TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ KIM BA
SỬ DỤNG CÁC LOẠI SINH KHỐI ARTEMIA ĐỂ ƯƠNG
CÁ LÓC ĐEN (Channa striata, Bloch 1793)
TỪ HƯƠNG LÊN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2009
i
LỜI CẢM TẠ
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Cần Thơ cùng quí
thầy cô Khoa Thủy Sản và đặc biệt là Trung Tâm Ứng Dụng và Chuyển Giao
Công Nghệ đã nhiệt tình chỉ dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập.
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Hòa, cô
Nguyễn Thị Hồng Vân, anh Trần Hữu Lễ, cô, chú và và các anh tại Trại Vĩnh
Châu cùng các bạn lớp Nuôi Trồng Thủy Sản liên thông Khoá 33 đã đóng góp ý
kiến và giúp đỡ em trong quá trình học tập và làm đề tài tốt nghiệp.
Do lần đầu tiên làm đề tài và viết luận văn tốt nghiệp, không tránh khỏi nhiều
sai sót, kính mong sự đóng góp ý kiến của quí thầy cô để bài báo cáo luận văn
này được hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Kim Ba
ii
TÓM TẮT
Thí nghiệm sử dụng sinh khối Artemia để ương cá lóc (Channa striata
Bloch,1793) từ hương lên giống được thực hiện trong các xô nhựa 60 L tại trại
thực nghiệm Vĩnh Châu (Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ), tỉnh Sóc Trăng với
5 nghiệm thức thức ăn khác nhau là: NT1 (100% Artemia sinh khối tươi sống);
NT2 (100% Artemia sinh khối đông lạnh); NT3 (50% Artemia sinh khối tươi
sống và 50% cá tạp); NT4 (50% Artemia sinh khối đông lạnh và 50% cá tạp);
NT5 (100% cá tạp). Mật độ ương: 1 con/lít với khối lượng cá trung bình là
0,35±0,08 g/con và chiều dài là 3,4 ± 0,3 cm. Kết quả thu được sau 40 ngày ương
cho thấy ở NT3 (50% Artemia sinh khối tươi sống và 50% cá tạp) là loại thức ăn
cá lóc ưa thích. Tốc độ tăng trưởng về khối lượng, chiều dài và giữa các nghiệm
thức sử dụng sinh khối Artemia khác biệt có ý nghĩa thống kê so với NT cá tạp.
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng và chiều dài của cá cao ở NT1(0,53
g/ngày; 0,26 cm/ngày), NT3 (0,53 g/ngày; 0,26 cm/ngày), NT2 (0,46 g/ngày; 24
cm/ngày), NT4 (0,4 g/ngày; 0,23±0,02 cm/ngày) và cả 4 nghiệm thức này khác biệt
có ý nghĩa thống kê so với NT5 (0,18 g/ngày; 0,15 cm/ngày).
Tỷ lệ sống của cá ở NT3 (60,8%), NT4 (60%), NT1 (55%), NT2 (48,3%) cao hơn so
với NT5 (38,3%). Kết quả này cho thấy Artemia sinh khối tươi sống kết hợp với
cá tạp có thể là nguồn thức ăn tốt để ương cá lóc giai đoạn từ hương lên giống.
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ --------------------------------------------------------------------------- i
TÓM TẮT -------------------------------------------------------------------------------ii
MỤC LỤC ------------------------------------------------------------------------------ iv
DANH SÁCH BẢNG ----------------------------------------------------------------- vi
DANH SÁCH HÌNH ----------------------------------------------------------------- vii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ --------------------------------------------------------- 1
1.1 Giới thiệu----------------------------------------------------------------------------1
1.2. Mục tiêu của đề tài ---------------------------------------------------------------- 2
1.3. Nội dung của đề tài---------------------------------------------------------------- 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU--------------------------------------------1
2.1 Một số đặc điểm sinh học của cá lóc --------------------------------------------3
2.1.1 Đặc điểm về hình thái phân loại -----------------------------------------------3
2.1.2 Phân bố và tâp tính sống -------------------------------------------------------- 3
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng------------------------------------------------------------ 4
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng----------------------------------------------------------- 5
2.1.5 Đặc điểm sinh sản --------------------------------------------------------------- 5
2.2 Kỹ thuật ương cá lóc giống------------------------------------------------------ 5
2.2.1 Ương cá bột lên hương và hương lên giống----------------------------------5
2.2.2 Ương trong ao --------------------------------------------------------------------6
2.3 Tình hình sử dụng thức ăn trong ương nuôi cá lóc ---------------------------- 6
2.4 Sơ lược của Artemia và vai trò của nó trong nuôi trồng thủy sản-----------7
2.4.1 Sơ lược của Artemia ------------------------------------------------------------- 7
2.4.2 Vai trò của Artemia làm thức ăn cho tôm, cá -------------------------------- 7
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU------------- 10
3.1. Vật liệu nghiên cứu------------------------------------------------------------- 10
3.1.1 Thời gian nghiên cứu ---------------------------------------------------------- 10
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu ---------------------------------------------------------- 10
3.1.3 Dụng cụ và trang thiết bị------------------------------------------------------ 10
iv
3.1.4 Nguồn cá giống----------------------------------------------------------------- 10
3.1.5 Nguồn nước và hóa chất xử lý ----------------------------------------------- 10
3.1.6 Thức ăn-------------------------------------------------------------------------- 11
3.2. Phương pháp nghiên cứu ------------------------------------------------------ 12
3.2.1 Phương pháp xử lý nước và chuẩn bị bể ương----------------------------- 12
3.2.2 Bố trí thí nghiệm -------------------------------------------------------------- 12
3.2.3 Theo dõi chăm sóc và quản lý------------------------------------------------ 13
3.2.4 Các công thức tính toán ------------------------------------------------------ 14
3.3 Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu --------------------------- 15
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ------------------------------------ 16
4.1 Các yếu tố môi trường ----------------------------------------------------------- 16
4.2 Tỷ lệ sống của cá lóc từ hương lên giống sau 40 ngày ương ------------- 17
