TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
------------
ĐỖ MINH VẠNH
THỰC NGHIỆM NUÔI THƢƠNG PHẨM
TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
(Litopenaeus Vannamei Boone, 1931)
TẠI HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Tháng 7/2012
Chƣơng 1
GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây tình hình dịch bệnh, đặc biệt là bệnh WSSV
gây thiệt hại nghiêm trọng đối với nghề nuôi tôm sú Penaeus monodon ở
Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng và Việt Nam nói chung. Mặt khác, giá
đầu ra của tôm sú trên thị trƣờng nội địa và các nƣớc trên thế giới nhƣ Nhật
Bản, Mỹ, các nƣớc châu Âu… bị cạnh tranh rất mạnh bởi giá tôm thẻ chân
trắng Litopenaeus vannamei đƣợc sản xuất ở các nƣớc Trung Quốc, Thái
Lan… Do vậy, việc nuôi đối tƣợng mới nhƣ tôm thẻ chân trắng vừa có năng
suất cao, vừa có có giá thành thấp là cần thiết.
Từ năm 2001 nƣớc ta di nhập một đối tƣợng nuôi mới là tôm thẻ chân
trắng có nguồn gốc từ Nam Mỹ, tôm có đặc tính phát triển tốt, cho năng suất
cao, giá thành thấp, đã góp phần đa dạng hoá đối tƣợng nuôi và sản phẩm xuất
khẩu, đƣợc nhiều nơi quan tâm và đi vào sản xuất.
Tại Việt Nam, tôm thẻ chân trắng đã đƣợc thử nghiệm nuôi trên nhiều địa
bàn khác nhau. Một trong những địa bàn đƣợc áp dụng là tỉnh Bến Tre. Với
bờ biển dài trên 65 km, đƣợc bao bọc bởi các nhánh lớn Cửa Đại, Ba Lai, Hàm
Luông, Cổ Chiên và hàng chục ngàn ha bãi triều ven biển, điều kiện thiên
nhiên ƣu đãi, Bến Tre có nhiều lợi thế để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản.
Thạnh Phú là một trong ba huyện giáp biển của tỉnh Bến Tre, trong thời gian
qua Thạnh Phú có diện tích nuôi thuỷ sản và sản lƣợng nuôi rất lớn, đặc biệt là
sản lƣợng tôm sú nuôi. Tuy vậy, dịch bệnh, giá thành và giá bán tôm thƣơng
phẩm vẫn là vấn đề gây ảnh hƣởng tiêu cực đến tính bền vững của nghề nuôi
tôm sú ở nƣớc ta nói chung và địa bàn huyện Thạnh Phú Tỉnh Bến Tre nói
riêng.
Tôm thẻ chân trắng có những ƣu điểm vƣợt trội so với tôm sú, thể hiện ở
chu kỳ nuôi ngắn, từ 2,5-3 tháng là cho thu hoạch, chi phí đầu tƣ thấp do nhu
cầu protein trong thức ăn không cao. Mật độ nuôi tôm thẻ chân trắng rất cao,
thƣờng nuôi với mật độ 60-150con/m2, thậm chí lên đến 400con/m2.
Tuy nhiên, tôm thẻ chân trắng là một đối tƣợng nuôi mới. Với ngƣời dân,
quy trình kỹ thuật nuôi chƣa đƣợc hoàn chỉnh, còn gặp nhiều khó khăn trong
khâu chăm sóc và quản lý.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, đề tài: “Thực nghiệm nuôi thƣơng
phẩm tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei Boone, 1931) tại huyện
Thạnh Phú – Tỉnh Bến Tre” đƣợc thực hiện nhằm từng bƣớc hoàn thiện qui
trình nuôi thƣơng phẩm tôm chân trắng mang lại hiệu quả kinh tế cho ngƣời
dân.
Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu của đề tài là góp phần tiềm hiểu động thái môi trƣờng nƣớc ao
nuôi tôm cũng nhƣ tăng trƣởng, tỷ lệ sống và năng suất của tôm nuôi, làm cơ
sở phát triển nghề nuôi thƣơng phẩm tôm thẻ chân trắng ở huyện Thạnh Phú Tỉnh Bến Tre.
Trang 2/59
Đề tài đƣợc thực hiện với các nội dung sau:
Nghiên cứu biến động và hiệu quả quản lý môi trƣờng nƣớc ao nuôi
tôm.
Nghiên cứu tăng trƣởng và năng suất tôm nuôi.
Trang 3/59
Chƣơng 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)
2.1.1 Đặc điểm phân loại.
Theo , ngày 16/03/2006 (trích dẫn bởi Nguyễn
Văn Thƣờng, 2006), tôm thẻ chân trắng có vị trí phân loại nhƣ sau:
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea (Latreille, 1802)
Lớp phụ: Eumalacostraca (Grroben, 1892)
Bộ: Decapoda (Latreille, 1802)
Họ: Penaeidae (Rafinesque, 18115)
Giống: Litopenaeus
Loài: Litopenaeus vannamei hay Penaeus vannamei
(Boone, 1931).
Hình 2.1: Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei).
Tôm thẻ chân trắng là đối tƣợng nuôi có nguồn gốc ở khu vực Nam và
Trung Mỹ (Wyban & Sweeny, 1991; Rosenberry, 2002).Đây là đối tƣợng
đƣợc nuôi phổ biến ở Tây bán cầu, chiếm hơn 70% các loài tôm thẻ Nam Mỹ.
Sản lƣợng tôm thẻ chân trắng chỉ đứng sau tổng sản lƣợng tôm sú trên toàn thế
giới. Các quốc gia châu Mỹ nhƣ Ecuado, Mehico, Panama là những quốc gia
có nghề nuôi tôm thẻ chân trắng phát triển từ đầu những năm 1900.
2.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo
Tôm thẻ chân trắng vỏ mỏng có màu trắng đục nên có tên là tôm bạc,
bình thƣờng có màu xanh lam, chân bò có màu trắng ngà nên gọi tôm chân
trắng. Chủy là phần kéo dài tiếp với bụng. Dƣới chủy có 2-4 răng cƣa, đôi khi
có tới 5-6 răng cƣa ở phía bụng. Những răng cƣa đó kéo dài, có khi tới đốt thứ
Trang 4/59
hai. Vỏ đầu ngực có những gai râu và gai gan rất rõ, không có rãnh sau mắt,
đƣờng gờ sau chủy khá dài tới gai thƣợng vị. Có 6 đốt bụng, ở đốt mang trứng
rãnh bụng rất hẹp.
2.1.3 Đặc điểm phân bố và tập tính sống
Tôm thẻ chân trắng là tôm nhiệt đới, phân bố vùng bờ biển phía Đông
Thái Bình Dƣơng, từ biển Peru đến nam Mêxicô, vùng biển Ecuado. Hiện tôm
thẻ chân trắng đƣợc di giống ở nhiều nƣớc Đông Nam Á và Đông Á nhƣ
Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Indonesia và Việt Nam (Bộ Thủy sản,
2004).
