Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TRẦN THỊ HUỆ 6062112
ĐIỂN CỐ TRONG QUỐC ÂM THI TẬP
CỦA NGUYỄN TRÃI
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: BÙI THỊ THÚY MINH
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
1
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NGUYỄN TRÃI VÀ “QUỐC ÂM THI TẬP”
1.1.Nguyễn Trãi – cuộc đời và sự nghiệp văn chương
1.1.1. Cuộc đời
1.1.1.1. Thân thế
1.1.1.2. Thời thế và con người
1.1.2. Sự nghiệp văn chương
1.2. Đôi nét về “Quốc Âm Thi Tập”
1.2.1. Hoàn cảnh ra đời và tiến trình phát triển nghiên cứu
1.2.2. Những giá trị nổi bật của “Quốc Âm Thi Tập”
1.2.2.1. Về nội dung
1.2.2.2. Về nghệ thuật
1.3. Nhận xét về Nguyễn Trãi
CHƯƠNG 2: ĐIỂN CỐ TRONG “QUỐC ÂM THI TẬP” CỦA
NGUYỄN TRÃI
2.1. Sơ lược về điển và điển cố
2.1.1. Điển
2.1.2. Giới thuyết về điển cố
2.2. Vấn đề sử dụng điển cố trong thơ văn trung đại
2.3. Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập”
2.3.1. Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập”
2.3.1.1. Số lượng sử dụng
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
2
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
2.3.1.2. Tần xuất sử dụng
2.3.1.3. Một số điển cố tiêu biểu trong “Quốc Âm Thi Tập”: (đưa câu chữ Nôm,
phiên âm và phân tích)
2.3.2. Điển cố trong thơ Nôm “Quốc Âm Thi Tập” gắn liền với tư tưởng của
Nguyễn Trãi
2.3.2.1. Vị trí điển cố trong thơ
2.3.2.2. Điển dùng nguyên văn chữ Hán
2.3.2.3. Điển nửa chữ Hán, nửa chữ Nôm
2.3.2.4. Dịch nghĩa điển cố ra chữ Nôm
2.3.2.5. Nét đặc trưng của Nguyễn Trãi trong việc sử dụng điển cố
2.3.3. Ngữ điệu nghệ thuật điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập”
CHƯƠNG 3: HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐIỂN CỐ TRONG “QUỐC
ÂM THI TẬP”
3.1. Tăng cường tính hàm súc cho ngôn từ
3.2. Tăng cường sức thuyết phục cho lập luận
3.3. Tăng cường tính cảm hứng thẩm mỹ ở người tiếp nhận
3.4. Thể hiện sự uyên bác của Nguyễn Trãi
C. PHẦN KẾT LUẬN
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Mục lục
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
3
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn chương là một phần không thể thiếu trong cuộc sống chúng ta. Nó như là một
món ăn tinh thần mang lại cho con người nhiều niềm vui và nhiều điều mới lạ. Ngay từ
thuở nhỏ tôi đã rất thích học văn chương vì nó đã cho tôi nhiều niềm vui, thú vị và say
mê nhất là môn văn học Việt Nam. Đối với văn học Việt Nam thì lại càng làm cho
người đọc hứng thú hơn bởi vì cái hay, cái đẹp của văn chương nước ta dễ đi vào lòng
người và hơn thế nữa còn là sự đóng góp lớn lao của nó vào kho tàng văn chương thế
giới. Lịch sử văn chương đã đóng góp không ít tác phẩm vào kho tàng văn học chung
của nhân loại. Mỗi tác phẩm mang một màu sắc khác nhau, mang nét độc đáo riêng, rất
đặc trưng. Mỗi tác phẩm là một bông hoa đẹp, một trong những bông hoa rực rỡ nhất
có thể kể đến là tác phẩm thơ Quốc Âm Thi Tập
國 音 詩 集 của Nguyễn Trãi 阮
豸. Tác phẩm là tập hợp những bài thơ được sáng tác bằng chữ Nôm 喃. Tác phẩm là
một bản hùng ca sáng chói, đi đầu cho một nền văn học chữ Nôm nước nhà.
Nói về nghệ thuật của tác phẩm chúng ta không thể không nhắc đến tài hoa của
Nguyễn Trãi
阮 豸, khi tác giả đã sử dụng rất nhiều biện pháp nghệ thuật cho tác
phẩm để tác phẩm trở thành một tác phẩm nghệ thuật mang tầm vóc thẩm mỹ bậc nhất.
Với những biện pháp nghệ thuật tiêu biểu tác giả đã sử dụng nhiều điển cố, điển tích để
người đọc cảm nhận được tâm trạng và con người ông trong thời gian tác giả về ở ẩn ở
Côn Sơn
崑 山. Hầu hết số lượng bài thơ trong tác phẩm được ông sáng tác vào thời
gian này.
Trong chương trình trung học phổ thông tôi đã được làm quen và học về tác giả
Nguyễn Trãi, lên chương trình đại học tôi lại tiếp tục được tìm hiểu sâu hơn về cuộc
đời và con người ông, qua đó tôi cảm thấy thật thú vị khi được hiểu rõ về một tác giả
văn chương của nước ta không những trên một phương diện mà ở nhiều góc độ khác
nhau. Đọc thơ Nguyễn Trãi tôi thấy thật hay, thật sâu sắc ông đã thông qua các biện
pháp nghệ thuật để khắc họa những nét đẹp về con người, thời thế, cảnh vật… và biện
pháp nghệ thuật được tôi thích thú và ấn tượng nhất tôi cần tìm hiểu là nghệ thuật sử
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
4
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
dụng điển cố về thơ chữ Nôm trong Quốc Âm Thi Tập của ông. Với việc sử dụng biện
pháp nghệ thuật điển cố, ông đã cho chúng tôi cảm nhận được cái hay, cái đẹp của thơ
ông như thế nào, nên khi được phân công làm luận văn tốt nghiệp tôi đã chọn đề tài
nghiên cứu Điển cố trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi 典
阮豸
故國音詩集
để nghiên cứu với sự cố gắng lỗ lực hết mình của bản thân. Thông qua viêc
nghiên cứu, tìm hiểu đề tài này, tôi được học tập, tích lũy và nâng cao kiến thức cho
mình nhiều hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Từ những thế kỷ trước và cho đến hiện nay công việc nghiên cứu thơ văn của tác
giả Nguyễn Trãi được rất nhiều cá nhân và tố chức tập thể đã làm, có những công trình
đạt được nhiều kết quả tốt nhưng cũng có những bài nghiên cứu còn sơ sài, tất cả
những ông trình nghiên cứu, những bài viết, bài bình luận ấy đều là tấm lòng của thế hệ
sau đã kính trọng và tưởng nhớ đến tác giả Nguyễn Trãi. Tuy nhiên chúng ta vẫn phải
nhận thấy rằng chưa thể có một nhà nghiên cứu nào đưa ra những bài đánh giá, tổng kết
hoàn thiện nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi – một nhà chính trị đại tài,
một anh hùng lừng lẫy của dân tộc. Qua việc tìm hiểu chúng ta cũng phải công nhận là
đề tài về tác giả, sự nghiệp và những vấn đề liên quan tới Nguyễn Trãi còn rất nhiều và
là một đề tài rộng, vì vậy rất cần được đầu tư nghiên cứu hơn nữa về Nguyễn Trãi. Qua
bài nghiên cứu này chỉ là một phần nhỏ trong hàng loạt vấn đề cần được tìm hiểu và
khám phám về con người ấy. Có thể nói Nguyễn Trãi là một trong những đại thi hào
dân tộc, một danh nhân, một thi sĩ bậc nhất trên thi đàn văn chương dân tộc và nhân
loại, chính văn chương của ông đã cho người đời biết nhiều hơn về ông.