4.3 Sinh trưởng của cá lóc ---------------------------------------------------------- 18
4.3.1 Tăng trưởng về khối lượng của cá lóc -------------------------------------- 18
4.3.2 Tăng trưởng về chiều dài của cá lóc----------------------------------------- 21
4.4 Sự phân hóa kích cỡ cá trong quá trình ương ------------------------------- 23
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT --------------------------------------- 25
5.1 Kết luận---------------------------------------------------------------------------- 25
5.2 Đề xuất----------------------------------------------------------------------------- 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO ----------------------------------------------------------- 26
PHỤ LỤC------------------------------------------------------------------------------ 28
v
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Sự biến động các chỉ tiêu môi trường --------------------------------- 16
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc------------------------- 18
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá lóc--------------------------- 21
vi
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Cá lóc (Channa striata Bloch, 1793) ------------------------------------3
Hình 3.1: Artemia sinh khối tươi sống và Artemia sinh khối đông lạnh ----- 11
Hình 3.2: Cá tạp được băm nhỏ----------------------------------------------------- 11
Hình 3.3: Cho cá lóc ăn -------------------------------------------------------------- 13
Hình 3.4: Siphon thức ăn và phân dư thừa ---------------------------------------- 13
Hình 4.1: Tỷ lệ sống của cá lóc sau 40 ngày-------------------------------------- 17
Hình 4.2: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc ------------------------- 19
Hình 4.3: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá lóc --------------------------- 21
Hình 4.4: Tỷ lệ phân hóa kích cỡ cá lóc sau 40 ngày ương ở NT1,NT2,NT5 23
Hình 4.5: Sự phân hóa kích cỡ của cá lóc sau 40 ngày ương ------------------- 24
vii
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những vùng đất màu mỡ
được thiên nhiên ưu đãi với sông ngòi chằng chịt đây là điều kiện rất thuận lợi
cho việc phát triển nghề nuôi thủy sản nước ngọt. Cá lóc là đối tượng có giá trị
kinh tế cao, kích thước lớn, chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt của môi
trường. Cá có chất lượng thịt thơm ngon và được xem là nguyên liệu để chế
biến nhiều món ăn ưa thích trong bữa ăn hàng ngày của mỗi người.
Trên thế giới nghề nuôi cá lóc đã phát triển mạnh với nhiều mô hình nuôi khác
nhau. Phổ biến ở Thái Lan, Hồng Kông là mô hình nuôi bán thâm canh trong ao
đất với thời gian nuôi từ 6-7 tháng với các loại thức ăn như bột cá, tấm, cám.
Mô hình nuôi cá bè với mật độ 30-50 con/m3 cũng sử dụng cá tạp, tấm làm
nguồn thức ăn chính. Sau 8 tháng nuôi đạt khoảng 1,5-2,5 kg/con, mô hình này
phổ biến ở Campuchia và Việt Nam. Ở Đài Loan, cá lóc được nuôi ghép với cá
rô phi, cá chép...(Dương Nhựt Long, 2003).
Đồng Bằng Sông Cửu Long có nhiều mô hình nuôi cá lóc được biết như nuôi cá
lóc trong các loại bồn khác nhau, nhiều nông dân ở huyện Tam Nông (Đồng
Tháp) và Phú Tân (An Giang) đã thiết kế bồn ximăng dưới sàn nhà để tận dụng
diện tích hoặc làm bồn nylon mùa nước nổi để nuôi cá lóc. Mô hình này vừa cho
thu nhập cao, lại giải quyết được việc làm tại chỗ cho nông dân. Đặc biệt là mô
hình nuôi cá lóc trong mùng dưới kênh, sông được phổ biến rộng rãi ở nhiều
vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu giúp nông dân tăng thu nhập cho gia đình (http://
www.afa.vn .truy cập ngày 23/12/2008).
Ở nước ta nghề nuôi cá lóc ngày càng phát triển và phổ biến nhất là các tỉnh An
Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ. Tuy nhiên, vấn đề ương nuôi cá lóc gặp một số trở
ngại như nguồn giống dựa vào tự nhiên do đó kích cỡ cá giống không đều và
thường bị xây sát nên dễ mắc bệnh. Bên cạnh đó, nguồn giống ngày càng cạn
kiệt do khai thác quá mức nên không đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng cho
người nuôi trong khi nhu cầu con giống ngày càng cao. Để có được cá giống tốt
cần có nguồn thức ăn ngoài việc đáp ứng đầy đủ dinh dưỡng còn phải thu hút cá
bắt mồi giúp cá tăng trưởng nhanh. Hiện tại trong các hệ thống ương nuôi cá lóc
đa số đều sử dụng cá tạp để làm thức ăn, loại thức ăn này khó bảo quản, chất
lượng dinh dưỡng khác nhau và không chủ động được do phụ thuộc vào mùa vụ
1
đánh bắt tự nhiên. Vì vậy, việc tìm ra loài sinh vật làm thức ăn tươi sống để thay
thế cá tạp là thật sự cần thiết.
Trên thế giới sinh khối Artemia ngày càng được sử dụng rộng rãi trong ương
nuôi các loài thủy sản vì chúng được sử dụng với nhiều kích cỡ khác nhau từ ấu
trùng mới nở cho đến con trưởng thành phù hợp với từng giai đoạn phát triển
của ấu trùng thủy sản (Sorgeloos et al.,2001 trích bởi Nguyễn Thị Hồng Vân và
ctv., 2009). Artemia được xem là nguồn thức ăn lý tưởng cho các loài ấu trùng
cá và giáp xác.. Trong đó sinh khối Artemia tươi sống, Artemia đông lạnh, … là
loại thức ăn rất giàu đạm ngoài ra nó còn chứa nhiều các acid béo, sắc tố cần
thiết cho ương nuôi nhiều đối tượng thủy sản (NguyễnVăn Hoà và ctv, 2007).
Ở Việt Nam sử dụng sinh khối Artemia vẫn còn ở mức thí nghiệm và thử
nghiệm làm thức ăn cho ấu trùng tôm càng xanh, cua, tôm, cá cảnh… nhưng
chưa được sử dụng rộng rãi cho các đối tượng thủy sản nói chung và để ương cá
lóc nói riêng do người sử dụng chưa được cung cấp đầy đủ các thông tin về sản
phẩm này. Từ đó đề tài “Sử dụng các loại sinh khối Artemia để ương cá lóc đen
từ hương lên giống” được tiến hành nhằm tìm hiểu khả năng sử dụng sinh khối
Artemia trong ương giống cá lóc từ đó hướng người nuôi sử dụng những nguồn
thức ăn tại chỗ, rẻ tiền mà vẫn mang lại hiệu quả cao thay vì phải sử dụng
nguồn thức ăn viên đắt tiền hoặc phụ thuộc vào cá tạp.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Tìm hiểu khả năng sử dụng các lọai sinh khối Artemia để ương cá lóc đen từ
hương lên giống.
