TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ HUỲNH MINH TUẤN
KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TRONG AO
NUÔI THÂM CANH TÔM SÚ (Penaeus monodon)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ HUỲNH MINH TUẤN
KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TRONG AO
NUÔI THÂM CANH TÔM SÚ (Penaeus monodon)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGS. TS. NGUYỄN THANH PHƯƠNG
2012
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “ Khảo sát các yếu tố môi trường trong ao nuôi thâm canh tôm sú (Penaeus
monodon) ” được sự hướng dẫn của PGS. TS. NGUYỄN THANH PHƯƠNG, do
sinh viên LÊ HUỲNH MINH TUẤN (MSSV: LT10146) thực hiện đã hoàn thành
và báo cáo vào ngày 13/7/2012.
Cán bộ hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
PGS. TS. NGUYỄN THANH PHƯƠNG
i
LÊ HUỲNH MINH TUẤN
LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, ban chủ nhiệm khoa thuỷ sản,
quý thầy cô và toàn thể cán bộ khoa Thủy Sản đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập tại khoa. Xin chân thành biết ơn thầy
Nguyễn Thanh Phương, cô Đỗ Thị Thanh Hương và Chị Nguyễn Thị Kim Hà
cùng các cán bộ của bộ môn Dinh Dưỡng và Chế Biến Thủy Sản đã trực tiếp giúp
đỡ tôi hoàn thành đề tài. Ngoài ra tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể
lớp Nuôi Trồng Thủy Sản Liên Thông K36, anh Huỳnh Hàn Châu và anh Dương
Linh Nôi với những ý kiến đóng góp quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn.
Chân thành cảm tạ !
ii
TÓM TẮT
Nghiên cứu sự biến động của các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ mặn, độ kiềm,
pH, oxy hoà tan, H2S, NO2, NH3) trong ao nuôi tôm sú thâm canh được thực hiện
ở huyện Trần Đề - Sóc Trăng. Sự biến động của các yếu tố này được xác định
theo thời gian, theo tầng nước và theo từng đợt thu mẫu. Mẫu được thu trong 3 ao
nuôi thâm canh với diện tích 3000 m2, sâu 1,2 m, mật độ thả 30 con/m2, tiến hành
thu 4 đợt, đợt 1 là thời điểm ao mới cải tạo chưa thả giống, sau mỗi 1,5 tháng tiến
hành thu đợt tiếp theo. Kết quả cho thấy hàm lượng oxy hoà tan trong ao nuôi
biến động theo ngày đêm khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05), theo tầng nước
và giữa các đợt thu mẫu khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Các yếu tố
như nhiệt độ, pH, có sự biến động giữa các đợt thu mẫu và giữa ngày đêm khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05). H2S, NO2, NH3 có sự biến động giữa các đợt
thu mẫu khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Độ mặn biến động tăng dần sau
mỗi đợt thu mẫu. Độ kiềm biến động tăng giảm khác nhau giữa các đợt thu mẫu.
iii
MỤC LỤC
MỤC LỤC
PHẦN 1:GIỚI THIỆU ..........................................................................................1
PHẦN 2:LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU ......................................................................3
2.1.Đặc điểm sinh học của tôm sú ........................................................................3
2.1.1 Vị trí phân loại.............................................................................................3
2.1.2 Phân bố và tập tính sống ..............................................................................3
2.1.3 Tập tính bắt mồi và nhu cầu dinh dưỡng ......................................................3
2.1.4 Lột xác và tăng trưởng của tôm....................................................................4
2.1.5 Đặc điểm môi trường sống của tôm .............................................................5
2.2. Một số chỉ tiêu môi trường nước ao nuôi tôm ................................................5
2.2.1 Nhiệt độ.......................................................................................................5
2.2.2 Độ mặn ........................................................................................................6
2.2.3 pH ...............................................................................................................7
2.2.4 Oxy hòa tan .................................................................................................8
2.2.5 Độ kiềm .......................................................................................................9
2.2.6 NO2 .............................................................................................................9
2.2.7 NH3 ........................................................................................................... 10
2.2.8 H2S ............................................................................................................ 10
2.3. Một số nghiên cứu về môi trường nước trong ao nuôi tôm ........................... 11
2.4. Tình hình nuôi tôm ở một số tỉnh ĐBSCL .................................................. 12
2.5 Các mô hình nuôi tôm sú hiện nay ở ĐBSCL .............................................. 15
2.5.1. Nuôi tôm quảng canh ............................................................................... 15
2.5.2. Nuôi tôm quảng canh cải tiến .................................................................. 15
2.5.3. Nuôi tôm bán thâm canh .......................................................................... 15
2.5.4. Nuôi tôm thâm canh ................................................................................ 16
PHẦN 3.VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................... 17
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................. 17
3.1.1 Thời gian nghiên cứu ................................................................................. 17
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu .................................................................................. 17
3.2. Vật liệu nghiên cứu ..................................................................................... 17
3.3 Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 18
3.4 cách phân tích cụ thể cho từng chỉ tiêu ......................................................... 18
3.4.1 NO2 và H2S ................................................................................................ 18
3.5 Phương pháp phân tích số liệu ..................................................................... 18
iv
PHẦN 4 : KẾT QUẢ - THẢO LUẬN ................................................................ 19
4.1. Biến động các yếu tố thuỷ lý........................................................................ 19
4.1.1. Nhiệt độ ................................................................................................... 19
4.1.2. PH ........................................................................................................... 21
4.1.3 Độ mặn ...................................................................................................... 23
4.1.4 Độ kiềm .................................................................................................... 24
4.2. Biến động các yếu tố thủy hoá ..................................................................... 24
4.2.1. Oxy hoà tan (DO) ..................................................................................... 24
4.2.1.1 Biến động oxy theo thời gian và các lần thu mẫu .................................... 24
4.2.1.2 Biến động hàm lượng oxy hòa tan theo tầng nước .................................. 26
4.2.2. Hydrogen Sulfide (H2S) ............................................................................ 27
4.2.3 Nitrite (NO2).............................................................................................. 29
4.2.4. Ammonia (NH3) ....................................................................................... 31
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ................................................................ 34
5.1. Kết luận ....................................................................................................... 34
5.2 Đề xuất ......................................................................................................... 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO
v
DANH SÁCH HÌNH
Hình 4.1: Biến động nhiệt độ trong ngày của các đợt thu mẫu ........................... 20
Hình 4.2: Biến động pH trong ngày của các đợt thu mẫu ................................... 21
Hình 4.3. Biến động độ mặn qua các đợt thu mẫu .............................................. 23
Hình 4.4. Biến động độ kiềm qua các đợt thu mẫu ............................................. 24
Hình 4.5: Biến động hàm lượng oxy trong ngày của các đợt thu mẫu ................. 26
Hình 4.6: Biến động hàm lượng oxy giữa các tầng nuớc .................................... 27
Hình 4.7: Biến động hàm lượng H2S trong ngày của các đợt thu mẫu ................ 28
Hình 4.8: Biến động hàm lượng NO2 trong ngày của các đợt thu mẫu ............... 30
Hình 4.9: Biến động hàm lượng NH3 trong ngày của các đợt thu mẫu ................ 32
vi
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Giá trị nhiệt độ ở các tầng nước trong ngày của các đợt thu mẫu .......... 20
Bảng 2: Sự khác biệt PH trong ngày và các đợt thu mẫu.................................... 22
Bảng 3: Giá trị pH ở các tầng nước trong ngày của các đợt thu mẫu .................. 22
Bảng 4: Giá trị H2S ở các tầng nước trong ngày của các đợt thu mẫu ................ 29
Bảng 5: Giá trị NO2 ở các tầng nước trong ngày của các đợt thu mẫu ............... 31
Bảng 6: Giá trị NH3 ở các tầng nước trong ngày của các đợt thu mẫu ................ 33
vii
PHẦN 1: GIỚI THIỆU
Môi trường sống đối với sinh vật là rất quan trọng, sự tồn tại và phát triển
của sinh vật phụ thuộc rất lớn vào môi trường mà sinh vật đó sống. Bất kỳ một
thay đổi nào của môi trường đều ảnh hưởng đến sinh vật. Đối với các sinh vật
sống trong môi trường nước thì sự quan trọng này càng rõ ràng hơn, cá hay tôm
đều không thể rời khỏi nước trong một thời gian dài, không thể sống trong môi
trường nước bẩn ô nhiễm. Đối với tôm thì sự thích nghi với môi trường sống xấu
là rất kém, kém hơn rất nhiều so với cá. Tôm sống chủ yếu ở đáy ao, lớp bùn đáy
này là nơi tích tụ các chất thải, các chất hữu cơ dư thừa và cả những mầm bệnh,
vì vậy tôm nuôi rất nhạy cảm khi môi trường sống thay đổi bất lợi.
