I.
Mở đầu:
Tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội là hai tiêu chí phát triển của xã
hội. Chính sách của các nhà nước nhìn chung đều nhằm thực hiện cả hai tiêu chí
đó. Tuy nhiên, chính sách chú trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh có thể
gây ra bất bình đẳng (về thu nhập, cơ hội học tập, tiếp cận dịch vụ xã hội) và
làm cho nghèo đói gia tăng, thậm chí có thể làm phát sinh các mâu thuẫn xã hội.
Ngược lại, chính sách chú trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội có thể
làm triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, các quốc gia trên thế
giới, trong đó có Việt Nam, đang chịu sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn
cầu hóa, của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Trong bối cảnh đó, vấn đề
giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công
bằng xã hội càng trở nên cấp thiết. Bài viết khái quát hóa quan điểm của Đảng
về tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, phân tích kết quả
thực hiện quan điểm của Đảng về tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công
bằng xã hội ở Việt Nam; đưa ra các giải pháp để thực hiện tốt hơn quan điểm
của Đảng về tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội trong điều
kiện mới.
II.
Quan điểm của Đảng về tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ
và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách
phát triển:
2.1: Khái niệm tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội
2.1.1. Tăng trưởng kinh tế.
a. Các khái niệm về tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng
sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên
đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng sản lượng bởi một sự gia tăng các hoạt động
kinh tế sử dụng các công nghệ sản xuất hiện có.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ của một
nước trong một thời điểm nào đó trong điều kiện có công ăn việc làm đầy đủ.
=> Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng giá trị sản lượng hàng hóa và
dịch vụ của một nước trong một thời điểm nhất định.
b. Nội dung, đặc điểm.
Tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh quy mô tăng lên hay
giảm đi của nền kinh tế ở năm này so với năm trước đó hoặc của thời kỳ này so
với thời kỳ trước đó. Tăng trưởng kinh tế có thể biểu hiện bằng qui mô tăng
trưởng và tốc độ tăng trưởng. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng lên hay
giảm đi nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh
tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa năm
hay các thời kỳ.
Ngày nay, tăng trưởng kinh tế được gắn với chất lượng tăng trưởng. Mặt số
lượng của tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở qui mô, tốc độ của tăng trưởng.
Còn mặt chất lượng của tăng trưởng kinh tế là tính qui định vốn có của nó, là sự
thống nhất hữu cơ làm cho hiện tượng tăng trưởng kinh tế khác với các hiện
tượng khác. Chất lượng tăng trưởng được qui định bởi các yếu tố cấu thành và
phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành nên tăng trưởng kinh tế.
c. Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế.
Trên thế giới có hai nhóm chỉ tiêu cơ bản để đo lường mức độ tăng trưởng kinh
tế của một quốc gia, đó là nhóm chỉ tiêu thống kê và chỉ tiêu so sánh.
•
Chỉ tiêu thống kê:
- Quy mô sản lượng quốc gia(GDP): Tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
cuối cùng được tạo ra trên lãnh thổ một nước tính trong một thời kì( thường là 1
năm).
-Sản lượng quốc gia tính bình quân đầu người(Yp)
Với ý nghĩa phản ánh thu nhập, chỉ tiêu GDP và GNI còn được sử dụng để đánh
giá mức thu nhập bình quân trên đầu người của mỗi quốc gia. Chỉ tiêu này phản
ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số.
-Tốc độ tăng thu nhập bình quân trên đầu người
•
Chỉ tiêu so sánh: Tốc độ tăng trưởng định gốc; Tốc độ tăng trưởng liên hoàn
và tốc độ tăng trưởng trung bình.
Ngày nay để đo lường mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, hết các
nền kinh tế đều sử dụng các chỉ tiêu GDP và GNP. Đây là hai chỉ tiêu đầu tiên
trong hệ thống tài khoản quốc gia SNA. Ngoài ra, trong SNA còn có các chỉ
tiêu phản ánh thu nhập của mỗi quốc gia. Tuy nhiên trong thực tế việc tính toán
chúng còn nhiều hạn chế
d. Quan điểm.
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng tăng trưởng kinh tế. Theo
quan điểm của Ngân hàng thế giới, Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
và một số nhà kinh tế học nổi tiếng được giải thưởng Nobel gần đây như
G.Becker, R.Lucas, Amrtya Sen, J.Stiglitz, thì cùng với quá trình tăng trưởng,
chất lượng tăng trưởng biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn chính sau đây:
- Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn và tránh được
những biến động từ bên ngoài.
- Thứ hai, tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, được thể hiện ở sự đóng góp của
yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp TFP cao và không ngừng gia tăng.
- Thứ ba, tăng trưởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế.