1.3. Nội dung của đề tài
Theo dõi sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc.
So sánh và đánh giá cách sử dụng sinh khối một cách hiệu quả nhất về dinh
dưỡng và giá thành.
2
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Một số đặc điểm sinh học của cá lóc
2.1.1. Đặc điểm về hình thái phân loại
Cá lóc nuôi ở ĐBSCL hiện nay thuộc:
Lớp : Osteichthys
Bộ :Perciformes
Họ : Channidae
Giống: Channa
Loài : Channa striata (Bloch,1793)
Hình 2.1: Cá lóc (Channa striata Bloch,1793)
Ở ĐBSCL ngoài 4 loài cá Lóc đã được nhận biết là cá lóc đen (Channa striata),
cá lóc bông (Channa micropelte), cá chành dục (C.gachua), cá trâu dày (C.
lucius) ngoài ra còn xuất hiện thêm nhóm cá lóc môi trề ở Tam Nông – Đồng
Tháp. Trong các loài trên đây cá lóc đen được nuôi phổ biến từ thập niên 60 thế
kỷ trước.
Cá lóc (Channa striata) là loài cá dữ, cơ thể tròn dài. Đầu rộng, dẹp đứng, tương
đối nhọn và dài giống như đầu rắn, mắt to ở phía trước, miệng rộng, hàm khỏe,
răng phát triển. Lược mang hình núm, thực quản ngắn, vách dày, bên trong thực
quản có nhiều nếp nhăn, dạ dày hình chữ Y (Dương Nhựt Long, 2003).
2.1.2. Phân bố và tâp tính sống
Cá lóc phân bố ở nhiều nước vùng Đông Nam Á. Cá lóc sống được hầu hết trong
các loại hình thủy vực nước ngọt. Có thể sống ở vùng nước lợ có độ mặn 5-7‰,
nhiệt độ thích hợp từ 20-35 oC, pH =6,5-8 và có thể sống ở pH rộng hơn.
3
Cá lóc thích sống nơi có dòng chảy yếu hay nước tĩnh, ven bờ nơi có rong đuôi
chó, cỏ, đám bèo vì nơi đây cá dễ ẩn mình để rình bắt mồi. Do có khả năng hô
hấp phụ nên chúng có thể sống lâu trên cạn với điều kiện chỉ cần ẩm ướt toàn
thân (Phạm Văn Khánh, 2005).
2.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lóc là loài ăn thịt, chúng thích sống ở môi trường giàu nguồn thức ăn như cá,
tép, cua, nhái, ốc,…Khi nghiên cứu thành phần thức ăn trong dạ dày của cá lóc
đánh bắt trong tự nhiên có tỉ lệ sau:
Thành phần thức ăn trong dạ dày của cá lóc đánh bắt trong tự nhiên
Loại thức ăn
Tỉ lệ( % )
Cá tạp
63,01
Tép
35,94
Ếch, nhái
1,03
Bọ gạo, côn trùng, mùn bả hữu cơ
0,02
Cá mới nở sử dụng dinh dưỡng từ noãn hoàng. Từ ngày thứ 4-5, khi noãn hoàng
đã hết, cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài. Lúc này cá bột ăn được các loài động vật
phiêu sinh vừa cỡ miệng như luân trùng, trứng nước, giáp xác. Khi cá dài cỡ 5-6
cm có thể rượt bắt các loại cá tép con, thân dài trên 10 cm, cá có tập tính ăn như
cá trưởng thành (Phạm Văn Khánh, 2005).
Cá lóc sau khi nở, luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên
tốt nhất của cá bột. Ngoài ra có thể cho ăn nấm men, lòng đỏ trứng hay thức ăn
tổng hợp dạng bột. Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Monia), Daphnia hay
trùng chỉ, ấu trùng muỗi đỏ. Giai đoạn cá giống, sâu bọ và dòi là thức ăn ưa thích
của cá. Một số thí nghiệm trên cá bột cho thấy cá có khả năng sử dụng thức ăn
trứng nước kết hợp với đạm đơn bào. Thức ăn Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối
với cá bột trong 3 tuần lễ đầu. Rhizopus arrhizus hay đạm đơn bào (125µm)
được sản xuất từ kỹ thuật lên men sử dụng dầu cọ làm nguồn carbon chính. Giai
đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu
tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến và thức ăn viên. Cá lớn nhanh vào xuân-hè
(Dương Nhựt Long, 2003).
4
2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng
Cá lóc có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, giai đoạn nhỏ, cá tăng chủ yếu về
chiều dài. Cá càng lớn thì sự gia tăng trọng lượng càng nhanh. Trong tự nhiên
sức lớn của cá phụ thuộc vào thức ăn sẵn có trong thủy vực nước. Do vậy tỉ lệ
sống trong tự nhiên khá thấp. Trong điều kiện nuôi có thức ăn và chăm sóc tốt cá
có thể lớn từ 0,5 - 0,8 kg/năm, và đạt được tỉ lệ sống cao và ổn định (Phạm Văn
Khánh, 2005).
2.1.5. Đặc điểm sinh sản
Cá dễ thành thục và thành thục sớm từ 10-12 tháng tuổi. Cá lóc đẻ gần như
quanh năm nếu nơi ở thuận lợi. Mùa vụ sinh sản trong tự nhiên tập trung vào
tháng 4-5. Cá thường đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào, hệ số thành thục
trung bình 0,5 - 1,5%, số trứng của buồng trứng cá cái có thể đạt 5000 - 20000
trứng.