Trong nuôi tôm sú thâm canh hiện nay thì vấn đề quản lý môi trường nước
nuôi tốt được xem là vấn đề mấu chốt quyết định đến sự thành công của một vụ
nuôi, nó phải được thực hiện tốt từ đầu vụ nuôi. Quản lý các yếu tố của môi
trường nước nuôi thích hợp là chưa đủ mà phải nên chăm sóc, cải tạo môi trường
trong đó các yếu tố có lợi và bất lợi cho tôm phải nằm trong khoảng tối ưu và tối
thiểu nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho tôm nuôi phát triển. Tuy nhiên đây là một
vấn đề hết sức khó khăn không phải người nuôi nào cũng làm được. Trong quá
trình chăm sóc tôm nuôi như cho ăn, chế độ thay nước, các yếu tố về thời tiết…
có ảnh hưởng trực tiếp đến các yếu tố thủy lý hóa trong môi trường nuôi. Các yếu
tố này luôn luôn thay đổi, thay đổi theo hướng có lợi hay có hại tùy thuộc vào
cách quản lý của người nuôi, các yếu tố môi trường sẽ biến chuyển theo chiều
hướng tốt khi quá trình chăm sóc hợp lý, đúng kỹ thuật, theo dõi ao nuôi một cách
thường xuyên và sẽ chuyển biến xấu theo hướng ngược lại. Ngoài ra khi quản lý
môi trường nuôi tốt sẽ giúp cho tôm nuôi tránh được một số bệnh, giảm chi phí
cho vụ nuôi từ đó hiệu quả mang lại từ mô hình nuôi sẽ đạt mức tối đa.
Nhận thấy được sự quan trọng của các yếu tố môi trường và sự ảnh hưởng
của nó trong quá trình nuôi tôm nên đề tài “ Khảo sát các yếu tố môi trường trong
ao nuôi thâm canh tôm sú (Penaeus monodon) ” được thực hiện.
1
Mục tiêu đề tài:
Khảo sát sự biến động và ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến tình
trạng sinh lý của tôm trong ao nuôi thâm canh. Nhằm mục đích quản lý môi
trường ao nuôi tốt hơn và làm cơ sở cho các nghiên cứu sau.
Nội dung đề tài:
Khảo sát các chỉ tiêu môi trường như: nhiệt độ, độ mặn, độ kiềm, pH, oxy
hòa tan, NH3, NO2, H2S trong ao nuôi tôm sú thâm canh.
2
PHẦN 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1.Đặc điểm sinh học của tôm sú
2.1.1 Vị trí phân loại
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea
Bộ: Decapoda
Họ chung: Penaeidea
Họ: Penaeus Fabricius
Giống: Penaeus
Loài: Monodon
Tên khoa học: Penaeus monodon Fabricius
2.1.2 Phân bố và tập tính sống
Phạm vi phân bố của tôm sú khá rộng, từ ấn Độ Dương qua hướng Nhật
Bản, Đài Loan, phía Đông Tahiti, phía Nam châu Úc và phía Tây châu Phi
(Racek, 1955, Holthuis and Rosa, 1965, Motoh, 1981, 1985.). Nhìn chung, tôm sú
phân bố từ kinh độ 30E đến 155E từ vĩ độ 35N tới 35S xung quanh các nước
vùng xích đạo, đặc biệt là Indonesia, Malaixia, Philippines và Việt Nam.
Tôm bột (PL.), tôm giống (Juvenile) và tôm gần trưởng thành có tập tính
sống gần bờ biển và rừng ngập mặn ven bờ. Khi tôm trưởng thành di chuyển xa
bờ vì chúng thích sống vùng nước sâu hơn.Tôm sú sống ở độ sâu từ 0 – 162 m,
tính chất nền đáy là đáy bùn hoặc đáy cát.
