TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THU Ỷ S ẢN
Bộ môn Kỹ Thuật Nuôi Thuỷ Sản Nước Ngọt
PHẠM KIM LỢI
THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH TOÀN ĐỰC
(Macrobrachium rosenbergii) TRONG
RUỘNG LÚA TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. LAM MỸ LAN
Ths. NGUYỄN HỮU TÂN
2009
i
LỜI CẢM TẠ
Trước tiên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Lam Mỹ Lan và thầy
Nguyễn Hữu Tân đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt tôi với những lời khuyên quý giá
trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa Thuỷ Sản cùng toàn bộ các thầy cô trong
Khoa đặc biệt là cô Lam Mỹ Lan cố vấn học tập lớp Nuôi Trồng Thuỷ Sản Liên
Thông K33 đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học tập tốt nhất.
Xin cảm ơn các nông hộ ở ấp Bình Dân, xã Nhị Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh
Đồng Tháp đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi thực hiện đề
tài này.
Xin cảm ơn tất cả các bạn trong lớp Nuôi Trồng Thuỷ Sản Liên Thông K33
đã cùng tôi giúp đỡ lẫn nhau trong thời gian học tập.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình tôi đã tạo điều kiện, ủng hộ tôi trong
suốt thời gian học tập.
Xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện
i
TÓM TẮT
Mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực trong ruộng lúa được thực hiện trong
4 ruộng ở xã Nhị Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2009 có diện tích từ
3000 – 9000 m2/ruộng. Mật độ thả nuôi dao động từ 4,6 - 7,2 con/m2.
Thời gian nuôi tôm bắt đầu từ tháng 10 âm lịch. Trong quá trình nuôi, tôm
toàn đực cho ăn thức ăn công nghiệp hiệu Uni President, khẩu phần ăn thường dựa
vào nhu cầu của tôm và thời gian cho ăn phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của
tôm. Tôm được thu tỉa sau 5 tháng nuôi.
Kết quả thực nghiệm cho thấy các yếu tố thủy lý hóa trong môi trường
nước như nhiệt độ (29 – 34 0C), pH (7 – 9), độ trong (25 – 60 cm), Oxi (3 – 6
ppm), N-NH+4 (0,1 – 0,25 mg/L). Trọng lượng tôm lúc thu hoạch trung bình là
40,7 ± 4,3 g/con. Tỷ lệ sống của tôm toàn đực nuôi ở các ruộng từ 70,3 – 87,7%,
năng suất từ 1.071 – 2.111 kg/ha, lợi nhuận từ 67.255.000 – 213.322.000 đồng/ha
và tỷ suất lợi nhuận từ 72 – 187%. Hiệu quả thực nghiệm của mô hình nuôi tôm
càng xanh toàn đực trong ruộng lúa là rất cao, lợi nhuận cao.
ii
MỤC LỤC
Lời cảm tạ .............................................................................................................. i
Tóm tắt.................................................................................................................. ii
Mục lục ................................................................................................................iii
Danh sách Bảng .................................................................................................... v
Danh sách Hình .................................................................................................... vi
Danh mục viết tắt ................................................................................................ vii
Chương I: Đặt vấn đề ............................................................................................ 1
1.1 Giới thiệu ................................................................................................ 1
1.2 Mục tiêu đề tài......................................................................................... 2
1.3 Nội dung đề tài ........................................................................................ 2
1.4 Thời gian thực hiện đề tài ........................................................................ 2
Chương II: Tổng quan tài liệu ............................................................................... 3
2.1: Một số đặc điểm sinh học của tôm càng xanh ......................................... 3
2.1.1 Phân loại và hình thái ...................................................................... 3
2.1.2 Phân bố ........................................................................................... 3
2.1.3 Vòng đời tôm càng xanh ................................................................. 3
2.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng ...................................................................... 4
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng ...................................................................... 4
2.1.6 Thành thục và sinh sản .................................................................... 4
2.1.7 Môi trường sống.............................................................................. 5
2.1.8 Nhu cầu dinh dưỡng ........................................................................ 5
2.2 Tổng quan về Đồng Tháp ........................................................................ 6
2.2.1 Vị trí địa lý...................................................................................... 6
2.2.2 Địa hình .......................................................................................... 6
2.2.3 Khí hậu ........................................................................................... 6
2.2.4 Hệ thống thuỷ lợi ............................................................................ 6
2.2.5 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản ở tỉnh Đồng Tháp ............................. 7
2.3 Qui trình sản xuất tôm càng xanh toàn đực .............................................. 8
2.3.1 Thế giới........................................................................................... 8
iii
2.3.2 Trong nước ..................................................................................... 8
2.4 Những nghiên cứu về mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa ........ 9
Chương III: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................ 11
3.1 Vật liệu.................................................................................................. 11
3.2 Thời gian và địa điểm ............................................................................ 11
3.3 Phương pháp thu thập và tính toán số liệu ............................................. 11
3.4 Thu mẫu ................................................................................................ 11
3.4.1 Các chỉ tiêu thuỷ lý ....................................................................... 11
3.4.2 Các chỉ tiêu về tăng trưởng và tỷ lệ sống ....................................... 12