Bài nghiên cứu của tác giả Đoàn Ánh Loan Ảnh hưởng của quan niệm triết học
Trung Hoa trong điển cố đề cập đến vấn đề nghệ thuật sử dụng điển cố của tác giả
trung đại Việt Nam và Trung Hoa. Trong đó có Nguyễn Trãi. Qua đó cho thấy nguyên
tắc của điển cố là “ý tại ngôn ngoại” dựa trên cơ sở gợi mở, cuốn hút người đọc vào
một thế giới đầy vẻ biến hóa của câu chuyện hay hình tượng. Vấn đề điển cố và nghệ
thuật sử dụng điển cố của tác giả Đoàn Ánh Loan biên soạn chủ yếu tập trung khảo sát
một cách có hệ thống lịch sử, chức năng, quan niệm triết học, thẩm mỹ cổ phương
Đông và một số đặc điểm của điển cố trong văn học cổ đại và trung đại Việt Nam, cụ
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
5
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
thể là trong thơ Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi, đồng thời xác lập vai trò của điển
cố như khai mở một kho báu ngôn ngữ, từ đó bước vào kho tàng trí tuệ của con người,
truy tìm đến một giá trị chân, thiện, mỹ… Tác giả cung cấp những kiến thức tổng quát
về điển cố trong văn học phương Đông, nhất là văn học Việt Nam và Trung Hoa thời
cổ trung đại có ảnh hưởng trực tiếp đến nghệ thuật điển cố trong thơ Nôm Quốc Âm
Thi Tập của Nguyễn Trãi trên cơ sở phân tích nguồn gốc, quá trình hình thành, phát
triển, suy tàn, tính chất và vai trò của điển cố trong lịch sử văn học và liên hệ tới những
nét chung về điển cố trong văn chương Nguyễn Trãi.
Trong bài Nhận thức lại thái độ thẩm mỹ của Nguyễn Trãi trong Quốc Âm Thi
Tập đề cập đến việc sử dụng nghệ thuật mà Nguyễn Trãi sử dụng trong Quốc Âm Thi
Tập. Tác giả Nguyễn Phạm Hùng, hầu hết đã đưa ra các lý giải về các hình thức nghệ
thuật mà Nguyễn Trãi đã thể hiện trong đó có nghệ thuật sử dụng điển cố. Qua các
phân tích, đưa ra dẫn chứng để làm nổi bật nên cái tài của Nguyễn Trãi khi sử dụng
nghệ thuật điển cố trong Quốc Âm Thi Tập. Tác phẩm thể hiện rất rõ nhu cầu tự bạch,
tự giãi bày, thanh minh, mong được thấu hiểu, mong được cống hiến của tác giả. Để
thấy được tâm trạng nhà thơ, nội dung các bài thơ, chúng ta cần đặc biệt chú ý đến tính
chất đối thoại của các bài thơ trong Quốc Âm Thi Tập.
Chúng ta thấy Nguyễn Trãi nói về lòng trung quân, ái quốc, về bổn phận và trách
nhiệm của một người công dân đối với chế độ và triều đình với lòng tự tin và đầy nhiệt
huyết, với việc sử dụng những điển cố tiêu biểu như dùng những tên riêng, tên người,
tên địa danh…:
Đao bút phải dùng tài đã vẹn
Chỉ thư nấy chép việc càng chuyên.
Vệ Nam mãi ra tay thước,
Điện Bắc đà đà yên phận tiên
(Bảo Kính Cảnh Giới 56)
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
6
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
Hay ông nói về niềm khao khát một triều đại tốt đẹp, một xã hội phong kiến lí
tưởng với những vần thơ đầy lạc quan:
Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn,
Dường ấy ta đà phỉ thửa nguyền
(Tự thán 74)
Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương
(Bảo Kính Cảnh Giới 43)
Tác giả cho rằng thơ quốc âm của Nguyễn Trãi mang tính chất nhật ký, tức là
Nguyễn Trãi sử dụng nghệ thuật điển cố trong quốc âm là để người thưởng thức theo
cách “đọc ít hiểu nhiều” hay “ý tại ngôn ngoại”.
Hình thức điển cố trong thơ văn Hán Tần là nhà văn chỉ đưa vào tác phẩm của mình
những lời dạy dỗ, lý luận, ngụ ngôn của người xưa sau đó dẫn thành lời và dùng nhiều
thành ngữ hoặc mang sắc thái của thành ngữ điển cố. Việc dẫn dụng điển cố nói chung
chỉ để làm cho rõ ý hay để chứng minh cho lập luận của mình chứ không dùng điển cố
để trau chuốt, làm bóng bẩy câu văn hay lời thơ. Hiện tượng sử dụng điển cố trong thơ
văn trong thời kỳ này chưa thật phổ biến và phát triển ở Trung Quốc cũng như ở Việt
Nam, vì vậy có thể nói tác giả Nguyễn Trãi là người là tiêu biểu nhất trong văn chương
trung đại Việt Nam.
Đặng Tiến đã từng ca ngợi Nguyễn Trãi :“Vũ trụ thơ của Ức Trai là một áng mây
bên suối, một ánh trăng trong khoang thuyền, tiếng chim kêu trong rặng hoa, là giọt
sương trên đồi cúc”.
Về vấn đề nghệ thuật trong thơ văn ông là một đề tài nghiên cứu khá hấp dẫn. Đặc
biệt là nghệ thuật điển cố trong thơ chữ Nôm Quốc Âm Thi Tập của ông, với nghệ
thuật này tác giả đã rất thành công, đây có thể nói là một biện pháp nghệ thuật đặc
trưng trong tập thơ Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
7
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
3. Mục đích nghiên cứu
Đi sâu vào nghiên cứu đề tài Điển cố trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi
chúng ta cần đi sâu vào tác phẩm để thấy được cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của Nguyễn
Trãi trong việc sử dụng điển cố, thấy được giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Ngoài ra,
tìm hiểu đề tài còn làm sáng tỏ một số vấn đề về điển cố trên cơ sở đó đưa ra một vài
dẫn chứng tiêu biểu để phân tích, làm sáng tỏ nghệ thuật điển cố được sử dụng trong
Quốc Âm Thi Tập. Thông qua việc nghiên cứu về nghệ thuật điển cố cũng giúp cho
việc giảng dạy văn chương trong thời kỳ trung đại ở trường trung học phổ thông,
chương trình đại học cũng như trên mọi lĩnh vực khác được tốt và được mở rộng hơn.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi cho đề tài này là văn bản Quốc Âm
Thi Tập, nguyên văn chữ Nôm và các bản dịch từ nguồn văn bản Nguyễn Trãi toàn tập
– Tân Biên (tập 03) Quốc Âm Thi Tập – (bản chữ Nôm được sao chụp và trình bày lại
theo đúng nguyên bản của Ức Trai Thi Tập – Phúc Khê tàng bản, 1868) do Mai Quốc
Liên chủ biên, Kiều Thu Hoạch – Vương Lộc – Nguyễn Khuê phiên âm và chú thích.
Trong quá trình tìm hiểu để làm rõ một số vấn đề liên quan như về cuộc đời, sự nghiệp
của Nguyễn Trãi, đồng thời cũng đưa ra những nhận định, nhận xét của người khảo sát
và của các nhà nghiên cứu nói về Nguyễn Trãi và tác phẩm của ông. Qua việc nghiên
cứu để thấy được cách sử dụng nghệ thuật điển cố trong tác phẩm Quốc Âm Thi Tập
của ông.
