TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHAN THỊ NGỌC TÚ
KHẢO SÁT TIÊU HAO OXY
CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon) KHI TIÊU HĨA
THỨC ĂN Ở CÁC HÀM LƯỢNG OXY HỊA TAN
KHÁC NHAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHAN THỊ NGỌC TÚ
KHẢO SÁT TIÊU HAO OXY
CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon) KHI TIÊU HĨA
THỨC ĂN Ở CÁC HÀM LƯỢNG OXY HỊA TAN
KHÁC NHAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ths. TRẦN MINH PHÚ
2012
Tôi tên: Phan Thị Ngọc Tú
MSSV: LT10144
Lớp: Nuôi Trồng Thủy Sản Liên Thông – K36 (TS1013L1)
Luận văn đã được chỉnh sữa đầy đủ theo yêu cầu của hội đồng.
Xác nhận của cán bộ hướng dẫn:
Ths Trần Minh Phú
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Thủy
Sản, cùng toàn thể cán bộ và thầy cô của khoa đã giảng dạy, hướng dẫn trong suốt
quá trình học tập chuyên nghành ở khoa. Đặc biệt xin gửi lời cám ơn chân thành
đến cô Đỗ Thị Thanh Hương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tơi trong suốt q
trình thực hiện đề tài này.
Xin gửi lời cám ơn đến thầy Trần Minh Phú, chị Nguyễn Thị Kim Hà, cán
bộ hướng dẫn trong bộ môn dinh dưỡng và chế biến Thủy Sản, anh Dương Linh
Nôi, cùng các bạn lớp nuôi trồng thủy sản Liên Thông K36 đã tận tình hỗ trợ,
hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt những kinh nghiệm quý báo trong suốt quá
trình thực hiện đề tài cũng như hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cám ơn!
i
TĨM TẮT
Trong ao ni tơm sú (Penaeus monodon), hàm lượng oxy hòa tan thường dao
động lớn và tác động đến sức khỏe tôm nuôi. Đề tài được thực hiện nhằm tìm
hiểu sự tiêu hao oxy của tơm sú khi tiêu hóa thức ăn ở các hàm lượng oxy hịa tan
khác nhau. Thí nghiệm được bố trí hồn tồn ngẫu nhiên, có ba nghiệm thức
(100%, 60%, 30% bão hịa), với 9 lần lặp lại trên 3 kích cỡ tơm khác nhau (5-7 g,
12-15 g, 20-25 g). Hàm lượng oxy trong nghiệm thức được kiểm tra bằng máy đo
oxy YSI và được điều chỉnh bằng bình khí nitơ đối với nghiệm thức oxy hịa tan
thấp (60%, 30% bão hịa). Kết quả thí nghiệm cho thấy tiêu hao oxy cơ sở và tiêu
hao oxy tiêu hóa của tơm sú ở kích cỡ nhỏ (5-7 g) cao hơn so với kích cỡ lớn (1215 g và 20-25 g) ở cả 3 mức oxy hòa tan (100%, 60%, 30% bão hịa). Tơm sú
kích cỡ 5-7 g tiêu hao oxy cơ sở của tôm ở 3 mức oxy (100%, 60%, 30% bão hòa)
lần lượt là 0,39; 0,36; 0,32 mgO2/Kg/giờ khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
so với kích cỡ 12-15 g là 0,29; 0,26; 0,25 mgO2/Kg/giờ và 20-25 g là 0,27; 0,24;
0,22 mgO2/Kg/giờ. Hàm lượng oxy càng giảm thì sự tiêu hao oxy cũng giảm theo
đồng thời tiêu hao oxy của tơm khi tiêu hóa thức ăn sẽ cao hơn so với tiêu hao
oxy cơ sở.
ii
MỤC LỤC
Chương 1: Đặt vấn đề .......................................................................................1
1.1 Giới thiệu....................................................................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................2
1.3 Nội dung nghiên cứu..................................................................................2
1.4 Thời gian thực hiện đề tài..........................................................................2
Chương 2: Tổng quan tài liệu..........................................................................3
2.1 Đặc điểm sinh học của tôm sú...................................................................3
2.1.1 Hệ thống phân loại và hình thái ..........................................................3
2.1.2 Đặc điểm phân bố ................................................................................3
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng ..........................................................................4
2.1.4 Đặc điểm sinh sản................................................................................4
2.1.5 Yêu cầu mơi trường sống ....................................................................4
2.2 Tình hình ni tơm sú trên thế giới và Việt Nam ....................................5
2.2.1 Tình hình ni trên thế giới.................................................................5
2.2.2 Tình hình ni tơm tại Việt Nam........................................................6
2.3 Sơ lược về tiêu hao oxy .............................................................................8
2.3.1 Tiêu hao oxy của giáp xác...................................................................8
2.3.2 Tiêu hao oxy của tôm ..........................................................................9
2.3.3 Một số nghiên cứu về tiêu hao oxy...................................................10
Chương 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu .......................................12
3.1 Vật liệu nghiên cứu..................................................................................12
3.1.1 Nguồn tơm thí nghiệm.......................................................................12
3.1.2 Nguồn nước dùng cho thí nghiệm ....................................................12
3.1.3 Các vật liệu chính dùng cho thí nghiệm ...........................................12
3.2 Phương pháp nghiên cứu .........................................................................13
iii
3.2.1 Thí nghiệm 1: Xác định tiêu hao oxy cơ sở của tôm sú (Penaeus
monodon) ở hàm lượng oxy bão hịa khác nhau..............................................13
3.2.2 Thí nghiệm 2: Xác định tiêu hao oxy của tơm sú (Penaeus
monodon) khi tiêu hóa thức ăn ở hàm lượng oxy bão hịa khác nhau............15
3.2.3 Phân tích oxy hòa tan (DO) theo phương pháp Winler...................16
3.2.4 Phương pháp xác định tiêu hao oxy..................................................16
3.3 Phương pháp xử lý số liệu .......................................................................17
Chương 4: Kết quả và thảo luận...................................................................18