- Thứ tư, tăng trưởng đi kèm theo với phát triển môi trường bền vững.
- Thứ năm, tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới, đến lượt nó
thúc đẩy tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn.
- Thứ sáu, tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và giảm
được đói nghèo.
Như vậy, khi nghiên cứu quá trình tăng trưởng, cần phải xem xét một cách
đầy đủ hai mặt của hiện tượng tăng trưởng kinh tế là số lượng và chất lượng của
tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế với tốc độ và chất lượng cao là mong muốn
của mọi quốc gia và của cả nhân loại trên thế giới.
2.1.2: Công bằng xã hội:
a. Khái niệm:
Khác với khái niệm tăng trưởng kinh tế là cái có thể xác định bằng những con
số, khái niệm công bằng mang tính chuẩn tắc, nghĩa là tùy thuộc nhiều vào quan
niệm của con người. Công bằng xã hội là một phạm trù chính trị xã hội thể hiện
mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội dựa trên nguyên tắc thống nhất
ngang bằng giữa cống hiến và hưởng thụ, được phản ánh qua phân phối thu
nhập. Theo nghĩa rộng CBXH là công bằng về các quyền con người và về điều
kiện thực hiện các quyền đó của các cá nhân – con người hay rộng hơn là của
các chủ thể xã hội. Trong kinh tế học có hai khái niệm về công bằng xã hội
thường được sử dụng là công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều
dọc. Công bằng theo chiều ngang là đối xủ như nhau với những người có đóng
góp như nhau. Công bằng theo chiều rộng là đối xử khác nhau với những người
có khác biệt bẩm sinh hoặc có điều kiện xã hội khác nhau. Như vậy, công bằng
xã hội là một khái niệm rất rộng, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa
xã hội. Xét tổng thể công bằng xã hội gắn liền với sự phát triển toàn diện của
con người và là kết quả của sự phát triển đó.
b. Bất bình đẳng xã hội:
Bất bình đẳng xã hội là sự không bình đẳng, sự không bằng nhau về các cơ
hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều
nhóm trong xã hội. Bất bình đẳng xã hội không phải là một hiện tượng tồn tại
một cách ngẫu nhiên giữa các cá nhân trong xã hội. Xã hội có bất bình đẳng khi
một số nhóm xã hội kiểm soát và khai thác các nhóm xã hội khác. Qua những
xã hội khác nhau đã tồn tại những hệ thống bất bình đẳng xã hội khác nhau. Bất
bình đẳng xã hội là một vấn đề trung tâm của xã hội học, đây là vấn đề có ý
nghĩa quyết định đối với sự phân tầng trong tổ chức xã hội.
Có 6 lý do dẫn đến sự khác biệt của các cá nhân trong xã hội: khả năng và kĩ
năng lao động khác nhau; cường độ làm việc khác nhau; sự khác nhau về nghề
nghiệp; sự khác nhau về giáo dục đào tạo; được hưởng thừa kế và chiếm hữu tài
sản khác nhau; gánh chịu rủi ro khác nhau.
Để khảo sát vấn đề công bằng và bất bình đẳng xã hội, người ta sử dụng các
thước đo sau:
Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư: tính phân phối
thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong một thời gian nhất
định, không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập và môi trường sống của dân
cư, mà chia đều thu nhập cho mọi thành phần dân cư. Phương pháp tính là
người ta chia dân số thành 5 nhóm người, mỗi nhóm có 20% dân số, sau đó xếp
theo thứ tự từ thấp đến cao về thu nhập. Qua đó, có thể thấy mức độ công bằng
xã hội thông qua việc so sánh nhóm giàu nhát và nhóm nghèo nhất.
Đường cong Lorentz: cho thấy mối quan hệ định lượng giữa % dân số có thu
nhập và % trong tổng thu nhập nhận được trong một thời gian nhất định(1
năm).Đường cong Lorenz là sự biểu diễn bằng hình học của hàm phân bố tích
lũy, chỉ ra quan hệ giữa tỷ lệ phần trăm của một giá trị thể hiện qua trục tung
với tỷ lệ phần trăm của một giá trị khác thể hiện qua trục hoành. Đường cong
Lorenz thường được sử dụng trong việc nghiên cứu sự phân bố thu nhập, chỉ ra
tỷ lệ phần trăm số hộ gia đình hay dân số trong tổng số và tỷ lệ phần trăm thu
nhập của họ trong tổng thu nhập. Một điểm bất kỳ trên đường Lorenz cho biết
tỷ lệ % cộng dồn của nhóm dân cư nghèo nhất nhận được bao nhiêu % tổng thu
nhập. Như vậy đường Lorenz là cách biểu hiện trực quan của sự bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập, nó càng lõm thì mức độ mất bình đẳng trong phân
phối thu nhập ngày càng cao.
