Tải bản đầy đủ (.pdf) (43 trang)

NGHIÊN cứu KHẢ NĂNG sử DỤNG “ SPENT BLEACHING CLAY” THAY THẾ CHO dầu cá TRONG THỨC ăn CHO cá TRA (pangasianodon hypophthalmus)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (556.52 KB, 43 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

ÔNG THANH NHÃ

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG “SPENT BLEACHING
CLAY” THAY THẾ CHO DẦU CÁ TRONG THỨC ĂN CHO
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2009


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

ÔNG THANH NHÃ

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG “SPENT BLEACHING
CLAY” THAY THẾ CHO DẦU CÁ TRONG THỨC ĂN CHO
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. TRẦN THỊ THANH HIỀN

2009




LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Trần Thị Thanh Hiền đã hướng
dẫn, tận tình giúp đỡ, động viên và truyền đạt nhiều kinh nghiệm quý báo trong suốt
thời gian học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Xin gởi lời cảm ơn chân thành anh Nguyễn Hoàng Đức Trung đã tận tình hỗ trợ,
hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Tác giả xin được gởi lời cám ơn đến các anh chị đi trước, các bạn cùng mảng đề tài đã
giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Và sau cùng là lòng biết ơn chân thành đến gia đình và những người thân đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi nhất cả về vật chất lẫn tinh thần để tác giả hoàn thành chương trình
học này.
Chân thành cám ơn!


TÓM TẮT
Thí nghiệm nhằm đánh giá khả năng thay thế dầu cá bởi dầu cọ trong cột lọc
dầu Spent bleaching clay (SBC) vào thức ăn cho cá tra đồng thời nghiên cứu sự tăng
trưởng của cá khi sử dụng thức ăn có sự thay thế dầu cá bằng SBC và sự tồn lưu của
kim loại nặng trong cơ, xương sau khi sử dụng thức ăn có SBC.
Trong thí nghiệm gồm có 4 nghiệm thức thức ăn có cùng mức protein (33%)
và lipid (6%) với mức SBC 0%, 5%, 10% và 15% trong công thức thức ăn. Cá tra có
khối lượng trung bình khoảng 18,2 g/con được bố trí trong hệ thống 12 bể composite
(1m3/bể), có nước chảy tràn, bố trí mật độ 50 con/bể. Sau tám tuần thí nghiệm, tỷ lệ
sống của cá cao nhất ở SBC 10% (98,7%), thấp nhất SBC 5% (92%) khác biệt không
có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Tốc độ tăng trưởng theo ngày (DWG) cao nhất là ở
nghiệm thức sử dụng thức ăn thí nghiệm SBC 5% (1,57 g/ngày), theo sau lần lượt các
kết quả SBC 10% 1,53 g/ngày, SBC ĐC 1,51 (g/ngày), thấp nhất là SBC 15% 1,06
g/ngày. Tốc độ tăng trưởng của cá ở các nghiệm thức SBC ĐC, 5% và 10% khác biệt

không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), tăng trưởng của cá ở nghiệm thức SBC 15% thì
thấp nhất khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại. FCR ở nghiệm thức
SBC ĐC là thấp nhất (1,13) kế đến là nghiệm thức SBC 10% (1,17) sau đó là nghiệm
thức 5% SBC (1,19) sự khác biệt của 3 nghiệm thức này là không có ý nghĩa thống kê
( p>0,05). FCR ở nghiệm thức SBC 15% cao nhất (1,54) và khác biệt có ý nghĩa so
với 3 nghiệm thức trên.
Thành phần kim loại nặng (As, Pb và Cd) có tích lũy trong cơ, xương nhưng
không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức và nhỏ hơn ở mức cho phép của Bộ Y tế
(2007).
Thành phần acid béo trong cơ cá tra bị ảnh hưởng bởi việc nâng mức SBC
trong thức ăn làm tăng mức acid béo n-6 PUFA, đồng thời sự giảm dần n-3 PUFA
trong thức ăn và trong cơ cá theo mức tăng lượng SBC trong thức ăn cũng đã quan sát
từ kết quả phân tích.
Như vậy có thể sử dụng SBC 10% trong công thức thức ăn để thay thế một
phần dầu cá trong thức ăn cho cá tra.


MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ ................................................................................................. i
TÓM TẮT....................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..................................................................................................... iii
DANH SÁCH BẢNG.................................................................................... vi
DANH SÁH HÌNH........................................................................................ vii
CHƯƠNG 1................................................................................................... 1
GIỚI THIỆU................................................................................................... 1
1.1 Giới thiệu .................................................................................................. 1
1.2 Mục tiêu của việc nghiên cứu................................................................... 2
1.3 Nôi dung của nghiên cứu......................................................................... 2
1.4 Thời gian thực hiện đề tài......................................................................... 2
CHƯƠNG 2.................................................................................................... 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................................... 3
2.1 Sinh học của cá tra.................................................................................... 3
2.1.1 Hệ thống phân loại................................................................................. 3
2.1.2 Tập tính dinh dưỡng ............................................................................. 3
2.1.3 Sự tăng trưởng ...................................................................................... 4
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng ................................................................................ 4
2.2.1 Nhu cầu Đạm (Protein).......................................................................... 4
2.2.2 Nhu cầu chất bột đường (Cacbohydrate)............................................... 5
2.2.3 Nhu cầu chất béo (Lipid)....................................................................... 6
2.2.4 Nhu cầu năng lượng ............................................................................. 7
2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thức ăn trong nuôi cá tra .................... 7
2.4 Tình hình nghiên cứu Spent Bleaching Clay ........................................... 9
CHƯƠNG 3................................................................................................... 11
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................... 11
3.1 Vật liệu Thí nghiệm ................................................................................ 11
3.2 Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 11


3.2.1 Nguồn cá thí nghiệm ............................................................................ 11
3.2.2 Bố trí thí nghiệm................................................................................... 11
3.2.3 Chăm sóc và quản lý............................................................................. 12
3.3 Thu mẫu và phân tích mẫu ...................................................................... 12
3.3.1 Thu và phân tích mẫu cá....................................................................... 12
3.3.2 Mẫu thức ăn .......................................................................................... 12
3.3.3 Phương pháp phân tích ......................................................................... 13
3.4 Tính toán và sử lý số liệu ........................................................................ 13
3.4.1 Tính toán số liệu .................................................................................. 13
3.4.2 Xử lý số liệu ........................................................................................ 14
CHƯƠNG 4................................................................................................... 15
KẾT QUẢ - THẢO LUẬN .......................................................................... 15

