Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI và PHÂN bốtôm HỌPENAEIDAE ỞVÙNG VEN BIỂN TỈNH TIỀN GIANG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.35 MB, 115 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN HỒNG LINH

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ TÔM
HỌ PENAEIDAE Ở VÙNG VEN BIỂN TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2009


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN HỒNG LINH

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ TÔM
HỌ PENAEIDAE Ở VÙNG VEN BIỂN TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Th.S NGUYỄN VĂN THƯỜNG

2009



LỜI CẢM TẠ

Chân thành cảm tạ sự hướng dẫn nhiệt tình của:
Thạc Sĩ: Nguyễn Văn Thường
Và sự giúp đỡ của quý cơ quan:
Chi Cục Kiểm Định Chất Lượng Thú Y và Thuỷ Sản Tiền Giang.
Sở Tài Nguyên Môi Trường Tiền Giang.
Hội nghề cá Tiền Giang.
Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Huyện Gò Công Đông.
Ban Quản lí Cảng Cá Vàm Láng.
Đồn Biên Phòng 587 Đèn Đỏ.
Cùng toàn thể quý Thầy Cô trong bộ môn Thuỷ Sinh Học Ứng Dụng và Quản
Lí Kinh Tế Nghề Cá, bà con ngư dân tại các địa điểm khảo sát, các chủ phương tiện
khai thác, các vựa mua bán tôm thuộc Tỉnh Tiền Giang cùng tập thể lớp Nuôi Trồng
Thuỷ Sản K31 đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

i


TÓM TẮT
Với tên đề tài: “Điều tra thành phần loài và phân bố tôm họ Penaeidae ở
vùng ven biển Tỉnh Tiền Giang” chủ yếu nói lên công việc của quá trình khảo sát
bao gồm thu mẫu tôm từ các tàu đánh cá thuộc địa phận biển Tiền Giang, đồng thời
phỏng vấn trực tiếp các chủ phượng tiện khai thác, bà con ngư dân về mùa vụ, sản
lượng khai thác ước đoán, công suất tàu đánh bắt. Mẫu tôm thu được trữ trong
Formol sau đó đem về phòng thí nghiệm dùng các tài liệu phân loại tôm Penaeidae
để định loại và cho ra kết quả khảo sát về thành phần giống loài.
Địa điểm khảo sát: tiến hành thu mẫu tại 3 điểm ven biển Tiền Giang.
Thời gian khảo sát: chia thành 5 đợt từ tháng 12/08-04/09.
Mục tiêu của đề tài

Khảo sát thành phần giống loài tôm Penaeidea và sự phân bố của chúng ở vùng ven
biển Tiền Giang.
Hiện trạng khai thác qua các năm, từ đó đưa ra những phương hướng chung cho
việc sử dụng và khai thác nguồn tôm biển theo xu hướng hợp lý và đồng thời làm cơ
sở phục vụ cho nhu cầu giảng dạy cũng như công tác quy hoạch và phát triển của
Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung.
Kết quả khảo sát cuối cùng
Họ Penaeidae thu được 8 giống, 21 loài trong đó có một số loài có giá trị kinh tế:
Penaeus monodon (Tôm sú), Fenneropenaeus indicus (Tôm Thẻ đỏ đuôi),
Fenneropenaues merguiensis (Thẻ đuôi xanh)…
Trong quá trình khảo sát gặp nhiều khó khăn về thời tiết, địa điểm, phương tiện
khảo sát… nên kết quả kém phần chính xác chưa phản ánh thực sự về thành phần
giống loài tôm Penaeidae tại biển Tiền Giang.

ii


MỤC LỤC
Phần 1: Giói thiệu ---------------------------------------------------------------------------- 1
Phần 2: Lược Khảo tài liệu----------------------------------------------------------------- 4
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu ---------------------------------------18
Phần 4: Kết quả và thảo luận -------------------------------------------------------------21
I. Kết quả khảo sát thành phần giống loài tôm thuộc họ Penaeidae ở vùng ven
biển Tỉnh Tiền Giang-------------------------------------------------------------------- 21
Thành phần loài tôm họ Penaeidae thu được ở Tiền Giang ----------------------- 21
II. Mô tả các giống loài tôm họ Penaeidae thu được -------------------------------- 22
II.1. Giống Penaeus Fabricus,1798 ------------------------------------------------- 22
Loài 1: Loài Penaeus monodon Fabricus,1798 ------------------------------- 22
Loài 2: Loài Penaeus semisulcatus De Haan,1844 --------------------------- 24
II.2.Giống Fenneropenaeus Pérez Farfante, 1969 -------------------------------- 27

Loài 3: Loài Fenneropenaeus indicus H. Milne Edwards, 1837 --------- 27
Loài 4: Loài Fenneropenaeus merguiensis De Man, 1888---------------- 29
II.3. Giống Marsupenaeus japonicus Bate, 1888 -------------------------------- 32
Loài 5: Marsupenaeus japonicus Bate, 1888 --------------------------------- 32
II.4. Giống Metapenaeus Wood-Mason, 1891------------------------------------ 34
Loài 6: Loài Metapenaeus ensis De Man, 1888 ------------------------------ 34
Loài 7: Loài Metapenaeus affinis H. Milne Edwards, 1837 -------------- 36
Loài 8: Loài Metapenaeus brevicornis H. Milne Edwards, 1837 ----------38
Loài 9: Loài Metapenaeus lysianassa De Man, 1888 ------------------------ 40
Loài 10: Loài Metapenaeus tenuipes Kubo, 1949 --------------------------- 42
II.5. Giống Parapenaeopsis, Alcok, 1901 ------------------------------------------ 44
Loài 11: Loài Parapenaeopsis cornuta, Kishinouye,1900 ----------------- 44
Loài 12: Loài Parapenaeopsis cultrirostris, Alcock,1906 ------------------ 46
Loài 13: Loài Parapenaeopsis gracillima Nobili,1903 ---------------------- 48
Loài 14: Loài Parapenaeopsis hardwickii Miers,1878---------------------- 50
Loài 15: Loài Parapenaeopsis hungerfordi, Alcock,1905-------------------52
iii


Loài 16: Loài Parapenaeopsis maxillipedo Alcock, 1905 ----------------- 54
II.6.Giống Metapenaeopsis, Bouvier, 1905 ---------------------------------------- 56
Loài 17: Loài Metapenaeopsis dura Kubo, 1949 ----------------------------- 56
Loài 18: Loài Metapenaeopsis stridulans Alcock, 1905--------------------- 58
II.7.Giống Trachysalambria Stimpson, 1860-------------------------------------- 60
Loài 19: Trachysalambria curvirostris Stimpson, 1860 -------------------- 60
II.8 .Megokris Pérez Farfante and Kensley, 1997 -------------------------------- 62
Loài 20: Megokris pescadoreensis Schmitt, 1931 --------------------------- 62
Loài 21: Megokris sedili Hall, 1961 -------------------------------------------- 64
III. Hiện trạng khai thác tôm biển họ Penaeidae ở vùng ven biển Tỉnh Tiền
Giang------------------------------------------------------------------------------------------ 66