Ngày nay tôm thẻ chân trắng đƣợc du nhập, thuần hóa và nuôi ở nhiều
nƣớc trên thế giới, trong đó có các nƣớc ở châu Á.
Bảng 2.1. Du nhập tôm thẻ chân trắng ở một số nƣớc châu Á(FAO Fishery
Statistics, 2004)
Năm nhập
khẩu
TrungQuốc
1988
Đài Loan
1995
Thái Lan
1998
Việt Nam
2000
Philippines
1997
Indonesia
2001
Malaysia
2001
Ấn Độ
2001
Quốc gia
Nguồn gốc
Taxas
Hawaii
Đài Loan
Trung Quốc
Đài Loan
Hawaii
Đài Loan
Đài Loan
Lý do nhập L. vannamei
Đa dạng hóa đối tƣợng nuôi, trình diễn
Bệnh đốm trắng trên P. monodon
Bệnh đốm trắng trên P. monodon
Bệnh đốm trắng trên P. monodon
Bệnh đốm trắng trên P. monodon
Bệnh đốm trắng trên P. monodon
Bệnh đốm trắng trên P. monodon
Bệnh đốm trắng trên P. monodon
Hình 2.2. Bản đồ các nƣớc nuôi tôm thẻ chân trắng đáng kể trên thế giới
(FAO Fishery Statistics, 2004)
Tôm thẻ chân trắng đƣợc đƣa vào nuôi thí điểm ở châu Á từ những năm
1978-1979, nhƣng về phƣơng diện thƣơng mại thì chỉ bắt đầu từ năm 1996 khi
nó đƣợc nhập vào Trung Quốc, Đài Loan và tiếp sau Philippines, Indonesia,
Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Ấn Độ .So với loài tôm bản địa nuôi phổ
Trang 5/59
biến ở châu Á mà cụ thể là tôm P. monodon, những lý do sau giúp tôm L.
vannamei có thể đƣợc du nhập và nuôi ở nhiều nƣớc ở châu lục này.
Bảng 2.2. Tóm tắt những thuận lợi và khó khăn của tôm L. vannamei
(Matthew Briggs, Simon Funge-Smith, Rohana Subasinghe and Michael
Phillips, 2004)
Chỉ tiêu
Tốc độ tăng trƣởng.
Thuận lợi
L.vannamei tăng trƣởng
nhanh nhƣ P. monodon để
đạt mức 20g và hiện tại ở
châu Á L.vannamei (11,5g/tuần) tăng trƣởng
nhanh hơn.
Khó khăn
Tốc độ tăng trƣởng của
tôm chậm lại sau khi đạt
kích thƣớc 20g.
P. monodon (1g/tuần).
Mật độ nuôi.
L. vannamei dể dàng nuôi
Nuôi ở mật độ cao cần
ở mật độ cao (Phổ biến 60phải quản lý tốt hệ thống
2
150 con/m , nhƣng cũng có
nuôi.
thể lên đến 400con/m2)
Độ mặn.
L.vannameichịu đƣợc
khoảng độ mặn rộng (0,545‰)
Không .
Nhiệt độ.
L. vannamei chịu đƣợc
nhiệt độ xuống 15oC và có
thể nuôi trong mùa lạnh.
Không .
Nhu cầu Protein .
L. vannamei nhu cầu
protein (20-35%) thấp hơn
P. monodon (36-42%). Hệ
số FCR cũng thấp hơn 1,2
so với 1,6 ở tôm P.
monodon.
Sức đề kháng với
dịch bệnh.
L. vannamei có thể chịu
đựng đƣợc đối với WSSV,
và nhiều loại virus khác.
Tỷ lệ sống L. vannamei
hiện tại cao hơn P.
monodon ở châu Á
Thị trƣờng.
Thị trường Mỹ ưa thích
L.vannamei hơn
P.monodon nhờ mùi vị.
Sản lƣợng thịt tôm
L.vannamei (66-68%) cao
Trang 6/59
Không.
L. vannamei chịu đựng tốt
và có thể mang mầm bệnh
TSV, WSSV, YHV,
IHHNV, LOVV. P.
monodon có thể bị thiệt
hại do TSV và IHHNV.
P.monodon kích thƣớc lớn
hơn nên giá bán cao hơn
L.vannamei. L.vannamei
chịu sự cạnh tranh mạnh
mẽ trên thị trƣờng thế giới
Chỉ tiêu
Thuận lợi
hơn tôm P.monodon (62%)
Nguồn gốc
Khó khăn
do sản xuất nhiều và sản
lƣơng cao.
L. vannamei không phải là
loài bản địa ở châu Á và
sự du nhập của nó có thể
là nguyên nhân truyền
nhiều loại virus mới nhiễm
bệnh cho tôm bản địa.
Không
2.1.4 Đặc điểm dinh dƣỡng
Tôm thẻ chân trắng là loài ăn tạp thiên về động vật, phổ thức ăn rộng,
cƣờng độ bắt mồi khỏe, tôm sử dụng đƣợc nhiều loại thức ăn tự nhiên có kích
cỡ phù hợp từ mùn bã hữu cơ đến các động thực vật thủy sinh. Nhu cầu
protein trong khẩu phần thức ăn cho tôm thẻ chân trắng (20-35%), thấp hơn so
với các loài tôm nuôi cùng họ khác (36-42%). Khả năng chuyển hóa thức ăn
của tôm rất cao, trong điều kiện nuôi thâm canh, hệ số chuyển hóa thức ăn
(FCR) dao động từ 1,1-1,3 (Trần Viết Mỹ, 2009).
Ở Thái Lan, Indonesia, ngƣời ta sử dụng thức ăn công nghiệp 35% đạm
để nuôi tôm thẻ chân trắng trong các hệ thống nuôi, điều này giúp giảm 1015% chi phí thức ăn so với việc cung cấp thức ăn 45% đạm nuôi tôm sú.
Ngoài ra, khả năng sử dụng thức ăn của tôm thẻ chân trắng cao, trong đó sản
lƣợng một FCR trung bình là 1,2 so với 1,6 cho tôm sú (FAO, 2004).
2.1.5 Đặc điểm sinh trƣởng
Tôm thẻ chân trắng có tốc độ sinh trƣởng nhanh, lớn nhanh hơn so với
tôm sú từ giai đoạn giống đến khi đạt kích cỡ thƣơng phẩm. Trong điều kiện
tự nhiên, tôm sú sinh trƣởng nhanh và đạt kích cỡ thƣơng phẩm (tôm cỡ 40
g/con) sau thời gian 180 ngày, hoặc từ cỡ 0,1 g có thể lớn hơn tới cỡ 15 g
trong khoảng 90-120 ngày. Vì vậy đây là đối tƣợng nuôi quan trọng sau tôm
sú (Bộ Thủy sản, 2004).
2.1.6 Đặc điểm sinh sản.