4.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học trong thức ăn ............................. 15
4.1.1 Thành phần hóa học của nguyên liệu SBC được phối trộn trong thức ăn
....................................................................................................................... 15
4.1.2 Kết quả phân tích mẫu thức ăn thí nghiệm........................................... 16
4.1.3 Thành phần kim loại nặng có trong SBC và thức ăn thí nghiệm ......... 17
4.1.4 Thành phần acid béo có trong nguyên liệu SBC và thức ăn thí nghiệm
....................................................................................................................... 18
4.2 Môi trường bể thí nghiệm....................................................................... 20
4.3 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm................................................................... 21
4.4 Sinh trưởng của cá thí nghiệm................................................................ 21
4.5 Hệ số thức ăn ........................................................................................... 24
4.6 Hiệu quả sử dụng Protein ....................................................................... 25
4.7 Kết quả phân tích thành phần hóa học của cá thí nghiệm. ..................... 26

4.7.1 Thành phần sinh hóa của cá trước và sau thí nghiệm........................... 26
4.7.2 Nồng độ kim loại nặng (mg/kg khối lượng khô) trong cơ và xương của
Cá Tra ............................................................................................................ 27


4.7.3 Thành phần aicd béo trong cơ cá sau thí nghiệm ................................. 28
CHƯƠNG 5................................................................................................... 31
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .......................................................................... 31
5.1 Kết luận ................................................................................................... 31
5.2 Đề xuất..................................................................................................... 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 32
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 35


DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên......................... 3

Bảng 3.2 :Tỷ lệ thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm .................. 12
Bảng 4.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học của Spent bleaching clay
(SBC) ............................................................................................................ 15
Bảng 4.2 Kết quả phân tích thức ăn thí nghiệm ........................................... 16
Bảng 4.3 Khối lượng kim loại nặng (mg/kg) có trong SBC và thức ăn thí
nghiệm ........................................................................................................... 18
Bảng 4.4 Thành phần acid béo (% của tổng số acid béo) của SBC và thức ăn
thí nghiệm ..................................................................................................... 18
Bảng 4.5 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm...................................... 20
Bảng 4.6 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm ......................................................... 21
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các loại thức ăn lên sinh trưởng của cá ................ 22
Bảng 4.8 Hệ số thức ăn của cá Tra ............................................................... 24
Bảng 4.9 Hiệu quả sử dụng protein sau 8 tuần thí nghiệm ........................... 25
Bảng 4.10 Kết quả phân tích thành phần hóa học của cá trước và sau khi thí
nghiệm ........................................................................................................... 26
Bảng 4.11 Kết quả phân tích kim loại nặng (As, Pb và Cd ) trong cơ và
xương của cá Tra ........................................................................................... 27
Bảng 4.12 Thành phần acid béo (% của tổng số acid béo) của cá trước khi nuôi thử
nghiệm và sau khi ăn cho 8 tuần khi bổ sung SBC vào thức ăn thí
nghiệm ........................................................................................................... 29


DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài của cá ........................................................... 3
Hình 3.2 Hệ thống bể nuôi thí nghiệm .......................................................... 11
HÌnh 4.7 Tăng trưởng của cá thí nghiệm....................................................... 22


CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU

1.1 Giới thiệu
Hiện nay, ở đồng bằng sông Cửu Long người nuôi sử dụng rất nhiều loại
nguyên liệu khác nhau để phối chế thức ăn và phương thức phối chế cũng đa dạng.
Nguồn nguyên liệu để phối chế thức ăn truyền thống thường là cám, cá tạp và được
phối chế với tỷ lệ khác nhau. Việc nắm bắt giá trị dinh dưỡng của từng nguồn nguyên
liệu và phương thức phối chế thức ăn là cần thiết nhằm sử dụng có hiệu quả và kinh tế
nhất trong nuôi cá (Trần Văn Nhì,2005). Nguồn nguyên liệu bao gồm hai nhóm chính:
Bột cá và dầu cá (trong tương lai sẽ giữ vai trò rất quan trọng), một số nguồn lợi khác
như giáp xác, hai mảnh vỏ, chân đầu và rong biển với việc khai thác những loài cá
nhỏ ở biển, sông đã vô tình làm cho nguồn lợi thủy sản bị cạn kiệt.
Những năm gần đây nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn thuỷ sản đã có
những bước tiến nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu, cho ra những sản phẩm mới
thay thế cho những nguyên liệu có trong tự nhiên vừa tiện dụng, rẻ tiền mà không
làm cạn kiệt đi nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là dầu cá theo phương thức cổ truyền là
nguồn lipid chính được sử dụng trong thức ăn. Nhu cầu về dầu cá trong thức ăn thủy
sản gia tăng trong những năm gần đây do sự phát triển nhanh ngành công nghiệp thủy
sản toàn cầu và những thuận lợi về mặt công nghệ, kỹ thuật trong phương thức sản
xuất thức ăn thủy sản điều đó dẫn đến sự hợp nhất về lượng dầu trong khẩu phần đạt
chất lượng cao để đề ra chế độ thích hợp.
Một tiêu chí bền vững cho dầu cá trong thức ăn thủy sản là dầu từ thực vật. Ng
(2005) cho rằng sử dụng dầu cá chiết xuất từ những cây cọ khác nhau như là dầu cọ
tươi(CPO), cải tiến olein hoặc sản phẩm chưng cất acid béo từ cây cọ trong khẩu phần
ăn cho sự tăng trưởng cá và tận dụng hiệu quả thức ăn có thể so sánh được tương
đương lượng dầu cá từ cá biển.
Hiện nay, thức ăn thủy sản sử dụng khoảng 70% dầu cá cung cấp cho toàn cầu
và đến năm 2010, dầu cá sử dụng trong thủy sản ước lượng đạt được 97% nguồn cung
cấp trên thế giới (Tacon,2003). Dầu cá được sản xuất từ những con cá biển nhỏ và
làm hạn chế nguồn lợi cá. Qua thế kỷ rồi, sự sản xuất dầu cá thế giới đã đạt đến cân
bằng và không được mong đợi sẽ tăng vượt những mức độ gần đây. Để giữ được sự
phát triển nhanh chóng của nó, nền công nghiệp nuôi trồng thủy sản không thể tiếp

tục phụ thuộc vào trữ lượng có hạn của dầu cá biển cho việc cung cấp dầu cá.
Dầu cá dư bám vào Spent Bleaching Clay (SBC) từ công nghiệp tinh lọc dầu
ăn có thể là nguồn tiềm năng thay thế cho dầu cá trong sản xuất thức ăn thủy sản. Do


