nhật đạt chuẩn về trình độ đào tạo; các thiết bị,
đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo cho việc dạy và học tiếng Nhật còn nhiều hạn chế,
ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học. Dự báo trong thời gian tới, trong thời buổi mở
rộng nền kinh tế, nhu cầu về nguồn lao động tiếng Nhật tại các thành phố cũng như địa

bàn cả nước sẽ gia tăng theo hướng tích cực. Chính vì vậy, cần có một cơ chế khuyến
khích, ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo dạy và học tiếng Nhật, đáp ứng nguyện vọng của
đối tác Nhật. Bằng cách đó, nước ta sẽ thu hút nguồn vốn đầu tư FDI từ Nhật Bản và tạo
ra rất nhiều cơ hội học tập, làm việc tại các doanh nghiệp Nhật Bản cho những người
theo học tiếng Nhật trong tương lai.
Đi đôi với công tác nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Nhật cho lao động Việt
Nam thì việc giảng dạy tiếng Việt cho các chủ doanh nghiệp, những người sang Việt Nam
làm ăn sinh sống cũng là vấn đề cần thiết. Vì tính chất công việc, phong tục tập quán, văn
hóa đi liền với ngôn ngữ nên việc phải học ngôn ngữ của đất nước mình đầu tư là điều tất
nhiên. Nắm bắt được nhu cầu đó, Nhà nước ta, trong mười năm trở lại đây, đã thay đổi cơ
cấu dạy tiếng Việt cho người nước ngoài sang một giai đoạn mới. Nhiều cơ sở đào tạo tại
các trường đại học lớn không dừng lại ở việc mở các khóa học ngắn hạn và trung hạn mà
mở cả chương trình đào tạo cử nhân chính quy. Hiện nay, các trường đại học đang phát
triển mạnh chuyên ngành này tập trung chủ yếu Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh - hai
trung tâm chính trị và kinh tế lớn của đất nước. Cụ thể là trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn TP.HCM có khoa Việt nam học, chuyên đào tạo tiếng Việt cho người nước
ngoài, trong đó có những sinh viên Nhật theo học. Bên cạnh đó, các trung tâm tiếng Việt
ở những thành phố lớn cũng được hưởng những ưu đãi, những chính sách của Nhà nước
để công tác giảng dạy được tốt hơn. Tuy nhiên, công tác vẫn còn gặp một số khó khăn do
chất lượng đội ngũ giáo viên chưa hẳn đã qua đào tạo chuyên sâu, kĩ càng, chất lượng cơ
sở vật chất, các yếu tố thời cơ cũng ảnh hưởng không ít. Trong thời gian tới, chính quyền
cần đưa ra các giải pháp cụ thể hơn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cải thiện cơ
sở hạ tầng,... để việc dạy tiếng Việt cho người Nhật được phát huy một cách tốt nhất.
Tính chất hai chiều của công tác giảng dạy ngôn ngữ ở nước ta chính là động lực cho sự
phát triển kinh tế, góp phần thu hút vốn đầu tư từ Nhật Bản. Đẩy mạnh tình hữu nghị, sự
bền vững của hai quốc gia, từ sự bền vững kinh tế sẽ dẫn đến những bền vững về các
21


nhân tố khác, từ đó nền kinh tế Việt Nam mới ổn định và tập trung phát triển để trở thành

quốc gia công nghiệp giàu mạnh trong tương lai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Nguyễn Xuân Thiên (2011): Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở Việt Nam:
những vấn đề và một số gợi ý, Đại học Quốc gia Hà Nội
2. Vũ Văn Chung (2015), Foreign capital inflows and economic growth: Does
foreign capital inflows promote the host country's economic growth? An
empirical case study of Vietnam and the intuitive roles of Japan's foreign
capital inflows on Vietnam's economic growth (tạm dịch: Những dòng vốn từ
nước ngoài vào và sự tăng trưởng kinh tế: Liệu dòng vốn từ nước ngoài vào vào
có xúc tiến sự tăng trưởng kinh tế của các nước được đầu tư? Một nghiên cứu thực
nghiệm về Việt Nam và vai trò khách quan của dòng vốn từ Nhật Bản vào đối với
sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam), The Policy Research Institute (PRI)
3. Tài liệu: Tình hình kinh tế Việt Nam của Tổng lãnh sự quán Nhật Bản tại TP.
HCM.
4. Trang thông tin điện tử của Viện nghiên cứu Đông Bắc Á
/>5. Trang thông tin điện tử của Bộ Ngoại giao Việt Nam />6. Trang thông tin điện tử của The Sai gon Times: />7. Cổng thông tin điện tử của Cục Xúc tiến Thương mại:
8. Trang thông tin điện tử Đầu tư nước ngoài:
9. Bách khoa toàn thư Wikipedia:
10.
Trang thông tin của Tổng cục thống kê:
11.Viện nghiên cứu chính sách và phát triển:
12.
/>
22


TỔNG KẾT
Nhật Bản là một trong những siêu cường về kinh tế trên thế giới. Việc Nhật Bản
và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao có ý nghĩa rất to lớn cho sự hợp tác và phát

triển của cả hai quốc gia, đặc biệt đây là một yếu tố quan trọng giúp cho nền kinh tế Việt
Nam phát triển. Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản (JDI) vào Việt Nam đã góp một phần rất
lớn cho sự phát triển nền kinh tế của Việt Nam, trên tiến trình hội nhập nền kinh tế toàn
cầu. Các dự án, kim ngạch ngày càng tăng là dấu hiệu mừng cho thấy Nhật Bản rất quan
tâm và chú trọng đầu tư vào thị trường Việt Nam. Bởi Việt Nam có nhiều thế mạnh về vị
trí địa lý, tình hình chính trị ổn định cũng như nguồn nhân lực dồi dào và lực lượng nhân
công giá rẻ. Quá trình tiếp nhận JDI đã tạo cho Việt Nam những điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế - xã hội nhưng nó cũng đồng thời tạo nên những vấn đề về môi
trường, biến động dân cư và ảnh hưởng tới các nền sản xuất nội địa. Bởi vấn đề nào cũng
có tính hai mặt của nó. Điều quan trọng được đặt ra là: phải làm thế nào để sử dụng hiệu
quả nguồn vốn FDI đó cho sự phát triển kinh tế, song song với việc giải quyết các vấn đề
xã hội và môi trường. Cần làm sao để thu hút hơn nữa nguồn đầu tư JDI vào Việt Nam
nhưng không ảnh hưởng quá lớn tới nền kinh tế trong nước. Điều này đòi hỏi rất nhiều
quyết sách và sự thay đổi trong các chính sách của Nhà nước. Để có thể tạo ra một môi
trường đầu tư đầy hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có Nhật Bản.
Trong tương lai, Nhật Bản tiếp tục mở rộng đầu tư vào thị trường Việt Nam. Chính
vì thế, cơ hội nghề nghiệp cho các ngành nghề được rộng mở. Song song với việc đào tạo
tay nghề cần chú trọng thêm vấn đề ngoại ngữ. Bởi vì, việc đón đầu làn sóng đầu tư từ
Nhật Bản cần một quá trình chuẩn bị thật kĩ lưỡng: từ vấn đề các chính sách thu hút đầu
tư đến việc đào tạo nguồn nhân lực cho các Doanh nghiệp Nhật Bản, để đáp ứng nguồn
nhân lực trong tương lai và nhu cầu tuyển dụng khắt khe của các công ty Nhật Bản.

23


24




×