Chỉ số Gini cũng là thước đo phổ biến để xác định mức bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập, hệ số Gini được đưa ra nhằm lượng hoá đường cong
Lorenz. Nó được tính bằng cách chia diện tích nằm giữa đường chéo và đường
cong Lorenz với toàn bộ diện tích nằm dưới đường chéo, có nghĩa là G = A/
(A+B). Hệ số G càng cao, mức bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng
lớn. Dựa vào những số liệu thu thập được, ngân hàng thế giới WB nhận thấy
rằng , mức biến động của hệ số G đối với những nước có thu nhập thấp: từ 0.30.5, thu nhập trung bình 0.4-0.6, thu nhập cao 0.2-0.4. Từ đó WB đưa ra nhận
xét, hệ số G tốt nhất thường xoay quanh 0.3
Chỉ số nghèo khổ: tỉ lệ phần trăm giữa số dân sống dưới mức tối thiểu với tổng
số dân. Để xác định mức nghèo khổ, người ta phải đưa ra chuẩn nghèo, hiện
nay còn tồn tại nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau về đói nghèo.
Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người: Thước đo này đựoc coi
là một chỉ số đánh giá trình độ phát triển của một nước ở một thời kì nhất đinh.
Những nhu cầu cơ bản này bao gồm mức min dinh dưỡng, sức khoẻ, mặc, ở và
các khả năng đảm bảo sự phát triển cá nhân. Dù có những quan điểm khác nhau
về các nhu cầu cơ bản, nhưng nhìn chung là có thể đo được các nhu cầu này.
Một xã hội không được coi là công bằng khi đại đa số dân cư không được thoả
mãn các nhu cầu cơ bản bất luận GNP/người cao hay thấp.
Chỉ số phát triển con người (HDI): Chỉ số phát triển xã hội tổng hợp do Liên
hợp quốc nêu ra. Bao gồm 73 chỉ tiêu kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, trên
thực tế rất ít nước có thể thoả mãn các chỉ tiêu này. Vì vậy, đối với các nước
đang phát triển, dù tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng không phải bao giờ
cũng đạt được chỉ số phát triển xã hội cao. Việc đưa vào chỉ số phát triển xã hội
tổng hợp quá nhiều chỉ số đã gây ra khó khăn trong tính toán đặc biệt là ở các
nước đang phát triển.
Chỉ số chất lượng vật chất cuộc sống: được tính toán dựa trên 3 tiêu chí cơ
bản là: tuổi thọ, tỉ lệ tử trẻ sơ sinh, tỉ lệ xoá nạn mù chữ. Chỉ số này đã phản ánh
những khía cạnh cơ bản của sự phát triển xã hội và gián tiếp nói lên mức độ
công bằng xã hội của một nước.
2.1.3: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội:
Có thể nói tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu hàng đầu của
mỗi quốc gia. Nhưng bên cạnh tăng trưởng kinh tế thì việc quan tâm đến
công bằng xã hội là một trong những yếu tố cần thiết để phát triển bền vững.
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có mối quan hệ mật thiệt, 2
chiều.Tăng trưởng kinh tế là điều kiện để thực hiện công bằng xã hội. Tăng
trưởng kinh tế cao và bền vững là biểu hiện của công bằng xã hội. Công bằng
xã hội là một trong những điều kiện không thể thiếu được để có tăng trưởng
kinh tế cao và bền vững Như vậy công bằng xã hội là biểu hiện của tăng trưởng
kinh tế, nhìn chung, có ba trường phái quan điểm mang tính chất phổ quát, bao
gồm: (1) quan niệm cho rằng tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến bất bình đẳng xã
hội.(2) quan điểm cho rằng cần ưu tiên công bằng hơn tăng trưởng.(3) quan
điểm cho rằng tăng trưởng phải đi đôi với công bằng.
• Các mô hình về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội:
-Quan điểm của K.Marx về phân phối bất bình đẳng trong xã hội TBCN. Marx đã
có những kết luận: Thứ nhất lẽ ra trong sản xuất, lao động là yếu tố quan trọng nhất
thì trong phân phối cũng phải lấy phân phối theo lao động là phương thức cơ bản.
Do vậy phân phối trong CNTB là không phù hợp. Thứ hai việc phân phối dựa vào
tài sản là chính nhưng dưới CNTB, tài sản chủ yếu tập trung vào một số người giàu
có, còn đại bộ phận người lao động chỉ có sức lao động. Điều này làm tăng bất
bình đẳng trong phân phối thu nhập của CNTB.