3.5 Xử lý số liệu.......................................................................................... 12
Chương IV: Kết quả và thảo luận ........................................................................ 13
4.1 Công trình nuôi ..................................................................................... 13
4.2 Kỹ thuật nuôi......................................................................................... 13
4.3 Một số yếu tố thuỷ lý hoá trong mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực
trong ruộng lúa .................................................................................................... 15
4.4 Sinh trưởng và phát triển của tôm càng xanh toàn đực trong ruộng lúa .. 20
4.4.1 Tăng trưởng của tôm ..................................................................... 20
4.4.2 Năng suất và tỷ lệ sống tôm nuôi................................................... 21
4.5 Hiệu quả và lợi nhuận mang lại từ mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực
trong ruộng lúa .................................................................................................... 22
Chương V: Kết luận và đề xuất ........................................................................... 25
5.1 Kết luận................................................................................................. 25
5.2 Đề xuất.................................................................................................. 25
Tài liệu tham khảo............................................................................................... 26
Phụ lục .............................................................................................................. 29
iv
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Chu kỳ lột xác của tôm ở các giai đoạn khác nhau................................. 4
Bảng 4.1: Diện tích ruộng nuôi............................................................................ 13
Bảng 4.2: Mật độ thả nuôi ................................................................................... 14
Bảng 4.3: Thức ăn cho tôm trong quá trình nuôi.................................................. 14
Bảng 4.4: Các yếu tố thủy lý - hoá trong hệ thống nuôi ....................................... 15
Bảng 4.5: Trọng lượng trung bình của tôm trong thời gian thực nghiệm .............. 20
Bảng 4.6: Năng suất và tỷ lệ sống tôm ở các ruộng. ............................................ 21
Bảng 4.7: Lợi nhuận thu được từ mô hình nuôi. .................................................. 24
v
DANH SÁCH HÌNH
Đồ thị 4.1: Biến động nhiệt độ nước ở các ruộng vào buổi sáng .......................... 16
Đồ thị 4.2: Biến động nhiệt độ nước ở các ruộng vào buổi chiều ......................... 16
Đồ thị 4.3: Biến động pH ở các ruộng nuôi ........................................................ 17
Đồ thị 4.4: Biến động độ trong ở các ruộng nuôi ................................................ 18
Đồ thị 4.5: Biến động oxi ở các ruộng vào buổi sáng........................................... 19
Đồ thị 4.6: Biến động oxi ở các ruộng vào buổi chiều ......................................... 19
Đồ thị 4.7: Biến động ammonium ở các ruộng nuôi ............................................ 20
Đồ thị 4.8: Trọng lượng tôm trung bình qua các tháng thu mẫu ........................... 21
Biểu đồ 4.9: Chi phí đầu tư cho mô hình nuôi ..................................................... 23
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
R1: ruộng chú Nguyễn Văn Hoàng.
R2: ruộng anh Nguyễn Đoàn Trung.
R3: ruộng anh Võ Văn Trọng.
R4: ruộng chú Trần Văn Tâm.
MT: methyltestosterone.
ĐBSCL: đồng bằng sông Cửu Long.
TB: trung bình.
1
CHƯƠNG I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam bao gồm một
phần của vùng hạ lưu sông Mêkông có diện tích gần 4 triệu ha chiếm khoảng
12% tổng diện tích cả nước. ĐBSCL được ví như là “chén cơm” và “giỏ cá”
của cả nước nghĩa là vùng nông nghiệp và thuỷ sản đặc biệt quan trọng của cả
nước (Lê Xuân Sinh và Nguyễn Thanh Phương, 2000), có hơn 2,4 triệu ha đất
sử dụng cho nông nghiệp và thuỷ sản, trong đó diện tích dành cho sản xuất 1
và 2 vụ lúa chiếm khoảng 66%. Ngoài việc nâng cao sản lượng lúa thì gần đây
vấn đề làm thế nào hiệu quả sản xuất trên vùng đất canh tác lúa được nâng rất
được quan tâm, và phần lớn diện tích đất nông nghiệp ở ĐBSCL bị ngập vào
mùa lũ không thể sản xuất.
Để tận dụng diện tích đất và tăng thêm lợi nhuận trên cùng diện tích đất
nông dân ĐBSCL đã áp dụng mô hình lúa – cá vào sản xuất nhằm giảm thiểu
rủi ro khi canh tác lúa – cá kết hợp (Roy, 2001) và tăng năng suất lúa (Lê
Xuân Sinh và ctv, 2001).
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là loài có kích thước lớn
nhất trong các loài tôm nước ngọt, là một trong những đối tượng rất quan
trọng trong nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản. Không những là nguồn thực
phẩm cao cấp mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế mang lại nhiều
ngoại tệ.
Tôm càng xanh là một đối tượng quan trọng hiện nay và được đánh giá
là có tiềm năng trong việc nuôi trong ruộng lúa (Nguyễn Thanh Phương và
ctv, 2001). Theo các nhà nghiên cứu trước đây về tôm càng xanh trên ruộng
lúa ở vùng lũ tại các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Long An trên cơ sở
hợp tác với khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ đã cho kết quả rất khả
quan. Nuôi tôm ở vùng lũ tỷ lệ sống đạt từ 37 – 57% cùng với năng suất đạt từ
1.017 – 1.253 kg/ha/vụ. Hiệu quả kinh tế của mô hình thực nghiệm rất cao và
rất ít rủi ro, lợi nhuận đạt từ 20 – 30 triệu đồng/ha/vụ (Trần Tấn Huy và ctv,
2004). Mô hình nuôi tôm – lúa mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng cũng gặp
nhiều khó khăn một trong những vấn đề đó là sự thành thục sớm của tôm cái
nên giảm sản lượng tôm do mực nước nuôi trong ruộng thấp. Để góp phần
nâng cao hơn hiệu quả về mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa đề tài
2
“Thực Nghiệm Nuôi Tôm Càng Xanh Toàn Đực Trong Ruộng Lúa ở Tỉnh
Đồng Tháp”.
1.2 Mục tiêu đề tài
Đánh giá hiệu quả kỹ thuật và kinh tế của mô hình nuôi tôm càng xanh
toàn đực trong ruộng lúa góp phần phần nâng cao hiệu quả mô hình nuôi tôm
càng xanh trong vùng ĐBSCL.
1.3 Nội dung của đề tài
Tìm hiểu về công trình ruộng nuôi.
Theo dõi một số yếu tố môi trường trong mô hình nuôi.
Khảo sát sinh trưởng của tôm về trọng lượng.
Khảo sát tỷ lệ sống và năng suất đạt được.
Phân tích hiệu quả kinh tế đạt được của mô hình.
1.4 Thời gian thực hiện đề tài
Từ tháng 02/2009 đến tháng 05/2009.