Cá đực và cá cái tự ghép đôi khi thành thục, cá đực có kích thước nhỏ hơn cá cái
cùng lứa. Cá thường chọn nơi cây cỏ thủy sinh kín đáo nhưng thoáng để đẻ trứng
và thụ tinh, sau khi đẻ trứng thì cá đực và cá cái cùng bảo vệ trứng. Trứng cá lóc
màu vàng sậm, có chứa hạt dầu nên nổi trên mặt nước. Cả 2 canh giữ tổ cho đến
khi cá con có tập tính sống độc lập (Phạm Văn Khánh, 2005).
2.2. Kỹ thuật ương cá lóc giống
Đặc điểm của ấu trùng cá lóc, ấu trùng mới nở có chiều dài khoảng 6,0 - 6,5 mm,
cá có tập tính sống thành đàn được mẹ bảo vệ rất nghiêm ngặt. Cá kiếm mồi sau
khi nở 5 - 6 ngày, ăn thức ăn là động vật phù du cỡ nhỏ. Khi cá khoảng 15 - 20
ngày có thể ăn cá tôm nhỏ (Nguyễn Văn Kiễm, 2005).
Để cá giống sau khi thu hoạch từ giai đoạn ương chuyển sang nuôi thịt đạt tỷ lệ
sống cao thì việc ương cá bột trải qua 2 giai đoạn sau:
2.2.1 Ương cá bột lên hương và ương hương lên giống
Bể có diện tích 4 - 10 m2, mực nước sâu 0,5 - 0,6 mật độ khoảng 1000-1500
con/m2.
Thức ăn là trứng nước, trùn chỉ, cá tôm băm nhỏ. Từ ngày thứ 10 cho cá ăn cá
tạp xay nhuyễn.
Sau 15 ngày, chuyển cá sang ương bằng giai đặt trong ao. Giai có diện tích 2 - 4
m2, với mật độ 1000 con/m2. Thức ăn là cá xay (250g/1000) và bổ sung Vitamin
A, C, D, E (2g/100 kg thức ăn).
5
Cho cá ăn theo nhu cầu, tránh thức ăn dư thừa, thường xuyên theo dõi, chăm sóc
và quản lý cá.
Sau 55 - 60 ngày ương trong giai, cá đạt kích cỡ 15 - 17g/con được chuyển sang
nuôi thành cá thịt (Phạm Văn Khánh, 2005).
2.2.2 Ương trong ao
Ao ương có diện tích 300 - 500 m2, mực nước đạt 0,8m. Ao được tát cạn và cải
tạo vét nền đáy và bón lót phân chuồng 25 - 30 kg/100m2. Mật độ trung bình 100
- 150 con/m2 (cá phải đều cỡ, khoẻ mạnh).
Trong 10 ngày đầu, ngoài thức ăn tự nhiên, cho cá ăn thêm lòng đỏ trứng (10
trứng/10000 bột), Moina (200 - 300g/10000 bột).
Từ ngày thứ 10 cho ăn cá xay nhuyễn và tạt đều ao. Khi cá 1 tháng tuổi cho ăn
thêm tép và cá vụn xay nhuyễn. Cá được 1,5 tháng cho ăn bằng tép vụn và cá
nhỏ. Tập cho cá ăn thức ăn chế biến với hàm lượng đạm 25 - 30% và trộn thêm
Vitamin giúp cá tăng cường sức đề kháng.
Nên cho cá ăn trên sàn để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp. Cần cho cá ăn no,
đều, đủ.
Sau 2 tháng ương cỡ cá giống khoảng 8 - 12 cm có thể chuyển nuôi cá thịt
(Phạm Văn Khánh, 2005).
2.3 Tình hình sử dụng thức ăn trong ương nuôi cá lóc
Một vài nghiên cứu về thức ăn cá lóc đen được nghiên cứu trong điều kiện phòng
thí nghiệm, cá bột cá lóc đen có chiều dài 6-7 mm, độ mở của miệng là 0,55 mm
sẽ chọn thức ăn là ấu trùng Artemia và chưa ăn thức ăn chế biến. Cá bắt đầu ăn
thức ăn chế biến khi được 12 mm chiều dài và cỡ miệng mở rộng đến 1 mm.
Trong phòng thí nghiệm và trên ruộng, thức ăn của cá thay đổi khi kích cỡ cá
tăng. Đối với cá dài 15-20 mm thì nhóm giáp xác râu ngành và giáp xác chân
chèo chiếm 96,5% khẩu phần. Cá 30-40 mm, cá ăn động vật nổi giảm đáng kể
trong khi chúng tăng ăn động vật đáy. Thức ăn chuyển từ động vật nổi sang động
vật không xương sống đáy không phải do việc giảm động vật nổi có sẵn trong
môi trường mà nó liên quan đến sự thay đổi cấu trúc lược mang của cá. Mật độ
động vật không xương sống đáy thấp trong những thí nghiệm trên ruộng làm
giảm tỉ lệ sinh trưởng ở cá khi cá thay đổi thức ăn từ động vật nổi sang động vật
đáy (Qin Jian Guang và ctv, 1997 trích dẫn bởi Phan Hồng Cương).
Cá bột có khả năng sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến và thời gian thích hợp để
cá sử dụng thức ăn chế biến là từ ngày thứ 4 sau thí nghiệm hay ngày thứ 7 sau
6
khi nở. Ở giai đoạn cá hương, thức ăn chế biến cho tăng trưởng và tỷ lệ sống cao
hơn so với các loại thức ăn khác, đồng thời cá hệ số thức ăn thấp nhất. Cá lóc
bông cỡ nhỏ cho tốc độ tăng trưởng cao hơn và tỷ lệ sống thấp hơn so với cá lớn
khi cho ăn cùng thức ăn cùng mức đạm. Mức tăng trưởng tối ưu và hiệu quả sử
dụng thức ăn tốt nhất của cá lóc bông cỡ nhỏ là 50,8% và cá lớn là 46,5%, phù
hợp với nhu cầu chất đạm của các loại cá ăn động vật khác (Lan, 2005 trích bởi
Phan Hồng Cương, 2008).