4.1 Các yếu tố môi trường ................................................................................18
4.2 Tiêu hao oxy của tôm sú kích cỡ 5-7g/con ở 3 hàm lượng oxy hịa tan
khác nhau (100%, 60%, 30%) ..........................................................................19
4.3 Tiêu hao oxy của tôm sú kích cỡ 12-15 g/con ở 3 hàm lượng oxy hòa tan
khác nhau (100%, 60%, 30%) ..........................................................................20
4.4 Tiêu hao oxy của tơm sú kích cỡ 20-25 g/con ở 3 hàm lượng oxy hòa tan
khác nhau (100%, 60%, 30%) ..........................................................................21
4.5 Tiêu hao oxy cơ sỡ của 3 kích cỡ tơm (5-7 g, 12-15 g, 20-25 g) với các
hàm lượng oxy khác nhau.................................................................................23
Chương 5: Kết luận và đề xuất .....................................................................26
5.1 Kết luận........................................................................................................26
5.2 Đề xuất.........................................................................................................26
Tài liệu tham khảo.............................................................................................27
Phụ lục................................................................................................................30
iv
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Các phản ứng của tôm với hàm lượng oxy hòa tan khác nhau.........9
Bảng 4.1 Nhiệt độ và oxy trong bể dưỡng tơm thí nghiệm ............................18
Bảng 4.2 Nhiệt độ và oxy trong q trình thí nghiệm.....................................18
Bảng 4.3 Tiêu hao oxy của tơm sú kích cỡ 5-7g .............................................19
Bảng 4.4 Tiêu hao oxy của tơm sú kích cỡ 12-15g/con..................................20
Bảng 4.5 Tiêu hao oxy của tơm sú kích cỡ 20-25g/con..................................22
Bảng 4.6 Tiêu hao oxy của tơm sú với 3 kích cỡ (5-7g, 12-15g, 20-25g).....23
v
DANH SÁCH HÌNH
Hình 3.1 Hệ thống máy oxy Guard. .................................................................13
Hình 3.2 Bể dưỡng tơm thí nghiệm..................................................................13
Hình 3.3 Bố trí thí nghiệm ................................................................................14
Hình 3.4 Thu mẫu, cân và đo thể tích tơm thí nghiệm....................................15
Hình 4.1 Tiêu hao oxy cơ sở của tơm ở 3 kích cỡ...........................................24
Hình 4.2 Tiêu hao oxy khi tiêu hóa của tơm ở 3 kích cỡ................................25
vi
Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Trong những năm qua nghề nuôi tôm biển, đặc biệt là tôm sú (Penaeus monodon)
ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Trong năm 2010, tổng diện
tích ni tơm nước lợ của cả nước đạt trên 639 ngàn ha (tăng gần 3.000 ha so với
năm 2009). Tổng sản lượng tôm nước lợ cũng tăng mạnh, đạt gần 470 ngàn tấn
trong đó sản lượng tôm sú đạt hơn 333 ngàn tấn. Nuôi tôm biển, vì thế được đánh
giá là nghề có nhiều tiềm năng và là mũi nhọn trong chiến lược phát triển của
ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam trong tương lai (Quốc Huy, 2012). Đồng
Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), là vùng nuôi tôm nước lợ trọng điểm trong cả
nước. Theo ngành thủy sản các tỉnh ĐBSCL, năm 2011 tổng sản lượng thủy sản
ước đạt 2,192 triệu tấn, tăng 252 ngàn tấn so với năm 2010, trong đó có trên 300
ngàn tấn tôm sú, tôm thẻ chân trắng và 1,2 triệu tấn cá tra.
Đối với tơm sú (Penaeus monodon) có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm
nuôi, đặc biệt là sự tác động của các yếu tố môi trường đến sinh lý cơ thể. Trong
đó, hàm lượng oxy trong nước là yếu tố mơi trường có ảnh hưởng trực tiếp lên
q trình điều hịa áp suất thẩm thấu và hơ hấp cũng như quá trình tiêu hao oxy
của thủy sinh vật nói chung và giáp xác nói riêng (Nguyễn Thị Nhất Phương và
ctv, 2010). Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá cường độ trao đổi chất của
cá. Sự thay đổi hàm lượng oxy hòa tan trong nước sẽ ảnh hưởng đến tình trạng
sinh lý trong cơ thể các lồi giáp xác. Hàm lượng oxy hịa tan trong nước thấp,
ảnh hưởng đến tỉ lệ sống, tần số hô hấp, hệ thống tuần hồn và ảnh hưởng đến
q trình trao đổi chất (Đỗ Thị Thanh Hương, 2000).
Ngày nay, với sự thâm canh hóa mật độ ngày càng cao dẫn đến sự tiêu hao oxy
nhiều làm cho hàm lượng oxy hịa tan trong ao thấp. Để khắc phục tình trạng
thiếu oxy trong ao thì nhiều người ni tơm đã sử dụng biện pháp sục khí cơ học.
Hiệu quả của việc sục khí phụ thuộc nhiều vào độ mặn của ao ni, mật độ tơm
và vị trí ao với hướng gió (Đoàn Xuân Diệp và ctv, 2010). Tuy nhiên, đa phần các
hệ thống ni được sử dụng sục khí mà khơng ước lượng sự tiêu hao oxy tối đa
và tối thiểu của đối tượng ni, vì thế có ao ni tơm lại được duy trì hàm lượng
oxy quá mức yêu cầu dẫn đến gia tăng giá của sản phẩm làm tăng chi phí ni, có
ao lại duy trì hàm lượng oxy thấp làm ảnh hưởng đến tăng trưởng, tỉ lệ sống và
năng suất nuôi.
1
Mặc dù có nhiều tác giả nghiên cứu về sự tiêu hao oxy lên các lồi giáp xác,
nhưng những thơng tin về sự tiêu hao oxy khi cho tôm sú ăn với các kích cỡ khác
nhau và ở các mức hàm lượng oxy khác nhau ở Việt Nam còn rất hạn chế. Xuất
phát từ nhu cầu thực tiễn trên đề tài nghiên cứu “Khảo sát tiêu hao oxy của tôm
sú (Penaeus monodon) khi tiêu hóa thức ăn ở các hàm lượng oxy hòa tan
khác nhau” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của hàm lượng oxy khác nhau lên sự tiêu hao oxy
khi tiêu hóa thức ăn ở các kích cỡ khác nhau của tơm sú (Penaeus monodon), làm
cơ sở cho việc điều chỉnh hàm lượng oxy trong nước thích hợp với các giai đoạn
phát triển của tôm nuôi, nhằm năng cao hiệu quả trong nghề ni tơm sú và góp
phần cung cấp cơ sỡ dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo.