3
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số đăc điểm sinh học của tôm càng xanh (Macrobrachium
rosenbergii)
2.1.1 Phân loại và hình thái
Tôm càng xanh có vị trí phân loại sau
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea
Lớp phụ: Malacostraca
Bộ: Decapoda
Họ: Palaemonidae
Giống: Macrobrachium
Loài: Macrobrachium rosenbergii (de Man, 1879)
Là loài tôm có kích thước lớn nhất trong nhóm tôm nước ngọt. Cơ thể
gồm có hai phần là phần đầu ngực phía trước và phần bụng phía sau. Tấm vỏ
của đốt bụng thứ hai phủ lên tấm vỏ một và ba. Trên giáp đầu ngực có những
sọc xanh đen dọc hai bên. Tôm càng xanh có chủy rất phát triển nhọn ở đầu và
cong vút lên. Mặt trên của chủy có 11 – 15 răng, thường có 3 – 4 răng sau hốc
mắt, mặt dưới chủy có 12 – 15 răng.
2.1.2 Phân bố
Tôm càng xanh xuất hiện ở khu vực Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái
Bình Dương, chủ yếu từ khu vực Châu Úc đến Tân Guinea, Trung Quốc và
Ấn Độ. Ở Việt Nam, tôm càng xanh phân bố tự nhiên chủ yếu ở các tỉnh Nam
Bộ đặc biệt là vùng ĐBSCL.
2.1.3 Vòng đời tôm càng xanh
Vòng đời của tôm càng xanh có bốn giai đoạn bao gồm: trứng, ấu
trùng, hậu ấu trùng và trưởng thành. Tôm càng xanh trưởng thành sống chủ
yếu ở nước ngọt. Khi trưởng thành tôm bắt cặp giao vĩ, tôm trứng di cư ra
vùng cửa sông nước lợ (6 - 18‰) để nở. Ấu trùng nở ra sống phù du và trải
qua 11 lần biến thái để trở thành hậu ấu trùng, lúc này tôm có xu hướng tiến
vào vùng nước ngọt để sinh trưởng (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc
Hải, 2004). Khi trưởng thành chúng lại di cư ra vùng nước lợ nơi có độ mặn
thích hợp để sinh sản và vòng đời được tiếp tục lại.
4
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Giai đoạn ấu trùng tôm ăn chủ yếu là phiêu sinh động vật, giun rất nhỏ
và ấu trùng của các động vật không xương sống. Tôm càng xanh là loài ăn tạp
thiên về động vật, có tập tính ăn mạnh vào ban đêm và có hiện tượng ăn thịt
lẫn nhau.
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Trong quá trình lớn lên, tôm trải qua nhiều lần lột xác. Chu kỳ lột xác
của tôm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như kích cỡ của tôm, nhiệt độ thức ăn, giới
tính và điều kiện sinh lý
Bảng 2.1: Chu kỳ lột xác của tôm ở các giai đoạn khác nhau (ở 28 0C) (Nguyễn
Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004).
Trọng lượng (g)
Số ngày giữa các lần lột xác
2-5
9
6-10
13,5
11-15
17
16-20
18,5
21-28
20
26-35
22
35-60
22-42
Sự tăng trưởng của tôm tùy thuộc vào giai đoạn, giới tính, điều kiện
ương nuôi như: môi trường, mật độ ương và dinh dưỡng. Tôm nhỏ có tốc độ
tăng trưởng nhanh hơn tôm lớn, tôm đực lớn nhanh hơn tôm cái. Trong điều
kiện nuôi tôm có thể đạt 35 – 40 g sau 6 tháng nuôi và 70 – 100 g sau 8 tháng
nuôi (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004).
2.1.6 Thành thục và sinh sản
Trong tự nhiên tôm cái thành thục lần đầu khoảng 3 – 3,5 tháng, kích
cỡ nhỏ nhất đạt thành thục khoảng 10 – 13 cm và 7,5 g. Tuy nhiên tuổi thành
thục và kích cỡ thành thục của tôm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: môi
trường và thức ăn.
5
Tôm sinh sản quanh năm, tuy nhiên mùa vụ sinh sản của tôm trong tự nhiên
tập trung vào tháng 1 – 2 và tháng 8 - 9 âm lịch. Sức sinh sản từ 20.000 –
80.000 trứng trung bình sức sinh sản tương đối từ 500 – 1000 trứng/g trọng
lượng tôm (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004) .
2.1.7 Môi trường sống
Nhiệt độ thích hợp cho hầu hết các giai đoạn của tôm dao động khoảng 28 –
0
32 C.
Oxy tốt nhất trên 3 ppm.
Đạm nên được duy trì ở mức dưới 0,1 ppm đối đạm nitrite và dưới 1 ppm đối
đạm amôn.
pH thích hợp cho tôm sinh trưởng của tôm từ 7,0 – 8,5.
Độ cứng trong khoảng 50 – 150 ppm.
Độ mặn ở giai đoạn ấu trùng 6 - 16‰, tốt nhất 10 - 12‰, ở giai đoạn tôm lớn
6‰. Ở độ mặn 2 – 5‰ tôm lớn tương đối nhanh hơn so với ở 0‰ và nhanh
hơn nhiều so với 15‰.
2.1.8 Nhu cầu dinh dưỡng ( theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải,
2004)
2.1.8.1 Chất đạm
Chất đạm có vai trò quan trọng trong thành phần thức ăn của tôm cá.
Mức đạm tối ưu trong thức ăn cho tôm là từ 27 – 35%. Nhu cầu đạm của tôm
thay đổi rất lớn theo giai đoạn phát triển. Đối với ấu trùng nhu cầu đạm tăng
cao hơn, đối với tôm bố mẹ thức ăn cung cấp cần có hàm lượng đạm khoảng
40 – 45%.
2.1.8.2 Chất béo
Chất béo giữ vai trò quan trọng trong sinh trưởng cũng như trong sinh
sản của tôm. Yêu cầu về chất béo của tôm dao động trong khoảng 6 – 7,5% và
thay đổi theo quá trình phát triển của tôm. Hàm lượng chất béo không nên
vượt quá 10% trọng lượng thức ăn.
2.1.8.3 Chất bột đường
Chất bột đường là nguồn cung cấp năng lượng hoá học chủ yếu cho
động vật.Tôm càng xanh có men tiêu hoá chất bột đường hoạt động mạnh hơn
so với các loài tôm biển. Thức ăn có hàm lượng chất bột đường cao đến 40%
6
vẫn cho kết quả tốt về tăng trưởng của tôm. Điều này làm cho thức ăn của tôm
càng xanh rẻ hơn thức ăn tôm biển.