2.1.3 Tập tính bắt mồi và nhu cầu dinh dưỡng
Tôm sú là loài ăn tạp thiên về động vật (Dall, 1990; Brock and Moss,
1992). Thức ăn của tôm bao gồm giáp xác, nhuyễn thể, giun nhiều tơ, côn trùng,
tảo và các mảnh vụn hữu cơ khác..v..v… Tuy nhiên, tính ăn của tôm thay đổi theo
giai đoạn phát triển. Giai đoạn tôm bột và tôm giống thì ăn nhiều các loại mảnh
vụn động thực vật bao gồm lab – lab, vi tảo, chất vẩn, thực vật lớn, giun,
copepode, moina, ấu trùng nhuyễn thể và ấu trùng giáp xác. Khi tôm lớn chúng
1
ăn các loại động vật không xương sống như ruốc, giáp xác, giun nhiều tơ, nhuyễn
thể hay các loài cá nhỏ, giai đoạn này tôm ăn nhiều chất vẩn. Ở tôm thành thục thì
trong suốt mùa sinh sản tôm ăn nhiều nhuyễn thể, còn ở các tháng khác tôm ăn
nhiều cá nhỏ. Tôm thích các động vật sống và di chuyển chậm hơn là xác thối rữa
hay mảnh vụn hữu cơ, đặc biệt ưa ăn giáp xác, thực vật dưới nước, mảnh vụn hữu
cơ, giun nhiều tơ, loại 2 mảnh vỏ, côn trùng. Tôm sống ngoài tự nhiên ăn 85% là
giáp xác, cua nhỏ, động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ, còn lại 15% là cá, giun
nhiều tơ, thủy sinh vật, mảnh vụn hữu cơ, cát bùn. Trong tự nhiên, tôm sú bắt
mồi nhiều hơn khi thủy triều rút. Nuôi tôm sú trong ao, hoạt động bắt mồi nhiều
vào sáng sớm và chiều tối. Tôm bắt mồi bằng càng, sau đó đẩy thức ăn vào miệng
để gặm, thời gian tiêu hoá 4-5 giờ trong dạ dày. Trong ao nuôi, tôm có hiện tượng
ăn lẫn nhau khi cung cấp thiếu thức ăn, thức ăn thiếu chất dinh dưỡng hay mất
cân bằng dinh dưỡng và nuôi với mật độ dày. Tôm khỏe thường tấn công và ăn
tôm yếu, tôm lớn ăn tôm nhỏ và tôm cứng vỏ ăn những tôm đang lột xác hay vỏ
còn mềm. Tôm sú ăn suốt ngày đêm, tuy nhiên tôm ăn mạnh nhất là vào ban đêm.
Tôm thích bắt mồi ở nền đáy và ven bờ, tôm sẽ giảm ăn vào thời điểm lột xác.
Các yếu tố môi trường ảnh hưởng rất lớn đến khả năng bắt mồi của tôm, khi có sự
thay đổi của các yếu tố môi trường thì tôm sẽ giảm ăn. Tôm phát hiện và bắt mồi
nhờ các cơ quan xúc giác nằm ở đầu mút của râu, chân râu, phụ bộ miệng và
càng. Tôm dùng càng cắt thức ăn thành từng mảnh nhỏ rồi đưa vào miệng. Miệng
và các phụ bộ miệng cũng sẽ cắt mồi thành những mảnh nhỏ thích hợp trước khi
nuốt. Những hạt cát hay những thức ăn không ăn được sẽ bị thải ra ngay, những
thức ăn không được tiêu hóa sẽ thải ra ngoài qua phân (Nguyễn Thanh Phương và
ctv., 2009).
Trong nuôi tôm thịt, thức ăn cho tôm phải đảm bảo hàm lượng protein từ
35 – 40%. Riêng đối với tôm giống thì cần hàm lượng đạm cao hơn, từ 40% đạm
trở lên (Alava and Lim, (1983), Trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv,
2009). Lipid cần thiết cho tôm khoảng 6 – 7,5%, nguồn lipid tốt nhất cho tôm là
từ động vật biển như dầu mực, dầu cá. Nhu cầu về carbohydrate trong khẩu phần
thức ăn khoảng 10 – 20%. Ngoài ra các vitamin và khoáng chất là rất cần thiết
phải bổ sung đầy đủ tôm mới phát triển tốt.
2.1.4 Lột xác và tăng trưởng của tôm
Tôm lớn lên là nhờ vào quá trình lột xác. Tiến trình lột xác của tôm trải
qua một số giai đoạn chính là tiền lột xác, lột xác, hậu lột xác, giữa chu kỳ lột
xác, những diễn biến bao gồm (1) sự kết dính giữa biểu mô và vỏ tôm bị lỏng lẻo
2
ra, (2) cơ thể nhanh chóng rút khỏi vỏ cũ, (3) cơ thể hấp thu nước để nở rộng vỏ
và lớn nhanh, (4) cơ thể cứng cáp lại nhờ các khoáng chất và đạm hấp thu trong
nước. Vì quá trình lột xác mà quá trình tăng trưởng của tôm bị gián đoạn không
liên tục. Sự lột xác của tôm được điều khiển nhờ hormon lột xác được tiết ra từ cơ
quan Y và hormon ức chế lột xác tiết ra từ cơ quan X. Quá trình lột xác của tôm
mang tính chu kỳ, chu kỳ lột xác là thời gian giữa hai lần lột xác liên tiếp nhau,
chu kỳ này mang tính đặc trưng riêng biệt cho loài và giai đoạn sinh trưởng của
tôm. Chu kỳ lột xác sẽ ngắn ở giai đoạn tôm con và kéo dài khi tôm lớn. Ngoài ra,
quá trình lột xác và tốc độ tăng trưởng của tôm còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
như loài, dinh dưỡng, môi trường nước (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2009)
Tuổi thọ trung bình của tôm sú nuôi thí nghiệm trong ao và các mẫu thu
ngoài tự nhiên là 1,5 năm đối với tôm đực và 2 năm đối với tôm cái (Hothius,
1980). Tuổi thọ của tôm có sự thay đổi theo loài và giới tính.
2.1.5 Đặc điểm môi trường sống của tôm
Các yếu tố môi trường nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố, sinh
sống, bắt mồi, tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nuôi. Theo Boyd (1992) các yếu
tố trong môi trường nước có một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến
tôm nuôi cần phải quản lý tốt và trong giới hạn thích hợp.
v pH: 7 – 9, pH quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng không tốt đến tôm
nuôi.
v Độ mặn: tôm tăng trưởng tốt ở độ mặn 25 – 30 0/00.
v Nhiệt độ: 25 – 300C.
v Oxy hòa tan: khoảng giữa 3,5 mg/L đến bão hòa, quá bão hòa cũng gây
nguy hiểm cho tôm.
v CO2: dưới 20 mg/L.
v H2S: ở bất kỳ nồng độ nào cũng gây bất lợi cho tôm, nên quản lý dưới mức
0,03 mg/L.
v NH3: nhỏ hơn 0,1 mg/L nếu vượt quá 1 mg/L có thể gây chết tôm.
v NO2: thông thường hàm lượng nitrite trong ao nuôi không cao đến mức
gây chết tôm tuy nhiên ở nồng độ 4 – 5 mg/L có thể ảnh hưởng xấu đến tôm.
3
2.2. Một số chỉ tiêu môi trường nước ao nuôi tôm
2.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng rất lớn đến đời
sống của thủy sinh vật thông qua quá trình trao đổi chất. Theo Whetstone et
al.(2002) thì tôm sú có thể sinh trưởng tốt ở nhiệt độ từ 23 – 340C, nhiệt độ tối ưu
là từ 26 – 290C.