2.4 Sơ lược về Artemia và vai trò của nó trong nuôi trồng thủy sản
2.4.1 Sơ lược về Artemia
Artemia là một loài giáp xác nhỏ, có biên độ muối rộng, có khả năng phân bố
rộng rãi từ châu Á tới châu Mỹ Latin. Artemia là loài ăn lọc không chọn lựa,
chúng có thể sử dụng mùn bã hữu cơ, tảo đơn bào và vi khuẩn có kích thước
trong khoảng < 50µm (Sorgeloos ctv.,1986), vòng đời ngắn so với các loài giáp
xác khác. Ở điền kiện tối ưu, chúng có thể phát triển thành con trưởng thành sau
7-8 ngày nuôi và bắt đầu tham gia sinh sản. Artemia có sức sinh sản cao từ 15002500 phôi trong vòng đời (Sorgeloos,1980b; Jumalon ctv.,1982) và quần thể
Artemia luôn luôn có 2 phương thức sinh sản là đẻ trứng và đẻ con (Browne ctv
.,1984 trích dẫn bởi Nguyễn Thị Hồng Vân ctv, 2009).
2.4.2 Vai trò của Artemia làm thức ăn cho tôm, cá
Artemia là một loại thức ăn tươi sống có giá trị dinh dưỡng cao cho việc ương
nuôi các giống loài cá, tôm, nhuyễn thể. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng
minh rằng Artemia là nguồn tức ăn tươi sống lý tưởng cho các loài ấu trùng và
giáp xác. Ngoài ra Artemia tiền trưởng thành và trưởng thành có giá trị dinh
dưỡng cao hơn Artemia mới nở từ trứng (Sorgeloos, 1980) và được sử dụng làm
thức ăn phổ biến trong các trại giống, trại ương (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007).
* Trong ương giáp xác
+ Sản xuất giống tôm càng xanh: Artemia được sử dụng làm thức ăn cho ấu
trùng tôm càng xanh từ giai đoạn đầu với Artemia mới nở. Ngoài ra, trong ương
nuôi ấu trùng tôm càng xanh, ngoài Artemia còn bổ sung thêm các nguồn thức ăn
nhân tạo khác để tăng cường dinh dưỡng. Theo Trần Thị Thanh Hiền (2004) khi
nghiên cứu về dinh dưỡng cho ấu trùng tôm càng xanh cho biết: Ấu trùng tôm
càng xanh cho ăn lượng Brachionus plicatilis giới hạn có tỷ lệ sống và tốc độ
tăng trưởng thấp hơn có ý nghĩa so với ấu trùng cho ăn Artemia (Lovett và ctv,.
1988), trích dẫn bởi Trần Nguyễn Hải Nam (2001).
7
+ Trong ương nuôi tôm biển: Artemia là thức ăn quan trọng trong việc ương
nuôi ấu trùng và hậu ấu trùng tôm biển. Artemia bắt đầu cho ăn khi ấu trùng đạt
giai đoạn Mysic 1 hay cả giai đoạn Zoea 2 – 3.
Ngoài ấu trùng Artemia là thức ăn rất tốt và không thể thiếu trong ương nuôi
đa số các loài thủy sản thì Artemia sinh khối cũng là một nguồn dinh dưỡng có
giá trị cao. Theo Lavens và Sorgeloos,1996 trích dẫn bởi Trần Nguyễn Hải Nam
(2001), thì hàm lượng đạm của Artemia sinh khối được đánh giá là cao hơn so
với ấu trùng Nauplii mới nở (giai đoạn Instar I) và đặc biệt giàu hơn về acid
amin thiết yếu. Đặc biệt, sử dụng Artemia với kích cỡ thích hợp sẽ đảm bảo sự
cân bằng năng lượng tốt hơn trong việc lấy thức ăn và sự đồng hoá, bằng cách đó
cải thiện sự sống của các loài tôm cá. Ngoài ra, sinh khối Artemia có lớp vỏ giáp
rất mỏng nên hoàn toàn không gây khó khăn gì cho hệ tiêu hóa của tôm cá
(Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007).
Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh việc sử dụng Artemia sinh khối để nuôi
vỗ tôm, cá bố mẹ đã kích thích sự thành thục của buồng trứng, gia tăng số lần đẻ
và cải thiện chất lượng ấu trùng (Browdy và ctv., 1989; Naessens và ctv., 1997;
trích dẫn bởi Trần Nguyễn Hải Nam (2001). Sinh khối Artemia còn được sử
dụng làm thành phần hoặc chất kích thích trong thức ăn chế biến của ấu trùng
tôm cá (Leger và ctv, 1986). Khá phổ biến là việc sử dụng hoàn toàn sinh khối
đông lạnh Artemia để thay thế cho ấu trùng Artemia mới nở trong sản xuất giống
tôm he (Nguyễn Thị Hồng Vân, 2008).
* Trong ương nuôi cá
+ Cá nước ngọt: những loài cá được ương trên bể như cá tra, cá basa, cá lăng,
…thì việc sử dụng thức ăn là Artemia là rất quan trọng. Trong nghề nuôi cá cảnh,
cả ấu trùng Artemia và Artemia sinh khối đều được sử dụng cho mục đích sản
xuất giống hay nuôi ( Trần Thị Thanh Hiền, 2000).
+ Trong sản xuất giống cá biển: Artemia thường được bắt đầu cho ăn một tuần
sau khi cho ăn bằng Rotifera. Kết quả được nâng cao rất có ý nghĩa khi Artemia
được giàu hóa HUFA (Trần Thị Thanh Hiền, 2000).
Sinh khối Artemia ngày càng trở thành nguồn thức ăn được lựa chọn để thay thế
cho nhiều loại thức ăn tươi sống khác như: Moina, trùng chỉ, giun đỏ, …trong
ương nuôi cá giai đoạn giống. Ngoài tiết kiệm chi phí nó còn đáp ứng tốt nhu cầu
dinh dưỡng và giảm khả năng tiêu hao năng lượng cho việc bắt mồi của đối
tượng nuôi, góp phần cải thiện tốc độ tăng trưởng của chúng. Khi sử dụng sinh
khối Artemia thay cho Moina để ương cá chép 3 đuôi (Carassius auratus) thì tỷ
lệ sống của cá đã tăng 12% so với cá ăn Moina (Lim ctv., 2003) trích dẫn bởi
Nguyễn Thị Hồng Vân và ctv.,2009). Theo Nguyễn Phước Vinh (2008) khi sử
8
dụng Artemia sinh khối tươi sống trong ương nuôi cá La Hán (Cichlasoma
bifasciatum) thấy rõ các chỉ tiêu về tăng trưởng, khả năng lên màu, châu, gù của
cá khá tốt so với sử dụng thức ăn truyền thống.