5. Phương pháp nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi đã sử dụng các biện pháp dùng cho
một bài nghiên cứu để có một bài nghiên cứu hoàn thiện nhất. Đầu tiên chúng tôi đã sử
dụng các biện pháp đơn giản sau đó là các biện pháp khác phức tạp hơn theo một trình
tự nhất định. Các phương pháp đọc tài liệu về Nguyễn Trãi, về văn học trung đại tiếp
đó lựa chọn, ghi chép những ý kiến liên quan đến đề tài sau đó so sánh, kết hợp với các
phương pháp phân tích, thống kê và tổng hợp, khái quát tạo cho bài nghiên cứu được
chặt chẽ và tốt hơn.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
8
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NGUYỄN TRÃI VÀ QUỐC ÂM THI TẬP
1.1. Nguyễn Trãi – Cuộc đời và sự nghiệp văn chương
1.1.1. Cuộc đời
1.1.1.1. Thân thế
Nguyễn Trãi
阮 豸 hiệu là Ức Trai 抑 齋, sinh năm Canh Thân (1380) năm
Xương Phù thứ tư triều vua Trần Thế Đế, mất năm Nhâm Tuất (1442), năm Bảo Đại
thứ ba, triều vua Lê Nhân Tông, tức là cùng năm mà vua Lê Thái Tông ra đời.
Ông có hiệu là Ức Trai nghĩa là người tự kiềm chế, tự nén mình, là con trai thứ hai
của ông Nguyễn Ứng Long
Thị Thái 陳
阮 應 龍 tức Nguyễn Phi Khanh 阮 飛 卿 và bà Trần
氏 太. Họ Nguyễn này là một dòng họ nổi tiếng ở nước ta, có gốc ở làng
gia Miêu Ngoại Trung (nay thuộc xã Hà Long, Hà Trung, Thanh Hóa). Từ ông tổ là
Định Quốc Công Nguyễn Bặc thời Đinh Tiên Hoàng. Từ lâu có một chi họ này dời ra
làng Ngái, tên chữ Hán là Chi Ngại (nay thuộc xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải
Hưng). Sau vụ Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, chi họ này chạy bạt đi các nơi, sau mới
trở về, gọi là Nguyễn Quy (quy là trở về). Nhưng mấy đời trước Nguyễn Trãi, tổ tiên
của ông đã dời sang làng Ngọc Ổi, nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Sơn
Bình, do đó nơi đây trở thành quê hương sau của ông.
Gốc tích gia đình và thời kỳ thanh thiếu niên (1380 – 1400). Về phía bố: Nguyễn
Phi Khanh hay Nguyễn Ứng Long là một nhà nho gốc gác bình dân, học giỏi, có chí
cao, quan tâm nhiều đến đời sống nhân dân và vận mệnh Tổ Quốc. Về phía mẹ: Trần
Thị Thái, bà là con một vị hoàng thân và cũng là một thi sĩ - Trần Nguyên Đán 陳
元
旦. Trần Nguyên Đán là cháu bốn đời của Trần Quang Khải, một thân vương và cũng
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
9
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
là một danh tướng, tên tuổi lừng lẫy trong các chiến dịch thắng lợi chống quân Nguyên
thế kỷ trước. Trần Nguyên Đán cũng đã có công lớn trong việc đánh tan cuộc thoán
đoạt của Dương Nhật Lễ để giữ vững cơ nghiệp nhà Trần. Mối tình duyên kết hợp cậu
nhà nho nghèo Nguyễn Ứng Long với cô tôn nữ Trần Thị Thái có thể nói là khá đẹp
nhưng cũng rất oái oăm về sau này. Đẹp vì ở đây ngoài vấn đề nhan sắc, dòng dõi có
vấn đề duyên văn tự. Trần Thị Thái là người thông minh, hay thơ và đã xướng họa với
thầy. Oái oăm vì trong vấn đề hôn nhân, truyền thống hoàng gia nhà Trần vẫn có một
quan niệm rất chặt chẽ về dòng máu. Trần Nguyên Đán 陳
元 旦 phóng khoáng hơn,
đã vui lòng tác hợp cho “đôi lứa thiếu niên”. Nhưng không phải vì thế mà tổn thất nhà
Trần đã bỏ quên cái tội “chơi trèo” của cậu thanh niên họ Nguyễn
Long
阮. Nguyễn Ứng
阮 應 龍 đã đỗ đại hoa, nhưng mãi đến cuối đời nhà Trần vẫn không hề được
bổ dụng. Đối với nhà nho ưu tú luôn luôn ấp ủ cái hoài bão thành đạt để phò vua, giúp
dân đó là một sự vỡ mộng đau đớn. Nhưng cuộc hôn nhân đã đưa tới kết quả bất ngờ:
cậu con trai Nguyễn Trãi. Cậu bé đội cái tên này không những sẽ là vinh dự của một
gia đình mà là cứu tinh của một nước, giữa những ngày đen tối sắp tới.
1.1.1.2. Thời thế và con người
Đời sống gia đình, tình hình xã hội, từ những ngày thơ ấu đối với Nguyễn Trãi là cả
một trường học tốt. Sau ngày ra đời Nguyễn Trãi đã sống một thời gian trong dinh thự
của một vị thân vương bên ngoại. Năm 1380, Trần Nguyên Đán chán nản với tình hình
chính trị, xin về hưu ở Côn Sơn, một nơi ẩn dật, chan chứa thi vị. Trần Nguyên Đán
mất năm 1390. Mấy năm về trước, Nguyễn Trãi đã mồ côi mẹ. Trong dinh thự của vị
thân vương ở Thăng Long cũng như dưới mái nhà ở Côn Sơn của ông ngoại, tuổi thơ
của Nguyễn Trãi đã được nuôi dạy chu đáo.
Thời kỳ 1400 – 1418: Trước ngày tham gia vào phong trào khởi nghĩa Lam Sơn.
Nguyễn Trãi lúc này mới hai mươi tuổi dự thi và đã đậu cao. Sau khi đỗ, Nguyễn Trãi
dược bổ làm Ngự Sử đài chánh chưởng. Tình hình chính trị nhà Hồ rối ren lại có quân
đội xâm lược của nhà Minh, nhà Hồ bị tiêu diệt và nhiều triều thần bị bắt làm tù binh,
trong đó có Nguyễn Phi Khanh. Nước mất, nhà tan, đời sống của nhân dân, dân tộc bị
đẩy xuống vực sâu. Đến lúc Nguyễn Trãi phải tự mình tìm lấy đường đi.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
10
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
Thời kỳ 1418 - 1428, vai trò của Nguyễn Trãi trong phong trào Lam Sơn, Nguyễn
Trãi chưa đứng trong hàng ngũ những người phát động phong trào Lam Sơn từ giờ đầu.
Nguyễn Trãi vào Thanh Hóa, vào yết kiến nhà vua, Nguyễn Trãi đã dâng lên nhà vua
một kế hoạch đánh bại quân Minh nhan đề “Bình Ngô Sách” 平
吳 策.