Nhiệt độ trong thủy vực là do nhiệt từ mặt trời bức xạ vào, quá trình oxy
hóa các vật chất hữu cơ trong ao và do thủy sinh vật hô hấp. Nhiệt độ trong ao
nuôi biến động theo vị trí địa lý, theo mùa, theo điều kiện thời tiết và theo ngày
đêm, sự ảnh hưởng của sự thay đổi nhiệt độ trong ao nuôi đến tôm tùy thuộc vào
mức độ thay đổi của nhiệt độ và sức đề kháng của tôm. Thường chỉ những thay
đổi đột ngột về nhiệt độ như sau những trận mưa lớn và kéo dài làm nhiệt độ
giảm kéo theo sự cạn kiệt oxy trong ao mới ảnh hưởng lớn đến tôm một cách trực
tiếp. Một trở ngại về yếu tố nhiệt độ trong ao nuôi là sự phân tầng nhiệt, sự phân
tầng nhiệt làm cho tôm nuôi tập trung toàn bộ vào tầng nước có nhiệt độ thích
hợp từ đó làm tăng mật độ trong ao một cách cục bộ ảnh hưởng đến sức khỏe của
tôm. Cách thiết kế ao có ảnh hưởng rất lớn đến sự phân tầng nhiệt trong quá trình
nuôi, ao càng sâu thì sự phân tầng nhiệt càng rõ rệt. Trong các ao nuôi thâm canh
mật độ cao thì sự phân tầng nhiệt được giải quyết triệt để bằng cách vận hành
máy sục khí hoặc máy đập nước làm xáo trộn các tầng nước trong ao. Nhiệt độ
ảnh hưởng gián tiếp tới sức khỏe của động vật thủy sinh về phương diện bệnh
truyền nhiễm. Khả năng kháng bệnh hay nhiễm bệnh do yếu tố nhiệt độ của từng
loài có tính đặc thù cao và thường là tốt nhất tại vùng nhiệt độ phát triển tối ưu
của chính loài đó. Ở vùng nhiệt độ cao hay thấp khả năng kháng bệnh giảm. Sự
thay đổi nhiệt độ đột ngột cũng tác động xấu đến khả năng kháng bệnh ngay cả ở
trong vùng nhiệt độ tối ưu (Lê Văn Cát và ctv., 2006).
Trong ao nuôi nên quản lý không để nhiệt độ thay đổi quá đột ngột, nếu
biến động quá 50C/ ngày sẽ làm tôm giảm ăn, nếu nhiệt độ cao hơn 330C hay nhỏ
hơn 250C tôm sẽ giảm ăn 30 – 50% (Nguyễn Anh Tuấn và ctv., 2003). Khi nhiệt
độ không nằm trong khoảng thích hợp sẽ làm tôm chậm lớn, sức đề kháng yếu, dễ
nhiễm bệnh. Do nhiệt độ phụ thuộc nhiều vào thời tiết nên khó tránh sự thay đổi,
vì vậy khi xây dựng ao và quản lý tôm nuôi nên chú ý:
ü Thiết kế ao đủ sâu, thông thường ao nuôi có độ sâu từ 1,2 – 1,5 m.
4
ü Sau những cơn mưa lớn nên xả bỏ lớp nước mặt, vận hành máy sục khí
vừa cung cấp oxy vừa cân bằng nhiệt độ ao nuôi.
2.2.2 Độ mặn
Độ mặn tối ưu cho sự phát triển của tôm sú là từ 15 – 300/00 (Pornlerd
Chanratchakool et al. 1998 ). Tôm nuôi ở độ mặn cao hơn 300/00 thường bị bệnh,
điển hình là bệnh đốm trắng (WSSV) và bệnh đầu vàng (YHV). Hai bệnh này ít
xảy ra khi nuôi ở độ mặn thấp, nhưng không thấp hơn 70/00, ở dưới mức này thì
tôm dễ bị mềm vỏ, tỉ lệ sống thấp, tôm dễ nhiễm bệnh còi. Khi tôm lớn đạt trọng
lượng từ 10 – 12g thì có thể nuôi ở độ mặn thấp (30/00) mà không làm ảnh hưởng
đến sự sinh trưởng của tôm (Chanratchakool, 1998).
Đối với các ao nuôi ở vùng nước nhạt hóa tuy độ mặn thấp nhưng ít nhiều
cũng mang đặc tính của vùng nước lợ do chịu ảnh hưởng của nền đất mặn
(Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2001). Yếu tố độ mặn là yếu tố môi trường quan
trọng ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi. Việc theo dõi và
quản lý yếu tố này là rất cần thiết trong một vụ nuôi, nếu vì một nguyên nhân
khách quan nào đó bắt buộc phải thay đổi độ mặn của ao nuôi thì tốt nhất nên
thay đổi từ từ để tôm quen dần, không nên thay đổi đột ngột sẽ gây sốc cho tôm.
2.2.3 pH
pH của nước ao có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tôm nuôi cũng như
với đời sống của thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống, sinh sản..v..v.. pH
thích hợp cho thủy sinh vật từ 6,5 – 9 (Trương Quốc Phú, 2006).
pH cũng là một trong các chỉ tiêu về chất lượng môi trường nước của ao dễ
xác định để theo dõi điều kiện môi trường trong ao nuôi. pH quá cao hay quá thấp
đều có ảnh hưởng không tốt đối với tôm, thông thường pH tối ưu cho sự sinh
trưởng và phát triển của tôm là từ 7,8 – 8,2 (Pornlerd Chanratchakool at al.,
1998) Sự thay đổi của pH nước còn có ảnh hưởng đến một số yếu tố khác như
NH3, H2S.
Trong ao nuôi tôm, pH thay đổi do nhiều nguyên nhân, trong đó pH thấp là
do
Ø Ảnh hưởng của đất phèn
Ø Quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ của vi khuẩn
Ø Quá trình hô hấp của tôm và các sinh vật khác
5
Khi pH thấp thường làm tổn thương phụ bộ và mang cũng như gây trở ngại
cho việc lột xác và làm cho tôm bị mềm vỏ. Ngoài ra khi pH thấp sẽ làm tăng tính
độc của H2S, một chất khí rất độc đối với tôm. Khi pH xuống thấp dưới mức 7 thì
sử dụng các biện pháp để nâng pH lên mức thích hợp, tùy từng nguyên nhân và
điều kiện cụ thể làm pH nước giảm mà có cách xử lý khác nhau. Tuy nhiên cách
xử lý mang lại hiệu quả tốt nhất là bón vôi. Ngược lại với pH thấp, nguyên nhân
làm cho pH trong ao tăng là
Ø Bón vôi quá thừa
Ø Quá trình quang hợp của phiêu sinh thực vật
Phiêu sinh thực vật làm tăng pH thông qua việc tiêu thụ CO2 trong nước,
điều này đồng nghĩa với việc pH sẽ tăng cao khi cường độ quang hợp của thực
vật tăng. pH có ảnh hưởng gián tiếp là làm tăng hàm lượng khí độc NH3 trong ao.