1.Tình hình nuôi và khai thác tôm Penaeidae ----------------------------------------- 66
1.1.Tình hình khai thác tôm Penaeidae------------------------------------------ 66
1.2.Tình hình nuôi tôm ----------------------------------------------------------- 68
2. Ngư cụ khai thác ------------------------------------------------------------------------ 69
2.1. Các ngư cụ chủ yếu ------------------------------------------------------------------ 69
2.2. Tính năng của các ngư cụ khai thác ------------------------------------------2.2.1 Lưới cào-------------------------------------------------------------------------2.2.2 Lưới đáy chạy và đóng đáy (lưới ruốc) -------------------------------------2.2.3 Đáy hàng khơi (sông cầu) -----------------------------------------------------

70
70
70
71

3. Ngư trường khai thác------------------------------------------------------------------- 72
3.1. Đặc điểm ngư trường khai thác -------------------------------------------------- 72
3.2.Các ngư trường khai thác ở vùng biển tỉnh Tiền Giang ----------------------- 72
3.3 Mùa vụ khai thác -------------------------------------------------------------------- 73
4. Những thách thức cùng các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi tôm họ
Penaeidae ------------------------------------------------------------------------------------- 73
4.1. Những thách thức ---------------------------------------------------------------- 73

iv


4.2. Những giải pháp ----------------------------------------------------------------- 74
Phần 5: Kết Luận và đề xuất------------------------------------------------------------- 76
I. Kết Luận----------------------------------------------------------------------------------- 76
II. Đề Xuất ----------------------------------------------------------------------------------- 76
Phần 6: Tài liệu tham khảo--------------------------------------------------------------- 78
Phần phụ lục -------------------------------------------------------------------------------- 82


v


DANH SÁCH BẢNG VÀ HÌNH
Danh sách bảng
Bảng 2.1: Thống kê số lượng giống, loài tôm Penaeidae trên thế giới ----------------- 6
Bảng 2.2: Thành phần giống loài tôm Penaeidae có giá trị kinh tế phổ biến trên thế
giới và Việt Nam------------------------------------------------------------------------------- 7
Bảng 2.3: Thành phần một số loài tôm kinh tế Penaeidae được tìm thấy tại ven
biển Tiền Giang -------------------------------------------------------------------------------11
Bảng 4.1: Thành phần loài tôm Penaeidae tại vùng ven biển Tiền Giang ------------21
Danh sách hình
Hình 2.1: Bản đồ hành chính Tỉnh Tiền Giang ------------------------------------------ 17
Hình 3.1: Bản đồ hành chính Tỉnh Tiền Giang -------------------------------------------19
Hình 4.1: Loài 1: Penaeus monodon Fabricus, 1789 (Tôm sú) ------------------------23
Hình 4.2: Loài 2: Penaeus semisulcatus De Haan, 1844 (Tôm rằn) ------------------26
Hình 4.3: Loài 3: Fenneropenaeus indicus H. Milne Edwards, 1837 (Tôm thẻ đỏ
đuôi) --------------------------------------------------------------------------------------------28
Hình 4.4: Loài 4: Fenneropenaeus merguiensis De Man, 1888 ( Tôm Thẻ đuôi
xanh)--------------------------------------------------------------------------------------------30
Hình 4.5: Loài 5: Marsupenaeus japonicus Bate, 1888 (Tôm He Nhật Bản) -------32
Hình 4.6: Loài 6: Metapenaeus ensis De Man, 1888 ( Tôm đất)---------------------- 34
Hình 4.7: Loài 7: Metapenaeus affinis H. Milne Edwards, 1837 (Tôm Chì) ------- 37
Hình 4.8: Loài 8: Metapenaeus brevicornis H. Milne Edwards, 183739
( Bạc Nghệ) ----------------------------------------------------------------------------------- 39
Hình 4.9: Loài 9: Metapenaeus lysianassa De Man, 1888 (Tép bạc) ---------------- 41
Hình 4.10: Loài 10: Metapenaeus tenuipes Kubo, 1949 (Tép bạc) ------------------- 43
Hình 4.11: Loài 11: Parapenaeopsis cornuta Kishinouye, 1900 (Tôm chì)--------- 45
Hình 4.12: Loài 12: Parapenaeopsis cultrirostris, Alcock,1906 (Tôm sắt ) -------- 47
Hình 4.13: Loài 13: Parapenaeopsis gracillima Nobili,1903 (Tôm giang)--------- 49

Hình 4.14: Loài 14: Parapenaeopsis hardwickii Miers, 1878------------------------- 51
Hình 4.15: Loài 15: Parapenaeopsis hungerfordi Alcock,1905 (Tôm gậy) -------- 53
Hình 4.16: Loài 16: Parapenaeopsis maxillipedo Alcock, 1905 --------------------- 56
Hình 4.17: Loài 17: Metapenaeopsis dura Kubo, 1949 (Tôm gậy đá) --------------- 57
Hình 4.18: Loài 18: Metapenaeopsis stridulans Alcock, 1905 (Tôm gậy đá) ------ 59
Hình 4.19: Loài 19: Trachysalambria curvirostris Stimpson, 1860 (Tôm gậy đá) 61
Hình 4.20: Loài 20: Megokris pescadoreensis Schmitt, 1931 (Tôm đanh vòng)
63

vi


Hình 4.21: Loài 21: Megokris sedili Hall, 1961 (Tôm đanh) ------------------------- 65
Hình 4.22: Biến động sản lượng khai thác tôm biển ở Tiền Giang qua các năm
2000-2008 -------------------------------------------------------------------------------------67
Hình 4.23: Biến động tàu thuyền đăng ký và tổng công suất qua các năm 20012007---------------------------------------------------------------------------------------------68
Hình 4.24: Biến động giữa diện tích và sản lượng nuôi từ 2000-2007 ----------------68
Hình 4.25: Lưới giả cào----------------------------------------------------------------------69
Hình 4.26: Lưới ruốc -------------------------------------------------------------------------70
Hình 4.27: Đáy hàng khơi (sông cầu)------------------------------------------------------71

vii


CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU
Tiền Giang là tỉnh cuối nguồn sông Cửu Long với kinh độ 105o49’07E đến
105o48’06E và vĩ độ 10o14’N đến 10o32’N phía Bắc giáp với Long An và Thành
Phố Hồ Chí Minh, Nam giáp với Bến Tre và Vĩnh Long, Tây giáp Đồng Tháp. Tiền
Giang nằm trải dọc sông Tiền với chiều dài 120 km. Diện tích tự nhiên là 2.339 km2