1.3 Nội dung nghiên cứu
Xác định tiêu hao oxy cơ sở của tơm ở hàm lượng oxy bão hịa khác nhau:
30%, 60% và 100%.
Xác định tiêu hao oxy của tôm khi tiêu hóa thức ăn ở hàm lượng oxy bão hịa
khác nhau: 30%, 60% và 100%.
1.4 Thời gian thực hiện đề tài
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 5 năm 2012, thí
nghiệm được thực hiện tại trại thực nghiệm và phịng thí nghiệm thuộc bộ mơn
Dinh Dưỡng Và Chế Biến Thủy Sản thuộc Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần
Thơ.
2
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của tơm sú
2.1.1 Hệ thống phân loại và hình thái
Phân loại
Theo Nguyễn Khắc Hường (2000), vị trí phân loại của tôm sú trong tự nhiên như
sau:
Ngành Arthropoda.
Lớp Crustacea.
Bộ Decapoda.
Họ Panaeidea.
Giống Penaeus.
Lồi Penaeus monodon Fabricius (1798).
Tên tiếng Việt: tơm sú.
Tên tiếng Anh: Giant tiger prawn.
Hình thái
Theo Nguyễn văn Thường (2004), tơm sú ở Việt Nam có những đặc điểm sau:
7-8
Cơng thức răng chủy: CR= -------2-3
Chủy nằm ngang, phần cuối thô dày và hơi cong lên. Carapace có gai râu và gai
gan nhưng khơng có gai hốc mắt. Sợi râu trên và dưới của râu I dài gần bằng
nhau và gần bằng cuốn râu. Chân ngực V khơng có nhánh ngồi. Võ dày, thân
màu nâu lục, các vân ngang màu xám, chân bơi và chi đuôi màu đỏ.
2.1.2 Đặc điểm phân bố
Trên thế giới, tôm sú phân bố khắp các thủy vực vùng nhiệt đới và á nhiệt đới,
tập trung ở vùng Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương, Đơng và Đơng Nam Châu Phi,
Pakistan, Nhật Bản, Bắc Úc, … Đặc biệt phân bố tập trung nhiều ở vùng Đông
Nam Á: Philippin, Indnexia, Malayxia, …
Ở Việt Nam, tôm sú phân bố ở vịnh Bắc Bộ, ven biển miền Trung và Nam Bộ,
vùng Tây Nam Bộ: Hịn Chơng, Hà Tiên, … (Thư mục tổng hợp, 2011).
3
Mỗi giai đoạn tôm phân bố ở những vùng khác nhau, tùy theo từng lồi với
những tập tính sống khác nhau. Giai đoạn hậu ấu trùng, phân bố chủ yếu ở vùng
cửa sông và vùng rừng ngập mặn nơi độ mặn có thể thay đổi lớn. Giai đoạn ấu
niên thường rộng muối và cũng cư trú ở vùng cửa sông. Khi gần đến giai đoạn
thành thục, tôm sẽ rời cửa sông di cư ra vùng biển khơi sinh sản (Nguyễn Thanh
Phương và ctv, 2010).
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm sú được xem như loài ăn tạp thiên về động vật, bao gồm: giáp xác, giun
nhiều tơ, nhuyễn thể, côn trùng, tảo và mảnh thực vật , …
Tôm sú ăn nhiều vào ban đêm và lúc thủy triều cao, tơm thích ăn đáy và ăn ven
bờ. Các yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng rất lớn đối với khả năng bắt mồi của
tôm. Nhiệt độ quá cao hay quá thấp, oxy quá thấp làm tôm giảm ăn. Các yếu tố
khác thay đổi bất ngờ thường gây sốc cho tôm, làm tôm giảm ăn (Nguyễn Thanh
Phương và Trần Ngọc Hải, 2004).
2.1.4 Đặc điểm sinh sản
Tôm đẻ trứng vào ban đêm, thường 22 giờ 30 phút đến 0 giờ 30 phút. Trong tự
nhiên, tôm thường đẻ một lần trong mỗi chu kỳ lột xác, trong điều kiện ni tơm
có thể đẻ nhiều lần (có thể đế 6 lần) (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải,
2004).
Theo Motoh (1981) cho rằng, tôm đạt thành thục là lúc ở kích cở nhỏ nhất mà có
thể thấy túi tinh ở đầu cơ quan giao vĩ của con đực và trong túi chứa tinh con cái.
Tơm sú là lồi có kích cỡ lớn chúng có thể thành thục ở kích cỡ 35 g đối với con
đực và 67,7 g đối với con cái. Trong ao, tơm có thể đạt thành thục ở trọng lượng
20 g và con cái 41,3 g.
Tùy theo lồi, kích cỡ và tình trạng tơm mà sức sinh sản khác nhau. Đối với
những lồi có kích cỡ lớn thuộc họ Penaeus sức sinh sản là 100.000-1.000.000
trứng, trong điều kiện nuôi thường từ 50.000-300.000 trứng (Nguyễn Thanh
Phương và ctv 2010).
2.1.5 Yêu cầu môi trường sống
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2004), để điều hành trại nuôi tôm có hiệu
quả địi hỏi sự hiểu biết về mối quan hệ giữa tơm và mơi trường sống của nó. Các
yếu tố mơi trường nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố, sinh sống, bắt mồi,
4
tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm. Theo Boyd (1992) các yếu tố lý, hóa, sinh của
nước và đất bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có một số yếu tố quan trọng như sau:
Oxy hòa tan: là một trong những yếu tố môi trường nước quan trọng chi phối
q trình hơ hấp, điều hịa trao đổi chất và các quá trình sinh lý khác của sinh vật
sống trong nước (Đoàn Xuân Diệp và ctv, 2010). Hàm lượng oxy hịa tan thấp từ
0,0-1,5 có thể gây chết tơm tùy thời gian bị tác động và các điều kiện khác. Hàm
lượng oxy hòa tan tốt nhất cho tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nên trong
khoảng giữa 3,5 mg/L đến bão hòa. Oxy hòa tan quá bão hòa cũng gây nguy hiểm
cho tôm.
pH nước: pH<4 hoặc pH>10 có thể gây chết tơm; khoảng thích hợp cho tơm là
pH 7-9.