Trong ao nuôi khi pH đạt mức 7,5 – 8,5 thì tính độc của NH3 và H2S là thấp nhất.
pH là chỉ tiêu nên theo dõi hàng ngày để điều chỉnh cho thích hợp, cải tạo ao tốt ở
đầu vụ thì pH ít biến động.
2.2.4 Oxy hòa tan
Hàm lượng oxy hòa tan có trong ao nuôi chủ yếu được khuếch tán từ
không khí vào, nhờ gió, quạt nước, dòng chảy..v..v. Ngoài ra sự quang hợp của
tảo cũng là nguồn cung cấp oxy cho thủy vực. Oxy mất đi là do sự hô hấp của
thủy sinh vật trong ao và quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ. Hàm lượng oxy
hòa tan trong ao nuôi phải từ 5 ppm trở lên và không vượt quá 15 ppm
(whetstone, 2002).
Hàm lượng oxy thích hợp là rất cần thiết cho một ao nuôi tốt ở cả hai hệ
thống nuôi năng suất thấp và cao. Tác hại do hàm lượng oxy thấp tùy thuộc vào
lượng oxy có trong ao, thời gian và số lần mà tôm phải chịu đựng tình trạng đó.
Hàm lượng oxy thấp có thể chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn trong ngày, nhưng
có khả năng làm ảnh hưởng kéo dài cho tôm sau khi hàm lượng oxy đã trở lại
bình thường và hậu quả thường là làm tôm chậm lớn.
Ở nồng độ oxy khoảng < 4 ppm thì tôm vẫn bắt mồi bình thường nhưng
tiêu hóa thức ăn không hiệu quả. Hàm lượng oxy thấp sẽ làm tôm yếu đi và dễ bị
bệnh, tỉ lệ chuyển hóa thức ăn giảm và khả năng xuất hiện bệnh tăng. Tôm sẽ
ngừng bắt mồi nếu hàm lượng oxy trong ao từ 2 – 3 ppm và tôm sẽ chết khi hàm
lượng này dưới 2 ppm.
6
Trong ao nuôi thâm canh mật độ cao thì sự biến động của oxy hòa tan
trong ao tăng dần theo thời gian nuôi. Dần về cuối vụ nuôi thức ăn dư thừa làm
mật độ tảo trong ao tăng lên, vì vậy oxy sẽ tăng cao vào ban ngày lúc giữa trưa và
giảm thấp vào ban đêm. Các chất hữu cơ lắng đọng ở đáy ao do phân tôm, thức
ăn dư thừa, vỏ lột của tôm..v..v.. khi phân hủy cũng làm tiêu hao một lượng oxy
đáng kể. Thực chất tôm nuôi tiêu thụ oxy không nhiều trong suốt thời gian nuôi.
Cung cấp đầy đủ oxy cho ao nuôi chủ yếu để duy trì môi trường nuôi tốt trong
suốt vụ nuôi.
2.2.5 Độ kiềm
Độ kiềm là chỉ tiêu đánh giá khả năng đệm của nước ao nuôi tôm, hiển thị
khả năng tự điều chỉnh giá trị pH của thủy vực trước những thay đổi của các nhân
tố từ bên trong hoặc bên ngoài.
Ở vùng nước lợ và nước mặn có độ kiềm cao và ổn định hơn vùng nước
ngọt. Do độ kiềm của nước là số đo tổng của carbonate và bicarbonate, trong
nước lợ mặn có chứa hàm lượng muối cao và các chất khoáng như Ca, Mg, K ở
dạng các hợp chất carbonate và bicarbonate. Trong nước ngọt thì sự hiện diện của
các hợp chất này tương đối ít nên độ kiềm thấp hơn.
Trong ao nuôi tôm độ kiềm thích hợp từ 80 mgCaCO3/L trở lên (Boyd,
1998). Khi giữ độ kiềm trong khoảng thích hợp và ổn định thì giá trị pH ít thay
đổi, không gây bất lợi cho tôm nuôi. Tuy nhiên trong ao nuôi không phải độ kiềm
lúc nào cũng ổn định, có thể giảm dưới mức thích hợp do một số nguyên nhân
sau:
Ø Độ mặn nước ao thấp
Ø Vùng đất nuôi nhiễm phèn tiềm tàng
Ø Ít thay nước trong suốt quá trình nuôi
Ø Phiêu sinh thực vật phát triển quá dày
Những ao nuôi xây dựng trên vùng đất phèn khi phèn rỉ ra sẽ làm phân giải
carbonate và bicarbonate làm giảm độ kiềm. Quá trình này có thể xảy ra cho đến
khi hàm lượng carbonate và bicarbonate còn lại rất ít trong nước. Còn những ao
nuôi ít thay nước, quá trình làm cứng vỏ tôm sau khi lột xác và các quá trình phân
giải hữu cơ khác làm tiêu hao carbonate và bicarbonate. Vi khuẩn phân hủy vật
chất hữu cơ sinh ra axit cũng làm giảm hàm lượng carbonate và bicarbonate
trong ao.
7
Biện pháp khắc phục độ kiềm thấp trong ao là biện pháp bón vôi. Tuy
nhiên cải tạo ao tốt từ đầu là biện pháp tốt nhất để hạn chế sự thay đổi của các
yếu tố môi trường nói chung, trong đó có độ kiềm.
2.2.6 NO2
Trong thủy vực NO2 là sản phẩm của quá trình nitrite hóa hay phản nitrate
hóa, là dạng đạm có độc tính đối với thủy sinh vật. Những thủy vực chứa nhiều
Cl- có khuynh hướng làm giảm độc tính của NO2 (Preedalumpabutt et al., 1998).
Hàm lượng nitrite trong ao không vượt quá 0,3 mg/L (Boyd, 1998), vượt
quá ngưỡng này sẽ gây độc cho tôm. NO2 gây độc cho động vật thủy sản là do
chúng làm giảm hoạt tính của hemoglobine hay còn gọi là thiếu máu (Trương
Quốc Phú, 2006). Trong ao nuôi tôm NO2 chủ yếu được chuyển hóa từ NH3 nhờ
vi khuẩn Nitrosomonas.
2.2.7 NH3
Đạm trong ao nuôi tôm tồn tại ở nhiều dạng khác nhau như ammonia
(NH3) và đạm amon (NH4+). Đạm cung cấp cho ao có thể từ không khí dạng nitơ
phân tử và một số có thể được cố định trong chất hữu cơ nhờ tảo lam và vi khuẩn.
Nước mưa, phân bón, thức ăn,.. cũng là nguồn cung cấp đạm cho ao, các ao nuôi
thâm canh thì thức ăn là nguồn cung cấp đạm chính.