Từ ngày phát động cuộc đấu tranh võ trang cho đến lúc này, nghĩa quân Lam Sơn
藍 山 dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi 藜 利 đã trưởng thành về nhiều mặt. Vai trò của
Nguyễn Trãi cùng Lê Lợi hoàn thành công cuộc tiêu diệt đội quân chiếm đóng. Sau khi
đọc tập “Bình Ngô Sách”, Bình Định Vương liền bổ nhiệm Nguyễn Trãi vào chức
Tuyên phụng đại phu, thừa chỉ học sĩ, coi việc “nội mật” tham dự vào các buổi bàn bạc
kế hoạch quân sự và chính trị, soạn thảo những văn kiện quan trọng về nội dung chính
cũng như ngoại giao. Trên cương vị mới Nguyễn Trãi có dịp thi thố tài năng. Trong
thời kỳ này Nguyễn Trãi có công đóng góp rất lớn qua phong trào khởi nghĩa Lam Sơn,
trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Những năm cuối đời (1428 - 1442): Lê Thái Tổ 藜
太 祖 lên ngôi vua và bắt tay
vào việc xếp đặt cho vương triều nhà Lê một kỷ cương mới. Sau khi lên ngôi vua, Lê
Thái Tổ
藜 太 祖 đã có lần bắt giam Nguyễn Trãi. Lê Thái Tổ chết năm 1433. Vua
nối nghiệp là Lê Thái Tông hồi này còn trẻ tuổi. Vì nhiều lần không chịu nổi cách hành
xử của vua mới trẻ tuổi, ưa nịnh nọt của quần thần hống hách này, Nguyễn Trãi đã
nhiều lần dâng sớ xin về hưu. Do sự biến thiên của thời đại ghi lại câu chuyện này với
mấy dòng chữ rất sơ sài. Người ta chỉ biết rằng: Mùa thu năm ấy, Lê Thái Tông đi kinh
lý mấy tỉnh miền đông, trên đường về khi nhà vua đi qua Chí Linh
Trãi mời vua ghé nghỉ nhà mình ở Côn Sơn 崑
Chí Linh về Thăng Long
至 靈, Nguyễn
山 và rồi trên quãng đường hồi loan từ
昇 龍 vua bị bệnh ác tính. Đêm hôm ấy vua chết trong khi
Thị Lộ - thiếp của Nguyễn Trãi hầu hạ suốt đêm. Thị Lộ
氏 路 là một người đàn bà
đẹp, tài năng, lúc này vua chỉ mới có hai mươi tuổi và không phải là một ông vua quy
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
11
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
ải cho lắm và thế là trước con mắt của bọn lịnh thần đang tìm đủ mọi cách để hãm hại
người trung lương, thì lý do để khép người vào tội đã đầy đủ qúa. Dưới cái tội danh
“đại nghịch”, Thị Lộ đã bị xử cực hình và Nguyễn Trãi cũng bị xử tử và tru di tam tộc
(tru di ba họ). Nhưng trước lịch sử, kẻ bị xử án ở đây là triều đình phong kiến nhà Lê
những năm 1440.
Sau hai mươi năm Lê Thánh Tông 藜
聖 宗 lớn lên, biết rõ được sự oan khốc của
ông, đã minh oan được cho ông và chính thức truy tặng ông chức tước tán trù bá. Sự
nghiệp của Nguyễn Trãi đối với cuộc kháng chiến chống Minh cứu nước vốn tỏa ra
nhiều mặt: Chính trị có, quân sự có, văn hóa, xã hội nói chung đều có nhưng nổi nhất là
sự nghiệp văn chương, như Lê Thánh Tông vị tao đàn nguy súy đã nhận định: Ức Trai
tâm thượng quang khuê tảo – (Lòng Ức Trai rực sáng văn chương, như ánh sao khuê,
như ánh rong biển).
1.1.2. Sự nghiệp văn chương
Nguyễn Trãi là nhà văn hóa lớn của dân tộc, nhà văn hóa lớn nhất thời xưa của Việt
Nam, ông cũng lại là người có công Bình Ngô Khai Quốc giành lại giang sơn, mở nền
bình trị, chấn hưng được văn hóa dân tộc. Ông là kết tinh của nền văn minh Thăng
Long - Lý Trần, đồng thời cũng là sự kết tinh của nền văn minh - văn hóa Việt Nam từ
thời các vua hùng. So sánh với các bậc thầy ở Trung Hoa, Phương Tây vào thời đại của
ông, Nguyễn Trãi có một vị trí xứng đáng trong văn hóa nhân loại. Con người ông, về
mặt tư tưởng triết học, đã lần đầu tiên tổng kết chủ nghĩa nhân ái Việt Nam từ thực tiễn
chiến đấu: “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, “nhân nghĩa
cốt ở yên dân”. Về tư tưởng quân sự: “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”, “mai
phục”, “bất ngờ”, “kết hợp quân sự và chính trị, quân sự và ngoại giao” … nghĩa là biết
phối hợp các cách tiến công khác nhau là những cống hiến lớn của Nguyễn Trãi cho
cuộc kháng chiến chống Minh vĩ đại của dân tộc. Sau khi chiến tranh kết thúc Nguyễn
Trãi đã có những cống hiến quan trọng trong việc xây dựng triều đại mới, xây dựng đất
nước. Về mặt văn học: bên cạnh áng “hùng văn nghìn thuở” - Bình Ngô Đại Cáo
平
吳 大 誥, áng văn hùng tráng, sâu sắc nhất thời xưa và rất ít có ở đâu. Nguyễn Trãi
còn có công trau dồi tiếng Việt, mở ra một kỷ nguyên mới cho văn chương Việt Nam
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
12
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
và văn chương hiện đại thế kỷ XX. Sừng sững như một ngọn núi đứng đầu nguồn
Nguyễn Trãi là một ngọn núi càng nhìn càng thấy cao.
Có thể khái quát là: Sự nghiệp của Nguyễn Trãi là một sự nghiệp “kinh bang, tế
thế” - (giúp nước, cứu đời). Tác phẩm viết bằng chữ Hán của Nguyễn Trãi gồm hai
phần:
+ Về văn xuôi: Quân Trung Từ Mệnh Tập
軍 中 詞 命 集, Bình Ngô Đại Cáo
平 吳 大 誥, Băng Hồ Di Sự Lục 冰 壺 遺 事 碌, Lam Sơn Vĩnh Lăng thần đạo
bi kí
藍 山 永 陵 神 道 碑 記, ghi chép gia thế, sự nghiệp của Lê Thái Tổ sau
ngày vua mất. Và nhiều bài biểu, tấu, chiếu, dụ, những công văn có nội dung thế sự.
Dư địa chí
輿 地 誌: Viết về địa lý lịch sử nước ta, được Nguyễn Trãi soạn năm
1435.
Lam Sơn Thực Lục 藍
Chí Linh Sơn Phú 至
山 實 綠: Là cuốn sử về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
靈 山 賦: Nói về cuộc chiến đấu chống giặc Minh gian khổ
và anh hùng.
Băng Hồ Di Sự Lục 遺
事 碌 soạn năm 1428.
+ Về thơ ca: Sáng tác thơ Nguyễn Trãi hiện còn một phần viết bằng chữ Hán, hơn
100 bài, trong Ức Trai thi tập và một phần tiếng Việt trong Quốc Âm thi tập hơn 250
bài, bằng chữ Nôm.