Độ mặn: khả năng chịu đựng và thích nghi độ mặn khác nhau tùy lồi, tơm có
khả năng chịu đựng độ mặn thấp 5-10‰ hay thấp hơn; độ mặn cao từ 45-60‰ có
thể gây chết tơm; khoảng thích hợp cho tơm là 25-30‰.
Nhiệt độ: khoảng thích hợp cho tơm tăng trưởng từ 25-30‰; một vài lồi có
khả năng tăng trưởng ở nhiệt độ dưới 20 oC, nhiệt độ trên 35 oC có thể gây chết
tơm.
CO2: hàm lượng CO2< 20 mg/L thông thường chưa ảnh hưởng đến tơm nếu
oxy đầy đủ.
H2S: khí này rất độc đối với tôm ở bất kỳ nồng độ nào. Tuy nhiên, nồng độ gây
chết tôm chưa được xác định.
Ammonia: ammonia ở dạng khí NH3 rất độc, hàm lượng trên 1 mg/L có thể
gây chết tơm, hàm lượng trên 0,1 mg/L cũng gây ảnh hưởng bất lợi. Nếu Hàm
lượng ammonia tổng số khoảng 0,4 mg/L gây bất hại cho tôm.
Nitrite: thông thường nồng độ nitrite trong ao nuôi không cao đến mức gây
chết tôm, tuy nhiên nồng độ nitrite 4-5 mg/L có thể ảnh hưởng bất lợi cho tơm.
2.2 Tình hình ni tơm sú trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình ni tơm trên thế giới
Nghề ni tơm được bắt đầu từ các nước Đơng Nam Á với hình thức nuôi quảng
canh. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm chỉ thật sự bắt đầu phát triển mạnh từ những thập
niên 1970. Năm 1975, Ecuador trở thành nước dẫn đầu thế giới về sản lượng tôm
nuôi ở Tây Bán Cầu và Đài Loan, Trung Quốc dẫn đầu ở Đông Bán Cầu. Sản
5
lượng tôm nuôi trên thế giới tăng từ 500.000 tấn vào năm 1975 lên 200.000 tấn
vào năm 1985, trong đó khoảng 70% sản lượng tôm nuôi đến từ các quốc gia
Châu Á. Năm 1988, sản lựơng tôm nuôi trên Thế Giới đạt 450 ngàn tấn. Tuy
nhiên nghề nuôi tôm trong những năm này đã bắt gặp trở ngại lớn về bệnh tật.
Đài Loan bị thiệt hại nặng nhất với sản lượng giảm từ 100 ngàn tấn/năm còn 200
ngàn tấn/năm. Năm 1992, Thái Lan trở thành nước có sản lượng tơm đứng đầu
thế giới và tiếp tục duy trì đến giữa thập niên 90 (Nguyễn Thanh Phương và Trần
Ngọc Hải, 2004).
Từ năm 1995, nghề nuôi tôm trên thế giới tăng trưởng chậm lại do dịch bệnh
virus xảy ra trên toàn cầu. Dù vậy, sản lượng tôm vẫn tăng do nhiều công nghệ
mới đã được áp dụng. Theo thống kê của FAO (1998), sản lượng tơm ni tồn
cầu 1996 đạt 900 ngàn tấn. Châu Á là nơi nuôi tôm chủ yếu chiếm 84% sản
lượng tôm nuôi mỗi năm (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004).
Trong số các lồi tơm ni nước lợ, tơm sú là lồi quan trọng nhất và được nuôi
rộng rãi nhất cho đến ngày nay. Theo số liệu của FAO sản lượng tôm nuôi cả
năm 2003 ước đạt 1,35 triệu tấn tăng 11% so với sản lượng ước tính 2002 và 15%
so với sản lượng thực tế năm 2001. Riêng Trung Quốc sản lượng ước đạt 390
ngàn tấn, tăng 15% so với sản lượng năm 2002 và 28% so với năm 2001 là
30.400 tấn. Những quốc gia có diện tích ni tơm nhỏ (<250 ha) thường đạt năng
suất bình quân cao (>2.000 kg/ha) như Venezuela, Mỹ, Úc, Đài Loan, Malayxia;
với những quốc gia có khoa học kỹ thuật cao như Nhật Bản thì năng suất bình
quân lớn hơn 3.000 kg/ha/vụ (Thư mục tổng hợp, 2010).
Bên cạnh sự gia tăng nhanh chống về sản lượng tơm ni nói chung, nghề ni
tơm đang phát triển đa dạng từ hình thức nuôi quảng canh đến bán thâm canh và
siêu thâm canh. Cùng với q trình thâm canh hóa nghề ni tơm có nhiều tác
động tiêu cực đã xuất hiện ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm và năng suất
nuôi. Trong đó, các yếu tố như thức ăn, mơi trường, nhiệt độ, … tác động lên quá
trình sinh lý bên trong cơ thể góp phần làm giảm năng suất ni.
2.2.2 Tình hình ni tơm tại Việt Nam
Việt Nam có tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản nước lợ, với bờ biển dài hơn
3.262 km. Nghề nuôi tôm ở Việt Nam thực sự phát triển từ sau năm 1987 và nuôi
tôm thương phẩm phát triển mạnh mẽ vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
trước. Nghề nuôi tôm nước lợ đã đem lại lợi nhuận rất cao, nhưng cũng đối mặt
với nhiều rủi ro từ dịch bệnh. Đến những năm 1994-1995, phát triển nuôi tôm ở
6
Việt Nam có phần chựng lại do gặp phải nạn dịch bệnh tôm. Dịch bệnh gây thiệt
hại lớn ở các mơ hình ni tơm quảng canh và thâm canh, ngun nhân là do diện
tích ni và mức độ thâm canh tăng nhanh nhưng người nuôi thiếu kỹ thuật, kinh
nghiệm nuôi và vốn, trong khi đó hệ thống cơ sỡ hạ tầng trong ni tơm nước lợ
cịn rất hạn chế (Bộ Thủy Sản, 2006).