có 7 huyện, Thành phố Mỹ Tho và thị xã Gò Công (Sở Địa Chính và Khoa Học Môi
Trường Tiền Giang, 2008).
Tiền Giang có đường bờ biển dài 32 km với hàng ngàn ha bãi bồi ven biển cộng với
hệ thống sông ngòi dày đặc kết hợp với chế độ thủy triều ven biển thuộc loại bán
nhật triều không đều, biên độ triều dao động từ 2,9 - 3,5 m cao nhất là tháng 9-12
cùng thời kì với nước lũ và thấp nhất vào tháng 2-6 (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn Tiền Giang, 2008). Đây là những điều kiện hội tụ để đẩy mạnh các
ngành nghề Thủy sản và phát triển kinh tế biển ở Tiền Giang.
Với vị thế nằm ở tả ngạn sông Tiền, nằm kẹp giữa các cửa sông lớn là Xoài Rạp
(sông Vàm Cỏ) và cửa Tiểu, cửa Đại nên Tỉnh có tiềm năng phát triển nuôi trồng
Thủy sản lợ mặn ven biển khá lớn khoảng 2.800 ha. Trong những năm vừa qua,
nghề nuôi Thủy sản nước lợ như tôm, cua của Tỉnh đã phát triển nhanh chóng cùng
với phong trào chung của Đồng Bằng Sông Cửu Long (Sở Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn Tiền Giang, 2008).
Gò Công Đông, nằm trong khu vực giáp biển của Tỉnh Tiền Giang có chế độ thủy
triều bán nhật triều không đều, mỗi ngày có 2 lần nước lớn và 2 lần nước ròng. Thời
gian nhật triều lên khoảng 5 giờ, thời gian triều xuống khoảng 6-7 giờ. Chu kỳ một
con triều lên khoảng 12,3 giờ. Đỉnh triều và chân triều không đều nhau, đỉnh triều
của 2 lần nước lớn (kế tiếp nhau) chênh lệch nhau từ 0,2 - 0,4 m, chân triều của 2
lần nước ròng (kế tiếp nhau) chênh lệch từ 1 - 2,5 m, biên độ triều dao động từ 2,9 3,4 m tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh sản và di cư của các loài thủy hải sản cùng
với nghề khai thác biển. Nguồn lợi Thủy sản các loại nói chung và tôm nói riêng của
Tỉnh khá phong phú về thành phần loài cũng như về số lượng. Triển Nông Thôn
Điều này đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tình hình phát triển kinh tế
Thủy sản của Tỉnh trong những năm vừa qua.

1


Theo khảo sát toàn Tỉnh đã tìm thấy 42 loài tôm nước ngọt lẫn nước mặn phân bố ở
các thủy vực (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tiền Giang, 2008). Điều

này tạo cơ sở cho công tác quy hoạch nuôi trồng và khai thác Thủy hải sản ở Tiền
Giang phát triển.
Theo thống kê diện tích nuôi tôm nước lợ mặn tăng liên tục từ 2.498 - 4.216 ha, sản
lượng nuôi tăng 1.174 - 9.381 tấn từ 2000-2007 (Niên Giám thống kê và Báo cáo
ngành Thủy sản Tiền Giang, 2007). Điều này chứng tỏ sự quan tâm, hỗ khoa học kỹ
thuật cũng như con giống, thức ăn cho nghề nuôi Thủy sản của Tỉnh. Từ đó đã mở
ra nhiều cơ hội thuận lợi hơn để thúc đẩy nghề nuôi tôm phát triển, góp phần nâng
cao đời sống của người nuôi.
Qua khảo sát, Tiền Giang hiện có 470 phương tiện khai thác Thuỷ sản xa bờ, 728
phương tiện khai thác gần bờ (Chu Trinh, 2008). Lực lượng khai thác Thủy sản hiện
nay gồm có 24 loại nghề đang hoạt động trong lĩnh vực khai thác biển ven bờ với
các phương tiện công suất nhỏ hoặc các nghề không đánh bắt xa bờ được: cào te,
đáy sông cầu, đáy chạy, đáy rạo, câu mồi, lưới cua; ngư trường ngoài tỉnh với công
suất tàu thuyền tương đối lớn (>45CV) và khai thác sông với các phương tiện có
công suất động cơ nhỏ (<30CV) hoặc không có động cơ, hay ngư cụ cố định: cào
sông, đăng mé, lưới rùng, chài, ao nhữ tôm, câu tôm, chà, lưới rê sông và lợp. Đây
là những cơ sở để quy hoạch lại các ngư cụ khai thác của tỉnh (theo Sở Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Tiền Giang 2008) nhằm góp phần bảo vệ
nguồn lợi Thủy sản của Tỉnh nói riêng và cả nước nói chung.
Qua thống kê về ngư cụ khai thác của Tỉnh có sự gia tăng mạnh về số lượng ngư cụ
khai thác đặc biệt là lưới kéo (cào), lưới cố định (đáy, đăng). Đây là những loại nghề
khai thác ảnh hưởng không tốt đến nguồn lợi Thủy sản tự nhiên, sát hại nhiều loài
cá, tôm, đồng thời phá hoại môi trường khai thác. Các ngư cụ khai thác mang tính
chọn lọc: câu, lưới vây lại tăng chậm hơn
Từ những thông tin trên, chiến lược bảo vệ nguồn lợi Thủy sản của Tỉnh Tiền
Giang nằm trong chiến lược bảo vệ chung của Bộ Thủy Sản: nhằm ngăn ngừa khai
thác bừa bãi, phá hoại nguồn lợi Thủy sản. Đồng thời nghiên cứu thả nuôi các giống
loài cá, tôm… ra các vùng để làm giàu nguồn lợi Thủy sản, đảm bảo việc khai thác
lâu dài và bền vững nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế của ngành Thủy
sản. Tổ chức lại nghề khai thác, thay đổi về ngư cụ cho hiệu quả, phục hồi lại diện

tích rừng ngập mặn, tăng cường công tác khuyến ngư và hỗ trợ thêm nhiều chính
sách cho ngư dân.

2


Từ những vấn đề trên được sự đồng ý của khoa Thủy Sản - Đại Học Cần Thơ, tôi
thực hiện đề tài: “Điều tra thành phần loài và phân bố tôm họ Penaeidae ở vùng
ven biển Tỉnh Tiền Giang” với mục tiêu của đề tài nhằm nắm lại thành phần loài
tôm họ Penaeidae phân bố ở Tiền Giang, trên cơ sở đó đề ra phương hướng bảo vệ
và phát triển nguồn lợi giáp xác nói chung và tôm họ Penaeidae nói riêng.
Nội dung đề tài
Khảo sát thành phần giống loài tôm Penaeidea và sự phân bố của chúng ở vùng ven
biển Tiền Giang.
Khảo sát hiện trạng khai thác Thủy sản, đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn
lợi Thủy sản.

3


CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
I.Về thành phần giống loài
Theo hệ thống phân loại hiện nay thì tôm Penaeidae thuộc
Ngành: Arthopoda.
Ngành phụ: Crustacea.
Lớp: Malacostraca.
Lớp phụ:Eumalacostraca.
Bộ: Decapoda.
Bộ phụ: Dendrobranchiata.