Tôm thẻ chân trắng thành thục sớm, con cái có khối lƣợng từ 30-45 g/con sẽ
thành thục và tham gia sinh sản. Mùa sinh sản của thẻ chân trắng có sự khác nhau ở
các vùng biển, phía Bắc Icuado tôm đẻ từ tháng 12 đến tháng 4. Lƣợng trứng mỗi vụ
phụ thuộc vào cỡ tôm mẹ: nếu tôm mẹ cỡ 30 – 45 g thì lƣợng trứng từ 100.000250.000 trứng, đƣờng kính trứng 0,22 mm. Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng
tôm lại phát triển tiếp. Thời gian giữa hai lần đẻ cách nhau 2-3 ngày. Con đẻ nhiều
nhất tới 10 lần/năm. Thƣờng 3-4 lần đẻ liên tục thì tôm sẽ lột vỏ. Sau khi đẻ 14-16
giờ, trứng nở thành ấu trùng Nauplius. Ấu trùng Nauplius trải qua 6 giai đoạn, Zone
qua ba gia đoạn, Mysis qua ba giai đoạn thành Postlarvae (Bộ thủy sản 2004).
Trang 7/59
2.2 Tình hình nuôi tôm trên thế giới, Việt Nam và tại Bến Tre
2.2.1. Tình hình nuôi tôm trên thế giới
Trên thế giới, trang trại nuôi tôm hiện đại bắt đầu từ những năm cuối thập
kỷ 1960 và đầu thập kỷ 70, khi Pháp nghiên cứu phát triển công nghệ sản xuất
giống và ƣơng nuôi chuyên sâu nhiều loài tôm thẻ ở Tahiti nhƣ Penaeus
japonicus, P. monodon và sau đó là L. vannamei và P. stylirostris. Cùng thời
điểm này, ở Trung Quốc tôm P. chinensis đƣợc nuôi trong những ao bán thâm
canh và tôm P. monodon đƣợc nuôi trong các ao thâm canh qui mô nhỏ ở Đài
Loan. Ở Nam Mỹ, cũng đã bắt đầu chuyển dịch nghiên cứu về các trang trại
nuôi tôm.
Các quốc gia nuôi tôm không ngừng tăng, theo Bộ Thủy Sản (1998) trên
thế giới có 62 nƣớc nuôi tôm tập trung ở hai khu vực chính là các nƣớc châu Á
(Đông Bán Cầu) chiếm 72% và các quốc gia châu Mỹ La Tinh (Tây Bán Cầu)
chiếm 28% tổng sản lƣợng tôm nuôi toàn thế giới (trích dẫn bởi Phạm Xuân
Thủy, 2004).
Ở một số nƣớc châu Á, trong suốt những năm đầu thập niên 1990, Việt
Nam, Ấn Độ và Bangladesh cũng phát triển nuôi tôm công nghiệp trên đối
tƣợng P. monodon. Ở châu Mỹ La Tinh, Honduras, Mexico và Colombia phát
triển nuôi tôm công nghiệp bán thâm canh chủ yếu trên đối tƣợng L. vannamei
và P. stylirostris. Tuy nhiên, những năm đầu giữa thập niên 1990, sản lƣợng
tôm chỉ dao động từ 700.000 - 900.000tấn.
Sản lƣợng tôm nuôi toàn cầu năm 2002 đạt mức 1,48 triệu tấn (FAO,
2002; Chamberlain, 2003). Tôm P. monodon vẫn giữ vai trò ổn định khoảng
600.000 tấn từ năm 1994-2002, tuy nhiên sự đóng góp về sản lƣợng lại giảm
từ 63% xuống còn 40% vào năm 2002, nguyên nhân do sản lƣợng tôm P.
chinensis và đặc biệt lúc bấy giờ là sản lƣợng L. vannamei hơn 500.000 tấn
(FAO, 2002). Hiện tại, tôm L. vannamei đang phát triển mạnh ở các nƣớc
châu Á, đặc biệt là Trung Quốc đại lục, Thái Lan.
Năm 2003 Trung Quốc sản lƣợng xuất khẩu 300.000 tấn, Thái Lan
120.000 tấn và Indonesia khoảng 30.000 tấn. Đến năm 2004 sản lƣợng tôm thẻ
chân trắng của ba nƣớc trên đã vƣợt mặt tôm sú đạt 1.116.000 tấn. Năm 2006
thì sản lƣợng nhảy vọt lên 1,6 triệu tấn. Năm 2007 sản lƣợng tôm toàn thế giới
đạt 3,3 triệu tấn, trong đó tôm thẻ chân trắng chiếm đến 69%. Tại Châu Á sản
lƣợng năm 2007 ƣớc tính khoảng 2,65 triệu tấn, trong đó tôm thẻ chân trắng
chiếm 57%, riêng Trung Quốc tôm thẻ chân trắng chiếm đến 80% trong 1 triệu
tấn sản lƣợng của nƣớc này. Năm 2009 sản lƣợng tôm thẻ chân trắng của Châu
Á đạt 2.307 triệu tấn, chiếm 80% sản lƣợng nuôi tôm toàn thế giới. Để đa dạng
hóa sản phẩm và tình trạng trông cậy chủ yếu vào tôm sú vẫn đang chịu gánh
nặng về dịch bệnh nên Việt Nam cùng các nƣớc lân cận đã đã nhập tôm thẻ
chân trắng về nuôi (Briggs, 2006; Kongkeo, 2007; AQUA Culture Asia
Pacific, 2010).
Hiện nay, các loài tôm đƣợc nuôi nhiều nhất là tôm P. monodon, tôm
P. chinensis và tôm L. vannamei. Riêng 3 loài tôm này chiếm trên 86% sản
lƣợng tôm nuôi của thế giới. Nếu tính về sản lƣợng thì tôm P. monodon chỉ
Trang 8/59
xếp thứ 20 trong số các loài thuỷ sản nuôi, nhƣng về giá trị thì chúng đứng đầu
với 4.046 tỷ USD trong năm 2000.
Bảng 2.3 : Sản lƣợng nuôi tôm thẻ và tôm sú trên thế giới từ 2009- 2011.
(AQUA CULTURE, 2012).
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Penaeus
Penaeus
Penaeus
Penaeus
Penaeus
Penaeus
vannamei
monodon
vannamei
monodon
vannamei
monodon
1.118.142
60.210
1.200.000
61.000
800.000
60.000
Thai lan
535.000
3.500
635.000
5.000
590.000
6.000
Việt Nam
36.000
316.000
136.719
333.174
150.000
90.000
Indonesia
170.969
124.561
206.578
125.519
147.435
112.036
Malaysia
52.926
16.351
100.000
3.000
70.000
3.000
India
1.730
96.880
20.000
120.000
130.000
110.000
Philippines
2.204
47.830
9.000
32.000
20.000
23.000
Bangladesh
2.339
49.710
Khác
9.563
Nƣớc
China
Tổng cộng
1.928.873
761.146
50.000
2.307.297
729.693
50.000
1.907.435
454.036
Latin
America
Ecuador
179.100
145.000
150.000
Brazil
65.188
75.000
75.000
Mexico
125.778
91.500
100.000
Others
65674
67300
75.000
Tổng cộng
Latin
America
435.740
378.800
400.000
Tổng cộng
2.364.213
Tổng cộng
Asia And
Latin
America
761.146
3.079.655
2.686.097
729.693
3.415.790
Trang 9/59
2.307.435
454.036
2.761.471
Trong những năm gần đây nghề nuôi tôm trên thế giới, đặc biệt là các
nƣớc châu Á phát triển rất mạnh và đạt đến trình độ kỹ thuật cao. Thái Lan,
Đài Loan, Trung Quốc là những nƣớc nổi tiếng về công nghệ này. Từ hình
thức nuôi theo lối cổ truyền với năng suất khoảng vài trăm kg/ha/năm, họ đã
đƣa năng suất lên đến khoảng 10 - 15 tấn/ha/năm trong hình thức nuôi tôm
thâm canh, thậm chí lên tới trên 30 tấn/ha/năm với mô hình nuôi tôm thâm
canh trong ao hay bể ximăng ở Nhật Bản (Arlo W. Fast., 1992 trích dẩn bởi
Phạm Xuân Thủy, 2004).