2.1.8.4 Vitamin và chất khoáng
Vitamin giữ vai trò quan trọng trong dinh dưỡng. Sự thiếu hụt lâu dài
vitamin sẽ dẫn đến sự xuất hiện các triệu chứng bệnh lý. Hàm lượng vitamin C
cần thiết cho tôm ở giai đoạn giống khoảng 100 – 500 mg/kg thức ăn.
Nhu cầu về khoáng cho giáp xác dao động khoảng 2 – 19,5% tính theo
trọng lượng khô, trong đó tỷ lệ C:P là 0,76:1 đến 4:1.
2.2 Tổng quan về tỉnh Đồng Tháp (.)
2.2.1 Vị trí địa lí
Đồng Tháp là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong giới
hạn 10°07’-10°58’ vĩ độ Bắc và 105°12’-105°56’ kinh độ Đông, phía bắc giáp
tỉnh Prây Veng (Cam pu chia) trên chiều dài biên giới 47,8 km với 4 cửa khẩu:
Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước, phía nam giáp Vĩnh Long
và thành phố Cần Thơ, phía tây giáp An Giang, phía đông giáp Long An và
Tiền Giang. Tỉnh lỵ của Đồng Tháp hiện nay là thành phố Cao Lãnh, cách
thành phố Hồ Chí Minh 162 km. Có hai đô thị loại ba là: TX Sa Đéc ,Tp Cao
Lãnh. Đồng tháp có tổng diện tích 3.283 km² với 1 thành phố, 1 thị xã, 9
huyện. Dân số 1.639.400 người mật độ 500 người/km².
2.2.2 Địa hình
Địa hình Đồng Tháp tương đối bằng phẳng với độ cao phổ biến 1-2 m
so với mặt biển. Dòng sông Tiền chảy qua 132 km chia Đồng Tháp thành hai
vùng:
Vùng Đồng Tháp Mười phía bắc sông Tiền, dọc theo hướng tây bắcđông nam, nơi cao nhất không quá 4m và nơi thấp nhất chỉ có 0,7 m.
Vùng phía nam, nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, có địa hình lòng máng
dốc từ hai phía sông vào giữa với độ cao phổ biến 0,8-1,0 m. Do địa hình thấp
nên mùa lũ tháng 9, tháng 10 hàng năm thường bị ngập nước khoảng 1 m.
2.2.3 Khí hậu
Đồng Tháp có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 11, những tháng còn lại là mùa khô. Nhiệt độ trung bình
khoảng 26 - 28ºC. Lượng mưa trung bình trong năm 1.170 - 1.520 mm, tập
trung vào mùa mưa (chiếm 90 - 95% lượng mưa cả năm).
7
2.2.4 Hệ thống thủy lợi
Ngoài sông Tiền và sông Hậu, Đồng Tháp còn có sông Sở Thượng và
sông Sở Hạ bắt nguồn từ Campuchia đỗ vào sông Tiền ở phía Bắc tỉnh. Phía
Nam tỉnh cũng có một số sông như: sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ
và sông Sa Đéc. Các sông cùng với 20 kênh rạch tự nhiên, 110 kênh đào cấp I,
2.400 kênh đào cấp II và cấp III để hình thành nên một hệ thống thuỷ nông
hoàn chỉnh phục vụ cho thoát lũ, tiêu úng, đưa nước ngọt vào đồng và nuôi
trồng thuỷ sản.
2.2.5 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản ở tỉnh Đồng Tháp
Tỉnh đã hình thành nhiều mô hình nuôi trồng thuỷ sản có sự kết hợp với
trồng lúa, làm vườn, trồng rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm mang lại hiệu quả,
như các mô hình: nuôi tôm đăng quầng, tập trung ở huyện Hồng Ngự, Tam
Nông, Cao Lãnh năng suất phổ biến 3 – 5 tấn/ha; nuôi tôm trong bờ bao ruộng
lúa ở huyện Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành, năng suất bình quân 200
kg/ha/vụ; nuôi trong ruộng lúa ở huyện Cao Lãnh, Tháp Mười, Lấp Vò, Lai
Vung, năng suất bình quân 1 tấn/ha; nuôi trong ao hầm, mương vườn ở rải rác
trong toàn tỉnh, năng suất bình quân 5 – 7 tấn/ha (một số ao nuôi thâm canh ở
huyện Tam Nông, Tân Hồng, Hồng Ngự đạt từ 30 – 70 tấn/ha); nuôi cá lồng
bè, tập trung ở huyện Hồng Ngự, Tam Nông, Tân Hồng và đã được nhân rộng
ra các huyện thị trong tỉnh, năng suất bình quân 10 – 20 tấn/ha. Đặc biệt
phương thức nuôi cá trong lồng lưới ở huyện Tam Nông đã mang lại hiệu quả
cao, do giảm chi phí đầu tư, ít bị rủi ro, dễ chăm sóc và thu hoạch. Thời gian
gần đây đã có thêm hình thức nuôi cá sấu, ba ba ở một số huyện, thị trong
tỉnh.
Tôm càng xanh hiện là thế mạnh kinh tế thứ hai trong nuôi trồng thủy
sản của tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay, tỉnh đang đầu tư mạnh hạ tầng kỹ thuật
giúp nông dân mở rộng diện tích phát triển nghề nuôi tôm càng xanh. Tại
huyện Cao lãnh, nông dân thu hoạch vụ tôm 2005 – 2006 đạt năng suất từ 1,2
– 1,5 tấn/ha, với giá bán dao động từ 85.000 – 90.000 đồng/kg, sau khi trừ chi
phí lãi trên 40 triệu đồng.
Ở các huyện khác như Lấp Vò, Tam Nông, Thanh Bình mô hình nuôi
tôm càng xanh trên ruộng lúa cũng cho thu nhập từ 30 – 70 triệu đồng/ha, cao
hơn từ 6 – 10 lần so với trồng lúa.