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sinh khối Artemia có giá trị dinh dưỡng cao (50
– 60% đạm theo trọng lượng khô), giàu acid béo mạch cao không no (HUFA) và
acid amin thiết yếu (Sorgeloos ctv., 1980; Bengston ctv., 1991; Lim ctv., 2001)
và giàu các acid amin thiết yếu như: acid glutamic (12% tổng lượng acid amin),
acid aspatuc (11,2%), lysine (8,9%),…các enzim phân giải đạm, khoáng và các
nguyên tố vi lượng khá cao (Léger ctv., 1986; Lavens & Sorgeloos, 1996). Hàm
lượng carotenoid cao và nhiều sắc tố (cantaxantin,..) đã được tìm thấy trong
Artemia trưởng thành (Lavens & Sorgeloos, 1996; Lim ctv., 2001). Theo hai tác
giả này thì trong Artemia có chứa hàm lượng muối sunphate acid ascorbic 2
(AAS) một dạng của vitamin C, hàm lượng này cao ở Artemia trưởng thành. Đây
là một chất rất cần thiết cho tôm cá tăng cường sức đề kháng (trích dẫn bởi Lâm
Hoàng Anh, 2007).
Ngoài ra, sinh khối Artemia còn được sử dụng để ương ấu trùng cá biển có kích
cỡ miệng lớn như cá tầm, cá hồi, cá Halibut thì loại Artemia lớn hơn (con non,
tiền trưởng thành hoặc trưởng thành) tỏ ra có hiệu quả hơn cả về mặc kinh tế lẫn
khả năng sử dụng của vật ăn mồi xét về mặt tiêu hao năng lượng (Olsen
ctv.,1999 trích dẫn bởi Nguyễn Thị Hồng Vân, 2008). Kết quả thí nghiệm sử
dụng Artemia sinh khối tươi sống và đông lạnh ương cá chẽm (Lates calcarifer)
của Trần Hữu Lễ và ctv., (2008) cho kết quả cá đạt tăng trưởng và tỷ lệ sống cao
hơn thức ăn cá tạp rất nhiều.
Trong Artemia tươi sống có 2 thành phần chủ yếu là protein và lipid, thành phần
protein khá ổn định đạt khoảng 50 - 56 %. Sinh khối Artemia được sử dụng như
là một khẩu phần thức ăn trong quá trình ương nuôi không chỉ vì chúng có hàm
lượng dinh dưỡng cao mà còn rất có ích về mặt năng lượng (Nguyễn Văn Hòa và
ctv., 2007). Sử dụng sinh khối Artemia là sự chọn lựa ít tốn tiền hơn so với dùng
nauplii mới nở, kỹ thuật sản xuất đơn giản và có hiệu quả đã được phát triển.
Sinh khối Artemia đông lạnh có thể được dùng làm nguyên liệu bổ sung hoặc
thay thế giun nhiều tơ trong khẩu phần ăn nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng
bố mẹ (Browdy ctv., 1989 trích bởi Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007).
Tóm lại thức ăn sinh khối Artemia dạng tươi và khô đều có tác dụng làm tăng tỉ
lệ sống và sinh trưởng ấu trùng tôm, cá nuôi (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007).
Hiện tại công ty Duyên Hải Bạc Liêu đã và đang sử dụng sinh khối Artemia đông
lạnh nhập từ Mỹ để phối chế thức ăn trong nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng
bố mẹ.
9
CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 2/2009 đến tháng 5/2009.
Thời gian thí nghiệm từ ngày 3/4/09 đến 12/5/09 (40 ngày)
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện tại Trại thưc nghiệm Vĩnh Châu, Khoa Thủy Sản,
Đại Học Cần Thơ (ấp Biển Dưới, xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc
Trăng).
3.1.3 Dụng cụ và trang thiết bị
Hệ thống bể ương gồm: 15 bể nhựa ( 60 L)
Hệ thống sục khí, đá bọt, ống dẫn
Bể xử lý nước: 2 bể 4 m3
Máy đo pH, oxy, nhiệt kế,…
Máy bơm nước
Cân điện tử, cân đồng hồ, thước đo, tủ lạnh, vợt, đèn pin,.. .…
3.1.4 Nguồn cá giống
Cá lóc thí nghiệm có khối lượng ban đầu là 0,35 ± 0,08 g và chiều dài 3,4 ± 0,3
cm. Cá hương 20 ngày tuổi được cung cấp tại trường Đại Học Cần Thơ.
3.1.5 Nguồn nước và hóa chất xử lý
Hóa chất xử lý nước: Chlorine, EDTA.
Nguồn nước: nước ngọt lấy từ nước giếng.
Một số dụng cụ và trang thiết bị khác...
10
3.1.6 Thức ăn
Artemia sinh khối tươi sống thu trực tiếp từ các ao nuôi tại khu vực của Trại thực
nghiệm Vĩnh Châu.
Hình 3.1 Artemia sinh khối tươi sống và Artemia sinh khối đông lạnh
Artemia sinh khối đông lạnh được thu trực tiếp từ ao nuôi tại Trại Thực Nghiệm
Vĩnh Châu và đem đông lạnh để cá sử dụng, đến khi cho ăn lấy ra rã đông.
Cá tạp (cá biển) mua tại chợ gần trại (Vĩnh Châu – Sóc Trăng), được rửa sạch và
băm nhỏ vừa kích cỡ miệng cá.
Hình 3.2 Cá tạp được băm nhỏ
11
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Phương pháp xử lý nước và chuẩn bị bể ương
Nước ngọt được lấy từ nước giếng bơm lên bể 4m3, sau đó dùng EDTA với
lượng 20 g/m3 nước để loại bỏ kim loại nặng. Sau 4 – 5 giờ nguồn nước có thể sử
dụng được cho thí nghiệm.
Các bể ương được rửa sạch, tiếp đó khử trùng bể bằng Chlorine nồng độ 200
ppm. Trước khi bố trí thí nghiệm bể được rửa lại bằng nước ngọt cho thật sạch,
phơi khô.