2.2.2. Tình hình nuôi tôm ở Việt Nam, Đồng Bằng Sông Cửu Long
và Bến Tre
Nghề nuôi tôm xuất hiện ở Việt Nam khoảng vài chục năm nay. Số liệu
ghi chép đƣợc cho thấy, vào thập kỷ 70 cả miền Bắc và miền Nam Việt Nam
đều tồn tại hình thức nuôi tôm quảng canh. Ling (1973) và Rabanal (1974) cho
biết diện tích nuôi tôm ở đồng bằng Sông Cửu Long thời kỳ này đạt khoảng
70.000ha. Ở miền Bắc, trƣớc năm 1975 có 15.000ha nuôi tôm nƣớc lợ .
Nhằm đa dạng hóa đối tƣợng nuôi, tận dụng tiềm năng diện tích đủ điều
kiện phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng, chủ động cung cấp nguồn nguyên liệu
cho chế biến và xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập, ngày 25/10/2008 Bộ
NN&PTNT ra chỉ thị việc phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng đối với các Tỉnh
ven biển đông Nam Bộ và ĐBSCL, đƣợc nuôi tôm chân trắng theo hình thức
thâm canh tại các cơ sở đủ điều kiện theo tiêu chuẩn.
Từ khi ban hành chỉ thị 228/2008/CT-BNN, ngày 25 tháng 01 năm 2008
của Bộ NN&PTNT về việc phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng ở các Tỉnh Nam
Bộ cho phép nuôi tôm thẻ chân trắng ở các Tỉnh ven biển đông Nam Bộ và
Đồng bằng Sông Cửu Long, phong trào nuôi tôm thẻ chân trắng hiện đang
phát triển mạnh ở các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu…Tuy
nhiên, việc sản xuất nhân rộng đối tƣợng này chƣa có sự đồng bộ trong sản
xuất và quản lý, thiếu quy hoạch, chƣa đƣợc kiểm soát thấu đáo từ khâu con
giống đến quy trình nuôi, kênh thông tin thị trƣờng còn nhiều bất cập.
Theo Nguyễn Dũng Tiến, 2005 (trích dẫn bởi Đào Văn Trí, 2005), sản
lƣợng tôm thẻ chân trắng ở nƣớc ta năm 2004 đạt 5.000 tấn, diện tích nuôi
khoảng 1.600 ha, tổng diện tích có tôm bị bệnh là 110 ha (thống kê chƣa đầy
đủ).
Theo Đào Văn Trí, 2005 hiệu quả trong việc nuôi tôm thẻ chân trắng ở
nƣớc ta đáp ứng đƣợc yêu cầu của ngƣời nuôi. Kết quả điều tra của Đào Văn
Trí (2005) cho biết, 80% số hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại các tỉnh Nam Trung
Bộ cho rằng thời gian nuôi ngắn (90-110 ngày), dễ nuôi, chi phí sản xuất thấp,
lợi nhuận thu đƣợc trên 40 triệu đồng/ha. Cũng theo tác giả, nguyên nhân
Trang 10/59
chính dẫn đến thất bại trong nuôi thƣơng phẩm tôm thẻ chân trắng là: (i) con
giống đƣợc mua trôi nổi, nguồn giống thả không rõ ràng, (ii) chƣa thật sự hiểu
biết về quy trình kỹ thuật nuôi; (iii) chƣa đầu tƣ đúng mức về kỹ thuật nuôi,
trong khi ao nuôi nằm trong vùng nuôi có điều kiện môi trƣờng xấu, thƣờng có
dịch bệnh xuất hiện (vùng nuôi tôm sú kém hiệu quả, ngƣời nuôi tự chuyển
đổi đối tƣợng nuôi từ tôm sú sang tôm thẻ chân trắng) .
Nuôi tôm nƣớc lợ là một trong những ngành kinh tế chủ lực của tỉnh
Bến Tre. Năm 2007, diện tích nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh 5.842
ha. Tôm thẻ chân trắng là đối tƣợng nuôi mới đƣợc đƣa vào nuôi thí điểm ở
Bến Tre năm 2003 hiện nay đối tƣợng này đã đƣợc nuôi phổ biến trong toàn
Tỉnh.
Năm 2007 Sở thuỷ sản Bến Tre cũng đã cho phép Công ty xuất nhập
khẩu Lâm Thủy sản tỉnh Bến Tre kết hợp với Trung Tâm Khuyến Ngƣ nuôi
thử nghiệm 15ha tại xã Bảo Thạnh huyện Ba Tri, theo qui trình khép kín có
quản lý nƣớc thải, bƣớc đầu thành công cả năng suất, hiệu quả và kỹ thuật.
Đầu mùa vụ năm 2008 toàn tỉnh cũng đã thả nuôi với diện tích 176ha, gồm
33hộ, sản lƣợng thu hoạch khoảng 750tấn. Từ thực tế của nhiều hộ nuôi cho
thấy, tôm có thời gian nuôi trung bình khoảng 75ngày, cỡ tôm đạt bình quân
100con/kg thì có thể thu hoạch.
Trong năm 2008 cho thấy một số mô hình nuôi có năng suất, chất lƣợng
đạt yêu cầu. Tổng sản lƣợng tôm thẻ chân trắng đạt 751tấn.
Thạnh Phú là huyện có diện tích NTTS cao nhất tỉnh Bến Tre, năm 2008
diện tích NTTS của huyện là 17.189ha, chiếm 38,75% diện tích tự nhiên toàn
huyện (44.350ha) và 40,82% tổng diện tích NTTS của tỉnh (42.107ha). Diện
tích NTTS của Huyện Thạnh Phú trong những năm qua hầu nhƣ không có
biến động lớn, diện tích nuôi cao nhất là năm 2005 với 17.643ha, thấp nhất là
năm 2007 với 17.178ha (Trung tâm khuyến nông, khuyến ngƣ huyện Thạnh
Phú)
Bảng 2.4. Diễn biến diện tích, sản lƣợng và năng suất nuôi tôm huyện Thạnh
Phú từ 2005-2008.