Tứ thơ, lời thơ, những bài viết vào lúc cuộc khởi nghĩa sắp bước tới toàn thắng sẽ
tràn trề những hào hứng và nhiệt tình. Nhưng người đọc có thể theo dõi ở đây bóng
dáng và cảm hứng của thi sĩ trước một dòng sông, trên một đỉnh núi, trước mặt biển cả
bao la, trước một ngôi chùa…
Nội dung văn thơ của ông chủ yếu nói về hai mảng lớn là tình yêu quê hương đất
nước, gia đình và nói về đời sống trong sạch, một đời thanh bạch, một tâm hồn thanh
cao, suốt đời một lòng vì nước, vì dân.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
13
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
Ngay dưới thời phong kiến đã có nhiều ý kiến bình luận, đánh giá của các bậc vua
chúa, sử gia, văn nhân khá thống nhất về Nguyễn Trãi. Họ đề cao, ca ngợi ông trước
hết ở phẩm chất, nhân cách, đạo đức và tài năng:
Hoàng các thanh phong ngọc thự tiên
Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền…
Nho lâm kỷ hứa chiêm Sơn, Đẩu,
Hảo vị triều đình lực tiên hiền
( Nguyễn Mộng Tuân – Tặng gián nghị đại phu Nguyễn Công)
Tâm kinh tương phùng khởi ngẫu nhiên?
Biệt khai thành thị nhất lâm tuyền
( Nguyễn Tử Tấn – Đề Ức Trai bích)
Văn chính luận như Bình Ngô Đại Cáo thì hùng hồn, đanh thép, sắc sảo, đúng là
tiếng nói của một dân tộc chiến thắng, một đất nước có nền văn hiến lâu đời.
Thơ chữ Hán hàm súc, tinh luyện, thâm trầm. Thơ chữ Nôm bình dị mà tài hoa,
thiết tha đằm thắm. Thơ thất ngôn xen lẫn lục ngôn là một dấu ấn kỳ lạ của nền thơ chữ
Nôm dân tộc.
Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại, là đại thi hào dân tộc. Ông còn
là ông tiên ở trong lâu ngọc mà tâm hồn lộng gió thời đại. Cuộc đời và thơ văn Nguyễn
Trãi là bài ca yêu nước, tự hào.
1.2. Đôi nét về “Quốc Âm Thi Tập”
1.2.1. Hoàn cảnh ra đời
Quốc Âm Thi Tập là tác phấm nổi tiếng và có giá trị, tác phẩm gồm có 254 bài thơ
viết bằng chữ Nôm với bốn môn loại: Vô đề, thời lệnh môn, hoa mộc môn, cầm thú
môn. Mỗi môn loại lại có nhiều đề mục có từ một đến nhiều bài thơ. Quốc Âm Thi Tập
có thể coi là tác phẩm ưu tiên cho giới nghiên cứu văn học, lịch sử tư tưởng và ngôn
ngữ học. So với các tác phẩm khác thì Quốc Âm Thi Tập là những vấn đề được đề cập
chủ yếu liên quan đến sự tồn tại và phát triển của cá nhân ông, trong đó nhà nghệ sĩ và
nhà tư tưởng là hai nhân cách nổi bật. Tác phẩm của ông là cơ sở chủ yếu cung cấp cho
ta thực tế để đánh giá nhân cách cá nhân ông.
Có thể thống kê từng mảng như sau: Với 4 môn loại. Trong mỗi loại lại có nhiều đề
mục, tất cả là 53 đề mục lại gồm một chùm thơ. Ví dụ như đề mục Ngôn chí có 21 bài;
đề mục Mạn thuật có 14 bài.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
14
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
Vô đề : có 14 tiểu mục, 192 bài.
Thời lệnh môn (đề tài về thời tiết, khí hậu, cảnh sắc bốn mùa): có 09 tiểu mục, 21
bài.
Hoa mộc môn (đề tài về các loại chim muông): có 24 tiểu mục, 34 bài.
Cầm thú môn (đề tài về các loại hoa cỏ, thảo mộc): có 07 tiểu mục, 07 bài.
Các bài thơ trong Quốc Âm Thi Tập không ghi chép thời điểm sáng tác song theo
các tài liệu cho thấy hầu hết các bài thơ được sáng tác trong thời kỳ Nguyễn Trãi về ở
ẩn ở Côn Sơn.
Về từ ngữ: Văn có nhiều chữ Nôm xưa, nặng về điển tích Hán văn.
Về cú pháp: Cách đặt câu chịu ảnh hưởng rõ rệt của Hán văn. Lại có nhiều chỗ lời
Nôm mà đảo trang rất lạ, khiến người đọc không hiểu là do sự gò ép để thỏa mãn thanh
luật hay ngữ điệu Nôm xưa nói như vậy.Ví dụ:
“Toan cùng người mấy thì chẳng đủ” (người mấy thì phải hiểu là mấy người).
“Non cao bạch thách nào đời chuyển” (nào đời tức là đời nào)
Về văn: Lời văn thường mộc mạc, rắn rỏi, ưa gợi ý ở những tỷ dụ, văn ấy thích với
những đề tài phúng thích nhân tình, nghị luận thế thái như:
Của nhiều sơn dã, đem nhau đến,
Khó ở kinh thành, ít kẻ ham
( Bảo Kính Cảnh Giới 06)
Làm người mạ cậy khi quyền thế,
Có thủa bàn cờ tốt đuổi xe
( Trần tình 08)
Tuy nhiên, ở chỗ đàm nhàn, tự hứng, bút pháp của tác giả cũng lại có màu bóng
bẩy, điệu êm ái, gây một thi vị súc tích cổ kính:
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
15
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
Trì thanh, cá lội, in vầng nguyệt,
Cây tĩnh, chim về, rợp bóng xuân
( Bảo Kính Cảnh Giới 38)
Về thể cách: Các bài trong Quốc Âm Thi Tập đều thể thất ngôn hoặc tứ tuyệt,
nhưng có nhiều bài có câu sáu chữ xen vào, có bài đến 6,7 câu sáu chữ. Đặc biệt như
Thủ vĩ ngâm (bài Góc Thành Nam), liên hoàn (bài Vịnh Trúc).
1.2.2. Những giá trị nổi bật của “Quốc Âm Thi Tập”
1.2.2.1. Về nội dung
Tác phẩm có vị trí đặc biệt và có tác dụng hết sức lớn lao trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc, xây dựng đất nước, trong việc củng cố ý thức dân tộc, lòng tự hào về
truyền thống dân tộc, tin tưởng và hướng tới tương lai. Tư tưởng hòa bình của Nguyễn
Trãi vừa giàu tình nhân ái, vừa hừng hực tính chiến đấu. Tác phẩm chủ yếu nói với ngư
ời đọc về những cái chưa làm được, về sự trăn trở, băn khoăn, day dứt, sự nỗ lực vĩ đại
mong tìm ra một giải pháp cho một thực tại đầy kịch tính.
Những bài thơ trong Quốc Âm Thi Tập có tính cách giáo huấn luân lý rõ rệt, những
bài học luân lý răn đời. Có nhiều bài với đề tài là vịnh cảnh vật, cây cỏ, chim muông.
Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi hết sức đa dạng. Ta thường bắt gặp trong thơ Trung
Hoa hay thơ chữ Hán của ông các hình ảnh như: tùng, cúc, trúc, mai, hạc, nhạn…. Thơ
ông tập trung thể hiện là những tâm sự, tình cảm, khí tiết được bộc lộ trước muôn hình,
muôn vẻ của cuộc sống, giang sơn, đất nước, cỏ cây và muông thú.