đó chúng ta cần thử nghiệm về giá trị SBC như một tiềm năng thay thế trong khẩu
phần không những cho cá rô phi đã được thí nghi trước đây mà còn cho cá tra nó góp
phần làm giảm giá thành thức ăn trong nuôi trồng thủy sản ở một số nước nhiệt đới.
Do đó việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sử dụng spent bleaching
clay thay thế cho dầu cá trong thức ăn của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)” là
rất cần thiết
1.2 Mục tiêu của việc nghiên cứu
Đánh giá khả năng sử dụng SBC vào thức ăn cho cá tra nhằm tận dụng nguồn
nguyên liệu rẻ tiền giúp giảm giá thành thức ăn cho cá tra
1.3 Nôi dung của nghiên cứu
Nghiên cứu sự tăng trưởng của cá khi sử dụng thức ăn được thay thế dầu cá
bằng SBC.
Ảnh hưởng của việc sử dụng SBC lên chất lượng cá tra.
1.4 Thời gian thực hiện đề tài
Thí nghiệm được bố trí trong Khoa Thủy sản, trường Đại Học Cần Thơ
Tháng 7/2008 đến tháng 1/2009


CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sinh học của cá tra
2.1.1 Hệ thống phân loại
Theo Robert và Vidthayanon(1991),cá tra thuộc:
Bộ:Siluriformes
Họ:Pangasiidae

Giống: Pangasianodon
Loài: Pangasianodon hypophthalmus Sauvage,1878

Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài của cá tra
2.1.2 Tập tính dinh dưỡng
Miệng cá tra có răng sắt nhọn trên các hàm, có gai trên cung mang thưa, ngắn
do đó không có tác dụng lọc thức ăn như các loài cá ăn động vật phiêu sinh. Dạ dày
ngắn, lại không gấp khúc. Với các đặc điểm trên thì tính ăn của cá tra thiên về ăn
động vật(Trần Văn Nhì,2005).
Theo Trần Thanh Xuân (1994) nghiên cứu về thành phần thức ăn của cá tra
đánh bắt trong tự nhiên đã tiềm thấy thành phần thức ăn trong dạ dày được trình diễn
ở bản sau:
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên
Loại Thức ăn

Tỷ lệ %

Cá tạp

37,8

ỐC

23,9

Thực Vật

6,67

Mùn bã hữu cơ


31,6


Khi phân tích thức ăn trong ruột cá đánh bắt ngoài tự nhiên, cho thấy thành
phần thức ăn khá đa dạng, trong đó cá tra ăn tạp thiên về động vật. Cũng như các loài
cá khác sau khi hết noãn hoàn thì chúng sử dụng thức ăn ngoài. Chủ yếu là phiêu sinh
động vật. Trong tự nhiên chúng ăn được cả mùn bã hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau quả
,tôm tép, cua, côn trùng, ốc và cá. Tuy nhiên thức ăn có nguồn gốc từ động vật sẽ giúp
cá lớn nhanh hơn (Dương Nhựt Long,2003). Thức ăn ưa thích của chúng là nhóm
Rotifer, nhóm Cladocera xuất hiện nhiều trong dạ dày nhưng vai trò dinh dưỡng
không cao. Khi nuôi trong bể thì chúng được sử dụng nhiều loại thức ăn :Artemia,
moina, trùn chỉ, thức ăn chế biến, thức ăn công nghiệp… Theo Hùng và ctv (1998) thì
cho ăn trùn chỉ và Artemia sẽ cho tỷ lệ sống và tăng trưởng tốt nhất (Trích bởi Lưu
Thanh Tùng,2008).
Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau. Cá con
20 ngày tuổi sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến (Lê Xuân Sinh và ctv,2000 trích bởi
Trần văn Nhì,2005). Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động
vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức ăn.
2.1.3 Sự tăng trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều
dài. Cá tra bột hết noãn hoàn có chiều trung bình 1,1 cm. Sau 14 ngày ương đạt 2,0 2,3cm và trọng lượng là 0,52g. Cá 5 tuần tuổi đạt 1,28 -1,5 g. Sau 1 năm cá đạt 0,7 1,5 kg và đến 3-4 tuổi đạt 3-4 kg (Trần Văn Nhì, 2005). Trong ao nuôi vỗ, cá bố mẹ
cho đẻ đạt tới 25 kg ở cá 10 năm tuổi. Nuôi trong ao 1 năm cá đạt 1-1,5 kg/con (năm
đầu tiên), những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt tới 5-6 kg/năm tùy
thuộc môi trường sống và sự cung cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng
đạm nhiều hay ít.
2.2 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cho cá tra
2.2.1 Nhu cầu Đạm(Protein)
Đạm là chất dinh dưỡng đặc biệt chú ý trong thức ăn. Nhiệm vụ chính của chất
đạm là xây dụng cấu tạo cơ thể động vật. Chất đạm trong thức ăn cung cấp các

amino acid nhờ qúa trình tiêu hóa và thủy phân. Trong ống tiêu hóa các amino acid
được hấp thu vào máu đi đến các mô các cơ quan trong cơ thể để tổng hợp nên chất
đạm trong cơ thể, giúp cơ thể phục vụ cho quá trình sinh trưởng, sinh sản và duy trì
chi cơ thể (Trần Thị Thanh Hiền,2003). Trong thức ăn nếu hàm lượng Protein không
đủ để cung cấp cho nhu cầu cơ thể sinh vật thì sinh vật sẽ chậm lớn, ngừng tăng
trưởng dẫn đến giảm trọng lượng. Những nếu có hàm lượng đạm cao thì sẽ ảnh hưởng