Đồng Tháp đang có kế hoạch đầu tư sản xuất tôm giống, tập huấn kỹ
thuật giúp nông dân mở rộng diện tích nuôi tôm càng xanh trên 260 ha, nâng
tổng số diện tích lên 510 ha trong năm 2006 này, góp phần đưa tỷ trọng thủy
8
sản lên 31% trong cơ cấu nông, lâm, thủy sản của tỉnh (trích dẫn bởi Đoàn
Quốc Khanh, 2008).
2.3 Qui trình sản xuất tôm càng xanh toàn đực (theo Phạm Anh Tuấn,
2002)
2.3.1 Thế giới
Hiện nay trên thế giới có 3 giải pháp công nghệ được coi là triển vọng ứng
dụng.
Kỹ thuật chuyển giới tính
Sử dụng hormon đực hoá trộn vào thức ăn cho tôm ăn, hoặc hoà tan
thành dung dịch để ngâm, tắm tôm trong những khoảng thời gian nhất định.
Tôm đực tạo ra có kiểu di truyền ZZ và WZ (chuyển giới tính). Phương pháp
này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: hormon, thời gian, liều lượng sử dụng,
giai đoạn phát triển của tôm khi đưa vào xử lý.
Tạo tôm cái giả ZZ bằng hormon
Khi cho tôm cái giả ZZ sinh sản với tôm đực ZZ sẽ có đàn con toàn đực
ZZ. Có thể tạo tôm cái giả bằng kỹ thuật chuyển giới tính cái sử dụng hormon
điều khiển cái hoá.
Kỹ thuật cắt tuyến androgenic tạo tôm cái giả ZZ
Tuyến androgenic ở tôm càng xanh chi phối quá trình biệt hoá giới tính
đực. Một số nhà nghiên cứu cho thấy tôm càng xanh ở giai đoạn 30 – 60 ngày
tuổi khi được cắt bỏ tuyến androgenic sẽ chuyển giới tính thành tôm cái, tôm
cái chuyển giới tính (ZZ) do cắt bỏ tuyến androgenic khi sinh sản với tôm đực
thường (ZZ) cho đàn tôm toàn đực từ 98 – 100%.
2.3.2 Trong nước
Nghiên cứu chuyển giới tính
Được tiến hành từ năm 1999 - 2000. Dùng hormon 17α –
methyltestosterone (MT) với 2 phương pháp xử lý: trộn vào thức ăn và hoà tan
thành dung dịch để tắm tôm. Thí nghiệm với liều lượng 30, 40 và 50 mg
MT/kg thức ăn, cho tôm giai đoạn PL5 và PL10 ăn thức ăn trộn hormon trong
30 ngày và 45 ngày. Ở các nồng độ 3 ppm, 5 ppm và 10 ppm MT tắm tôm ở
giai đoạn PL5 và PL10 trong thời gian 9 ngày và 15 ngày. Sau 6 đợt thí
nghiệm, tỷ lệ tôm đực ở các lô thí nghiệm cho ăn thức ăn trộn hormon dao
động từ 42,1 – 76,5%, ở các lô thí nghiệm tắm trong dung dịch hormon là 29,7
– 72,7%.
9
Nghiên cứu tạo tôm cái ZZ bằng sử dụng hormon
Sử dụng 2 loại hormon nhóm estrogen là diethynylstibestrol và
ethynylestradiol thí nghiệm trên tôm giai đoạn PL5 và PL10 ăn thức ăn trộn
100 và 200 mg/kg thức ăn trong thời gian 30 và 45 ngày, tỷ lệ tôm cái ở các lô
thí nghiệm đạt từ 10 – 54,6% không sai khác tỷ lệ với các lô đối chứng. các lô
thí nghiệm tắm tôm giai đoạn PL5 ở nồng độ 5 ppm trong thời gian 9 và 15
ngày cho tỷ lệ tôm cái 28,6 – 50%.
Nghiên cứu tạo tôm cái ZZ bằng cắt bỏ tuyến androgenic (Nguồn
)
Được thực hiện từ cuối năm 2000 tiến hành cắt bỏ tuyến androgenic ở
tôm càng xanh giai đoạn 60 ngày tuổi.
Theo qui trình 2 bước trong sản xuất tôm càng xanh toàn đực thì bước 1
hậu ấu trùng PL25 – 60 được loại bỏ tuyến nội tiết đực, bước 2 đàn con (giả
thuyết là tôm đực) của con cái giả ở bước 1 được loại bỏ tuyến nội tiết đực ở
giai đoạn sớm hơn (PL20 – 30). Ở bước 2 tỷ lệ tôm chuyển giới tính tăng và
thời gian thành thục cũng ngắn hơn. So sánh thế hệ tôm toàn đực với quần thể
tôm bình thường cho thấy tôm toàn đực tăng trưởng nhanh hơn.
2.4 Những nghiên cứu về mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa
Mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa gần đây được phát triển ở
nhiều tỉnh ĐBSCL, với nhiều mật độ nuôi khác nhau dẫn đến năng suất và lợi
nhuận khác nhau.
Theo Nguyễn Thành Phước (2001) và Lý Văn Khánh (2005) tôm nuôi
trong ruộng lúa thực hiện tại Vĩnh Long với mật độ thả 5 con/m2, thu được kết
quả hoàn toàn khác nhau. Theo Nguyễn Thành Phước (2001) thu được năng
suất tôm nuôi là 394 kg/ha, tỷ lệ sống 30%, lợi nhuận thu được là 13 triệu
đ/ha. Theo Lý Văn Khánh (2005), tỷ lệ sống tôm nuôi đạt được là 67,1%, năng
suất thu được là 892 kg/ha, lợi nhuận là 54.000.000 đ/ha.
Ở mật độ 2 con/m2 theo Lê Thị Minh Tâm (2002) và Trần Tấn Huy
(2002) thực hiện tại Cần Thơ. Theo Trần Tấn Huy (2002) tỷ lệ sống đạt
40,8%, năng suất thu được 157,33 kg/ha và lợi nhuận đạt được của thực
nghiệm là 1.472.888 đ/ha, trọng lượng tôm lúc thu hoạch 26,04 – 32,56 g/con.