Ao quan thả gởi hai bè muống
Đất bút ương nhờ một luống mùng
(Quốc Âm Thi Tập, thuật hứng 23)
Trong Quốc Âm Thi Tập có đến hàng trăm lần Nguyễn Trãi nhắc đi nhắc lại mình
là nhà nho, đề cập đến trách nhiệm của “kẻ tư văn”, “người quân tử”, “đọc sách”,
“thông đòi nghĩa sách”. Nói nhiều đến ơn chúa như là công việc trọng đại hàng đầu.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
16
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
Bui có một niềm chẳng nỡ trễ
Đạo làm con lẫn đạo làm tôi
(Quốc Âm Thi Tập, Ngôn chí 01)
Tơ hào chẳng có đền ơn chúa
(Quốc Âm Thi Tập, Ngôn chí 15)
Qúa nửa số bài trong Quốc Âm Thi Tập nói về sự dùng dằng “đi chẳng nỡ, ở không
xong” của Nguyễn Trãi. Tư tưởng nhân nghĩa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt thơ văn Nguyễn
Trãi, nhân nghĩa là một chuẩn mực văn hóa chính trị, của chính sách cai trị dân. Những
câu thơ của ông về vấn đề này vang lên như những châm ngôn, những triết lý chắc gọn,
đanh thép. Triết học lịch sử của Nguyễn Trãi thật minh bạch: Nhân nghĩa là đạo người
mà cũng là đạo trời. Có nhân nghĩa sẽ được người, trời ủng hộ, sẽ thành công. Bất nhân
bất nghĩa sẽ thất bại. Nội dung tư tưởng của Nguyễn Trãi còn là sự kết hợp của hai yếu
tố là bộ phận tích cực của nho giáo và truyền thống dân tộc. Ông đã tiếp thu và vận
dụng hầu hết những mặt tích cực của nho giáo trong quan hệ với nhân dân, tư tưởng nội
dung được thể hiện phong phú nhất, tần số cao nhất khi bàn đến người dân bình
thường, chủ yếu là nhân dân.
Về một phương diện khác, Nguyễn Trãi coi dân là một thực thể chất phát, thuần
hậu, bí ẩn và ở điểm đó dân gần với đạo. Văn Tân, Trần Huy Liệu, Thanh Bá cho rằng
Nguyễn Trãi quan niệm nhân dân không những là người sáng tạo ra tất cả của cải vật
chất mà còn là động lực thay đổi của triều đại nữa. Trong thời kỳ kháng chiến, tư tưởng
của Nguyễn Trãi bao trùm toàn bộ những phát ngôn và hành động của ông là an dân,
nhưng trong thời bình nó lại gặp rất nhiều khó khăn. Về bản sắc dân tộc, ông phản ánh
một chủ nghĩa yêu nước Việt Nam ở mức độ chín muồi, thành thục. Ông có một cái
nhìn lịch sử, tìm ra trong quá khứ những giá trị tinh thần để hun đúc tự hào chân chính
của nhân dân.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
17
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
Mấy kẻ tư văn người đất việt
Đạo này lối lắm để cho dài
(Quốc Âm Thi Tập, Thuật hứng 22)
Nội dung của Quốc Âm Thi Tập còn được Nguyễn Trãi bộc lộ rõ qua những lời
thơ, đây có thể nói là những lời thơ cho người đọc cảm nhận sâu hơn về tư tưởng, tâm
hồn của con người ông.
Tư tưởng nhân nghĩa của Ức Trai luôn luôn gắn liền với lòng “trung hiếu” và niềm
“ưu ái”(lo nước, thương dân)
Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông
(Quốc Âm Thi Tập, Thuật hứng 05)
Thể hiện tấm lòng, tình yêu thắm thiết đối với thiên nhiên, đối với quê hương, gia
đình:
Hái cúc, ương lan, hương bén áo
Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn
(Quốc Âm Thi Tập, Ngôn chí 15)
Trong thơ Nguyễn Trãi cũng có cả những dòng “tươi vui” về một cảnh sống nơi
thôn dã của những người dân lao động gần gũi với cảnh đời của ông:
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
18
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
(Quốc Âm Thi Tập, Bảo Kính Cảnh Giới 43)
Căn cứ vào những vần thơ tươi vui vừa trích dẫn ở trên, thì chúng ta đều thấy dễ
dàng thừa nhận rằng “Cả tập thơ của Nguyễn Trãi là thơ của một người yêu đời, yêu
người, tâm hồn Nguyễn Trãi sống một nhịp với non sông đất nước tươi vui”. Nhưng
những câu thơ ấy không nhiều, đó chỉ là niềm tươi vui, lạc quan về một triều đại tốt đẹp
nhiều khi chỉ là giấc mơ của Nguyễn Trãi trước thực tế phũ phàng.
1.2.2.2. Về nghệ thuật
Sáng tác thơ của Nguyễn Trãi có trên một trăm bài thơ chữ Hán và hai trăm năm
bốn bài thơ chữ Nôm. Đặc biệt, qua Quốc Âm Thi Tập ta có thể thấy rõ những đóng
góp đáng trân trọng của Nguyễn Trãi về nhiều phương diện mà tiêu biểu nhất là
phương diện thể thơ và ngôn từ.
Nguyễn Trãi viết văn bởi mục đích chiến đấu, ông làm thơ ngoài mục đích ấy lại
còn là để bộc lộ tâm sự của mình. Văn thơ ông có nội dung tư tưởng nhất quán với
những tác phẩm văn chính luận của ông. Ông am hiểu ngôn ngữ của nhân dân rất sâu
sắc, chính vì vậy mà ông đã khai thác được tính tượng hình, tượng thanh rất sinh động
của các cặp tiếng đôi cũng như của cấu trúc đối xứng hô ứng, lấp láy trong tiếng Việt,
ông đưa ra những khẩu ngữ hàng ngày vào thơ ca và tận dụng khả năng của những
khẩu ngữ ấy để tả cảnh, tả lòng, tả người, tả vật. Và ngôn ngữ văn học của Nguyễn Trãi
có một phần bắt nguồn từ ngôn ngữ của văn học dân gian.
Qua Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi có thể thấy thơ Nôm Hàn luật (bát cú hoặc
tứ tuyệt) đã khá thành thục tuy nhiên Quốc Âm Thi Tập cũng có ít nhiều có thể cách tự
do.
Có thể nói tác phẩm là “thiên cổ hùng văn” (văn hùng của muôn đời) và chắc chắn
là năm trăm năm sau nữa thơ văn của ông vẫn không mất đi giá trị ấy. Gía trị văn
chương vĩnh cửu đó trước hết nằm trong tư tưởng của tác phẩm, như tư tưởng nhân
nghĩa. Tác phẩm làm rung động lòng người là sự hòa hợp chặt chẽ, không thể tách rời
giữa tính tư tưởng và tính nghệ thuật.
Trước hết đó là thủ pháp “dùng cái lớn để nói cái lớn”, “cái lớn” trong hình tượng
nghệ thuật đối với con người là gì? Nếu không phải là núi sông, trời đất, vũ trụ, càn
khôn… (về mặt không gian) và “ngàn xưa”, “mai sau” (về mặt thời gian)…? Những từ
ngữ này được nhắc đến với tần số rất cao.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
19
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
Đêm thanh hớp nguyết nghiếng chén
Ngày vắng xem hoa rẽ cây
(Ngôn chí – bài 10)
Thủ pháp “so sánh” và “liên tưởng” cũng được sử dụng phổ biến và nhuần nhuyễn.
Trong cuộc sống hôm nay, nhiều người đang băn khoăn về tính tư tưởng, về lối sống,
về nếp văn hóa… Trong văn chương nghệ thuật, cái “đời thường” đang lấn lướt và làm
cho văn chương có lúc trở thành “ tầm thường”. Việc trở lại với những giá trị đích thực
và lâu bền của văn chương là điều chúng ta có thể học tập rất nhiều ở cha ông ngày
xưa, trước hết là Nguyễn Trãi, người mà “cái tài làm đẹp, làm hay cho non sông đất
nước thì không ai bằng” như lời tự xưng tụng ông từ mấy trăm năm trước. Thơ Nôm
bình dị mà tài hoa, thiết tha đằm thắm, thơ thất ngôn xen lẫn lục ngôn là một dấu ấn kỳ
lạ của nền thơ chữ Nôm dân tộc.