đến sự tiêu hóa của đạm và các chất khác (Thành,2001 trích bởi Huỳnh Hữu
Hiền,2003)
Nhu cầu đạm tối ưu của các loài cá da trơn từ 25-45%, thông thường 30-35%.
Theo Trần Thị Thanh Hiền (2003) kết quả này khác nhau giữa các loài, phụ thuộc
nhiều vào yếu tố môi trường, thức ăn thí nghiệm, mức độ thức ăn, trạng thái sinh lý.
Ngoài ra nhu cầu đạm cũng khác nhau ở từng giai đoạn những cá nhỏ thì nhu
cầu đạm cao hơn đối với loài cả trưởng thành. Theo Dương Nhựt Long (2003) cho
rằng thức ăn để ương nuôi cá tra ở giai đoạn 1 tháng tuổi thì cần phải có lượng đạm
khoảng 28 -32%. Còn thức ăn cho cá nuôi thịt có hàm lượng đạm thích hợp dao động
18-28%. Bên cạnh đó hàm lượng đạm trong thức ăn thuỷ sản cho từng loài cũng khác
nhau trong khoảng từ 18-20% đối với tôm biển, 28-32% cho cá da trơn, 22-30% đối
với cá rô phi, 38-40% đối với cá hồi vân (Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1.
, cập nhật 10/02/2006).
2.2.2 Nhu cầu chất bột đường (Cacbohydrate)
Cacbohydrat đươc xem là nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng rẻ tiền nhất
cho động vật thủy sản. Chiếm chủ yếu trên 75% ở thực vật. Cacbohydrat chủ yếu
cung cấp năng lượng cho cơ thể,khi thừa sẽ thích lũy mỡ dưới dạng glycogen, khi đủ
sẽ tiết kiệm dược Protein (Thành,2001 trích bởi Huỳnh Hữu Hiền,2003). Mặc dù
không phải là chất dinh dưỡng thiết yếu đối với cá nhưng bổ sung carbonhydrate giúp
giảm giá thành thức ăn và tăng cường khả năng kết dính trong quá trình đùn ép viên.
Ở động vật chỉ chiếm số lượng nhỏ và tồn tai ở dạng glycogen (Viện nghiên cứu nuôi
trồng thủy sản 1,, cập nhật 10/02/2006).

Theo Galing và Winson nhận thấy cá nheo giảm tăng trưởng khi không có bổ
sung dextrin có cùng mức năng lượng và mức đạm. Ở mức dextrin 25% trong thức ăn
cá vẫn sinh trưởng tốt. Ngoài ra Winson và ctv (1988) còn cho thấy cá Nheo Mỹ sử
dụng chất bột đường cao phân tử nhu tinh bột, dextrin hiệu quả hơn so với đường đơn,
đường đôi (glucose,sucrose,..) do quá trình biến dưỡng cá thì chậm mà tốc độ tiêu hóa
đường đơn, đường đôi lại nhanh (Trích bởi Lưu Thanh Tùng,2008).
Khả năng sử dụng Cacbohydrat của ĐVTS khác nhau. Tính ăn có tính quyết
định đến khả năng sử dụng cacbohydrat của cá. Những loài cá ăn tạp, thực vật có khả
năng sử dụng cacbohydrat tốt hơn loài ăn động vật. Còn ở cá biển trung bình khoảng
20% còn cá nước ngọt thì cao hơn (Hiền,Tuấn và Tú,2004).
Theo Hùng và ctv (2006) thì cá Basa có khả năng sử dụng Cacbohydrat trong
thức ăn cao đến 40% trong khi cá Tra chỉ có 20%. Kết quả này cũng phù hợp cá


Basa(P .bocourti) có khả năng sử dụng cacbohydrat tốt hơn có thể đến 40-46,2%
(Phương,1998; trích bởi Trần Thị Thanh Hiền,2003). Điều này làm cho cá Basa tích
lũy mỡ nhiều hơn cá Tra. Wilson và Morcau(1996) đề nghị cá nheo Mỹ có thể sử
dụng hiệu quả Cacbohydrat trong thức ăn từ 20-30% và đây có thể xem là mức
Cacbohydrat thích hợp với các lào cá khác(Trích bởi Huỳnh Hữu Hiền,2003).
Theo nghiên cứu của Huỳnh Hữu Hiền (2003) thì lượng mỡ trong cơ thể cá tỷ
lệ thuận với mức Cacbohydrat trong thức ăn mà cá sử dụng. Nghĩa là cá ăn thức ăn có
hàm lượng cacbohydrat cao thì tích lũy mỡ sẽ cao.
2.2.3 Nhu cầu chất béo (Lipid)
Chất béo là một trong những thành phần sinh hóa cơ bản của động vật. Chất béo
đóng vai trò quan trọng cho nguồn cung cấp năng lượng, có khả năng thay thế một
phần protein trong thức ăn cho thuỷ sản, sinh trưởng phát triển của dộng vật,ngoài ra
có vai trò trong việc vận chuyển Vitamin trong dầu và sterol. Giá trị của chất béo
được chú ý chính là thành phần các acid béo của chất béo. Năng lượng không được sử
dụng ngay mà được dữ trữ dưới dạng glycogen và mỡ. Cá da trơn có khả năng dự trữ
năng lượng thấp nên mỡ là dạng dữ trữ chính. Kết quả nghiên cứu về nhu cầu chất