Tổng họ: Penaeoidea.
Họ: Penaeidae.
(Nguồn ngày 15/03/09).
Theo W.Dall (1990) thì tôm Penaeidae là loài có giá trị kinh tế cao, phân bố rộng
khắp thế giới, chúng phân bố ở khu vực biển nhiệt đới và cận nhiệt đới trong vùng
đẳng nhiệt tối thiểu 20oC vào mùa đông. Ở Việt Nam chúng phân bố dọc ở các bờ
biển thuộc Vịnh Bắc Bộ, ven biển miền Trung và vùng biển Nam Bộ. Vùng biển
Tây và Đông Nam Bộ chiếm trữ lượng lớn (3.983 tấn và 3.383 tấn ở độ sâu <12 m)
và khả năng khai thác cao (1.946 tấn và 1.691 tấn) (Phạm Thược, 2005). Vì vậy
tôm Penaeidae trở thành một trong những đối tượng khá quan trọng được nước ta
đẩy mạnh công tác nghiên cứu, điều này tạo nền tảng cơ bản, có ý nghĩa đến nuôi
trồng đánh bắt, phân loại và phục vụ công tác giảng dạy trong cả nước.
1.Nghiên cứu trên thế giới
Tổng họ Penaeiodea gồm 5 họ (Aristeidae, Benthesicymidae, Penaeidae,
Sicyoniidae và Solenoceridae) và khoảng 56 giống với gần 500 loài được tìm thấy
từ khắp các nước trên thế giới (Holthuis 1980, Perez Farfante & Kensley 1997).
Điều này nói lên sự phong phú về thành phần giống loài của tôm Penaeiodea, đồng
thời có ảnh hưởng sâu sắc đến các công trình nghiên cứu tôm biển sau này.
1.1. Khu hệ Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương (Indo-West Pacific).
Đối với khu hệ Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương (Indo-West Pacific) có nhiều công
trình cứu của: Alcock (1905, 1906), Kubo (1949), Holthuis (1980), Dall et al

4


(1990) đã nghiên cứu các loài tôm thuộc biển Ấn Độ, Malaysia, Úc, Nhật Bản tạo
ra bước tiền đề để tạo điều kiện cho phân loại cũng như nghiên cứu về tôm
Penaeidae phát triển.
Về khu hệ tôm cận nhiệt đới với công trình nghiên cứu của Anderson, Lindner
(1945), Balss (1957) (trích dẫn bởi Nguyễn Văn Thường, 2004), trong đó tôm họ

Penaeidae đã được công bố 33 giống (hơn 320 loài, không kể các dạng hóa thạch).
Công trình này có ý nghĩa rất lớn tạo sự khởi đầu cho các nghiên cứu tiếp theo về
tôm biển.
Isabel Pérez Farfante (1988) đã tìm thấy 4 họ, 12 giống và 37 loài tôm Penaeide ở
khu vực châu Mỹ. Công trình này ảnh hưởng quan trọng đến các nghiên cứu tiếp
theo về phân loại hình thái tôm biển ở khu vực châu Mỹ nói riêng và thế giới nói
chung.
Pérez Farfante và Kensley (1997) đã công bố công trình nghiên cứu về hình thái
học của tôm Penaeoid. Điều này có ảnh hưởng rất quan trọng đến tạo cơ sở cho các
nghiên cứu tiếp theo về họ tôm này.
Theo thống kê, họ tôm Penaeidae với khoảng 171 loài thuộc 7 giống (Artemesia,
Atypopenaeus, Funchalia, Hetoropenaeus, Macropetasma, Metapenaeopsis,
Parapenaeopsis, Metapenaeus, Parapenaeus, Pelagopenaeus, Penaeopsis, Penaeus,
Protrachypene, Trachypenaeus, Trachypenaeopsis, Tanypenaeus, Xiphopenaeus)
chiếm ưu thế vùng nhiệt đới và á nhiệt đới ( Nguyễn Văn Thường, 2004). Qua đó
thấy sự phân bố rộng của các giống loài tôm trong họ này. Đồng thời đây còn là tư
liệu khảo sát đầy ý nghĩa ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu về họ tôm Penaeidae
trong các khu vực trên thế giới.
Dall et al (1990) thì có khoảng 125 loài được biết ở vùng biển Ấn Độ-Tây Thái Bình
Dương. Điều này tạo cơ sở thống kê, có ảnh hưởng quan trọng đến việc phân loại
thành phần loài tôm Penaeid ở trên thế giới.
1.2. Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương
Kubo (1949) đã chia họ Penaeidae thành 5 nhóm, đồng thời thiết lập một nghiên
cứu hoàn chỉnh về thành phần tôm ở vùng biển Nhật Bản (Kubo 1949 reported by
Tin-Yam Chan, 2008). Đây là một công trình có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống
định dạng và phân loại tôm Penaeidae.
Họ Penaeidae được tìm thấy có 85 loài ở vùng phụ Ấn Độ - Mã Lai trong đó có Việt
Nam, Đài Loan, Papua, New Guinea và đảo Solomon (Dall et al, 1990). Từ đây cho
thấy sự phong phú về thành phần giống loài tôm Penaeidae ở khu vực này đồng thời
5



còn mở ra những cơ hội cho các nghiên cứu tiếp theo về các giống loài trong họ tôm
này.
Lee and Yu (1997) đã tìm thấy 33 loài thuộc 8 giống tôm Penaeidae tại vùng biển
Đài Loan. Điều này nói lên sự phân bố rộng rãi của họ tôm này trên thế giới và có
ảnh hưởng quan trọng đến hệ thống phân loại tôm Penaeidea ở Đài Loan nói riêng
và các nước trong khu vực nói chung.
Satit Kovitvadhi (1992) đã tìm thấy 35 loài tại 4 tỉnh dọc đường bờ biển phía Đông
Thái Lan thuộc họ Penaeidae. Công trình này có ý nghĩa quan trọng, góp phần mở
đường cho những nghiên cứu tôm biển ở Thái Lan, tạo nền tảng vững chắc cho
phân loại tôm biển về sau ở Thái Lan.
Nongnud tangkrock-Olan và ctv (2008) đã tìm thấy 44 loài thuộc 11 giống thuộc
họ Penaeidae thuộc các Tỉnh dọc vịnh Thái Lan. Điều này nói lên sự phong phú về
giống loài tôm Penaeoidea ở khu vực bờ biển Tây vịnh Thái Lan. Nó không những
mở ra nhiều điều kiện thuận lợi cho các công trình nghiên cứu về tôm biển ở Thái
Lan mà còn hưởng đáng kể đến việc phân loại cũng như xác định thành phần loài
tôm Penaeidae ở các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam.
Tôm Penaeidae ở các nước nhiệt đới chiếm khoảng 700.000 tấn tôm trên toàn cầu,
có vai trò thương phẩm quan trọng ở các nước châu Âu, châu Mỹ, Nhật Bản và có
một sự đóng góp rất lớn vào nền sản xuất tôm công nghiệp của thế giới (F.A.O,
2001). Họ Penaeidae gồm 26 giống 206 loài đã đóng góp hơn phân nữa sản lượng
tôm sản xuất trên thế giới (FAO, 2001). Vùng biển trung tâm khu vực Tây-Thái
Bình Dương tìm thấy 11 giống 112 loài thuộc họ Penaeid, trong số đó thì Penaeus
đóng vai trò quan trọng với số lượng khá đông, 2 loài quan trọng nhất là Penaeus
monodon và Fenneropenaeus merguiensis (FAO, 2001). Từ đó thấy rằng tôm họ
Penaeidae đóng vai trò quan trọng trong nền sản xuất tôm của các nước trên thế
giới.
Bảng 2.1: Thống kê số lượng giống, loài tôm Penaeidae trên thế giới.
STT