Danh mục
Tổng DT: nuôi TS
DT tôm càng xanh
DT tôm sú
Nuôi TC-BTC
Nuôi QC
Nuôi xen rừng
Nuôi tôm-lúa
DT nuôi TCT
Trong vùng cho phép
Ngoài vùng cho phép
ĐVT
ha
ha
ha
ha
ha
ha
ha
ha
ha
ha
2004
17.349
534
15.828
908
10.771
789
3.361
-
2005
17.643
409
15.871
994
8.832
798
5.247
-
Trang 11/59
2006
17.269
591
15.393
843
8.558
798
5.194
-
2007
17.178
798
15.361
855
8.677
799
5.030
-
2008
17.204
810
15.361
620
8.912
799
5.030
15
0
15
sản lƣợng nuôi TS
Tôm càng xanh
Tôm sú
Tôm chân trắng
thuỷ sản khác
Năng suất nuôi BQ
Tôm sú
Tôm chân trắng
tấn
tấn
tấn
tấn
tấn
tấn/ha
tấn/ha
tấn/ha
15.060
146
6.894
4.286
0,87
0,44
-
12.615
164
7.249
1.148
0,71
0,46
-
12.041
461
6.389
1.449
0,70
0,41
-
11.535
409
6.044
1.245
0,67
0,39
-
14.950
620
5.200
30
1.900
0,87
0,34
2,00
Theo thống kê từ các xã, năm 2008 toàn Huyện nuôi đƣợc 15ha tôm thẻ
chân trắng (Trong đó nuôi trong vùng cho phép là 10,8ha, ngoài vùng cho
phép là 4,2ha) tập trung ở xã Thạnh Hải (11ha) và An Thuận (4ha).
Năm 2009 diện tích nuôi của huyện tăng nhanh, 6 tháng đầu năm 2009 toàn
huyện thả nuôi đƣợc 116ha thuộc 8xã, trong đó xã An Nhơn (74ha), Thạnh
Hải (16ha), Thạnh Phong (14ha), An Qui (8ha) còn lại rải rác ở các xã khác
(Trung tâm khuyến nông, khuyến ngƣ huyện Thạnh Phú)
Nhìn chung nghề nuôi tôm ở Việt Nam đã và đang đạt đƣợc những thành
tựu đáng khích lệ, xong hiện vẫn còn những tồn tại làm hạn chế kết quả và
hiệu quả nuôi tôm.
Trang 12/59
Chƣơng 3
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng, địa điểm, vật liệu và thời gian nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Tôm thẻ chân trắng: Litopenaeus vannamei.
Boone, 1931
Địa điểm nghiên cứu: xã An Nhơn - Huyện Thạnh Phú – Tỉnh Bến Tre.
Thời gian nghiên cứu: Từ 04/2012 đến 07/2012.
Vật liệu nghiên cứu:
Hệ thống ao thí nghiệm.
Motor, máy chạy quạt.
Xuồng cho ăn. Thau cho ăn.
Vợt, nhá thăm thức ăn.
Lƣới sò, lƣới lấy nƣớc vào ao.
Thuốc, hóa chất xử lý.
Các dụng cụ do chỉ tiêu môi trƣờng, cân, chài.
Cùng một số vật dụng phục vụ cho thí nghiệm.
3.2 Nội dung nghiên cứu:
3.2.1. Điều kiện ao nuôi
Diện tích khu nuôi đƣợc bố trí thí nghiệm:
Tổng diện tích: 7ha
Số ao bố trí thí nghiệm: 4ao liền kề nhau, 1ao lắng và 1ao chứa bùn:
Ao: Số 1: 4.692m2
Ao: Số 2: 4.140m2
Ao: Số 3: 4.028m2
Ao: Số 4: 4.379m2
Ao: Lắng: 4.233m2
Ao: Chứa bùn: 1000m2
Quy trình chuẩn bị ao nuôi:
Nền đất đáy ao: Cát bùn.
Cải tạo ao nuôi: Vào đầu vụ nuôi, dùng cơ giới chuyên dụng để đào sâu
thêm 0,3m và đƣa toàn bộ lƣợng đất đào lên để đắp bờ ao, sau đó bang đáy ao
cho bằng phẳng. Chiều sâu ao sau khi cải tạo là 1,7m. Sau khi cải tạo xong
tiến hành bón vôi CaCO3, CaO liều lƣợng 400kg/0,4ha.
Dùng lƣới sò rào xung quanh ao để tránh vật chủ trung gian vào ao.
Sau khi bón vôi ta phơi đáy ao khoảng 7 ngày cho đáy ao nức hẳn rồi
tiến hành lấy nƣớc vào ao.
Quá trình lấy nƣớc ao nuôi:
Độ mặn khi lấy nƣớc vào ao nuôi là: 15‰.
Chiều sâu cột nƣớc các ao lấy đƣợc nhờ nƣớc triều lên là 0,9m, sau đó
dùng máy bơm cấp thêm đến mức là 1,5m. khi lấy nƣớc phải cho qua lƣới lọc.
Trang 13/59
Lựa chọn thời điểm tốt nhất để lấy nƣớc tốt nhất là nƣớc ngày 30 hay 15 âm
lịch vì lúc này mực nƣớc cao và sạch, tránh lấy nƣớc khi các ao quảng canh
thảy ra ví nƣớc thƣờng dơ và mang mầm bệnh
Quá trình xử lý nƣớc:
Nƣớc ao nuôi lấy đƣợc 1,5m sau đó để 4 ngày và dùng quạt để quạt
nhằm cho tất cả các loại trứng (cá, tép, cua, còng…) nở hết. Sau đó dùng
Chlorin hiệu Super- Chlo của Trung Quốc để xử lý với liều lƣợng là 30ppm.
Chlorine đƣợc cho vào thùng phi nhựa đặt hƣớng trên gió quậy đều cho
tan ra, để cho chlorine lắng cặn sau đó cho vào xô rồi dùng xuồng tạt đều ao.
Khi tạt chlorine ta bật tất cả quạt trong ao để đều khắp ao. Chú ý không đƣợc
tạt cặn chlorine xuống ao vì nó sẽ làm giảm liều chlorine và sẽ tích tụ chlorine
dƣới đáy ao.
Sau khi xử lý nƣớc xong tiến hành vớt hết cá tạp chết trong ao, bắt hết
cua, còng trong ao vì đây là vật chủ trung gian lây bệnh nguy hiểm.
3.2.2. Gây màu
Sau khi xử lý Chlorin đƣợc 48 giờ, tiến hành gây màu nƣớc.
URê: 2-3 kg/ao/ngày.
NPK: 2-3 kg/ao/ngày.
Cám gạo: 2-3 kg/ao/ngày.
Sau khi gây màu nƣớc trong ao nuôi khoảng 7 ngày, độ trong nƣớc ao
nuôi đạt khoảng 40-50cm tiến hành thả giống.
Trƣờng hợp gây màu không lên nhƣ mong muốn ta dùng thức ăn của
tôm để gây màu, dùng 2kg thức ăn quậy tan ra rồi tạt đều khắp ao. Có thể kết
hợp với Bio- Primex để gây màu vì trong Bio- Primex có chứa nhiều khoáng
đa lƣợng.