béo trong thức ăn có hàm lượng chất béo ở cá từ 6-10% (Hiền,Tuấn và Tú,2004).
Chất béo được dự trữ trong gan, cơ và dạng bao quanh thành ruột hay tạo thành
những lớp mỡ lớn như cá Basa chiếm 25%thể trọng cá khi cá ăn thức ăn có quá nhiều
năng lượng (Mertrampf, 1992 trích bởi Nguyễn Hữu Yến Nhi,2006). Theo Wilson và
Morcau(1996) cá trơn Mỹ sử dụng chất béo ở mức tối u;cá trê phi lai từ 7-10% còn
các loài khác thì sử dụng ở mức cao hơn. Chẳng hạn như Cá Hồi cầu vòng được cho
ăn với các khẩu phần có hàm lượng chất béo là 5 -20% và các hàm lượng Protein là
16-48%.tỷ lệ tối u giữa Protein và chất béo là 35% Protein và 18% chất béo.(Takeuchi
và ctv,1978,b trích bởi Silva, 2006). Còn Cá Nheo Mỹ vẫn tăng trưởng tốt ở mức chất
béo 15% hoặc có thể hơn. Tuy nhiên nếu hàm lượng chất béo trong thức ăn nhiều qúa
sẽ làm mỡ tích lũy nhiều trong thịt cá, ảnh hưởng chất lượng cá, hơn nữa còn ảnh
hưởng đên độ bền chặc của viên thức ăn, khó bảo quản (Trích bởi Lưu Thanh
Tùng,2008).
Theo nghiên cứu của Phương (1998) cho thấy basa tăng trưởng nhanh nhất ở
mức chất béo 7,7% và tốc độ tăng trưởng chậm ở mức tăng lên 13,3%và 20,8%.
Stieney và Anderewws(1972); Yungst và Stieney(1979) đã làm thí nghiệm trên cá
nheo khẳng định trong khẩu phần ăn có chứa mỡ động vật hoặc dầu cá sẽ cho kết quả
rằng tăng trưởng cao hơn nhiều so với khẩu phần có chứa dầu thực vật (Trích bởi
Huỳnh Hữu Hiền,2003).


Xu hướng chung hiện nay là sử dụng nhiều hơn chất béo trong khẩu phần thức
ăn cho cá do có thể hạ giá thành và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn. Xong nếu sử
dụng nhiều chất béo hơn so với nhu cầu của cá sẽ dẫn đến hiện tượng tích mỡ trong
gan, ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và sinh trưởng của cá.
2.2.4 Nhu cầu năng lượng
Năng lượng thì rất cần thiết cho mọi hoạt động sống của sinh vật. Năng Lượng
được cung cấp từ thức ăn từ các cơ quan dự trữ năng lượng của cơ thể. Động vật thủy
sản là một trong những động vật chuyển hóa năng lượng trong thức ăn để xây dựng
hiệu quá nhất (Trần thị Thanh Hiền và ctv,2004). Động vật thủy sản là loài động vật

biến nhiệt có thể thải trực tiếp Amoniac ra môi trường ngoài (85% tổng số N2 thải ra
ngoài) ít sử dụng năng lượng để duy trì thân nhiệt cho sự duy trì thăng bằng cơ thể và
vận động không phải tốn năng lượng để chuyển hóa Amoniac thành Ure hay Acid
uric,...
Năng Lượng lấy từ thức ăn bị mất khoảng 1/3 do quá trình bài tiết, 1/3 năng
lượng dùng cho các hoạt động của cơ thể và 1/3 còn lại dùng cho sinh trưởng. Các giá
trị này thay đổi theo mức độ cho ăn và độ tiêu hóa thức ăn của cá (Smith,1989 trích
bởi Huỳnh Hữu Hiền,2003).
Theo Dương thúy Yên (2000) tỷ lệ P/E của một số loài cá da trơn khác cũng
tương đương với cá nheo Mỹ từ 20-30mg/Kj . Trong khi đó thì nhu cầu năng lương
thô trong thức ăn trơn là 2750 -3100Kcal/kg (Trần Thị Thanh Hiền, 2004).
2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thức ăn trong nuôi cá tra
Cá da trơn là loài nuôi phổ biến ở châu Á. Nhiều quốc gia đã chọn cá da trơn
làm đối tượng quan trọng trong chiến lược phát triển nuôi trồng thủy sản và không chỉ
tạo sản phẩm tiêu dùng trong nước mà còn hướng tới xuất khẩu. Ở Việt Nam,cá da
trơn tiêu biểu là cá tra, cá ba sa đã trở thành đối tượng nuôi quan trọng. Xu hướng
nuôi cá da trơn trên thế giới hiện nay là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và phát
triển nghề nuôi bền vững. Tuy nhiên giá cá tra xuất khẩu hiện nay không tăng nhiều,
thậm chí còn chựng lại trong khi giá thành sản xuất luôn tăng lên, khiến cho lợi nhuận
của người nuôi ngày càng thấp đi, thậm chí là lỗ mà chủ yếu hiện nay, do giá nguyên
liệu thức ăn tăng, nhiều công ty đã tăng giá thức ăn khiến chi phí thức ăn chiếm
khoảng 70% chi phí sản xuất (Nguyễn Thanh Phương,2006 trích từ
).
Thức ăn thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong nuôi trồng thuỷ sản. Cải thiện
chất lượng thức ăn là biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Thức ăn là


nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho qúa trình trao đổi chất, do đó không có thức ăn
thì không xảy ra quá trình trao đổi chất dẫn đến động vật sẽ chết. Thức ăn tốt giúp
nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện sức khoẻ và tạo được sản phẩm chăn nuôi có giá