Giống
1
Artemesia Bate, 1888
2
Atypopenaeus Alcock, 1905
3
Farfantepenaeus Burukovsky, 1997
4
Fenneropenaeus Pérez Farfante, 1969
5
Funchalia J. Y. Johnson, 1868
6
Heteropenaeus De Man, 1896
7
Litopenaeus Pérez Farfante, 1969
8
Macropetasma Stebbing, 1914
6

Loài
1
5
8
5
5
1
5
1



9
Marsupenaeus Tirmizi, 1971
10
Megokris Pérez Farfante and Kensley, 1997
11
Melicertus Rafinesque-Schmaltz, 1814
12
Metapenaeopsis Bouvier, 1905
13
Metapenaeus Wood-Mason, 1891
14
Miyadiella Kubo, 1949
15
Parapenaeopsis Alcock, 1901
16
Parapenaeus Smith, 1885
17
Pelagopenaeus Pérez Farfante and Kensley, 1997
18
Penaeopsis Bate, 1881
19
Penaeus Fabricius, 1798
20
Protrachypene Burkenroad, 1934
21
Rimapenaeus Pérez Farfante and Kensley, 1997
22
Tanypenaeus Pérez Farfante, 1972
23
Trachypenaeopsis Burkenroad, 1934

24
Trachypenaeus Alcock, 1901
25
Trachysalambria Burkenroad, 1934
26
Xiphopenaeus Smith, 1869
(Nguồn: ).
Ở Việt Nam, họ tôm Penaeidae đóng vai trò quan trọng trong nghề nuôi
thác. Các loài thường gặp phổ biến như sau:
Bảng 2.2: Thành phần giống loài tôm Penaeidae có giá trị kinh tế phổ biến
giới và Việt Nam.
TT
Thành phần loài
Trên thế
Việt Nam
giới
Ấn ĐộVịnh
Miền
Tây Thái Bắc Bộ Trung
Bình
Dương
I. Giống Penaeus
P.monodon Fabricius1789
+
+
+
P.semisulcatus De Haan,1844
+
+
+

P. marginatus J. W. Randall, 1840
+
+
P. plebejus Hess, 1865
+
+
II.Giống Fenneropenaeus
F. chinensis Osbeck, 1765
+
+
F. indicus H. Milne Edwards, 1837 +
+
+
F. merguiensis De Man, 1888
+
+
+
F. penicillatus Alcock, 1905
+
+
III. Giống Funchalia
F. woodwardi J. Y. Johnson, 1868
+
+
+
7

1
4
7

73
26
2
19
13
1
6
3
1
6
1
3
18
8
1

và khai
trên thế

Nam
Bộ

+
+

+
+


IV. Giống Marsupenaeu

M. japonicus Bate, 1888
V. Giống Melicertus
M. canaliculatus Olivier, 1811
M. latisulcatus Kishinouye, 1896
M. plebejus Hess, 1865
VI. Giống Metapenaeus
M. ensis De Haan, 1844
M. affinis H. Milne Edwards, 1837
M. intermedius Kishinouye, 1900
M.joyneri Miers, 1888
M. lysianassa De Man, 1888
M.dobsoni Miers, 1878
M.brevicornis
M.moyebi Kishinouye, 1896
M. tenuipes Kubo, 1949
VII.Giống Parapenaeopsis
P. cornuta Kishinouye, 1900
P. cultirostris Alcock, 1906
P. gracillima Nobili, 1903
P. hardwickii Miers, 1878
P.hungerfordi Alcock, 1905
P. maxillipedo Alcock, 1905
P.sculptilis Heller, 1862
P. tenella Bate, 1888
VIII. Giống Parapenaeus
P. fissurus Bate, 1881
P. longipes Alcock, 1905
P. australiensis Dall, 1957

+


+

+

+

+
+

+
+
+

+
+
+

+

+
+
+
+

+
+
+

+

+
+

+

+
+
+
+
+

+
+
+
+
+
+
+
+
+

+
+

+
+
+
+
+
+

+
+

+
+
+
+
+
+
+
+

+
+
+

+
+

+
+
+
+
+
+

+
+
+
+

+
+
+
+

+
+
+

(Nguồn: Nguồn lợi Thuỷ sản Việt Nam, 1996).
2. Nghiên cứu tại Việt Nam
Tôm Penaeidae là một trong những loài tôm có giá trị kinh tế cao, đóng vai trò khá
quan trọng trong thị trường xuất khẩu và nội địa. Với số lượng và thành phần loài
phong phú, tôm Penaeidae đã và đang trở thành mặt hàng chủ lực trong lĩnh vực
xuất khẩu của nhiều nước. Vì vậy công tác nghiên cứu về thành phần và giống loài
của họ tôm này đã được tiến hành nghiên cứu từ lâu tại nhiều quốc gia trên thế giới
trong đó có Việt Nam.

8


Trước 1954
Viện Hải Dương Học Nha Trang 1947 với nội dung nghiên cứu rộng của tàu De
Lanessan về nguồn lợi sinh vật biển (Động vật chí Việt Nam, 2001). Nhìn chung
công tác nghiên cứu tôm biển nhìn chung vẫn chưa được coi trọng.
1954 - 1975
Ở miền Bắc Việt Nam
Vùng biển Việt Nam đã thống kê được 9 giống 59 loài thuộc họ Penaeidae
(Nguyễn Văn Chung,1995 và Phạm Ngọc Đẳng,1994 trích dẫn bởi Động vật chí
Việt Nam, 2001). Điều này có vai trò hết sức quan trọng góp phần tạo nền tảng cơ