Về thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi:
Đây là một thể thơ được sáng tác dựa trên quy cách và cấu trúc của thơ Đường luật.
Đặc điểm khác biệt là ở hiện tượng xen kẽ những câu sáu tiếng vào các câu bảy tiếng
của bài thơ bát cú lẫn tứ tuyệt luật Đường.
Số lượng các bài thơ được sáng tác theo hình thức này rất lớn (186/254) chứng tỏ
rằng Nguyễn Trãi hoàn toàn có ý thức khi vận dụng dạng thể thơ này như một sự thử
nghiệm cho việc tìm ra một thể thơ mới cho dân tộc, chống lại ảnh hưởng quá sâu sắc
của thi ca Trung Hoa.
Xét về tác dụng nghệ thuật, câu thơ sáu tiếng trong bài thơ thất ngôn xen lục ngôn
khiến lời thơ trở nên cô đọng, giản dị, ý thơ mạnh mẽ, sắc sảo, thường phù hợp với việc
diễn đạt những chân lý của đời sống những quyết tâm hoạt động của nhà thơ. Ngoài ra,
cách ngắt nhịp phong phú của câu thơ sáu chữ khiến nó có khả năng diễn đạt được
những cung bậc tình cảm đặc biệt tinh tế, sâu sắc của con người.
Tuy nhiên, sự xuất hiện của các câu thơ sáu chữ đã làm phá vỡ kết cấu hoàn chỉnh
của bài thơ Đường luật, dẫn đến việc thất niêm thất luật. Vì vậy, thể thơ này ngày càng
ít được sử dụng, nhường chỗ cho những thể thơ dân tộc khác hoàn chỉnh hơn về mặt
cấu trúc và niêm luật.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
20
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
* Ngôn từ thơ Nôm Nguyễn Trãi:
Bị chi phối bởi quan niệm thẩm mỹ của văn chương, thơ Nôm Nguyễn Trãi vẫn
mang tính uyên bác, sử dụng nhiều điển cố và các hình ảnh tượng trưng, ước lệ.
Tuy nhiên, nhờ sử dụng chữ Nôm, thơ Nguyễn Trãi đã ngày càng dung dị, tự nhiên,
gần gũi hơn với cuộc sống của nhân dân lao động. Từ ngữ trong thơ Nôm thường có
sức gợi tả mạnh và đặc biệt độc đáo.
Nhờ chữ Nôm, Nguyễn Trãi đã thành công trong việc đưa vào thơ ca bác học nguồn
thi liệu vô cùng quý giá của tục ngữ, thành ngữ, ca dao.
Quốc Âm Thi Tập là tập thơ có tính nhật ký, một tập thơ thể hiện tính riêng trong
con người Nguyễn Trãi, ông nói cho riêng mình, cho nên ta thấy ở đó nhà thơ khá tự
do, cởi mở, thậm chí có phần suồng sã khi bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng
của tác giả đối với cuộc sống. Tác phẩm thể hiện rõ nhu cầu tự bạch, tự giãi bày, thanh
minh mong được hiểu thấu, mong được cống hiến của tác giả. Để thấy được tâm trạng
của nhà thơ hay nội dung các bài thơ, chúng ta cần đặc biệt chú ý đến chất đối thoại của
các bài thơ đó. Mỗi bài thơ được xem như là một lời đối thoại hay đối thoại ngầm. Đó
có thể là một lời độc thoại nội tâm, một lời đối thoại với chính mình hay với một nhân
vật vô hình nào đó (như với người đối với nhân thế).
1.3. Nhận xét về Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi không những là nhân chứng cho những biến động bão táp của lịch sử
của thế kỷ XV mà còn là người trực tiếp tham gia vào chính những biến động đó. Ngay
cả cuộc đời ông cũng là một cuộc đời đầy những bão táp, thăng trầm. Vì vậy thơ ông
thể hiện rõ một vốn sống đã ở độ chín, một suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời đầy phức tạp
và một tình cảm nhân hậu đối với thiên nhiên, con người.
Nói Nguyễn Trãi là nói người không chỉ viết Bình Ngô Đại Cáo mà còn là tác giả
của 254 bài thơ Nôm trong Quốc Âm Thi Tập và với Quốc Âm Thi Tập ông đã đến
được một tầm cao bất ngờ nơi thượng nguồn nền văn học Nôm dân tộc, vừa mới xuất
hiện đã chủ động dấn vào cuộc cạnh tranh quyết liệt để dành quyền tồn tại với chữ Hán,
rồi không thua văn học viết bằng chữ Hán. Phải có ông, phải từ ông để hơn ba trăm
năm sau, xuất hiện Nguyễn Du (1765 – 1820), người đứng ở đỉnh cao chót vót những
tiềm năng và vẻ đẹp của ngôn ngữ và tiếng nói dân tộc, cho đến nay sau ngót ba trăm
năm vượt nổi. Về mặt văn hóa thì cũng có thể khẳng định rằng Nguyễn Trãi đã cắm
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
21
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
một cột mốc quan trọng trên con đường tiến lên của dân tộc ta. Cột mốc ấy lại đặc biệt
quan trọng đối với lịch sử văn học.
Về thơ văn Nguyễn Trãi là đỉnh cao chói lọi trong nền văn học dân tộc. Thơ chữ
Hán của Nguyễn Trãi là một thế giới thẩm mỹ phong phú vừa trữ tình, trí tuệ vừa hào
hùng lãng mạn. Về thơ chữ Nôm, Nguyễn Trãi là người tiên phong, để lại tập thơ xưa
nhất và nhiều bài nhất. Đó là những bài thơ giàu trí tuệ, sâu sắc, thấm đẫm trí nghiệm
về cuộc đời, được viết bằng ngôn ngữ tinh luyện trong sáng, đăng đối một cách cổ điển.
Nguyễn Trãi là nhà thơ đã sớm đưa tục ngữ vào tác phẩm, ông cũng là người đã sáng
tạo hình thức thơ thất ngôn xen lẫn lục ngôn, một hình thức khác với đường luật. Có
thể nói Nguyễn Trãi là một nhân vật tài đức có đủ, trí dũng song toàn trong lịch sử Việt
Nam thời phong kiến.
Nguyễn Trãi là danh nhân văn học lỗi lạc và cũng là người có số phận bi thương
nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông chẳng những góp phần viết nên các trang hào hùng
trong lịch sử giữ nước mà còn góp phần xây đắp nền móng vững chãi cho văn học dân
tộc. Nguyễn Trãi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân, gắn bó thiết tha
với cảnh vật thiên nhiên đất nước, thể hiện tình yêu ngôn từ Việt nồng thắm. Năm
1980, Nguyễn Trãi được tổ chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa của Liên Hợp Quốc
UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
22
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
CHƯƠNG 2
ĐIỂN CỐ TRONG “QUỐC ÂM THI TẬP” CỦA NGUYỄN TRÃI
2.1. Sơ lược về điển và điển cố (典 - 典 故)
2.1.1. Điển 典
Có lẽ việc sử dụng điển là một nét đặc thù trong văn học trung đại của phương
Đông nói chung và của Việt Nam nói riêng, không chỉ trong văn thơ chữ Hán mà cả
trong văn thơ chữ Nôm. Các nhà nghiên cứu cho rằng, điển là một khái niệm rộng bao
gồm điển tích và điển cố được các nhà văn, nhà thơ rút gọn từ những chuyện xưa, tích
cũ hay từ một câu thơ, câu văn rút từ những kinh sách của các đời trước thành một từ,
một ngữ hay một câu. Đó có thể xem là một sự “mã hóa” vào quá trình sáng tác văn
chương, thơ phú, đối liên của các văn nhân. Và nhờ sự “mã hóa” người đọc sẽ thấy
được ý nghĩa biểu trưng của điển, cũng như thấy được ngụ ý của tác giả thông qua điển
trong tác phẩm văn học.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
23
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
Chính do vậy, điển được xem như biện pháp tu từ đặc biệt giúp nhà văn, nhà thơ
xây dựng hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, tượng trưng mà sinh động, làm cho
việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật được cô đọng, hàm súc, đạt được “ý tại ngôn ngoại”
bảo đảm cho tác phẩm có kết cấu ngắn gọn, súc tích, hợp lý nhất là khi làm cho các thể
thơ có niêm luật chặt chẽ (như đường luật thi phú) hoặc câu đối.