Sự phát triển nhanh của nghề nuôi tôm thương phẩm được đánh dấu vào năm
2000, khi Chính Phủ ban hành nghị quyết 09, cho phép chuyển đổi một phần diện
tích trồng lúa, làm muối năng suất thấp, đất hoang hóa sang ni trồng thủy sản.
Diện tích tơm ni đã tăng từ 250 ngàn ha năm 2000 lên 478 ngàn ha năm 2001
và 540 ngàn ha năm 2003. Cho đến nay, diện tích ni tơm ở Việt Nam vẫn tiếp
tục tăng tuy nhiên tốc độ đã có phần chững lại. Theo số liệu hiện có, Việt Nam là
nước có diện tích ni tơm vào loại lớn trên thế giới, vượt xa Indonexia nước có
diện tích ni tơm lớn nhất vào năm 1996 khoảng 360 ngàn ha. Phần lớn diện
tích nuôi tôm ở Việt Nam tập trung ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, rải rác dọc các
cửa sông, kênh, rạch ven biển miền Trung và ở Đồng Bằng Sông Hồng, sơng
Thái Bình ở miền Bắc. Song song với việc mở rộng diện tích, sản lượng tơm ni
cũng tăng mạnh từ những năm 90 và đặc biệt là từ sau năm 2000, Việt Nam trở
thành một trong 5 nước có sản lượng tơm ni cao nhất trên thế giới. Các lồi
tơm ni chính ở Việt Nam gồm tơm sú (Penaeus monodon), tơm he (Penaeus
merguiensis), tơm nương (Penaeus orientalis), trong đó tơm sú là lồi ni chủ
đạo, đóng góp sản lượng cao nhất (Báo cáo Bộ Thủy Sản từ 1990-2003).
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nuôi tôm nước lợ trọng điểm trong
nước. Năm 2005, diện tích ni nước lợ của ĐBSCL đạt 535.145 ha chiếm
88,5% với sản lượng nuôi đạt 263.560 tấn chiếm 81,2% so với cả nước. Các mơ
hình nuôi tôm nước lợ ở ĐBSCL bao gồm: quảng canh, quảng canh cải tiến, bán
thâm canh, thâm canh, nuôi kết hợp tôm rừng và luân canh tôm-lúa. Các tỉnh nuôi
tôm nước lợ ở ĐBSCL là Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang (Bộ Thủy Sản, 2006). Đến cuối năm 2008, diện
tích nuôi tôm nước lợ của 7 tỉnh ven biển Nam Bộ là Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà
Mau, Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền Giang và Long An lên tới gần 540 nghìn ha,
chiếm hơn 89% tổng diện tích ni tơm của cả nước, trong đó chủ yếu là ni
tơm sú. Diện tích ni tơm sú lớn nhất là Cà Mau 257 nghìn ha; Bạc Liêu 121,8
nghìn ha; Sóc Trăng 47,6 nghìn ha và Kiên Giang 77,2 nghìn ha. Trong đó, diện
tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh chỉ đạt 47, 6 nghìn ha; cịn lại là ni
quảng canh, tập trung nhiều nhất ở hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. Sản lượng sau
7
thu hoạch, chỉ tính riêng ở các tỉnh ĐBSCL là 160,5 nghìn tấn, chiếm hơn 76%
tổng sản lượng tơm của cả nước; nhiều nhất là Cà Mau 68,5 nghìn tấn, Bạc Liêu
36,2 nghìn tấn, Kiên Giang 13,6 nghìn tấn (Trí Quang, 2011).
Nhu cầu thị trường đối với tôm sú vẫn không ngừng tăng trong thời gian qua, làm
cho con tôm có một giá cả hấp dẫn và ngành cơng nghiệp ni tơm có được đầu
ra ổn định. Ni tơm cơng nghiệp có thể đạt lợi nhuận từ 50-80% tổng doanh thu
(Lin, 1995). Lợi nhuận hấp dẫn và giá trị xuất khẩu cao của tôm nuôi đã tác động
đến sự thâm canh hóa ngày càng cao, nghề ni đang đối mặt với nhiều thách
thức lớn (Nguyễn Văn Hảo, 2003). Mật độ nuôi ngày càng được năng cao nhằm
tăng nhanh năng suất ni. Do đó, để đáp ứng được nhu cầu trên thì vấn đề oxy
trong ao là một yêu cầu kỹ thuật bắt buộc nhằm tăng cường sức chứa sinh học
của ao nuôi.
2.3 Sơ lược về tiêu hao oxy
Tiêu hao oxy: là lượng oxy cần thiết cung cấp cho cơ thể cá trong một thời
gian nào đó, đơn vị tính là mgO2/kg/h. Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
cường độ trao đổi chất của cá khi tiêu hóa thì oxy tăng nhưng trao đổi chất giảm
(Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh Hiền, 2000).
2.3.1 Tiêu hao oxy của giáp xác
Môi trường hô hấp của cá và giáp xác là môi trường nước, chúng phải lấy oxy và
thải ra CO2 trong môi trường nước. Oxy và CO2 hịa tan trong mơi trường nước
khơng ổn định so với mơi trường khơng khí (Nitơ 78%, Oxy 20%, CO2 0,3%)
(Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh Hiền, 2000). Sự thay đổi hàm lượng
oxy hòa tan trong nước sẽ làm thay đổi tình trạng sinh lý trong cơ thể của giáp
xác. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp đã làm thay đổi tỉ lệ sống, tần số hô
hấp, hệ thống tuần hồn và ảnh hưởng đến q trình trao đổi chất cũng như quá
trình tiêu hao oxy của một số lồi tơm nước lợ. Nhiều lồi giáp xác có thể thích
nghi với hàm lượng oxy hịa tan khác nhau trong môi trường theo ngày đêm hay
theo mùa. Hàm lựơng oxy hòa tan trong nước thấp làm cho hàm lượng CO2 cao.
Điều này làm ảnh hưởng đến hô hấp, các quá trình sinh lý, hoạt động và khả năng
kháng bệnh của giáp xác (Nguyễn Thị Huỳnh Trang, 2010).