bản cho công tác nghiên cứu tôm Penaeidae ở những năm tiếp theo.
Ở miền Trung Việt Nam
Nguyễn Văn Thuận và Cao Thị Thanh Hà (2008) đã tìm thấy 33 loài thuộc 7 họ
Penaeidae tại vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi gồm Penaeus, Parapenaeus,
Parapenaeopsis, Metapenaeus, Metapenaeopsis, Trachypenaeus, Litopenaeus
(không gặp ngoài tự nhiên chỉ gặp ở các đầm nuôi). Công trình này không những
nói lên sự phong phú về thành phần giống loài tôm Penaeidae phong phú ở khu vực
này đồng thời còn mở ra cơ sở khoa học cơ bản, có ý nghĩa quan trọng cho các
công trình nghiên cứu tiếp theo về tôm Penaeidae tại Quảng Ngãi nói riêng và cả
nước nói chung.
Ở miền Nam Việt Nam
Tổng kết tình hình đánh bắt và sản lượng tôm biển từ Quảng Trị đến Bình Thuận
được công bố bởi khảo sát của Nguyễn Cháu và Trần Đệ 1964 ( trích dẫn Trung
tâm nghiên cứu khoa học công nghệ quốc gia, 2001). Công trình này có ý nghĩa
quan trọng trong việc thống kê phân loại thành phần tôm biển đánh bắt được ở khu
vực phía Nam và làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về tôm biển.
Từ 1975 về sau
Ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long
Vùng biển Thuận Hải - Minh Hải đã phát hiện 30 loài tôm họ Penaeidae gồm
nhiều loài có giá trị như Penaeus monodon (Tôm sú), Fenneropenaeus
merguiensis (thẻ đuôi xanh)…(Nguyễn Văn Chung và ctv, 1985 trích dẫn bởi
Nguyễn Văn Thường, 2004). Điều này không những cho thấy sự phong phú về

9


thành phần tôm Peaneidae ở khu vực vùng biển phía Nam mà còn có ý nghĩa quan
trọng đến các nghiên cứu tiếp theo về tôm biển ở vùng Minh Hải.
Hà Tuấn Sỹ (1985) đã phát hiện 15 loài tôm họ Penaeidae trong khu hệ Đồng
Bằng Sông Cửu Long. Nghiên cứu này đã làm cơ sở cho các khảo sát tiếp theo về

thành phần giống loài tôm họ Penaeidae ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Khoa Thủy Sản (1986) với chương trình 60-02 thuộc cấp Nhà Nước đã khảo sát
được 15 loài tôm họ Penaeidae tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long. Công
Trình này không những nói lên sự phong phú về thành phần giống loài Penaeidae
tại Đồng Bằng Sông Cửu Long mà góp phần phục vụ cho công tác giảng dạy Thủy
sản tại Đại Học Cần Thơ.
Thái Trường Giang (1996) đã phát hiện 5 giống tôm thuộc họ Penaeidae (Penaeus,
Metapenaeus, Parapenaeopsis, Metapenaeopsis, Trachypenaeopsis) gồm 16 loài tại
vùng biển Minh Hải. Luận văn này với số loài tìm được tuy còn hạn chế nhưng có
ảnh hưởng nhiều cho những khảo sát tiếp theo tại khu vực này.
Nguyễn Văn Thường và ctv (1997) đã tìm thấy 5 giống (Penaeus, Metapenaeus,
Parapenaeopsis, Trachypenaeus và Metapenaeopsis) với 25 loài tôm họ Penaeidae
phân bố ven biển các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long. Công trình này có ý nghĩa
quan trọng trong việc phân loại giống loài tôm ở khu vực này và đã đóng góp rất
lớn đến việc phục vụ công tác giảng dạy chuyên ngành Thủy sản.
Vũ Nam Sơn (1997) đã tìm thấy 20 loài tôm họ Penaeidae tại vùng biển tây Minh
Hải. Số giống loài tìm được trong luận văn này ít hơn so với công trình nghiên cứu
của Nguyễn Văn Thường và ctv 2004.
Trương Thị Kiều (2005) đã tìm được 23 loài tôm Penaeidea gồm 2 họ Penaeidae (9
giống và 22 loài), Solenoceridae (1 giống với 1 loài duy nhất là Solenocera
crassicornis) tại vùng ven biển tỉnh Trà Vinh. Luận văn này có giá trị khá quan
trọng cho việc giảng dạy và nghiên cứu để bảo tồn họ tôm này tại vùng ven biển
Trà Vinh nói riêng và cả nước nói chung.
Dương Duy Phương (2005) đã tìm thấy 8 giống, 19 loài tôm Penaeidae và 1 họ, 1
loài tôm Solenoceridae tại vùng ven biển Cà Mau. Luận văn này không những có ý
nghĩa thống kê quan trọng về thành phần tôm Penaeidae mà còn góp phần phục vụ
cho những nghiên cứu tiếp theo về họ tôm này ở vùng biển Cà Mau.
Nguyễn Quốc Trường (2007) đã phát hiện 22 loài thuộc họ tôm He ở vùng ven
biển Sóc Trăng - Bạc Liêu, trong đó có loài xuất hiện nhiều nhất là tôm sắt


10


(Parapenaeopsis cultrirostris), giang (Parapenaeopsis gracillima), Parapenaeosis
styliferus, tép bạc (Metapeneus tenuipes)…
Phạm Văn Đo (1997) đã tìm thấy 19 loài tôm họ Penaeidae phân bố ở tỉnh Tiền
Giang trong đó chỉ cung cấp danh sách 12 loài. Công trình này có ý nghĩa quan
trọng tạo nền tảng cơ bản cho những nghiên cứu tiếp theo về tôm biển cũng như về
bảo tồn nguồn lợi này ở Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung.
Bảng 2.3: Thành phần một số loài tôm kinh tế Penaeidae được tìm thấy tại ven
biển Tiền Giang
STT
Tên khoa học
Tên địa phương
Ghi chú
1

Penaeus indicus H. Milne Edwards.

Tôm thẻ

2

P. semisulcatus Dee Haan.

Tôm sú bông

3
4


Parapenaeopsis sculptilis Heller
P. hardwickii Miers

Tôm sắt, tôm rằn
Tôm sắt

5
6

P.hungerfordii Alcock
P. gracillima Nobili

Tôm sắt, sắt đá
Tôm vú nàng

7

P.maxillipedo Alcock

Tôm sắt

8
9
10
11

Metapenaeopsis palmensis
Metapenaeus ensis Dee Haan.
M. tenuipes Kubo
M. brevicornis H. Milne Edwards.