NH3 trong ao có được từ các quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ có
chứa nitơ nhờ các vi khuẩn hiếu khí và yếm khí. Sản phẩm bài tiết hay phân bón
cũng phân hủy thành NH3 (dạng tự do) hòa tan trong nước thành NH4+ (dạng ion)
cho đến khi cân bằng (NH3 + H2O ó NH4+ + OH-). Tỉ lệ giữa ammonia tự do
và dạng ion phụ thuộc vào nhiệt độ và pH của môi trường, khi nhiệt độ và pH
tăng thì tỉ lệ của dạng tự do tăng và ngược lại.
Ammonia ở dạng tự do rất độc đối với tôm nhưng dạng ion không độc mà
còn rất cần thiết cho sự phát triển của tảo và các sinh vật làm thức ăn cho tôm.
Khi hàm lượng NH3 trong nước cao sẽ làm cho sinh vật khó bài tiết NH3 trong
máu và các mô ra môi trường nước.
Hàm lượng NH3 trong ao nuôi có thể kiểm soát bằng cách hạn chế thức ăn
dư thừa trong đáy ao, không để ao thiếu oxy đặc biệt là ở đáy ao hạn chế sự phân
hủy yếm khí, giữ pH ở mức 7,5 – 8,5. Có thể dùng men vi sinh để giải phóng bớt
NH3 trong ao. NH3 trong ao phải nhỏ hơn 0,1 mg/l (Boyd, 1998).
8
2.2.8 H2S
H2S có trong môi trường nước ao chủ yếu là do quá trình phân hủy vật chất
chứa lưu huỳnh hay quá trình phản sulfat hóa trong điều kiện yếm khí. Quá trình
này thường diễn ra ở đáy ao nơi có hàm lượng oxy hòa tan rất thấp. H2S là chất
khí cực độc đối với thủy sinh vật, tác dụng độc hại của H2S là liên kết với Fe của
Hemoglobin làm mất khả năng vận chuyển O2 của Hemoglobin. Tính độc của
H2S phụ thuộc vào pH và nhiệt độ nước, tính độc của H2S tăng khi nhiệt độ tăng
pH giảm. H2S tồn tại trong môi trường sẽ hạn chế sự phát triển của thức ăn tự
nhiên. Tương tự như NH3, hàm lượng H2S trong ao nuôi có thể kiểm soát bằng
cách hạn chế thức ăn dư thừa trong đáy ao, tránh làm đáy ao thiếu oxy và xảy ra
quá trình phân hủy yếm khí. H2S ở bất kỳ nồng độ nào đều có thể gây độc cho
tôm, H2S trong ao mong muốn là không tồn tại (Boyd,1998).
2.3. Một số nghiên cứu về môi trường nước trong ao nuôi tôm
Vấn đề môi trường nước được rất nhiều người quan tâm, vì nó quyết định
một phần lớn đến sự thành công hay thất bại của một vụ nuôi. Người nuôi dựa
trên những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học mà áp dụng vào thực tế sản
xuất. Các tài liệu mới luôn luôn được cập nhật vì những tài liệu đó ngày càng cụ
thể hơn có thể áp dụng cụ thể cho từng vùng, từng địa điểm mà người nghiên cứu
đã thực hiện.
Nghiên cứu được thực hiện bởi Lâm Thạnh Phú (2010), khảo sát các yếu
tố môi trường (thủy lý và thủy hoá) trong các hệ thống nuôi tôm sú (Sông, tôm
lúa, bán thâm canh, thâm canh) cho kết quả các yếu tố biến động trong giới hạn
cho phép và hầu hết đều thuận lợi cho tôm nuôi sinh trưởng và phát triển.
Nghiên cứu được thực hiện bởi Đoàn Xuân Diệp (2012) cho thấy tôm sú
không còn khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu để thích ứng với môi trường
nhằm duy trì sự sống ở nước có độ mặn 0‰, vì thế không thể nuôi tôm sú trong
môi trường nước ngọt hoàn toàn. Tôm sú có khả năng điều chỉnh các phản ứng
sinh lý cơ thể để thích nghi môi trường có độ mặn thấp. Khi sống trong môi
trường có độ mặn thấp thì tôm phải tiêu tốn nhiều năng lượng cho quá trình điều
hòa áp suất thẩm thấu và khả năng tiêu hóa vật chất khô và dưỡng chất (đạm và
năng lượng) giảm, nhưng để đền bù cho năng lượng cần thiết này thì tôm sú lấy
nhiều thức ăn trong một bữa ăn, thời gian sử dụng và lưu thức ăn ở dạ dày của
tôm nhanh, đồng thời tôm giảm tiêu hao oxy cơ sở. Tôm sú không có khả năng
điều chỉnh các phản ứng sinh lý của cơ thể để thích nghi với môi trường có hàm
9
lượng oxy hòa tan thấp. Ở hàm lượng oxy hòa tan thấp thì khả năng sử dụng thức
ăn của tôm kém (kể cả thời gian sử dụng thức ăn và lượng thức ăn mà tôm ăn vào
trong một lần ăn), độ tiêu hóa vật chất khô, đạm và năng lượng của tôm giảm, hô
hấp (khả năng tiêu hao oxy cơ sở) của tôm thấp. Vì vậy, khi nuôi tôm sú trong
môi trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp thì tôm có chu kỳ lột xác kéo dài, khả
tăng trưởng và tỷ lệ sống thấp
Theo Trương Quốc Phú và Phạm Thị Tuyết Ngân (2010) thì trong cùng
một điều kiện chăm sóc như nhau, nhưng tốc độ tăng trưởng của tôm nuôi trong
điều kiện có bổ sung vi khuẩn Baciluss sẽ cao hơn. Việc bổ sung vi khuẩn vào bể
nuôi nhằm cải tạo môi trường nước, sự hiện diện của vi khuẩn Baciluss trong bể
nuôi đã làm giảm các chất gây độc cho tôm như NH3, H2S, NO2... Việc bổ sung
định kỳ vi khuẩn Baciluss góp phần phân hủy các hợp chất hữu cơ dư thừa trong
bể nuôi, duy trì môi trường nuôi ổn định, kích thích sử dụng thức ăn và tăng
trưởng của tôm.
Theo nghiên cứu được thực hiện bởi Nguyễn Văn Vượng (2003) cho kết
quả tôm nuôi trong môi trường có độ mặn thấp (0-30/00) sinh trưởng nhanh hơn
nhưng có tỉ lệ sống thấp hơn so với tôm nuôi ở độ mặn cao (15-250/00). Ở độ mặn
0-30/00, tôm đạt trọng lượng 33,3 g và tỉ lệ sống là 48,9% so với ở độ mặn cao
tương ứng là 31,8 g và 64,9%. Trong quá trình nuôi, ở cả hai môi trường tôm đều
xuất hiện những bệnh thông thường giống nhau.