3.2.2. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí gồm 15 bể (60L), mỗi bể chứa 40L nước ngọt, bố trí
hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 loại thức ăn và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.
Các nghiệm thức được bố trí như sau:
Nghiệm thức 1 NT 1
100% Artemia sinh khối tươi sống
Nghiệm thức 2 NT 2
100% Artemia sinh khối đông lạnh
Nghiệm thức 3 NT 3
50% Artemia sinh khối tươi sống+ 50% cá tạp
Nghiệm thức 4 NT 4
50% Artemia sinh khối đông lạnh + 50% cá tạp
Nghiệm thức 5 NT 5
100% cá tạp (cá biển) là nghiệm thức đối chứng
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
NT 2.2
NT 4.2
NT 4.1
NT 2.1
NT 1.1
NT 1.2
NT 4.3
NT 2.3
NT 3.1
NT 3.2
NT 5.3
NT 5.2
NT 3.3
NT 1.3
NT 5.1
Mật độ cá được bố trí trong thí nghiệm là 1con/L và cá được cho ăn thỏa mãn
theo nhu cầu.
12
3.2.3. Theo dõi chăm sóc và quản lý
* Các yếu tố môi trường:
+ Đo nhiệt độ, pH hàng ngày : 2 lần/ngày (sáng 7h, chiều 14h)
+ Oxy hàng ngày đo 1lần vào buổi sáng 7h
* Chế độ cho ăn:
Mỗi nghiệm thức cho ăn 2 lần/ ngày (sáng 8h, chiều 17h), quan sát cách bắt
mồi để điều chỉnh lượng thức ăn cho đủ và theo dõi tình hình sức khỏe cá. Khi
cho ăn tắt sục khí để cá dễ bắt mồi. Mỗi ngày cho ăn đều cân trọng lượng thức
ăn và điều chỉnh thức ăn cho cá ăn no và đủ.
Hình 3.3: Cho cá ăn
* Thay nước:
Thí nghiệm được bố trí với mô hình nước trong hở, do đó được thay nước mỗi
ngày để rút cặn, thức ăn thừa và phân cá ở đáy bể , mỗi lần thay 50% thể tích
nước trong bể.
Hình 3.4: Siphon thức ăn và phân dư thừa.
13
* Thu mẫu:
Cân khối lượng: Khi bắt đầu bố trí thí nghiệm, cân chung 30 con cá lóc được
bắt ngẫu nhiên và tính khối luợng trung bình ban đầu của cá ở tất cả các
nghiệm thức. Sau đó định kỳ thu mẫu 10 ngày/lần bắt ngẫu nhiên 10 con/bể
(30 con cho một nghiệm thức) để theo dõi sự tăng trưởng. Vào lần thu mẫu
cuối thì cân khối lượng tất cả các cá thể còn lại trong bể.
Đo chiều dài: Đo 30 con bắt ngẫu nhiên và là tính chiều dài trung bình ban đầu
của cá lóc ở tất cả các nghiệm thức. Sau đó định kỳ thu mẫu 10 ngày/lần, mỗi
lần đo 30 con cho một nghiệm thức như đối với khối lượng.
Tính tỷ lệ sống: đếm tổng cộng số lượng còn lại sau khi kết thúc thí nghiệm.
3.2.4. Các công thức tính toán
Tỷ lệ sống
Số cá thể cuối
Tỷ lệ sống = ---------------- x 100
Số cá thể đầu
Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày)
LnWf – LnW i
SGR =
-------------- x 100
T
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày)
Wf – W i
DWG = ----------T
Trong đó:
- Wf : khối lượng cuối
- Wi : khối lượng đầu
- T : thời gian nuôi ( ngày)
14
Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày)
LnLf – LnL i
SGR =
-------------- x 100
T
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (cm/ngày)
Lf – L i
DLG = ----------T
Trong đó:
- Lf : chiều dài cuối
- Li : chiều dài đầu
- T : thời gian nuôi ( ngày)
3.3. Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu.
Số liệu được tính theo giá trị trung bình của 3 lần lặp lại ở mỗi nghiệm thức và
độ lệch chuẩn trên chương trình Microsoft excel và xử lý thống kê (ANOVA và
Turkey HSD test) bằng chương trình Statistica 6.0.
15
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các yếu tố môi trường
Các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, Oxy, có ảnh hưởng trực tiếp và giáp
tiếp đến sinh trưởng, dinh dưỡng và tỷ lệ sống của cá.
Bảng 4.1: Sự biến động các chỉ tiêu môi trường
Nghiệm
thức
NT1
NT2
NT3
NT4
NT5
Buổi
Sáng
Chiều
Sáng
Chiều
Sáng
Chiều
Sáng
Chiều
Sáng
Chiều
Nhiệt độ
(oC)
27,99 ± 0,8
29,33 ± 1,3
27,79 ± 2,6
29,63 ± 1,0
27,84 ± 0,7
28,81 ± 0,8
28,09 ± 0,8
29,60 ± 1,2
27,65 ± 1,6
28,70 ± 0,9
TB
28,66
28,71
28,33
28,58
28,18
pH
7,81± 0,2
7,92±0,2
7,79±0,2
7,91±0,2
7,77±0,2
7,78±0,2
7,78±0,2
7,90±0,2
7,73±0,2
7,90±0,2
TB
Oxy
(mg/L)
4,49±0,5
7,87
7,85
4,88±0,4
7,78
4,81±0,5
7,84
4,67±0,5
4,93±0,5
7,82
Bảng 4.1 cho thấy nhiệt độ trong thí nghiệm này dao động từ 27,65-28,09 oC vào
buổi sáng và từ 28,7-29,63 oC vào buổi chiều. Nhiệt độ trung bình ngày ở NT2
cao nhất 28,71 oC và NT5 thấp nhất 28,18 oC. Theo Trương Quốc Phú (2004) thì
nhiệt độ sống thích hợp cho sự phát triển của cá từ 28-32 oC còn theo Nicolski
(1963) thì nhiệt độ thích hợp đa số các loài cá nuôi từ 20-30 oC. Nhìn chung,
nhiệt độ trong thí nghiệm này nằm trong khoảng thích hợp cho cá lóc phát triển
tốt.