Tôm vỏ u rộng
Tôm bạc đất
Tôm bạc
Tôm bạc nghệ

12

M. lysianassa De Man

Tôm bạc

Biển Tiền Giang thuộc khu hệ biển Đông, nguồn lợi sinh vật biển khá phong phú,
nhưng với kết quả khảo sát này của Phạm Văn Đo còn hạn chế, cần phải bổ sung
nhiều hơn nữa về thành phần giống loài tôm biển Penaeidae ở Tiền Giang. Tuy
nhiên công trình này đã tạo một cơ sở quan trọng trong việc xác định thành phần
giống loài và số lượng tôm Penaeidae, góp phần quan trọng trong việc phục vụ cho
nhu cầu công tác giảng dạy và phương hướng bảo vệ họ tôm này trong tỉnh Tiền
Giang nói riêng và cả nước nói chung.
II. Về phân bố
1. Trên thế giới
Tôm Penaeidae phân bố rộng khắp các nơi trên thế giới ở các nước nhiệt đới và cận
nhiệt đới, nhưng yếu tố nhiệt độ ảnh hưởng đến sự phân bố của chúng theo vùng vĩ
11


độ. Hầu hết các loài sống trong vùng đẳng nhiệt tối thiểu 20oC vào mùa Đông
(Dall, 1990). Chúng có số lượng và mật độ phân bố cao ở khu vực Ấn Độ-Tây Thái
Bình Dương (Nguyễn Văn Thường, 2004).
Khu vực phân bố của tôm Penaeoidea được chia thành 4 khu hệ chính: Ấn Độ-Tây

Thái Bình Dương ( trong đó có 9 vùng phụ), Đông Thái Bình Dương (2 vùng phụ),
Tây Đại Tây Dương (5 vùng phụ) và Đông Đại Tây Dương (2 vùng phụ) (Briggs,
1947 và Abele, 1982 trích dẫn bởi Nguyễn Văn Thường, 2004). Từ đây cho thấy sự
phân bố rộng của các giống loài trong họ tôm này, đồng thời tạo điều kiện dễ dàng
để xác định khu vực phân bố của tôm Penaeoidea.
2. Tại Việt Nam
Tôm Penaeidae phân bố khắp các ven biển nước ta như Quảng Ninh, Hà Nam
Ninh, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên…đặc biệt là các vùng ven bờ biển phía Đông và
Tây Nam Bộ là những bãi tôm lớn (Vũ Trung Tạng, 1997). Điều này nói lên sự
phân bố rộng rãi của các giống loài trong họ tôm này, đồng thời có ảnh hưởng sâu
sắc đến các quá trình nghiên cứu, phân loại cũng như khai thác tôm biển họ
Penaeidae.
Qua khảo sát khu vực biển Đông có các bãi tôm chính: Cù Lao Thu, Nam-Đông
Nam Vũng Tàu, cửa sông Cửu Long, Đông Nam mũi Cà Mau… đã đóng góp một
phần rất lớn vào số lượng thành phần loài tôm Penaeidae của Nam Bộ nói riêng và
cả nước nói chung, góp phần làm phong phú về giống loài tôm He ở Việt Nam.
Phạm Văn Đo (1997) thì vùng ven biển Tiền Giang và vùng cửa sông là nơi xuất
hiện phong phú nguồn lợi tôm thẻ giống ( Feneropenaeus indicus) vào tháng 8-10
và 4-5 âm lịch. Sản lượng khai thác tôm biển họ Penaeidae chiếm khoảng 20%
trong tổng sản lượng khai thác biển của Tỉnh Tiền Giang (Phòng Nông Nghiệp và
Phát Triển Nông Thôn Gò Công Đông, 2008). Từ đó cho thấy sự phong phú về số
lượng tôm Penaeidae ở biển Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung.
3. Một số đặc điểm phân bố tôm họ Penaeidae.
3.1. Phân bố theo điều kiện sinh thái.
Dựa vào điều kiện: chất đáy, độ mặn, độ trong…Đa số các giống loài tôm biển ưa
thích nơi có nền đáy bùn, cát bùn hay bùn cát. Có thể phân chia thành 2 nhóm chính
sau:

12



3.1.1.Nhóm loài cửa sông
Là nhóm tôm có số lượng loài đông nhất, được chia thành 2 nhóm phụ:
Nhóm phụ rộng muối
Nhóm này thích nghi với khu vực nền đáy bùn, cát bùn ven sông, ven biển giáp cửa
sông, nơi có độ trong thấp và biên độ dao động độ mặn lớn kể cả giai đoạn trưởng
thành: Metapenaeus ensis (Tôm đất), Metapenaeus lysianassa (Tép bạc)…
Nhóm phụ hẹp muối
Có số lượng loài đông đúc gồm những loài thích nghi vùng cửa sông nhưng hẹp
muối. Thời kỳ ấu trùng và tôm con sống ở vùng cửa sông hay ven biển giáp cửa
sông, khi trưởng thành chúng di chuyển ra nơi có độ mặn cao và ổn định:
Fenneropenaeus indicus (Thẻ đỏ đuôi), F.merguiensis (Thẻ đuôi xanh),
Parapenaeopsis hardwickii (Tôm chì), Parapenaeopsis cultrirostris (Tôm sắt),
Parapenaeopsis gracillima (Tôm giang), Parapenaeopsis hungerfordi (Tôm gậy),
Parapenaeopsis cornuta (Tôm chì), Metapenaeus affinis (Tôm chì), Metapenaeus
tenuipes (Tép bạc), Metapenaeus brevicornis (Tép bạc nghệ).
3.1.2. Nhóm hải đảo xa bờ
Nhóm này thích nghi với vùng biển có nền đáy bùn, bùn cát hay cát bùn thuộc các
vùng vịnh xa cửa sông, nơi có độ mặn cao, độ trong lớn và ổn định hoặc các khu
vực xa bờ: Marsupenaeus japonicus (Tôm He Nhật Bản), Penaeus monodon (Tôm
sú), Penaeus semisulcatus (Tôm rằn).
3.2. Phân bố theo độ sâu.
3.2.1. Nhóm phân bố biển nông
Có số lượng loài đông nhất, bao gồm những loài sống chủ yếu ở độ sâu dưới 50 m.
Hầu hết các loài có giá trị kinh tế đều tập trung ở nhóm này, tiêu biểu gồm có các
loài: Fenneropenaeus merguiensis (Thẻ đuôi xanh), Fenneropenaeus indicus (Thẻ
đỏ đuôi), Penaeus semisulcatus (Tôm rằn), Penaeus monodon (Tôm sú),
Metapenaeus ensis (Tôm đất), Metapenaeus brevicornis (Tép bạc nghệ),
Metapenaeus affinis (Tôm chì), Parapenaeopsis hardwickii (Tôm chì),
Parapenaeopsis hungerfordi (Tôm gậy), Parapenaeopsis cultrirostris (Tôm sắt),

Parapenaeopsis gracillima (Tôm giang), Parapenaeopsis cornuta (Tôm chì),
Parapenaeopsis maxillipedo (Tôm choáng sắt)…