Các vấn đề về môi trường nước không ngừng được nghiên cứu, nhất là
trong thời điểm ngành Nuôi Trồng Thủy Sản đang phát triển mạnh, những nghiên
cứu trước có vai trò là cơ sở, tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo.
Tạo nền tảng vững chắc cho ngành thủy sản phát triển bền vững và không ngừng
nâng cao năng suất.
2.4. Tình hình nuôi tôm ở một số tỉnh ĐBSCL
Đồng bằng sông cửu long (ÐBSCL) có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để
phát triển nghề nuôi trồng thủy sản (NTTS). Vài năm trở lại đây, các tỉnh trong
khu vực này phát triển khá nhanh nghề NTTS. Trong NTTS ở ÐBSCL, con tôm
sú là đối tượng nuôi được nông dân lựa chọn nhiều nhất đã trở thành nghề sản
xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao, làm thay đổi cơ cấu kinh tế trong vùng, góp
phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo cho người dân nông thôn và làm
thay đổi nhiều bộ mặt làng quê. Ðến nay, diện tích nuôi tôm của khu vực này
chiếm 70% tổng diện tích và 80% sản lượng NTTS của vùng. Chỉ tính trong 5
10
năm (2005-2010), vùng ÐBSCL phát triển diện tích nuôi tôm nước lợ từ 568.130
ha tăng lên 639.115 ha. Các tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn như: Cà Mau đạt 265
nghìn ha, Bạc Liêu 125.623 ha, các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà
Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang có diện tích từ 20 nghìn ha đến 80 nghìn ha.
Khoảng 80% số hộ nuôi tôm theo hình thức quảng canh, quảng canh cải tiến. Sóc
Trăng là địa phương dẫn đầu cả nước về mô hình nuôi tôm công nghiệp với hơn
26/48 nghìn ha diện tích nuôi tôm toàn tỉnh. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất
khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2010 con tôm là một trong những mặt
hàng xuất khẩu thủy sản chủ lực của Việt Nam cạnh tranh được với một số thị
trường thế giới. Kim ngạch xuất khẩu tôm của vùng vượt mức hai tỷ USD, tăng
23,47% so năm 2009.
Những năm qua, tỉnh Sóc Trăng đầu tư hơn 1.300 tỷ đồng cho 45 dự án
phát triển NTTS, xây dựng hệ thống thủy lợi với hàng chục kênh tạo nguồn, hàng
trăm km kênh dẫn kết hợp giao thông nông thôn, cùng với hàng chục công trình
điện khí hóa nông thôn phục vụ các vùng nuôi tôm trọng điểm ở các huyện Long
Phú, Trần Ðề, Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu, đưa diện tích nuôi tôm tăng lên 48.148 ha.
Các mô hình nuôi tôm ngày càng đa dạng, trong đó diện tích nuôi công nghiệp,
bán công nghiệp chiếm hơn 26 nghìn ha, còn lại theo hình thức quảng canh với số
lượng thả nuôi hơn sáu tỷ con giống/năm. Toàn tỉnh có khoảng 80% số hộ nuôi
tôm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào vụ nuôi. Năm 2005 năng suất bình quân chỉ
đạt 500 đến 600 kg/ha, năm 2010 tăng lên 800 đến 900 kg/ha, sau mỗi vụ nuôi có
70 đến 80% số hộ nuôi có lãi, nhiều ngư dân lãi ròng từ 30 đến 40 triệu
đồng/ha/vụ. Nuôi theo mô hình bán công nghiệp, năng suất bình quân đạt 2,5 tấn
đến 3 tấn/ha/vụ, lãi từ 120 đến 150 triệu đồng/ha/vụ, nuôi mô hình công nghiệp
đạt năng suất rất cao, bình quân từ 8 tấn đến 10 tấn/ha/vụ, cá biệt có hộ nuôi đạt
12 tấn/ha/vụ, nhiều hộ lãi cả tỷ đồng. Năm 2010, tỉnh Sóc Trăng đạt sản lượng
gần 55 nghìn tấn tôm (Sở thủy sản sóc trăng, 2010)
Tỉnh Cà Mau hiện có diện tích nuôi tôm sú lớn nhất cả nước, chiếm 40%
diện tích nuôi tôm vùng ÐBSCL. Năm 2010, năng suất nuôi tôm của Cà Mau
bình quân đạt 400 kg/ha/vụ, tổng sản lượng tôm nuôi đạt 103.900 tấn. Kim ngạch
xuất khẩu thủy sản của Cà Mau tăng cao so năm 2009 và vượt xa chỉ tiêu kế
hoạch tỉnh đề ra, đạt mức cao nhất từ năm 2003 đến nay. Riêng từ đầu năm đến
nay, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh Cà Mau đạt hơn 54 triệu USD, tăng
13% so cùng kỳ năm 2010. Tổng sản lượng thủy sản chế biến đạt 9.569 tấn. Năm
11
2011, ngành chế biến và xuất khẩu thủy sản Cà Mau phấn đấu đạt chỉ tiêu kim
ngạch xuất khẩu một tỷ USD (Báo nhân dân điện tử, 2011).
Tuy nhiên, theo dự báo của các ngành chuyên môn, vụ nuôi tôm sú năm
2011 ở ÐBSCL đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do thiếu nguồn giống chất
lượng, hạ tầng thủy lợi phục vụ cho vùng nuôi, thời tiết diễn biến phức tạp, giá
thành sản xuất tăng.