Chúng ta cùng xét một số điển thường gặp như:
Nhạn: Chim nhạn, đời Hán, Tô Vũ đi xứ Hung Nô bị Thiền Vu bắt giữ đày đi chăn
dê ở Bắc Hải, nói dối là Tô Vũ đã chết. Vua Hán không tin sai sứ giả sang đòi, đặt
chuyện vua Hán đi săn ở vùng Thượng Lâm, có bắt được một con nhạn, châm chim có
buộc thư của Tô Vũ gửi vua Hán. Thiền Vũ tưởng thực phải cho Tô Vũ về.
Đoạn tràng: Đức ruột. Theo Sưu thần ký, có người bắt được hai con vượn con,
thường đem ra sân đùa giỡn, vượn mẹ ngày nào cũng đến ở trên cây gần đầu nhà trông
thấy kêu thảm thiết. Ít lâu sau vượn mẹ chết, xác rơi xuống gốc cây. Người ta đem mổ
thì thấy ruột đứt ra từng đoạn. Từ đấy, văn học cổ dùng từ đoạn trường, để nói sự đau
đớn, khổ lão trong cuộc đời.
Phong sắc: Tức bỉ sắc tư phong. Kém cái này hơn cái kia, theo quan niệm duy tâm
của thuyết thừa trừ thì ở đời không ai được đầy đủ điều lành và thường xấu tốt bù cho
nhau, ví dụ như có tài thì không có sắc hoặc có sắc mà không có duyên.
Sông Tiền Đường: Con sông trong truyện Kiều của Nguyễn Du, nơi Thúy Kiều tự
vẫn. Ở đây Tiền Đường dùng để chỉ nơi quyên sinh của những người con gái.
2.1.2. Giới thuyết về điển cố 典 故
Trước khi đưa ra khái niệm chi tiết về điển cố, chúng ta hãy cùng nhau thảo luận về
những ý kiến, những nhận xét của các nhà nghiên cứu xung quanh khái niệm này.
Trước hết, ta nên biết: Điển 典 là kinh sách thời xưa. Cố 故 là cũ, xưa. Tích 跡 là
chuyện xưa. Văn học cổ và trung đại thường dùng rất nhiều điển cố.
Trong tiếng Việt, chúng ta thường gặp điển cố trong rất nhiều những trường hợp
khác nhau. Hai từ mà chúng ta hay nhắc đến và dùng nhiều là “điển tích” và “điển cố”.
Theo từ điển của Nguyễn Văn Khôn viết: “điển” là kinh điển thường nói phép tắc, chủ
trương, coi sóc việc gì đó, cầm cổ. Họ tích là xưa, trước, lâu, ban đêm. Họ cố là bền,
vững bền, kín đáo, sẵn, vốn đã có, nhiều lần bỉ lậu, cố nhiên, tất nhiên. Họ điển tích là
sự tích chép trong sách vở xưa. Điển cố là điển cũ tích xưa, sự tích, luật lệ cũ. Như vậy
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
24
SVTH: Trần Thị Huệ
Luận văn tốt nghiệp
Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập” của Nguyễn Trãi
“điển cố” là khái niệm rộng hơn và không chỉ bao gồm những sự tích chép trong sách
vở. Tuy nhiên trong thực tế hai từ này vẫn được dùng lẫn lộn. Từ điển Tiếng Việt
(NXB Khoa Học Xã Hội, 1977) định nghĩa điển cố là “chuyện chép trong sách cũ” và
điển tích là “sự việc trong kinh sách cũ”. Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường viết
trong từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX: “điển cố” là thuật ngữ
của giới nghiên cứu nhằm mô tả một trong những đặc điểm nổi bật của văn học trung
đại Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng của văn học cổ và trung đại Trung Hoa. Do những
nguyên nhân khác nhau đã hình thành một tâm thế, một phong cách của những người
làm văn: trong hành văn thường hay nhắc đến một sự tích xưa hoặc một vài câu thơ,
câu văn cổ để diễn tả ý mình, nhưng đây không phải là trích dẫn nguyên văn, mà là lối
dùng lại vài chữ cốt gợi nhớ được đến tích cũ ấy, câu văn cổ ấy. Lối này được gọi
chung là dùng điển cố bao gồm phép dùng điển và dùng chữ.
Điển cố hay điển tích là những tích truyện xưa cũ (thường là của Trung Quốc) kể về
những tấm gương hiếu thảo, anh hùng liệt nữ và các tấm gương khác trong lịch sử
(cũng thường là lịch sử của Trung Quốc). Những nhà văn Trung Quốc và Việt Nam
xưa hoặc theo phong cách cổ điển thường coi việc biện dẫn điển tích, điển cố vừa là
một cách khẳng định sự hiểu biết của mình vừa được coi là một chuẩn mực cho việc
viết văn, làm thơ.
Một cách nói khác của các nhà nghiên cứu thì cho rằng điển cố đồng nghĩa với điển
tích là chỉ những việc có chép trong các sách vở thời xưa, được cô đọng lại trong một
từ ngữ hay một thành ngữ để nói lên ý nghĩa của chuyện đó. Và ví dụ như sau: Huỳnh
Lương một giấc cuộc đời in nghĩa là cuộc đời giống hệt một như một giấc huỳnh lương
và nếu chúng ta không biết điển tích “giấc huỳnh lương” 聀 滎 糧 thì chúng ta không
thể hiểu được câu thơ trên. Giấc huỳnh lương là giấc mộng của ông Lữ Đồng Tân, khi
nằm trên chiếc gối của ông Hớn Chung Ly đưa cho, bên cạnh nồi huỳnh lương (bắp
vàng) mà Hớn Chung Ly đang chụm lửa nấu nhưng chưa chín. Trong giấc mộng đó, Lữ
Đồng Tân thấy mình đi thi đậu Trạng Nguyên, cưới được vợ đẹp và giàu, được vua bổ
làm quan, thăng quan tiến chức trong năm mươi năm, lên chức tể tướng, vinh hiển tột
bực, con cháu đầy nhà. Sau bị gian thần hãm hại, vua bắt tội, tịch thâu hết gia sản, đày
đi xa thật vô cùng cực khổ. Kế giật mình thức dậy, nồi bắp vàng nấu nãy giờ vẫn chưa
chín. Từ đó rút ra thành ngữ “giấc huỳnh lương” là để chỉ sự giàu sang, quyền tước nơi
cõi đời này không bền vững và ngắn ngủi như một giấc chiêm bao.
GVHD: Bùi Thị Thúy Minh
25
SVTH: Trần Thị Huệ