Đối với giáp xác thì ở giai đoạn ấu trùng, hơ hấp qua bề mặt cơ thể nhưng đối với
giáp xác bậc cao thì cơ quan hơ hấp đã được chun mơn hóa thành mang (Đỗ
Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh Hiền, 2000). Taylor and Spicer (1987), cho
rằng, sự nhạy cảm của giáp xác 10 chân với hàm lượng oxy thấp là do chúng bị
8
gới hạn về khả năng trao đổi chất kỵ khí. Cheng (2003), làm thí nghiệm trên tơm
càng xanh (Marobrachium rosenbergii) thấy rằng khi tơm tiếp xúc với hàm
lượng oxy hịa tan thấp sẽ giảm áp xuất thẩm thấu và nồng độ các ion Na +, K+ và
Cl-, bên cạnh đó thì pH máu của tơm gia tăng. Sự giảm hàm lượng oxy hòa tan
trong nước còn làm gia tăng áp xuất của CO2 trong máu tôm. Từ những phản ứng
trên có thể giải thích vì sao tơm lờ đờ, bỏ ăn khi hàm lượng oxy hịa tan trong
mơi trường ni giảm (trích dẫn Đồn Xn Diệp và ctv, 2010).
2.3.2 Tiêu hao oxy của tôm
Oxy là yếu tố quan trọng nhất cần đặc biệt chú trọng trong ni tơm. Lượng
dưỡng khí thấp trong ao dễ gây cho tôm chết nhiều hơn cả. So với lượng oxygen
trong khơng khí là 200.000 ppm thì số oxygen hịa tan trong nước rất ít, nhưng ta
chỉ cần 5 ppm oxygen trong nước là đủ cho tơm hơ hấp một cách an tồn (Vũ Thế
Trụ, 2003).
Bảng 2.1 Các phản ứng của tôm với hàm lượng oxy hịa tan khác nhau
Oxy hồn tan (ppm)
0,3
1,0
2,0
3,0
4,0
5,0 – 6,0 – 7,0
Phản ứng của tôm
tôm bị chết
tôm bị ngạt thở
tôm không lớn được
tơm chậm lớn
tơm sinh sống bình thường
tơm khỏe mạnh và tăng trưởng nhanh
Hàm lượng oxy hòa tan trong ao có vai trị quan trọng khơng chỉ đối với đời sống
của tơm, mà cịn đến chất lượng mơi trường ao ni. Trong ao ni tơm, oxy có
được nhờ q trình quang hợp của thực vật nổi và các thiết bị sục khí. Hàm lượng
oxy >6,2 mg/L q bão hịa khơng có trở ngại cho tơm; từ 4,5-6,2 mg/L là tối ưu;
từ 3,5-4,5 mg/L là tốt nhưng tơm có thể khơng tiêu hóa tốt thức ăn và giảm ăn
nếu oxy <3,5 mg/L. Hàm lượng oxy hòa tan giảm thấp hơn 2 mg/L có thể làm
tơm thiếu oxy và chết. Song lượng oxy cần cho ao lại tùy thuộc vào năng suất
nuôi và lượng thức ăn sử dụng, chất hữa cơ trong đất, lượng chất thải, mật độ và
thành phần của thực vật nổi, khối lượng tôm trong ao và lượng nước trao đổi
(Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2010).
Theo Đỗ Thị Thanh Hương (2011), thì hàm lượng oxy trong ao ni tơm cũng
cần phải được cung cấp đầy đủ bởi khả năng mang oxy của hemocyanin ở tôm
9
thấp hơn so với hemoglobin ở cá (1 g hemoglobin bão hòa oxy sẽ chứa được 2,34
mL oxy, trong khi 1 g hemocyanin bão hòa chỉ chứa được 0,26 mL oxy. Sự thiếu
hụt oxy trong ao nuôi tôm thường do thả nuôi với mật độ dày, thay nước không
nhiều, vi sinh vật phát triển quá mức cho phép, chất hữa cơ lắng động do thức ăn
thừa và phân thải ra từ tôm, … Hiện tượng thiếu hụt oxy sẽ kéo theo những điều
bất lợi như thời gian thức ăn qua dạ dày tơm nhanh, độ tiêu hóa thức ăn, tỉ lệ bắt
mồi cũng bị hạn chế, … những điều này sẽ dẫn đến tăng trưởng chậm, tỉ lệ sống
thấp và thành phần dưỡng chất của cơ thể sẽ thay đổi.
Rosas et al. (1997), nhận thấy khả năng tiêu hao oxy của hậu ấu trùng (P15-18) của
tơm duy trì khơng đổi tại hàm lượng oxy hòa tan cao (4,5-6 mg/L) trong tất cả
các độ mặn thí nghiệm và ở hàm lượng oxy hịa tan thấp tiêu hao oxy của tơm
giảm. Rosas (1998), nhận thấy tiêu hao oxy của tôm ở hàm lượng oxy hịa tan
khác nhau có liên quan chặt chẻ với khối lượng cơ thể, tình trạng tơm no hay đói
hoặc tơm đang trong giai đoạn đồng hóa thức ăn (trích dẫn Đồn Xn Diệp và
ctv, 2010)
2.3.3 Một số nghiên cứu về tiêu hao oxy
Để duy trì sự cân bằng sinh lý của cơ thể trong điều kiện môi trường sống bất lợi,
mỗi giáp xác đã hình thành các cơ chế thích nghi riêng biệt. Trong điều kiện hàm
lượng oxy hòa tan dao động hay thiếu oxy, các phản ứng tập tính và phản ứng
sinh lý sẽ xãy ra, bao gồm giảm tỉ lệ trao đổi chất, thay đổi sự cân bằng tỷ lệ axítbazơ và sự thẩm thấu của huyết tương, … Khả năng tiêu hao oxy cũng được xem
là yếu tố chỉ thị trực tiếp cho mức độ trao đổi chất. Phân tích ảnh hưởng của hàm
lượng oxy hòa tan lên khả năng tiêu hao oxy cho phép ước lượng chính xác hơn
hàm lượng oxy tối thiểu cần thiết để sự trao đổi chất lớn nhất (Đoàn Xuân Diệp
và ctv, 2010).