3.2.3. Chọn giống và thả giống:
Trong quá trình nuôi thì yếu tố con giống đƣợc xem là yếu tố rất quan
trọng nó ảnh hƣởng rất lớn đến năng suất, đến sự thành bại của vụ nuôi. Mục
đích của việc chọn giống là tìm ra những đàn tôm khỏe, có tỷ lệ sống cao, tăng
trƣởng nhanh kháng bệnh tốt.
Các chỉ tiêu tuyển chọn tôm giống:
Tôm khỏe mạnh, đồng đều về kích cỡ, râu và phụ bộ đầy đủ, không
có chất bẩn bám.
Tôm không bị dị hình, chủy và phụ bộ không bị ăn mòn, không bị đen.
Thân tôm sạch, không bị bẩn do nhiều sinh vật bám.
Tôm có màu xanh xám.
Trang 14/59
Ruột tôm đầy thức ăn, tạo thành một đƣờng màu nâu nằm dọc sống
lƣng.
Tôm hoạt động bơi lội linh hoạt ngƣợc lại với dòng nƣớc khi bị khuấy
động và phản ứng nhanh với kích thích từ bên ngoài và đặc biệt không
có các bệnh nhƣ bệnh phát sáng, đốm trắng, MBV…
Khi tuyển chọn mua tôm giống nên chọn những nơi có uy tín, đáng tin
cậy.
Nguồn giống ở trại lấy từ Công Ty TNHH UNI- PRESIDEN(UP) xã
An Hải- Ninh Phƣớc- Ninh Thuận
Cỡ giống thả Postlarvae 12.
Thời điểm thả giống: Sáng sớm ngày 09/4/2012.
Tình trạng sức khoẻ của giống: Khoẻ mạnh, sạch bệnh.
Thả tôm ở góc ao hƣớng trên gió.
Tôm giống đƣợc vận chuyển bằng xe tải đông lạnh về tới ao, vận
chuyển ra ao rồi lấy các bao ni lông chứa tôm giống ra để thuần nhiệt độ.
Dùng hai phi nhựa lớn cho vào một ít nƣớc ao rồi cho tôm vào, tránh
làm sốc tôm, chú ý nên cho thức ăn vào phi nhựa để tránh ăn lẫn nhau khi tôm
tỉnh. Dùng thau múc từng ca cho xuống ao khi tôm đã tỉnh hẳn, tạt một lƣợng
ít thức ăn xung quanh khu vực thả vì tôm sẽ ăn ngay sau khi xuống ao.
Bảng 3.1: Số lƣợng và mật độ thả giống
Ao nuôi
Diện tích
(ha)
Cỡ giống
thả
Số lƣợng
thả (con)
Mật độ thả
(con/m2)
Thời gian thả
Ao 1
4.692
Post 12
324.000
69
Buổi sáng
Ao 2
4.140
Post 12
309.000
74
Buổi sáng
Ao 3
4.028
Post 12
309.000
76
Buổi sáng
Ao 4
4.379
Post 12
324.000
74
Buổi sáng
3.2.4. Thức ăn và phƣơng pháp cho ăn
Trong qui trình nuôi tôm công nghiệp thì thức ăn chiếm phần lớn chi
phí khoảng 40 – 50% trong tổng chi phí sản xuất, đồng thời nó là yếu tố quyết
định đến năng suất của vụ nuôi. Vì thế, cần phải có sự lựa chọn thức ăn và có
cách cho ăn hợp lý để giảm đƣợc chi phí sản xuất mang lại lợi nhuận cho
ngƣời nuôi. Đối với thức ăn công nghiệp ta cần lựa chọn những loại thức ăn có
chất lƣợng, giá trị dinh dƣỡng phù hợp với tôm thẻ và giá cả hợp lý. Tại trại đã
sử dụng thức ăn UNI-PRESIDENT với các loại: V990, V991, V992, V993,
V994. Với hàm lƣợng đam khác nhau 40- 45% đạm.
Trang 15/59
Bảng 3.2 Các loại thức ăn sử dụng.
Mã số thức ăn
V990
V991
V992
V993
V994
Độ ẩm tối đa(%)
11
11
11
11
11
Protein thô(%)
tối thiểu
40
40
40
40
40
Béo thô trong
khoảng(%)
6-8
6-8
6-8
6-8
6-8
Tro thô tối đa
(%)
16
16
16
16
16
Xơ thô tối đa
4
4
4
4
4
Hình dạng
Hạt
Hạt
Hạt
Viên
Viên
Hƣớng dẫn cho ăn
Trọng lƣợng
tôm (g)
PL1015
PL151g
1- 3g
3- 7g
7- 1g
Ngày tuổi
1-4
5-15
16-30
31-40
41-65
Tỷ lệ cho ăn(%)
trọng lƣợng thân
30-25
25-15
15-8
8-7
6-5
Số lần cho ăn
2
4
4
4
4
Thành phần của UNI-PRESIDENT bao gồm: Bột cá, bột đậu nành, bột
mì, bột mực, dầu cá, bột nội tạng thịt mực, bột nấm men, lecithin,
Cholesterol, nucleotid, Astaxanthin, vitamin và khoáng chất.
Số lần cho ăn trong ngày là 4lần/ngày: giai đoạn nhỏ 1 – 20 ngày tuổi
6giờ; 11giờ; 17giờ và 22giờ, thức ăn đƣợc tạt xung quanh ao cách bờ 1 –
1,5m.
khi tôm lớn 21 ngày – thu hoạch ngày tuổi thay đổi giờ cho ăn: 7giờ;
11giờ; 17giờ và 22giờ, cho ăn theo đƣờng ăn khoảng 4m rộng, khi tôm đạt 2,5
tháng giảm số lần cho ăn xuống còn 3 lần/ngày: 7giờ 30; 11giờ 30; 17giờ 30
ngừng cho tôm ăn cử tối vì lúc này tôm lớn, về đêm tôm thƣờng giảm ăn và
thƣờng thiếu oxi.
Thức ăn đƣợc trộn đều và bổ sung vitamin C và enzym để nhằm tăng
sức đề kháng cho tôm, kích thích tôm bắt mồi và tăng hiệu quả sử dụng thức
ăn.
Trang 16/59
Khi rải thức ăn ta nên chú ý tránh rải thức ăn vào giữa ao vì ở khu vực
này tôm ít phân bố do chất bẩn tụ nhiều ở giữa ao.
Quản lý thức ăn là việc làm rất cần thiết đối với ngƣời nuôi. Nếu ngƣời
nuôi thực hiện tốt công việc này thì khả năng thành công của vụ nuôi là rất
lớn.
Quản lý và điều chỉnh lƣợng thức ăn hàng ngày và từng giai đoạn dựa
vào:
Tổng khối lƣợng tôm ƣớc lƣợng trong ao qua từng giai đoạn. Nghĩa là
ta phải biết đƣợc số lƣợng tôm bao nhiêu, tôm đang ở giai đoạn nào để
có cách điều chỉnh hợp lý.