Theo Lê Thị Minh Tâm (2002) với mô hình tôm lúa xen canh thu được năng
suất tôm là 180 – 200 kg/ha, tỷ lệ sống tôm đạt từ 31 – 48,4% và lợi nhuận
đạt 3.860.000 – 7.720.000 đ/ha.
1
0
Theo Bùi Như Ý (2004) với mật thả 1 - 3 con/m2. Đối với mô hình tôm
– lúa luân canh trọng lượng tôm lúc thu hoạch 31,4 g/con, năng suất thu được
là 401 kg/ha, tỷ lệ sống 73%, lợi nhuận thu được của mô hình là 4.084.000
đ/ha. Đối với mô hình tôm – lúa xen canh, trọng lượng tôm lúc thu hoạch 24.8
g/con, tỷ lệ sống 77%, năng suất thu được là 350 kg/ha và bị lỗ 1.230.000
đ/ha.
2
Tôm được nuôi vào vụ Hè – Thu với diện tích thực nghiệm 100 m , ở Ô
Môn – Cần Thơ 2004, mật độ tôm thả nuôi 2 – 6 con/m2 thu được năng suất là
480 kg/ha, trọng lượng tôm lúc thu hoạch là 24,7 g/con, tỷ lệ sống đạt 55,7%,
lợi nhuận là 4.085.000 đ/ha, tỷ suất lợi nhuận từ 0,027 – 0,532 (Đoàn Văn Vũ,
2004).
Theo Hồ Thanh Thái (2008), thực hiện tại Đồng Tháp với các mật độ là
2
9, 12, 15 con/m . Năng suất thu được lần lượt là: 1913 kg/ha, 2466 kg/ha,
3066 kg/ha, tỷ lệ sống là: 32,7%, 32,7%, 29,3% và lợi nhuận của mô hình thực
nghiệm đạt được là: 78.453.333 đ/ha, 101.230.000 đ/ha, 126.920.000 đ/ha. Tỷ
suất lợi nhuận là 88,7%, 90,3% và 95%.
Tại huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và Ô Môn thành phố Cần Thơ, nghiên
cứu được tiến hành trên ruộng có diện tích là 1 ha, tôm được thả với mật độ
khác nhau là 3, 6, 8, 10 con/m2. Khối lượng tôm trung bình đạt từ 38,6 – 70,5
g/con. Tỷ lệ sống của tôm ở các ruộng nuôi dao động 29,4 – 50,9%, năng suất
tôm nuôi ở các mật độ như sau: 3 con/m2 là 534 kg/ha, 6 con/m2 là 1056 kg/ha,
8 con/m2 là 982 kg/ha và 10 con/m2 là 1.519 kg/ha. Hiệu suất đồng vốn đạt từ
0,69 – 1,03, lợi nhuận thu được là 17,4 triệu đồng/ha đối với 3 con/m2, 40,8
2
2
triệu đồng/ha đối với 6 con/m , 28,5 triệu đồng/ha đối với 8 con/m , 49,9 triệu
đồng/ha đối với 10 con/m2 (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2008).
Theo kết quả điều tra ở huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp của Đoàn
Quốc Khanh (2008), thì diện tích ruộng nuôi dao động từ 0,5 – 12 ha, mật độ
thả nuôi rất cao 9 – 17 con/m2. Mùa vụ nuôi từ tháng 4 – 6 dương lịch hoặc
một số hộ thả tôm mùa nghịch thì không sạ lúa vụ Đông – Xuân. Thức ăn chủ
yếu được sử dung là thức ăn công nghiệp. Tôm sau 6 – 8 tháng nuôi đạt khối
lượng trung bình là 50 – 99 g/con. Tỷ lệ sống tôm trung bình đạt 28,3 ± 4,5%,
năng suất bình quân 1,92 tấn/ha/vụ. Mô hình này cho lợi nhuận là 50,23 triệu
đồng/ha/vụ, tỷ suất lợi nhuận 0,49.
2
Theo Lam Mỹ lan và ctv (2008), tôm được thả với mật độ 2 con/m và
diện tích thực nghiệm là 100 m2. Tỷ lệ sống của tôm là 62%, năng suất tôm
thu hoạch 412 kg/ha. Lợi nhuận thu được từ mô hình nuôi tôm – lúa xen canh
là 9.255.000 đ/ha, hiệu suất đồng vốn là 1,58.
10
CHƯƠNG III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu
Nguồn tôm thả nuôi: tôm toàn đực được sản xuất tại trung tâm giống
tỉnh Đồng Tháp.
Ruộng nuôi: 4 ruộng với diện tích từ 3000 – 9000 m 2.
Các bộ test môi trường: pH, Oxi, NH4 + /NH3 .
Đĩa secchi, nhiệt kế.
Chài, cân, …
3.2 Thời gian và địa điểm
Thời gian thực hiện từ tháng 2 – 5/2009 thực hiện đề tại vùng nuôi.
Địa điểm tại các ruộng của chú Nguyễn Văn Hoàng (R1) tôm đã nuôi
được nuôi 3 tháng, anh Nguyễn Đoàn Trung (R2) tôm đã nuôi được 1 tháng,
anh Võ Văn Trọng (R3) tôm đã nuôi được 1 tháng và chú Trần Văn Tâm (R4)
tôm đã nuôi được 1 tháng thuộc ấp Bình Dân, xã Nhị Mỹ, huyện Cao Lãnh,
tỉnh Đồng Tháp.
3.3 Phương pháp thu thập và tính toán số liệu
Theo dõi, quan sát và ghi nhận lại công trình nuôi, các biện pháp kỹ thuật (cải
tạo ruộng, mùa vụ nuôi, mật độ thả , loại thức ăn và thời gian cho ăn, quản lý
và chăm sóc tôm nuôi…) và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm càng xanh
toàn đực.
Phân tích hiệu quả kinh tế
Tổng chi phí (con giống, thức ăn, thuốc hoá chất, lãi suất ngân hàng,
khấu hao công trình…).
Tổng thu nhập = số lượng tôm thu x giá bán.
Lợi nhuận = tổng thu nhập – tổng chi phí.
Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận (%) =
x 100
Tổng chi phí
3.4 Thu mẫu
3.4.1 Các chỉ tiêu thuỷ lý
11
Các chỉ tiêu được thu mẫu 2 lần/tháng, đợt 1 bắt đầu thu vào ngày
19/02/2009.
Nhiệt độ nước được đo bằng nhiệt kế.
Độ trong đo bằng đĩa secchi.
Oxy sử dụng Sera test kit.
pH nước đo bằng giấy so màu pH.
N-NH4+ sử dụng Sera test kit.
3.4.2 Các chỉ tiêu về tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm
Định kỳ thu mẫu (30 con/ruộng) mỗi tháng để tiến hành cân trọng
lượng của tôm càng xanh toàn đực nuôi trong ruộng lúa.
Tính toán kết quả
Tăng trưởng ngày (g/ngày), Daily weight gain
W2 – W1
DWG =
t2 – t1
Trong đó:
DWG là tốc độ tăng trưởng về khối lượng theo ngày (g/ngày).
W1 là khối lượng tại thời điểm t1 (g).
W2 là khối lượng tại thời điểm t2 (g).
Số tôm thu hoạch (con)
Tỷ lệ sống (%) =
x 100
Số tôm thả nuôi (con)
Tỷ lệ sống được ước tính theo khảo sát khoảng 30 con/kg vào lúc nông
dân thu hoạch tôm.
Tổng khối lượng tôm thu
Năng suất nuôi (kg/ha) =
3.5 Xử lý số liệu
Diện tích nuôi
Trong quá trình thực hiện, tất cả các dữ liệu khảo sát về thực nghiệm
mô hình nuôi tôm trong ruộng lúa sẽ thu thập mô tả và phân tích.
12
CHƯƠNG IV
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Công trình nuôi
Công trình ruộng nuôi của các hộ được thu thập và ghi nhận ở Bảng 4.1.
Bảng 4.1: Diện tích ruộng nuôi.
Các chỉ số
Diện tích ruộng (m 2)
R1
R2
R3
R4
9.000
4.500
7.000
3.000
Độ sâu (m)
1
1
1,2
1
Chiều rộng bờ ruộng (m)
5
2,5
3
3
1,2
1,5
1,2
1,5
4
2
3
2
Chiều cao bờ ruộng (m)
Cống cấp thoát nước
Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004) diện tích thích hợp để
nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa là 0,5 – 2 ha. Theo kết quả ghi nhận ở
Bảng 4.1 diện tích ở ruộng 1 và ruộng 3 thích hợp cho mô hình nuôi tôm càng
xanh trong ruộng lúa, ở ruộng 2 và 4 diện tích này nhỏ hơn so với khuyến cáo
và thấp hơn so với kết quả điều tra của Đoàn Quốc Khanh (2008) là diện tích
tôm nuôi trong ruộng lúa là từ 0,5 – 12 ha.
4.2 Kỹ thuật nuôi
Mùa vụ nuôi bắt đầu vào khoảng tháng 10 âm lịch. Khi tiến hành thực
nghiệm ruộng 1 đã thả nuôi được 3 tháng, ruộng 2, ruộng 3 và ruộng 4 là 1
tháng.
Theo Bảng 4.2 mật độ tôm thả ở ruộng 1 là 7,2 con/m2, ruộng 2 là 6,7
con/m 2, ruộng 3 là 5,7 con/m2, ruộng 4 là 4,6 con/m2. Mật độ này thấp hơn so
với khuyến cáo của Trung tâm khuyến nông huyện Lai Vung (2007) là 10
con/m2 và kết quả điều tra của Đoàn Quốc Khanh (2008) là 9 – 17 con/m 2.
Nhưng cao hơn so với hướng dẫn kỹ thuật nuôi của Phạm Văn Tình (2004) là
4 – 6 con/m2.
13
Bảng 4.2 Mật độ tôm thả nuôi
Ruộng
Mật độ (con/m 2)
Số tôm/ruộng
R1
65.000
7,2
R2
30.000
6,7
R3
32.000
5,7
R4
17.000
4,6
Kích cỡ giống 34000 – 50000 con/kg.
Kỹ thuật cải tạo ruộng nuôi: dọn dẹp sạch gốc rạ và cây cỏ thủy sinh.
Bơm cạn nước trong ruộng nuôi, diệt cá tạp, cá dữ. Gia cố bờ, lấp các hang
cua lỗ mọi. Sên vét lớp bùn đáy, dùng vôi với liều lượng 50 – 100 kg/1000 m2.
Phơi ruộng từ 2 – 3 ngày, sau đó lấy nước vào ruộng duy trì mực nước 1 – 1,2
m. Sau một tháng ương thì cho tôm lên ruộng.
Cho tôm ăn thức ăn công nghiệp Uni President.
Bảng 4.3: Thức ăn cho tôm trong quá trình nuôi.
Tháng tuổi
Lượng thức ăn (%
trọng lượng thân)
Cỡ viên thức ăn cho
từng giai đoạn tôm
1
30
C01
2
15
C02
3
10
C301
4
8
C302
5 trở đi
5
C302
Trong quá trình nuôi, nếu thấy thức ăn dư thừa hoặc thiếu hay do điều
kiện thời tiết, môi trường ao mà điều chỉnh lượng thức ăn. Trong giai đoạn
tôm còn nhỏ cho tôm ăn 4 – 5 lần/ngày vào: 6, 10, 16, 20 và 2 giờ. Khi tôm
lớn cho tôm ăn 3 lần/ngày: 6, 16 và 20 giờ.
Trao đổi nước: khi tôm còn nhỏ có thể 10 ngày/lần, khi tôm lớn 3 – 4
ngày/lần lượng nước trao đổi từ 10 – 20%. Và tuỳ thuộc vào môi trường nước
ruộng nuôi mà thời gian thay nước có thể điều chỉnh.
14
Định kỳ xử lý nền đáy 3 tháng/lần. Trộn vitamin C vào thức ăn cho tôm
ăn vào buổi chiều với liều lượng 2 g/1 kg thức ăn để cải thiện sức khỏe tôm
nuôi và khi tôm bị đục thân kết hợp với thay nước.