trị cao.
Trong các mô hình VAC,VACR hoặc nuôi ao hồ nhỏ, thức ăn chủ yếu ngoài tự
nhiên, có sẵn, mức đầu tư thấp. Trong khi cá nuôi, mô hình cá tra bè và nuôi ao thâm
canh, hơn 90% là sử dựng thức ăn tự chế. Một số đối tượng cá đồng như Lóc đen,
người dân sử dụng chủ yếu 100% cá tạp (Trần Thị Thanh Hiền, 2004). Do đó còn
tùy vào mô hình và địa phương mà việc sử dụng thức ăn cũng khác nhau.
Thức ăn tự chế được sử dụng phổ biến ở Long xuyên và Châu Đốc khi đó khu
vực Cần thơ – Vĩnh Long thì hầu hết dùng thức ăn công nghiệp ở cả 2 hình thức nuôi
ao 76.1% va trong bè là 100%. Mặt dù người ta sử dụng thức ăn tự chế là chính nhưng
trong khoảng 1 tháng cuối vụ thì người ta sử dụng thức ăn Công nghiệp nhằm cải
thiện chất lượng thịt cá (Lê Thanh Hùng và ctv,2006). Ứng với mô hình khác nhau thì
việc sử dụng thức ăn cũng có sự khác biệt. Theo Lê Thanh Hùng và ctv (2006)
khoảng 76.1% ao nuôi ở Cần Thơ – Vĩnh Long thì sử dụng chủ yếu thức ăn công
nghiệp ở loại hình ao nuôi cao hơn kết quả báo cáo của Trần Thị Thanh Hiền (2003)
với khoảng 46% nông hộ nuôi ao ở Cần Thơ đã sử dụng thức ăn Công nghiệp. Điều
này chứng tỏ thức ăn công nghiệp ngày càng được chấp nhận và dần dần được thay
thế thức ăn tự chế khi mà thức ăn tự chế còn nhiều hạn chế như dễ gây ô nhiễm môi
trường, khó quản lý dịch bệnh, sản phẩm không đáp ứng tốt cho xuất khẩu..).
Bên cạnh đó thức ăn tự chế vẫn đóng góp 1 vai trò hết sức là quan trọng trong
nuôi trồng thủy sản. Đặc biệt là cá tra, basa trong bè và góp phần làm giảm giá thành
sản xuất. Theo Nguyễn Thanh Phương (1998) những người nuôi cá tra, basa ở An
Giang trước đây người ta thường dùng những nguyên liệu rẽ tiền để phối trộn làm
thức ăn cho cá, các loại phụ phẩm trong nông nghiệp và nguồn cá tạp sẵn có tại chổ
với giá rất rẻ như cám, tấm, cá linh, khoai mì, bắp... Ngoài ra người nuôi còn biết
dùng các các nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật để đưa vào trong khẩu phần thức
ăn bí đỏ, khoai lan, khoai ngọt... Nhưng rất ít được sử dụng. (trích bởi Lưu Thanh
Tùng,2008).
Với tiến bộ khoa học kĩ thuật ngày càng tiên tiến và sự hiểu biết của người
nuôi về chế độ dinh dưỡng cũng như về giá trị dinh dưỡng của các nguyên liệu làm
thức ăn ngày càng được nâng cao chẳng hạn như người nuôi có thể dùng bột cá, bột

đậu nành, bột thịt xương làm nguồn cung cấp đạm trong thức ăn. Nguồn nguyên liệu
chế biến theo cổ truyền thường là Tấm, Cám, Mì lát… Ngoài ra còn được bổ sung
thêm vitamin, khoáng làm dễ tiêu và tăng khả năng hấp thụ thức ăn. Để đảm bảo dinh


dưỡng cho cá phát triển tốt, đạt chất lượng cao, người nuôi cần nắm vững nhu cầu
dinh dưỡng của cá trong từng giai đoạn phát triển rất quan trọng.
2.4 Tình hình nghiên cứu Spent Bleaching Clay
Spent Bleaching Clay (SBC) là một sản phẩm từ việc tinh lọc dầu Thực Vật.
Trong suốt quá trình tinh lọc, chất lọc được dùng để loại các tạp chất và chất nhuộm.
Quá trình lọc được tiến hành ở nhiệt độ cao gồm dầu và cột lọc, các phân tử nhuộm và
các tạp chất bám vào bề mặt cột lọc. Cột lọc dùng trong tinh lọc dầu phần lớn là
Bentonites, nó là Alumino Silicates được dùng tẩy dầu và chất béo. SBC chứa
khoảng 20-75% dầu từ quá trình tinh lọc. SBC được sản xuât từ việc cải tiến dầu thực
vật. Nó là một tiềm năng là 1 nguồn nguyên liệu cho Công nghiệp sản xuất thức ăn
thủy sản.
SBC gần đây được đánh giá như một sản phẩm thải và thường bị loại bỏ
(Wong, 1983) hoặc đốt cháy trong các lò đốt rác để sản xuất ra năng lượng. Nhưng nó
lại là một tiềm năng như là một nguồn nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất thức ăn
thủy sản. Một vài thí nghiệm với cá rô phi (Oreochromis niloticus) cho rằng dầu cá
biển có thể thay thế hoàn toàn bởi SBC mà không ảnh hưởng tới tăng trưởng, chất
lượng file và sức khỏe cá. Giới hạn của SBC như 1 nghiệm thức ăn bao gồm hàm
lượng tro cao và làm tăng vật chất lơ lững trong hệ thống nuôi (Ng & Chik, 2006).
Không những được nghiên cứu trên Động Vật Thủy sản mà SBC đã được nhà khoa
học Blair et al( (1986) tiến hành sử dụng SBC tác động vào việc tăng thêm lợi ích từ
những nguyên liệu rẽ cho gia cầm, ông đã dùng 7,5% dầu cải tinh chế có thể đồng
nhất trong khẩu phần thức ăn của gà giò kết quả cho thấy không ảnh hưởng tiêu cực
lên sự phát triển cũng như sức khỏe của gà giò và đem lại lợi ích trong việc cải thiện
viên thức ăn cứng (trích Ng & Chik, 2006).
Trong thực tế nhiều nhà sản xuất nghiên cứu ra các loại nguyên liệu là phế

phẩm từ các nhà máy, xí nghiệp có thể cho ra những sản phẩm mới thay thế cho
những nguyên liệu có trong tự nhiên vừa tiện dụng, rẻ tiền mà không làm cạn kiệt đi
nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là dầu cá được sản xuất từ những con cá biển nhỏ và làm
hạn chế nguồn lợi cá và quan trọng hơn nữa là làm giảm chi phí sản xuất cũng như
đảm bảo về mặt dưỡng chất.
Các nhà nghiên cứu ngành thủy sản có thể giải quyết tốt vấn đề giá nguyên
liệu thô tăng cao hiện nay và trong tương lai. Do đó có thể dùng nguyên liệu có khả
năng thay thế nguyên liệu giá đắt bằng nguyên liệu giá rẻ mà vẫn đảm bảo chất lượng
thức ăn thủy sản. Có rất nhiều cách thay thế thành phần thức ăn nuôi trồng thuỷ sản,
nhưng với ngân sách eo hẹp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển thì khả năng phát
triển thức ăn cho một số loài thuỷ sản vẫn rất hạn chế. Khi các hoạt động nghiên cứu