Tình trạng sức khỏe, khả năng bắt mồi của tôm. Nếu tôm vào thời kỳ
lột xác hoặc tôm có dấu hiệu bị bệnh thì ta sẽ giảm lƣợng thức ăn
Tình trạng môi trƣờng và thời tiết, khi mà thời tiết thay đổi đột ngột
hoặc môi trƣờng biến động lớn thì ta sẽ giảm lƣợng thức ăn cho tôm
hoặc ngƣng cho ăn
Việc tính toán lƣợng thức ăn một cách có hiệu quả để cho tôm ăn ta
dùng nhá. Dựa vào lƣợng thức ăn còn lại trong nhá để tính toán lƣợng thức ăn
tiếp theo.
Để xác định chính xác lƣợng thức ăn cho tôm thì tháng đầu tiên ta cho
ăn theo hƣớng dẫn và sau 20 ngày ta canh thức ăn bằng sàng kiểm tra thức ăn:
Mỗi ao bố trí 4 sàng, vị trí đặt sàng là ở đoạn giữa của mỗi bờ ao nuôi phải căn
cứ vào lƣợng thức ăn còn trên nhá để đều chỉnh cho thích hợp.
Nếu trong giờ kiểm tra nhá, thức ăn trong nhá hết khoảng 3 cử liên tiếp
thì tăng thêm lƣợng thức ăn vào cử sau đó. Ngƣợc lại, nếu còn lƣợng thức ăn
khi kiểm tra nhá thì giảm lƣợng thức ăn cho cử ăn sau đó mức độ giảm tuỳ
thuộc vào lƣợng thức ăn còn trong nhá. Thời gian kiểm tra nhá dựa theo bảng
hƣớng dẫn của công ty thức ăn. Giai đoạn tôm nhỏ thì sau 2 – 2,5 giờ kiểm tra,
giai đoạn tôm lớn sau 1 – 1,5 giờ kiểm tra.
3.2.5 Chăm sóc và quản lý:
Điều khiển môi trƣờng ao nuôi là một biện pháp kỹ thuật tổng hợp của
nhiều giải pháp kỹ thuật, sinh học nhằm đảm bảo các yếu tố môi trƣờng: Độ
mặn, ôxy hòa tan, pH., H2S, …nằm trong vùng tối ƣu, phù hợp với sự sinh
trƣởng và phát triển của các đối tƣợng nuôi trồng
Hàng ngày kiểm tra lƣới rào sò xung quanh ao tránh các vật chủ trung
gian vào ao. Kiểm tra các chỉ tiêu pH, nhiệt độ, NH3, độ trong, độ kiểm theo
định kỳ.
Sau 20 ngày tuổi tiến hành chày tôm để theo dõi sức khẻo và kiểm tra
sự tăng trƣởng của tôm.Kiểm tra cống, bờ ao tránh sự thất thoát nƣớc ra ngoài.
Kiểm tra độ trong cũng nhƣ màu sắc ao để có thể gây màu khi tảo tàn
và bón vôi khi pH xuống thấp.
Trang 17/59
3.2.6 Quản lý nƣớc
Thay nƣớc
Thay nƣớc và thêm nƣớc là biện pháp nhanh nhất và tiện lợi nhất để
duy trì chất lƣợng nƣớc. Đây là phƣơng pháp chính nhằm giảm bớt các hợp
chất có khả năng gây độc cho nƣớc, làm giảm sự phát triển của sinh vật có hại.
Thay nƣớc giúp tôm lớn nhanh, mau lột xác.
Tuy nhiên việc cấp và thay nƣớc không theo một chế độ nhất định nào,
thay nƣớc phụ thuộc vào chất lƣợng nƣớc trong ao. Nếu nƣớc có độ trong
thấp, màu nƣớc đậm đặc, tảo phát triển quá mức có khả năng tàn lụi ta tiến
hành thay nƣớc để giữ chất lƣợng nƣớc đƣợc ổn định tránh gây hại cho tôm.
Vì thời gian nuôi tƣơng đối ngắn 2,5 đến 3 tháng nên hầu nhƣ không
thay nƣớc chỉ thay nƣớc khi ao quá dơ. Để hạn chế nƣớc ao dơ ta định kỳ dùng
men vi sinh để xử lý đáy ao, chủ yếu dùng dòng vi khuẩn bacillus liều 50- 100
gam/ao, hoặc tuỳ theo mức độ ô nhiễm của ao.
Sau 2 tháng tuổi tiến hành cấp nƣớc vào ao để cải thiện chất lƣợng
nƣớc đồng thời kích thích tôm lột xác, nâng mức nƣớc lên khoảng 1,6- 1,7m vì
lúc này tôm lớn rất dễ thiếu oxy về đêm và mở rộng không gian hoạt động, khi
cấp nƣớc mới phải cấp gần quạt để tránh sốc tôm.
Chạy quạt:
Chức năng của quạt là cung cấp oxy và dọn sạch đƣờng cho ăn của tôm và
tránh phân tầng nhiệt độ. Khi tôm còn nhỏ chức năng của quạt chủ yếu là cung cấp
oxy, lúc này lƣợng phù sa cũng nhƣ phân tôm chƣa nhiều nên có thể chạy 2 giàn.
Nhƣng khi tôm khoảng 1,5 tháng tuổi thì cần chạy 4 giàn để dọn sạch đƣờng cho ăn
cũng nhƣ cung cấp oxy khi về đêm. Thời gian chạy: bật quạt sau khi kiểm tra nhá và
tắt quạt trƣớc giờ cho ăn khoảng 20- 30 phút.
3.2.7 Quản lý tảo
Trực tiếp quan sát màu nƣớc, đo độ trong kết hợp theo dõi khi chăm
sóc để nắm đƣợc hiện trạng ao nuôi để đƣa ra các giải pháp kịp thời. Trƣờng
hợp tảo kém phát triển nƣớc trở nên trong, thì ta nên bón phân NPK kết hợp
với phân lân.
Trƣờng hợp tảo phát triển quá nhiều thì ta nên thay nƣớc là cách tốt
nhất. Ta nên thay nƣớc khoảng 30% .
3.2.8. Quản lý đáy ao
Làm tốt khâu cải tạo ao nhƣ vét sạch bùn đáy từ vụ nuôi trƣớc, bón vôi
với liều lƣợng thích hợp. Nƣớc cấp vào phải đƣợc lọc qua túi lọc, qua ao lắng
để giảm thiểu lƣợng chất hữu cơ vào trong ao nuôi.
Trang 18/59
Bố trí máy quạt nƣớc thích hợp sao cho dòng nƣớc xoay tròn để chất
bẩn trong ao bị cuốn trôi vào giữa ao. Phải tính toán hợp lý lƣợng thức ăn đƣa
vào để tránh dƣ thừa.
Dùng chế phẩm men vi sinh để phân hủy chất hữu cơ làm sạch nền đáy.
Tùy vào điều kiện chất lƣợng nƣớc, lƣợng bùn đáy nhiều hay ít mà ta sử dụng
liều lƣợng khác nhau.
3.2.9. Phòng và trị bệnh cho tôm thẻ chân trắng
Công tác phòng bệnh cho tôm bao gồm:
Thực hiện tốt khâu chuẩn bị ao. Rải vôi thƣờng xuyên có tác dụng ổn định
pH và diệt khuẩn trong nƣớc.