Nhiều nghiên cứu gần đây, cũng đã tìm hiểu về khả năng tiêu hao oxy và sự ảnh
hưởng của hàm lượng oxy hòa tan khác nhau lên đối tượng thủy sản. Theo
Nguyễn Thị Nhất Phương và ctv, (2010) đã nghiên cứu tiêu hao oxy cơ bản và
tiêu hao oxy tiêu hóa của cá bống tượng giống ở các độ mặn khác nhau. Nghiên
cứu cho thấy, tiêu hao oxy cơ bản của cá dao động từ 114-154 mgO2/kg/h theo sự
thay đổi của độ mặn, thấp nhất là ở độ mặn 5‰ (114 mgO2/kg/h) khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p<0,05) so với các nghiệm thức 0, 10, 15‰. Ở điểm đẳng áp tiêu
hao oxy cơ bản của cá vẫn ngang bằng với tiêu hao oxy cơ bản ở 0‰ hoặc 15‰,
điều này cho thấy năng lượng tiêu hao cho duy trì áp suất thẩm thấu ở lồi cá này
10
không chiếm tỉ lệ cao. Giá trị tiêu hao oxy khi tiêu hóa thức ăn trung bình các
nghiệm thức 0, 10 và 15‰ dao động 284-287 mgO2/kg/h, khác biệt không có ý
nghĩa (p>0,05), nhưng lớn hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với
nghiệm thức 5‰. Nghiên cứu cũng xác định sự thay đổi tiêu hao oxy của cá bống
tượng theo thời gian, sau khi cho ăn thì cường độ trao đổi chất ở cá sẽ tăng và đạt
cực đại, sau đó sẽ giảm dần về mức trao đổi chất ban đầu, nghĩa là q trình tiêu
hóa thức ăn ở cá kết thúc.
Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan lên tăng trưởng và tiêu hao
oxy cơ sở của tơm sú của Đồn Xn Diệp và ctv, (2010). Kết quả nghiên cứu
cho thấy, tiêu hao oxy cơ sỡ của tơm sú thí nghiệm thấp nhất ở hàm lượng oxy
hòa tan 30% (88,8 mLO2/Kg/h), bằng 66,6% ở hàm lượng oxy 100% (133,3
mLO2/Kg/h) và 67,8% ở hàm lượng oxy 60% (130,9 mLO2/Kg/h). Khả năng tiêu
hao oxy của tơm ni trong nước có hàm lượng oxy hịa tan 30% bão hịa thấp có
ý nghĩa (p<0,05) so với khi tơm được ni trong mơi trường có hàm lượng oxy
hịa tan 60% và 100% bão hòa. Kết quả này cho thấy ở hàm lượng oxy hòa tan
30% bão hòa đã làm cho khả năng trao đổi chất của tôm giảm và đó cũng là
nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm thấp ở hàm lượng oxy
hịa tan này. Nghiên cứu kết luận, tơm ni ở hàm lượng oxy 60% bão hịa có chu
kỳ lột xác, khả năng tăng trưởng và tỷ lệ sống tốt, kế đến là hàm lượng 100% và
30% bão hòa. Hàm lượng oxy hịa tan thấp (30%) thì chu kỳ lột xác, tăng trưởng,
tỷ lệ sống và khả năng tiêu hao oxy cơ sở của tôn sú bị ức chế so với 60% và
100%. Nuôi tôm sú ở hàm lượng oxy quá cao hay quá thấp đều không thuận lợi
cho sự phát triển của tôm.
11
Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Nguồn tơm thí nghiệm
Tơm dùng trong thí nghiệm là tơm sú (Penaeus monodon) có nguồn gốc từ các ao
ni tơm quảng canh cải tiến, có trọng lượng khác nhau tùy nghiệm thức từ: 5-7
g/con, 12-15 g/con, 20-25 g/con. Tơm mua về được ni dưỡng trong bể
composite và có sục khí liên tục để tơm ổn định và thích nghi với điều kiện ni
trong bể, sau đó tiến hành bố trí tơm vào bể thí nghiệm với 3 hàm lượng oxy khác
nhau (100%, 60%, 30% bão hòa). Trong thời gian nuôi dưỡng, tôm được cho ăn
bằng thức ăn viên, ngày cho ăn 2 lần vào lúc 8 giờ và 16 giờ với khẩu phần ăn 35% khối lượng thân. Tơm được chọn bố trí thí nghiệm phải đồng đều về kích cỡ,
khỏe mạnh và khơng có dấu hiệu bệnh lý.
3.1.2 Nguồn nước dùng cho thí nghiệm
Nước ngọt: là nước máy sinh hoạt được sục khí liên tục đến khi hết chlorine.
Nước mặn: dùng nước ót có độ mặn khoảng 80‰ được xử lý chlorine khoảng
1 tuần trước khi sử dụng, sau đó kiểm tra và trung hịa lượng clor dư bằng thiosulfat-natri (nếu có) trước khi bơm qua túi lọc để đưa vào sử dụng.
Độ mặn thí nghiệm (8‰) được pha từ nước ngọt và nước ót theo công thức:
C1V1 = C 2V2
Trong đó:
C1V1: Nồng độ và thể tích nước ót cần sử dụng.
C 2V2: Nồng độ và thể tích nước cần pha.
3.1.3 Các vật liệu chính dùng cho thí nghiệm
Hệ thống máy oxy Guard.
3 bể composite trịn 100 L.
9 bình tam giác kín hai vịi (bình 1 L và bình 2 L).
6 máy bơm.
Bình oxy, bình nitơ.
12
Chai lọ nút mài thủy tinh (chai nâu) 125 ml.
Máy sục khí và các dụng cụ thiết bị khác như: xô nhựa, vợt, dụng cụ đo nhiệt
độ, độ mặn, …
Hóa chất cố định và phân tích oxy: KI-NaOH, MnSO4, Na 2S2O3, hồ tinh bột.
Hình 3.1 Hệ thống máy oxy Guard.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Thí nghiệm 1: Xác định tiêu hao oxy cơ sở của tôm sú (Penaeus
monodon) ở hàm lượng oxy bão hòa khác nhau
Bố trí thí nghiệm
Tơm được dưỡng trong bể composite với ba hàm lượng oxy khác nhau (100%,
60%, 30%) trong 2 tuần để tơm thích nghi với hàm lượng oxy của thí nghiệm.
Bên ngồi bể thả 3-5 cá rơ phi (20-25 g/con) để làm giảm hàm lượng oxy hòa tan
ở nghiệm thức có hàm lượng oxy hịa tan thấp (60% và 30%).