Ðồng bằng sông Cửu Long có lợi thế phát triển NTTS nhưng vẫn chưa
tương xứng tiềm năng sẵn có. Sự tăng nhanh về diện tích và sản lượng NTTS các
tỉnh ÐBSCL trong những năm qua chủ yếu theo chiều rộng, chưa có tính ổn định
và bền vững. Ðến nay, diện tích nuôi trồng thủy sản ở ÐBSCL đạt hơn một triệu
ha, trong đó có hơn 600 nghìn ha nuôi tôm nước lợ (chủ yếu là nuôi tôm sú). Chỉ
riêng diện tích nuôi tôm nước lợ đã tăng gấp hai lần so năm 2000. Việc chuyển
dịch diễn ra khá nhanh đã vượt các dự tính quy hoạch, khả năng về cơ sở vật chất,
công nghệ, kỹ thuật hiện có và trình độ quản lý. Công tác quy hoạch và chỉ đạo
thực hiện quy hoạch chưa tốt, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, chưa gắn kết giữa
các ngành kinh tế. Thực tế hiện nay, vẫn có địa phương chưa có quy hoạch tổng
thể hoặc chưa có quy hoạch chi tiết ở từng vùng nuôi tôm. Nơi đã có quy hoạch
thì việc thực hiện còn lúng túng. Cùng với quy hoạch diện tích nuôi ở các địa
phương là quy hoạch sản xuất giống thủy sản, hệ thống dịch vụ, hậu cần cho nuôi
thủy sản. Ở một số tỉnh, mặc dù diện tích nuôi tôm tăng nhanh, nhưng công tác
kiểm dịch, kiểm tra giống còn nhiều bất cập, chưa chủ động sản xuất được các
giống sạch bệnh, thiếu công nghệ quản lý môi trường theo hướng bền vững. Việc
đầu tư hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS hạn chế, chưa đáp ứng đủ yêu cầu về cấp
nước, thoát nước. Sự phối hợp giữa các địa phương trong vùng, giữa yêu cầu thủy
lợi nông nghiệp với thủy lợi thủy sản, bảo vệ rừng ngập mặn với NTTS, giữa
ngành thủy sản với các ngành khác chưa chặt chẽ, dẫn đến tranh chấp mặn - ngọt
phục vụ nuôi tôm, sản xuất lúa. Công nghệ nuôi nhìn chung còn lạc hậu, nuôi
quảng canh truyền thống vẫn là chủ yếu, năng suất đạt thấp, chưa đáp ứng được
nguồn nguyên liệu phục vụ cho các nhà máy chế biến xuất khẩu (Báo nhân dân
điện tử, 2011)
Ðể nghề nuôi tôm ở ÐBSCL phát triển bền vững, các địa phương trong
khu vực đang tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp. Trong đó chú trọng
hoàn thiện quy hoạch phát triển thủy sản một cách đồng bộ, nhất là quy hoạch
thủy lợi phục vụ cho NTTS. Đầu tư các trại sản xuất con giống có quy mô lớn,
bảo đảm chất lượng, mở rộng diện tích nuôi tôm công nghiệp, xem đây là mặt
12
hàng công nghiệp để có mức đầu tư thỏa đáng. Tổ chức hệ thống đại lý cung cấp
thức ăn, thú y thủy sản, tăng cường công tác khuyến ngư nhằm chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật cho người nuôi. Chủ động tìm các giải pháp vượt qua khó khăn, nhất
là các rào cản thương mại, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và hạ giá thành
sản phẩm. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vũ Văn Tám cho
biết, năm 2011 vùng ÐBSCL đề ra kế hoạch nuôi 640 nghìn ha tôm, chủ yếu là
tôm sú. Ðể nghề nuôi tôm tiếp tục giành thắng lợi, việc quy hoạch vùng nuôi thủy
sản phải dựa vào điều kiện sinh thái, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật
hiện có, cải tạo, đầu tư các công trình thủy lợi nhằm đáp ứng yêu cầu của nuôi
thủy sản là cần thiết. Năm nay, Bộ sẽ ban hành tiêu chí cho vùng nuôi và đánh số
50% cơ sở nuôi tôm nhằm thực hiện truy xuất nguồn gốc để nghề nuôi tôm phát
triển bền vững. Thực hiện mục tiêu này, tỉnh Cà Mau đang tiến hành quy hoạch
các vùng nuôi tôm công nghiệp tập trung ở những nơi có điều kiện phù hợp để
mở rộng diện tích, phấn đấu đến năm 2015 nâng diện tích nuôi tôm công nghiệp
lên 10 nghìn ha. Triển khai thực hiện các dự án, mô hình sản xuất thí điểm về
nuôi tôm công nghiệp (Báo thương mại, 2010)
Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng Nguyễn Trung Hiếu cho biết, phát huy lợi
thế NTTS trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trong xóa đói giảm
nghèo và tạo việc làm, thu nhập cho người dân, tỉnh đề ra mục tiêu từ nay đến
năm 2020 đạt tổng sản lượng 97,5 nghìn tấn tôm nguyên liệu, 90 nghìn ha nuôi
thủy sản, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 900 triệu USD. Theo đó, tỉnh ưu tiên
đầu tư cải tạo, nâng cấp hệ thống thủy lợi và hạ tầng cơ sở vùng nuôi tôm một
cách đồng bộ. Mở rộng diện tích nuôi theo hình thức công nghiệp, bán công
nghiệp trên cơ sở quy hoạch 35 nghìn ha, hình thành vùng nuôi tôm tập trung
theo công nghệ cao. Ðầu tư con giống, xử lý bảo vệ môi trường, tăng cường công
tác quản lý giá thức ăn, thuốc thú y thủy sản. Tạo điều kiện cho ngư dân vay vốn,
đào tạo nguồn lao động có kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững. Ngoài
việc thực hiện ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp chế biến
với người sản xuất tôm, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến thương mại để mở rộng
thị trường tiêu thụ sản phẩm, giúp người dân yên tâm sản xuất, ổn định cuộc
sống.
13
2.5 Các mô hình nuôi tôm sú hiện nay ở ĐBSCL
2.5.1. Nuôi tôm quảng canh
Mô hình nuôi tôm quảng canh là mô hình nuôi mật độ thấp do lệ thuộc vào
nguồn giống tự nhiên, diện tích ao nuôi lớn (1-5ha). Trong quá trình nuôi không
thả giống và không cung cấp thức ăn, kích cỡ tôm thu hoạch lớn, bán được giá
cao. Tuy nhiên năng suất và lợi nhuận thấp.
2.5.2. Nuôi tôm quảng canh cải tiến
Là hình thức nuôi dựa trên mô hình nuôi tôm quảng canh nhưng có thả
thêm giống ở mật độ thấp (0,5-2 con/m2) và bổ sung thức ăn không thường
xuyên. Ưu điểm của mô hình này là chi phí vận hành thấp, kích cỡ tôm thu hoạch
lớn và giá bán cao. Nhược điểm là phải bổ sung giống lớn để giảm hao hụt do
địch hại trong ao nhiều, năng suất và lợi nhuận thấp.
2.5.3. Nuôi tôm bán thâm canh
Là mô hình nuôi có đầu tư, mật độ thả nuôi từ 8 – 10 con/m2 (bán thâm
canh mức thấp), từ 15 – 24 con/m2 (bán thâm canh mức cao). Bổ sung thức ăn
công nghiệp là chủ yếu trong suốt quá trình nuôi. Diện tích ao nuôi nhỏ từ 0,2 –
0,5 ha được xây dựng hoàn chỉnh và trang bị đầy đủ các thiết bị phục vụ quá trình
nuôi. Kích cỡ tôm thu hoạch và giá bán khá cao.
2.5.4. Nuôi tôm thâm canh
Hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn viên công nghiệp. Mật độ thả
cao từ 25 – 40 con/m2, diện tích ao nuôi từ 0,5 – 1 ha. Ao được xây dựng rất hoàn
chỉnh, cấp và tiêu nước hoàn toàn chủ động, trang bị đầy đủ trang thiết bị và
phương tiện máy móc, có điện và giao thông thuận lợi. Chi phí vận hành cao, lợi
nhuận trên một đơn vị sản phẩm thấp.
14