Dùng các loại hóa chất để quản lý chất lƣợng nƣớc và tiêu diệt các tác nhân
gây bệnh. Chọn đàn giống tốt, sạch bệnh.
Tăng cƣờng sức đề kháng cho tôm nhƣ bổ sung vitamin C từ 20 ngày
tuổi đến thu hoạch bằng cách trộn vào thức ăn. Quản lý tốt các yếu tố môi
trƣờng.
Thu hoạch
Thời gian thu hoạch: Sau 2.5- 3 tháng nuôi tiến hành thu hoạch, thời
gian thu hoạch dựa vào thời giá và dựa theo sự tăng trƣởng của tôm nuôi. Tiến
hành thu hoạch đồng loạt bằng cách xả ½ nƣớc trong ao và dùng lƣới điện
kéo.
3.2.10 Các yếu tố cần theo dõi và thu thập:
Môi trƣờng:
Bảng 3.2: Các chỉ tiêu cần thu thập
Yếu tố
Tần suất
thu mẫu
Phân tích mẫu
1. Nhiệt độ.
2 lần/ngày
2. pH.
3. Độ kiềm
4. NH3
5. Độ mặn
6. Độ trong.
2 lần/ngày
1 lần/tuần
1 lần/tuần
1 lần/tuần
1 lần/ngày
Xác định bằng nhiệt kế thuỷ ngân với độ
chính xác 1oC
Xác định bằng máy đo pH.
Test đo kiềm
Test đo NH3
Đo bằng khúc xạ kế với độ chính xác 1‰.
Đo bằng đĩa Secchi.
7.Tốc độ tăng
trƣởng của tôm.
2 tuần/lần
Cân khối lƣợng bằng cân.
8. Năng suất.
9. Tỷ lệ sống
2 tuần/lần
2 tuần/lần.
Tính năng suất dựa vào việc chày tôm.
Tính tỷ lệ sống dựa vào việc chày tôm.
Trang 19/59
Các chỉ tiêu tăng trƣởng:
Trực tiếp thu mẫu định kỳ 2 tuần/lần.
Phƣơng pháp: dùng chày để thu tôm, chày ở 5 vị trí trong ao(4 góc ao
và giữa ao).
Thời gian: chày vào sáng sớm, định kỳ 2 tuần thu một lần.
Xác đinh trọng lƣợng (cân tôm).
Tăng trƣởng trọng lƣợng tuyệt đối:
DWG =
Wc Wđ
Tc Tđ
Trong đó:
DWG: tăng trƣởng trọng lƣợng tuyệt đối (g/ngày).
Wc: trọng lƣợng cuối (g).
Wđ: trọng lƣợng đầu (g).
Tc: thời gian cuối.
Tđ: thời gian đầu.
Tăng trƣởng chiều dài tuyệt đối:
DLG =
Lc Lđ
Tc Tđ
Trong đó:
DLG: tăng trƣởng chiều dài tuyệt đối ( cm/ngày).
Lc: chiều dài cuối (cm).
Lđ: chiều dài đầu (cm).
Tc: thời gian cuối.
Tđ: thời gian đầu.
Tăng trƣởng trọng lƣợng tƣơng đối:
SGR (%) =
Ln(Wc) Ln(Wđ )
x100
Tc Tđ
Trong đó:
SGR: tăng trƣởng trọng lƣợng tƣơng đối (%/ngày).
Wc: trọng lƣợng cuối (g).
Wđ: trọng lƣợng đầu (g).
Tc: thời gian cuối.
Tđ: thời gian đầu.
Tăng trƣởng chiều dài tƣơng đối:
SLR(%) =
Ln( Lc) Ln( Lđ )
x100
Tc Tđ
Trong đó:
SLR: tăng trƣởng chiều dài tƣơng đối (%/ngày).
Lc: chiều dài cuối (cm).
Lđ: chiều dài đầu (cm).
Tc: thời gian cuối.
Tđ: thời gian đầu.
Tỷ lệ sống: 2 tuần thu một lần.
SR (%) =
Ni
x100
Nđ
Trong đó:
Trang 20/59
SR: tỉ lệ sống (%).
Ni: Số cá thể thu đƣợc.
Nđ: Số cá thể ban đầu.
3.2.11. Phƣơng pháp xử lý số liệu: Phân tích bằng phần mềm
Microsoft office Excel 2010.
Hình 3.1: Cống cấp nƣớc
Hình 3.2: Chọn giống và thả giống
Trang 21/59
Hình 3.3: Kiểm tra nhá
Hình 3.4: Hệ thống chạy quạt
Hình 3.5: Dụng cụ đo môi trƣờng
Trang 22/59
Hình 3.6: Chài kiểm tra và cân tôm.
Trang 23/59
Chƣơng 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Biến động các yếu tố môi trƣờng
Biến động các yếu tố môi trƣờng giữa các ao trong suốt quá trình thực
nghiệm đƣợc trình bày ở bảng 4.1
4.1.
Bảng 4.1: Biến động các yếu tố môi trƣờng.
Ao 1
pH
Nhiệt độ
(OC)
Độ trong
(cm)
Độ mặn
( ‰)
Độkiềm
(mg/l)
NH3
(mg/l)
Ao 2
Ao 3
Ao 4
Sáng
7,44 ± 0,32
7,41 ± 0,16
7,38 ± 0,26
7,42 ± 0,14
Chiều
7,94 ± 0,33
7,91 ± 0,26
7,87 ± 0,33
7,87 ± 0,25
Sáng
28,8 ± 0,69
29,0 ± 0,70
29,2 ± 0,55
29,0 ± 0,60
Chiều
29,7 ± 0,55
29,9 ± 0,50
30,1 ± 0,44
29,6 ± 0,49
Sáng
35,25 ± 7,74
35,43 ± 8,27 32,87 ± 9,14 30,84±8,98
Sáng
13,80 ± 1,14
13,90 ± 0,99 13,90 ± 0,88 14,00±1,05
Sáng
76,50 ± 8,96
81,60 ± 7,17 76,50 ± 8,96 73,10±8,21
Sáng
0,007 ±0,006
0,010±0,009 0,009±0,007 0,007±0,006
Qua bảng ta thấy đƣợc sự biến động các yếu tố môi trƣờng không cao,
sự dao động các yếu tố giữa sáng chiều không lớn, nằm trong khoảng cho
phép.
4.1.1 Nhiệt độ
Theo Nguyễn Anh Tuấn, 1994 (trích dẫn bởi Trƣơng Quốc Phú)
khoảng nhiệt độ lý tƣởng cho các loài tôm là 25-32 0C, ngoài khoảng nhiệt độ
này có thể ảnh hƣởng đến tăng trƣởng của tôm. P.Chanratchacool (trích dẫn
bởi Tạ Khắc Thƣờng, 1996) nhiệt độ cao hơn 32-33 0C hoặc thấp hơn 25 0C
khả năng bắt mồi của tôm có thể giảm 20-50%.
Trang 24/59
Hình 4.1: Biến động nhiệt độ trong các ao nuôi.
Trang 25/59