13


3.2.2. Nhóm phân bố rộng
Nhóm phụ gần bờ
Đây là nhóm quan trọng thứ hai, bao gồm các loài có phạm vi rộng độ sâu từ bờ
đến 200 m, gồm những loài thích nghi độ sâu từ bờ đến 100 m, có giá trị kinh tế và
quan trọng cho xuất khẩu như: Marsupenaeus japonicus (Tôm He), Melicertus
canaculitus, Metapenaeopsis palmensis (Tôm gậy đá), Metapenaeopsis barbata
(Tôm gậy), Metapenaeopsis toloensis (Tôm chì), Megokris pescadoreensis (Tôm
đanh vòng).
Nhóm phụ xa bờ
Bao gồm những loài sống ở độ sâu 40-50 m lên đến 200-300 m.
)Như vậy từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về phân loại và
phân bố tôm biển nói chung và họ Penaeidae nói riêng, điều này đóng góp một vai
trò hết sức quan trọng trong việc phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy ở
các trường Đại học trong cả nước. Tuy nhiên ngoài tôm biển thì các đối tượng giáp
xác khác chưa thật sự được chú trọng, có quá ít tài liệu nghiên cứu lẫn giảng dạy.
Điều này làm kém phần phong phú hệ sinh thái động vật giáp xác hiện có ở biển
Việt Nam.
Nhìn chung số lượng thành phần loài cũng như sự phân bố của tôm He nói chung
và họ Penaeidae nói riêng khá đa dạng. Điều này chứng tỏ tiềm năng nuôi trồng và
khai thác của thủy sản Việt Nam là rất lớn. Qua đó cần phải có nhiều biện pháp hơn
nữa để bảo tồn và phát triển nguồn lợi Thủy sản theo xu hướng bền vững chung
trong xu thế hội nhập và phát triển của cả nước nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu
Long nói riêng trong đó có tỉnh Tiền Giang.
4. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Tiền Giang.

4.1. Vị trí
Nằm ở tả ngạn sông Tiền, giáp với biển Đông, chiều dài sông Tiền chảy qua địa
phận Tiền Giang là 103 km, có chiều dài bờ biển Đông là 32 km. Phía Đông giáp
biển Đông, Tây giáp Đồng Tháp, Nam giáp Bến Tre, Vĩnh Long, Bắc giáp Long
An, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Nhìn chung về vị trí địa lí, Tiền Giang có nhiều cơ hội để phát triển cả về giao
thông đường thủy lẫn đường bộ, song song đó lại nằm trên cửa ngõ vào các tỉnh

14


miền Tây giao lưu một lượng lớn hàng nông sản, thủy sản hàng hóa cả miền Tây
với Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam Bộ.
4.2.Địa hình – Địa chất
Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, với độ dốc <1% và cao trình biến thiên từ 0-16
m. Điều đáng kể là toàn bộ Tỉnh nằm trong vùng hạ lưu châu thổ Sông Cửu Long,
bề mặt tạo nên bởi sự lắng đọng phù sa trong giai đoạn biến thoái từ đại Holoxen
trung, khoảng 5.000 - 4.500 năm trở lại đây (Sở Địa Chính và Khoa Học Môi
Trường Tiền Giang, 2008).
Tài nguyên đất
Đất phù sa: 129.928 ha (54,9%).
Đất mặn: 34.553 ha (14,6%).
Đất phèn: 45.913 ha (19,4%).
Đất cát giồng: 7.337 ha (3,0%).
Trong đó, tổng diện tích nuôi thủy sản (lợ, mặn, ngọt) của Tiền Giang là 12.881,15
ha, trong đó diện tích nuôi nước ngọt (cá tra, tôm càng xanh…) là 6.113,81 ha và
nuôi mặn lợ (tôm sú, thẻ chân trắng…) chiếm 6.767,34 ha (Sở Khoa Học và Công
Nghệ Môi Trường Tiền Giang 2008).
4.3.Tiềm năng mặt nước, tài nguyên thủy sản và chế độ khí hậu - thủy văn.
4.3.1.Tiềm năng mặt nước và tài nguyên thủy sản

Tiềm năng mặt nước
Vùng biển Tiền Giang là ngư trường khai thác chính của nghề khai thác nhỏ của
ngư dân không những từ tỉnh Tiền Giang mà còn các tỉnh lân cận: Bến Tre, Vũng
Tàu…
Tổng diện tích mặt nước sông và kinh rạch là 23.394 ha (10% diện tích chung toàn
tỉnh). Vùng đất ngập nước ven biển có tổng diện tích là 6.063 ha (rừng ngập mặn,
rừng phòng hộ và các ao đầm tự nhiên hoặc đào đắp để nuôi trồng thủy sản).
Tài nguyên thủy sản
Sản lượng tôm, cá tại vùng biển Tiền Giang khá phong phú đã điều tra được 661
loài, 319 giống thuộc 138 họ cá biển, cùng với nhiều loài tôm có giá trị kinh tế như
Fenneropenaeus merguiensis (Thẻ đuôi xanh), Fenneropenaeus indicus (Thẻ đỏ

15


đuôi), Penaeus semisulcatus (Tôm rằn), Metapenaeus brevicornis (Tép bạc
nghệ)…và một số loài tôm hùm (Palinuridae), tôm rồng (Homaridae) cùng nhiều
loài cua, ghẹ có giá trị kinh tế cao, tập trung nhiều ở khu vực thềm và các đảo ven bờ.
Riêng mực có 03 họ có giá trị quan trọng là họ mực nang (10 loài), họ mực ống (10
loài) và họ mực sim (03 loài) (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2008).
Ngoài ra, Tiền Giang còn có nguồn nghêu giống (sản lượng cao nhất khoảng 200300 tấn/ năm) đã đáp ứng một phần nhu cầu con giống cho vùng nuôi nghêu thịt
với khoảng 1.800 ha cồn bãi ven biển (có sản lượng từ 15 - 20 ngàn tấn/ năm).
Điều này nói lên sự phong phú về nguồn tài nguyên Thủy sản ở Tiền Giang
(Nguyễn Hữu Chí, 2008).
4.3.2.Chế độ khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nền nhiệt cao và ổn định quanh năm, gồm 2
mùa: mùa mưa từ tháng 5-11(dương lịch), mùa khô từ tháng 12-4 (dương lịch)
trùng với gió mùa Đông Bắc.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 28oC, tổng tích ôn năm cao (9.700-9.800oC). Độ
ẩm bình quân năm là 78,4% thay đổi theo mùa, cực đại vào tháng 8 (82,5%), cực

tiểu vào tháng 4 (74,1%) (Sở Địa Chính và Khoa Học Môi Trường Tiền Giang
2008).
4.3.3.Chế độ thủy văn
Chia làm 3 vùng
Vùng Đồng Tháp Mười: diện tích ngập lũ khoảng 120.000 ha, độ sâu biến thiên từ
0,4-1,8 m. Nước thường bị nhiễm phèn trong thời kỳ đầu đến giữa mùa mưa, bên
cạnh đó nước mặn cũng xâm nhập từ sông Vàm Cỏ với độ mặn khoảng 2-4%.
Vùng ngọt giữa Đồng Tháp Mười và Gò Công: chịu ảnh hưởng lụt nhẹ theo con
triều chất nước tốt.
Vùng Gò Công: thường nhiễm mặn từ 1,5 tháng đến 7 tháng tùy vào vị trí cửa lấy
nước, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chế độ bán nhật triều biển Đông. Nước mặn xâm
nhập theo 2 sông cửa Tiểu và sông Vàm Cỏ, trong năm chỉ có 4 tháng nước ngọt,
độ mặn cao hơn sông Tiền từ 2-7 lần.

16


×