Sau thời gian nuôi 5 tháng bắt đầu thu hoạch tôm bằng lưới lựa tôm có
kích cỡ là 3 con/100 g. Có thể chia thành nhiều đợt thu hoạch.
4.3 Một số yếu tố thủy lý – hóa trong mô hình nuôi tôm càng xanh toàn
đực trong ruộng lúa
Kết quả các yếu tố thủy lý được khảo sát trong mô hình nuôi tôm càng
xanh toàn đực trong ruộng lúa được trình bày qua Bảng 4.4:
Bảng 4.4: Các yếu tố thủy lý – hóa trong hệ thống nuôi.
Ruộng
Yếu tố
Nhiệt độ
0
( C)
Oxi (ppm)
N-NH4 +
(mg/L)
pH
Độ trong
(cm)
Sáng
Chiều
Sáng
Chiều
R1
R2
R3
R4
30 ± 0,9
32,5 ± 1,5
4 ± 0,6
5 ± 0,6
29,5 ± 0,6
33,3 ± 0,6
4 ± 0,6
5 ± 0,6
29,5 ± 0,7
33 ± 0,8
4 ± 0,9
5 ± 0,9
30 ± 0,8
32,5 ± 1
3,8 ± 0,8
4,8 ± 0,8
0,2 ± 0,08
7,6 ± 0,5
0,2 ± 0,09
8,2 ± 1
0,2 ± 0,09
7,6 ± 0,5
0,1 ± 0,09
7,7 ± 0,8
26,7 ± 5,8
33,8 ± 7,5
26,7 ± 11,5
43,75 ± 4,8
Nhiệt độ (0C)
Kết quả từ Bảng 4.4 ta thấy nhiệt độ ở các ruộng nuôi chênh lệch không
lớn và nằm trong khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của tôm. Nhiệt
độ buổi sáng dao động từ 29,5 – 30 0C và nhiệt độ buổi chiều dao động 31 33,3 0C. Nhiệt độ trung bình trong ngày cao vào một số đợt thu mẫu ở các
ruộng do vào cuối mùa nắng và đầu mùa mưa nên cường độ chiếu sáng mạnh
và mực nước trên ruộng thấp. Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải
(2004), nhiệt độ thích hợp cho tôm càng xanh trong khoảng 26 – 31 0C tốt nhất
0
0
là 28 – 30 C, nhiệt độ ngoài khoảng 22 – 33 C hoạt động sinh trưởng và sinh
sản của tôm sẽ bị suy giảm. Nhiệt độ cao thường làm cho tôm thành thục sớm
và kích cỡ nhỏ. Tuy nhiên tôm càng xanh có thể chịu được nhiệt độ nước dao
động từ 15 – 35 0C (Lê Văn An và Nguyễn Trung Nghĩa, 2002).
Để tránh nhiệt độ tăng cao nên giữ mực nước trong ruộng là 0,8 – 1 m
hoặc thường xuyên thay nước mới.
15
Nhiệt độ (oC)
31,5
31
30,5
30
29,5
R1
R2
R3
R4
29
28,5
28
27,5
27
1
2
3
4
5
6
Đợt thu mẫu
Đồ thị 4.1: Biến động nhiệt độ nước ở các ruộng nuôi vào
buổi sáng.
Nhiệt độ (oC)
35
34
33
32
R1
R2
R3
R4
31
30
29
28
1
2
3
4
6
Đợt thu mẫu
Đồ thị 4.2: Biến động nhiệt độ nước ở các ruộng nuôi vào
buổi chiều.
16
pH
pH ở ruộng 1 biến động trong khoảng 7 – 9 trung bình là 7,6 ± 0,5,
ruộng 2 từ 7 – 9 trung bình là 8,2 ± 1, ruộng 3 trong khoảng 7,5 – 8,5 trung
bình 7,6 ± 0,5, ruộng 4 từ 7 – 8,5 trung bình là 7,7 ± 0,8. Có sự biến động lớn
về giá trị pH ở các ruộng do sự biến động môi trường từ mùa khô sang mùa
mưa. Tuy nhiên, qua Hình 4.3 sự biến đổi này không lớn giữa các tháng và kết
hợp với bón vôi xung quanh bờ nên khi trời mưa sẽ làm pH biến đổi không
lớn, không gây sốc cho tôm nuôi. Theo Nguyễn Khắc Hường (2003) khoảng
pH thích hợp cho tôm từ 7 – 8,5 và Trương Quốc Phú và ctv (2006), pH thích
hợp cho thủy sinh vật là 6,5 – 9. Qua kết quả khảo sát cho thấy pH vẫn nằm
trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm. Khi pH càng
cao NH3 càng nhiều, khi pH thấp hàm lượng H2S càng tăng trong môi trường.
Do đó pH quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát
triển của tôm nuôi, làm giảm độ thẩm thấu của màng tế bào dẫn đến làm rối
loạn quá trình trao đổi muối – nước giữa cơ thể và môi trường ngoài.
pH
10
8
R1
R2
R3
R4
6
4
2
0
1
2
3
4
5
6
Đợt thu mẫu
Đồ thị 4.3: Biến động pH ở các ruộng nuôi.
Độ trong (cm)
Độ trong ở các ruộng dao động từ 26,7 ± 5,8 – 43,8 ± 4,8 (Bảng 4.4).
Độ trong biến đổi khá rõ qua các đợt thu mẫu, độ trong của ruộng thấp chủ
yếu do mưa nhiều cuốn các tạp chất từ trên bờ xuống ruộng và do sự phát triển
của tảo. Theo Phạm Văn Tình (2004), độ trong thích hợp cho ruộng nuôi tôm
càng xanh 20 cm. Độ trong quá thấp có thể làm thiếu hụt oxi và giảm pH do
hô hấp của tảo vào ban đêm (Nguyễn Việt Thắng, 1995). Độ trong quá cao có
thể ao nghèo dinh dưỡng, sinh vật phù du phát triển kém, hạn chế thành phần
thức ăn, năng suất giảm (Trương Quốc Phú và ctv, 2006).
17