Hình 3.2 Bể dưỡng tơm thí nghiệm.
13
Hàm lượng oxy hịa tan trong các bể dưỡng tơm được điều chỉnh bởi hệ thống
máy oxy Guard (Model: MPA-48, Insite IG). Ghi nhận nhiệt độ và oxy bể dưỡng
tôm 2 lần/ngày thơng qua màng hình hệ thống máy đo oxy Guard.
Thí nghiệm được bố trí trong phịng có máy điều hịa nhiệt độ, trong suốt thời
gian thí nghiệm nhiệt độ ln giữ ở 27±0,5 oC. Thí nghiệm bố trí theo kiểu hoàn
toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức và 9 lần lập lại:
Nghiệm thức 1: Hàm lượng oxy hòa tan 100% bão hòa.
Nghiệm thức 2: Hàm lượng oxy hòa tan 60% bão hòa.
Nghiệm thức 3: Hàm lượng oxy hòa tan 30% bão hòa.
Mức độ oxy bão hòa 100%, 60%, 30% tương ứng với hàm lượng oxy hòa tan
trong nước là 7,7 mg/L, 4,6 mg/L, 2,3 mg/L (Colt,1984, trích dẫn bởi Boyd,
1990).
Hình 3.3 Bố trí thí nghiệm
Mỗi nghiệm thức bố trí trên 1 bể composite 100 L, chiều cao cột nước duy trì ở
mức 60-80 cm và chứa nước có hàm lượng oxy tương ứng với từng nghiệm thức.
Mỗi bể có 3 máy bơm và 3 bình tam giác 2 L, bình tam giác được đậy kính bằng
nút cao su có gắn 2 ống nhựa (đường kín 10 mm). Nước được bơm vào và chảy
ra qua 2 ống nhựa này theo nguyên tắc tuần hoàn. Trong các nghiệm thức, hàm
lượng oxy hòa tan cao 100% bão hòa được điều chỉnh bằng cách cung cấp oxy,
hàm lượng oxy hòa tan thấp 60%, 30% bão hòa được điều chỉnh bằng khí nitơ và
được kiểm tra bằng máy đo oxy YSI.
Ngừng cho tôm ăn 48 giờ trước khi tiến hành thí nghiệm, bắt ngẫu nhiên từng
tơm từ bể dưỡng cho vào bình tam giác 1 L (1 con tơm/bình) đới với tơm có kích
14
cỡ 5-7 g/con và 12-15 g/con; bình tam giác 2 L (1 con tơm/bình) đối với tơm kích
cỡ 20-25 g/con, đậy nút cao su lại và vận hành hệ thống tuần hồn.
Thu mẫu
Sau 30 phút tơm tiếp xúc với môi trường trong hệ thống vận hành, tiến hành thu
mẫu nước để phân tích hàm lượng oxy đầu vào, sau đó buộc kín 2 đầu ống lại và
sau 15 phút, tiến hành thu mẫu nước trong bình phân tích oxy đầu ra theo phương
pháp Winkler.
Trong q trình thí nghiệm, để tơm nằm n trong bình kín và cách 15 phút thì
tiến hành các bước trên một lần, thực hiện 3 lần lặp lại.
Làm lại thí nghiệm tương tự ở các hàm lượng oxy bão hịa trên với 3 kích cỡ tôm
khác nhau là: 5-7 g/con, 12-15 g/con, 20-25 g/con.
Sau khi thu mẫu xong (với 3 lần lặp lại), tiến hành đo thể tích và cân trọng lượng
tơm thí nghiệm.
Hình 3.4 Thu mẫu, cân và đo thể tích tơm thí nghiệm.
3.2.2 Thí nghiệm 2: Xác định tiêu hao oxy của tơm sú (Penaeus monodon)
khi tiêu hóa thức ăn ở hàm lượng oxy bão hịa khác nhau
Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí trong phịng có máy điều hịa nhiệt độ và bố trí theo kiểu
hồn tồn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức và 9 lần lập lại tương tự như thí nghiệm
1.
Trước khi tiến hành thí nghiệm ngừng cho tơm ăn 48 giờ, sau đó cho ăn cho đến
khi tơm ngừng ăn thì tiến hành bắt ngẫu nhiên từng tơm vào bình tam giác 2 L
đậy nút cao su lại và vận hành hệ thống tuần hoàn.
15
Thu mẫu
Tương tự như thí nghiệm 1
3.2.3 Phân tích oxy hòa tan (DO) theo phương pháp Winler
Mẫu nước được thu vào chai nâu (nút mài thủ tinh).
Mẫu được cố định bằng 1 ml dung dịch MnSO4 và 1 ml dung dịch KI-NaOH,
đậy nắp chai lại và chờ 5 phút để tạo kết tủa.
Sau 5 phút cho 2 ml dung dịch H2SO4 đậm đặc (hoặc HNO3 đậm đặc), lắc đều
để hòa tan kết tủa. Lúc này, dung dịch có màu vàng nâu (mức độ đậm hay nhạt
tùy thuộc vào hàm lượng oxy trong nước).
Lấy 50 ml cho vào bình tam giác 100 ml, dùng Na2S2O3 0,01 N để chuẩn độ.
Chuẩn độ đến khi dung dịch chuyển sang màu vàng nhạt, tiếp tục nhỏ 2-3 giọt
hồ tinh bột (dung dịch có màu xanh).
Tiếp tục dùng Na2S2O3 0,01 N để chuẩn độ đến khi dung dịch khơng màu thì
dừng lại và ghi nhận thể tích Na2S2O3.
3.2.4 Phương pháp xác định tiêu hao oxy
Tiêu hao oxy được tính bằng cơng thức
(O2đ - O2c) (Vb - Vc)
THO (mgO2/Kg/h) = ------------------W.t
Trong đó:
THO: Tiêu hao oxy.
O2đ: Oxy trước khi thả tơm thí nghiệm (mg/L).
O2c: Oxy sau khi thí nghiệm (mg/L).
Vb: Thể tích nước dùng trong thí nghiệm (L).
Vc: Thể tích tơm (L).
W: Trọng lượng tơm thí nghiệm (Kg).
t: Khoảng thời gian thí nghiệm (giờ).
16