Qua Bảng 4.1 cho thấy pH dao động từ 7,73-7,81 vào buổi sáng và từ 7,9-7,92
vào buổi chiều. pH trung bình ngày ở NT1 cao nhất (7,87) và thấp nhất (7,78) ở
NT3. Theo Boyd (1998) thì pH nước thích hợp cho sự phát triển của cá trong
khoảng từ 6,5-9. Giá trị pH trung bình cả 5 nghiệm thức chênh lệch ít và nằm
trong khoảng thích hợp cho cá lóc phát triển.
Hàm lượng oxy ở Bảng 4.1 giữa sáng và chiều dao động không lớn từ (4,76-4,94
mg/L). Theo Nguyễn Văn Bé (1995) thì hàm lượng oxy hòa tan lý tưởng cho cá
lớn hơn 5 mg/L, tuy nhiên cá lóc là loài có cơ quan hô hấp khí trời nên hàm
lượng oxy trong thí nghiệm là phù hợp sự phát triển của cá.
16
4.2 Tỷ lệ sống của cá lóc từ hương lên giống sau 40 ngày ương
Tỷ lệ sống của cá lóc từ hương lên giống sau 40 ngày ương được trình bày qua
Hình 4.1
80
Tỷ lệ sốngt (%)
70
60
50
40
30
20
10
0
1
2
3
4
5
Nghiệm thức
Hình 4.1: Tỷ lệ sống của cá lóc sau 40 ngày ương
Tỷ lệ sống của cá chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tính ăn động vật hay ăn
lẫn nhau của cá. Trong đó sự phân cỡ ở cá là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ hao hụt
và đăc biệt là thức ăn có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển và tỷ
lệ sống của cá rất cao.
Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của cá lóc khi sử dụng thức ăn cao nhất ở NT3
(60,8± 5,2 %) và tương đương với NT4 (60± 10 %), và chênh lệch không cao với
NT1 đạt 55± 11,5 %, NT2 đạt 48,3± 8,04% và thấp nhất vẫn ở NT5 (38,3±
14,21 %). Theo kết quả thống kê thì các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa
thống kê do độ lệch chuẩn quá lớn dẫn đến không có sự khác biệt.
Theo Trần Hữu Lễ (2008) khi ương cá chẽm trong ao đất thì khi sử dụng thức ăn
Artemia sinh khối tươi sống có tỷ lệ sống cao nhất 86%, kế đến là thức ăn
(Artemia sinh khối tươi sống 50% + cá tạp 50%) đạt 83% và sử dụng thức ăn (cá
tạp 100%) đạt tỷ lệ sống thấp nhất 80% và các nghiệm thức này khác biệt không
có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Kết quả trong nghiên cứu này cũng tương đồng với
nhận định của Trần Hữu Lễ (2008) mặc dù tỷ lệ sống đạt thấp hơn do cá lóc là
loài cá dữ có tập tính ăn nhau rất mạnh, không gian chật hẹp trong bể ương có lẽ
đã làm chúng giảm đi tỷ lệ sống. Tỷ lệ sống của cá lóc khi cho ăn thức ăn là trùn
chỉ, thức ăn chế biến, cá nục dao động từ 52- 55% (Phan Phương Loan, 2000)
cũng tương đương với thí nghiệm này.
17
Khi sử dụng cá tạp làm thức ăn cho cá lóc trong thí nghiệm này có tỷ lệ sống
(38,3%) tương đối thấp hơn so với các thí nghiệm trước có thể do cá được cung
cấp các loại thức ăn khác nhau thì khả năng sử dụng cũng khác nhau. Trước khi
bố trí thí nghiệm (thời gian trữ cá cho khỏe do vận chuyển từ Cần Thơ đến Sóc
Trăng) khi đó cho toàn bộ cá sử dụng thức ăn là sinh khối Artemia tươi sống vì
thế cá lóc quen và thích sử dụng sinh khối Artemia hơn cá tạp. Đặt biệt là khi cho
cá lóc ăn cá tạp tốn nhiều thời gian và công chăm sóc mà nước vẫn mau dơ.
Ngoài ra trong quá trình thu mẫu, việc thu bắt và cân đo làm cá bị xay xát, bỏ ăn
dẫn đến hao hụt có thể cũng là một nguyên nhân làm chết cá ở nghiệm thức cá
tạp nhiều hơn các nghiệm thức còn lại.
Cá tạp dùng được làm thức ăn cho cá lóc theo phương thức nuôi truyền thống.
Tuy nhiên, những bất lợi khi dùng cá tạp là phụ thuộc vào mùa vụ, khó bảo quản,
chất lượng không ổn định, dễ làm ô nhiễm môi trường nuôi, mang nhiều mầm
bệnh. Vấn đề hiện nay là sử dụng cá tạp biển mang lại rủi ro cao vì nó không
được tươi và giá cao. Vì thế nên có nhiều nghiên cứu nhằm hướng tới sử dụng
các loại sinh khối Artemia để ương cá lóc để thay thế nguồn cá tạp.
4.3 Sinh trưởng của cá lóc
4.3.1 Tăng trưởng về khối lượng của cá lóc
Kích thước cá thả ương lúc ban đầu có khối lượng là 0,35±0,08g và chiều dài là
3,4±0,3cm. Sau 40 ngày ương có sự biến động về khối lượng được thể hiện trong
Bảng 4.2 và Hình 4.2.
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc
Nghiệm thức
Khối
lượng (g)
NT1
NT2
NT3
NT4
NT5
W10
0,89±0,13a
0,88±0,05a
1,02±0,20b
0,91±0,03a
0,68±0,11a
W20
3,39±0,61b
2,96±0,71b
3,30±0,12b
2,87±0,31b
1,53±0,31a
W30
10,27±3,30b
9,09±1,76b
9,41±1,80b
7,92±1,40b
3,61±0,96a
W40
21,67±6,07b 18,62±3,03b 21,73±1,50b 16,52±2,43b 7,66±1,17a
DWG
(g/ngày)
SGR
(%/ngày)
0,53±0,15b
0,46±0,75b
0,53±0,04b
0,4±0,06b
0,18±0,03a
0,1±0,00b
0,1±0,00b
0,1±0,00b
0,1±0,00b
0,08±0,00a
Các giá trị trên cùng một hàng có các chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
18