và phát triển có những kết quả khả quan hơn sẽ có nhiều khả năng thay thế bột cá, dầu
cá và các nguyên liệu giá đắt khác. Một nguồn tiềm năng khác của dầu cọ dùng trong
khẩu phần ăn của cá là sử dụng phần dầu dư ra được thấm hút qua những cột đất sét
được tẩy đã sử dụng Spent Bleaching Clay (SBC).
Dầu cá dư bám vào SBC từ công nghiệp tinh lọc dầu ăn có thể là nguồn tiềm
năng thay thế cho dầu cá trong sản xuất thức ăn thủy sản. Do đó chúng ta cần thử
nghiệm về giá trị SBC như một tiềm năng thay thế trong khẩu phần không những cho
cá rô phi mà còn cho cá cá tra nó góp phần làm giảm giá thành thức ăn trong nuôi
trồng thủy sản ở một số nước nhiệt đới. Ngoài ra để cho ra nhiều loại thức ăn cân
bằng dinh dưỡng và có khả năng nâng cao sức khoẻ của thuỷ sản nuôi cần được
nghiên cứu để áp dụng vào trong thực tế.


CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu Thí nghiệm
- Thí nghiệm sẽ được bố trí trên 12 bể (1m3/bể)

- Hệ thống sục khí
- Heater điều chỉnh nhiệt độ
- Máy đo Oxy, pH, nhiệt độ
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Nguồn cá thí nghiệm
- Cá tra giống sẽ được thu mua từ trại sản xuất giống cá tại Cần Thơ.
- Trọng lượng ban đầu khoảng 10-20g.
- Cá được chọn đồng cỡ, không nhiễm bệnh, khỏe mạnh, loại bỏ những con lờ
đờ do bị xây xát.
3.2.2 Bố trí thí nghiệm
Cá thí nghiệm đem về sẽ được dưỡng trong 2 tuần sau đó đem đi bố trí. Thí
nghiệm sẽ được bố trí trên 12 bể (1m3/bể), mỗi bể sẽ bố trí 50 con.
Các nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, với 3 lần lặp lại trên mỗi
nghiệm thức.
Bột cá và bột đậu
được sử dụng là nguồn cung
đạm trong tất cả các nghiệm
(Bảng 3.2) SBC sẽ được sử
với mức 0 – 15% trong công
thức ăn.

nành
cấp
thức
dụng
thức

Hình 3.2 Hệ thống bể nuôi thí nghiệm



Bảng 3.2 :Tỷ lệ thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm
Thành
phần(%)

0% SBC

5% SBC

10% SBC

15% SBC

Bột cá

20,00

20,00

20,00

20,00

Đậu nành

29,38

29,38

29,38


29,38

Cám ly trích

24,77

24,05

23,34

22,62

Bột mì

19,45

16,3

13,15

10,00

SBC

0,00

5,00

10,00


15,00

Vitamin

1

1

1

1

Khoáng

1

1

1

1

Dầu cá

3,40

2,27

1,13


0,00

Chất kết dính

1

1

1

1

Tổng cộng

100

100

100

100

3.2.3. Chăm sóc và quản lý
Cá được cho ăn 2lần/ngày( lúc 10h và 16h). Cho ăn đủ no, lượng thức ăn sẽ
điều chỉnh cho thích hợp theo mỗi ngày và được ghi nhận lại. Sự thử nghiệm thức ăn
được kiểm soát trong 8 tuần.
Dàn bể bố trí thiết kế hệ thống nước chảy tràn. Nước dơ sẽ được xiphong, hút
cặn hoặc thay nước.
Sẽ được theo dõi hàng ngày.
Kiểm tra các các yếu tố môi trường như: nhiệt độ 1 lần /ngày ( 8h sáng và

chiều 15h), Oxy, pH đo 1 lần /tuần).
3.3 Thu mẫu và phân tích mẫu
3.3.1 Thu và phân tích mẫu cá
Cá trước và sau khi thí nghiệm (8 tuần) được cân trọng lượng.
Thu mẫu cá sinh hóa trước thí nghiệm.


Sau thí nghiệm :
+ Cá phile phân tích axít béo và kim loại nặng(As, Cd, Pb).
+ Xương rửa trong nước cất phân tích kim loại nặng (As, Cd, Pb).
+ Cá còn lại được trữ lạnh để phân tích hàm lượng ẩm độ, protein thô, lipid,
tro của toàn bộ cơ thể.
3.3.2 Mẫu thức ăn
Phân tích các chỉ tiêu ẩm độ, đạm, lipid, tro, xơ, acid béo và kim loại nặng của
thức ăn thí nghiệm.
3.3.3 Phương pháp phân tích
Ẩm độ xác định bằng cách sấy mẫu trong tủ sấy ở nhiệt độ 105oC khoảng 4-5h.
Đạm phân tích bằng phương pháp Kjeldahl.
Lipid phương pháp phân tích Soxhlet.
Xơ bằng phương pháp thủy phân trong dung dịch acid và bazo.
Tro xác định bằng cách đốt cháy mẫu sau khi xác định ẩm độ và nung trong tủ
nung ở nhiệt độ 560oC khoảng 4h (cho đến khi mẫu có màu trắng hoặc xám).
Năng lượng đo bằng máy đo năng lượng Calorimeter.
Acid béo và kim loại nặng được gởi đi phân tích tại phòng thí nghiệm chuyên
sâu trường Đại học cần thơ .
3.4 Tính toán và sử lý số liệu
3.4.1 Tính toán số liệu
Tỉ lệ sống của cá (Survival rate,SR%)
Số cá thu hoạch
SR%=


x 100
Số cá thả


Tăng trưởng theo ngày (DWD,daily weight gain)
DWG (g/ngày) =

Wf

T

Wi

Trong đó:
Wf:Trọng lượng cá khi kết thúc thí nghiệm
Wi:Trọng lượng cá ban đầu
T:Thời gian thí nghiệm
Hệ số chuyển hoá thức ăn (Feed convertion, FCR)
Lượng thức ăn cung cấp cho cá thí nghiệm (g)
FCR =
Tăng trọng của cá thí nghiệm (g)

Hiệu quả sử dụng Protein (Protein eficiency ratio:PER)

PER =

Wt

-


Wo

Lượng protein ăn vào

Wt:Trọng lượng cá khi kết thúc thí nghiệm
Wo:Trọng lượng cá ban đầu
3.4.2 Xử lý số liệu
Tất cả số liệu được xử lý theo chương trình Excel và SPSS. So sánh trung bình
giữa các nghiệm thức dựa vào ANOVA và phép thử DUCAN với mức ý nghĩa
p<0,05.


CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ - THẢO LUẬN
4.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học trong thức ăn
4.1.1 Thành phần hóa học của nguyên liệu SBC được phối trộn trong thức ăn
Chất lượng thủy sản là vấn đề then chốt trong thức ăn thủy sản. Do đó việc tìm
hiểu thành phần, tính chất của các nguyên liệu sử dụng trong phối chế là quá trình rất
cần thiết.
Bảng 4.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học của Spent bleaching clay (SBC ) làm
thức ăn
Thành phần

Tỷ lệ (%)

Độ khô(%)

94,5


Đạm(%)

0,50

Chất béo(%)

21,5

Tro(%)

68,03

SBC thay thế cho dầu cá được xem là nguồn nguyên liệu cung cấp năng
lượng. Từ bảng kết quả cho thấy SBC có độ khô cá cao (94,5%). Hàm lượng chất béo
của SBC cũng khá lớn (21,5%) trong khi đó hàm lượng đạm chỉ có 0,50% rất thấp.
SBC là sản phẩm của quá trình tinh lọc dầu thực vật. Do trong suốt quá trình tinh lọc,
chất lọc được dùng để loại bỏ các tạp chất và chất nhuộm. Quá trình lọc được tiến
hành ở nhiệt độ cao gồm dầu và cột lộc, các phân tử nhuộm và tập chất bám vào bề
mặt cột lọc dùng trong tinh lọc dầu phần lớn là Bentonoic, nó là Aluminat-silicat
thuộc nhóm montmorillonit. Tùy thuộc vào hoạt động và kích cỡ SBC được sinh ra từ
20-75% trọng lượng chất tinh lọc (Ng & Chik, 2006). Theo Ng et al (2006) thì SBC
được li trich từ dầu cọ có chứa khoảng 48% acid bão hòa. Điều đó cũng giải thích một
phần nào tại sao kết quả phân hàm lượng chất béo lại cao (21,5%).
Từ kết quả phân tích thành phần nguyên liệu SBC làm thức ăn cho cá tra ta
thấy hàm lượng tro của SBC rất cao (68,03%). Theo nghiên cứu của Ng & Chik
(2006) ở một vài thí nghiệm trên cá rô phi cho rằng giới hạn của việc sử dụng SBC
trong 1 nghiệm thức ăn bao gồm hàm lượng tro cao và làm tăng vật chất lơ lửng
trong hệ thống ao nuôi thông qua phân.



4.1.2 Kết quả phân tích mẫu thức ăn thí nghiệm
Bảng 4.2 Kết quả phân tích thức ăn thí nghiệm
Nghiệm thức
Thành phần
SBC ĐC
Đạm (%)

SBC 5%

SBC 10%

SBC 15%

33,4

33,6

33,7

33,8

5,6

5,1

5,2

5,7

Tro (%)


10,5

13,6

16,4

19,7

Xơ (%)

4,22

3,55

3,92

3,75

Năng lượng (Kcal/g)

4,38

4,24

4,1

3,96

Chất béo (%)


Chất đạm là nhu cầu quan trọng của tất cả các sinh vật để duy trì và phát triển
đối với cá. Hàm lượng đạm thích hợp trong thức ăn đóng vai trò quan trọng tuy nhiên
hàm lượng này thấp hay cao cũng sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng phát
triển cho cá như sinh trưởng chậm, không bình thường hay dễ bị tấn công bởi mầm
bệnh (Tacon,1995 trích bởi Nguyễn Thanh Phương,1997). Từ kết quả phân tích hàm
lượng đạm ở 4 nghiệm thức gần tương đương nhau dao động từ (33,4-33,8%) trong
đó cao nhất là SBC 15% (33,8%), kế đến là SBC 10% (33,7%), SBC 5% (33,5%) và
thấp nhất là SBC ĐC (33,4%). Theo Hiền (2004) nhu cầu Protein cá dao động từ (2555%), trung bình 30%. Theo tiêu chuẩn ngành 28 TCN 188 : 2004 thức ăn dành cho
cá tra và basa có khối lượng từ 20-200g/con phải có hàm lượng đạm thô không nhỏ
hơn 26%. Trong khí cá ban đầu thí nghiệm có trung bình 18,1g/con. Như vậy, ta thấy
thức ăn thí nghiệm không những đáp ứng được nhu cầu thí nghiệm mà còn đảm bảo
được cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cá.
Từ kết quả nghiên cứu hàm lượng chất béo cao nhất ở nghiệm thức SBC 15%
cao nhất (5,7%) kế đến là SBC ĐC 5,6 %, SBC 10% (5,2%) thấp nhất là SBC 5%
(5,1%). Theo Hiền và ctv (2004) cho rằng hàm lượng chất béo ở cá tra ở mức đề nghị
là 4-8%, ngoài ra cỡ cá 20-200g thì không nhỏ hơn 5%. Vì vậy kết quả hàm lượng
chất béo trong thức ăn thí nghiệm là phù hợp.
Trong phối chế thức ăn hàm lượng tro thường chiếm với tỷ lệ thấp nhưng cũng
có không thể thiếu trong thức ăn động vật thủy sản. Hàm lượng tro dao động tương
đối cao từ (10.5 – 19.7%) trong đó cao nhất ở nghiệm thức (SBC 15%) ( 19,7%), kế
đến SBC 10% (16,4%), SBC 5% (13,6) thấp nhất là SBC ĐC 10,5%. Cũng giống như
kết quả nghiên cứu của Ng & Chik (2006) hàm lượng tro cao nhất cũng ở nghiệm


×