-Mô hình tăng trưởng trước bình đẳng sau của A. Lewis. Ông cho rằng sự bất
bình đẳng sẽ tăng lên lúc đầu và sau đó sẽ giảm bớt khi đã đạt được tới mức độ
phát triển nhất định. Trước hết, sự bất bình đẳng tăng lên ở giai đoạn đầu bởi vì
cùng với việc mở rộng quy mô sản xuất công nghiệp, số lượng lao động được thu
hút vào làm việc ở khu vực này ngày càng tăng nhưng tiền công của công nhân vẫn
ở mức tối thiểu. Như vậy, trong khi mức tiền công của công nhân không thay đổi
thì thu nhập của các nhà tư bản tăng lên do quy mô mở rộng và lao động của công
nhân mang lại. Ở giai đoạn sau sự bất bình đẳng giảm bớt do khi lao động dư thừa
sẽ được hút hết vào khu vực thành thị thì lao động trở thành yếu tố khan hiếm
trong sản xuất. Nhu cầu lao động ngày càng tăng lên đòi hỏi phải tăng tiền lương
như vậy sẽ dẫn đến giảm bớt sự bất bình đẳng. Trong mô hình này, bất bình đẳng
không chỉ là kết quả của tăng trưởng kinh tế mà còn là điều kiện cần thiết của tăng
trưởng. Theo quan điểm của Lewis, bất bình đẳng là điều kiện để người giàu tăng
tích lũy, tăng đầu tư, do đó sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế.
-Mô hình chữ U ngược (Simon Kuznets). Simon Kuznets tiến hành nghiên cứu
về mối quan hệ giữa thu nhập và tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
Theo mô hình này thì các nước đang phát triển có dấu hiệu diễn ra bất bình đẳng
cao hơn so với các nước phát triển. Qua nghiên cứu nhiều nước hơn nữa có kết quả
tương tự: bất bình đẳng tăng ở giai đoạn đầu và giảm ở giai đoạn sau khi lợi ích
của tăng trưởng lan tỏa rộng rãi hơn. Tuy nhiên mô hình còn có những hạn chế như
là không giải thích được nguyên nhân cơ bản nào tạo ra sự bất bình đẳng trong quá
trình phát triển. Các chính sách của chính phủ các nước có tác động như thế nào
đến sự tăng trưởng và bình đẳng. Sự bất bình đẳng có phải là tất yếu hay không đối
với sự phát triển ở các nước.
=> Mô hình này có sự kế thừa mô hình tăng trưởng trước công bằng sau của
A.Lewis. Tuy nhiên cả hai mô hình này đều có sự hạn chế, đó là không giải thích
được nguyên nhân cơ bản nào dẫn đến sự ất bình đẳng trong sự phát triển, sự tác
động của các chính sách của chính phủ các nước đến tăng trưởng và bất bình đẳng.
-Mô hình của M. B. Todaro. Theo mô hình này thì có 4 lý do để tăng trưởng
kinh tế phải gắn với công bằng xã hội: Ở các nước đang phát triển, người giàu có
xu hướng tiêu xài xa xỉ, không đóng góp cho tiết kiệm và đầu tư. Người lao động
có thu nhập thấp, không đủ điều kiện để đảm bảo cho sức khỏe và vì vậy năng suất
lao động của họ rất thấp. Khi tăng thu nhập cho người nghèo thì kích thích những
đối tượng này chi tiêu nhiều hơn và từ đó sẽ kích thích mở rộng sản xuất. Bất bình
đẳng gia tăng làm cho mâu thuẫn xã hội gia tăng, từ đó kìm hãm tăng trưởng kinh
tế. Có thể nói mô hình này đã lý giải được những hạn chế của hai mô hình trên, tuy
nhiên nó chỉ đưa ra được lý do để tăng trưởng kinh tế phải gắn với công bằng xã
hội chứ chưa nói được phải thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng như
thế nào. Điều này đã được H.Oshima giải quyết bằng mô hình tăng trưởng đi đôi
với bình đẳng.
-Mô hình tăng trưởng đi đôi với bình đẳng (H. Oshima). Theo H. Oshima sự bất
bình đẳng có thế được hạn chế ngay từ đầu. Như vậy, trước hết khoảng cách thu
nhập giữa nông thôn và thành thị sẽ được cải thiện ngay từ giai đoạn đầu nhờ việc
đầu tư phát triển khu vực nông nghiệp nông thôn. Tiếp đó là quá trình cải thiện dần
khoảng cách thu nhập giữa xí nghiệp có quy mô lớn và xí nghiệp có quy mô nhỏ ở
thành thị, cũng như nông trại lớn và ông trại nhỏ ở nông thôn. Tiết kiệm sẽ được
tăng lên ở tất cả các nhóm dân cư kể cả các nhóm có thu nhập thấp nhất và đó là
điều kiện để phát triển sản xuất.
-Quan điểm về phân hóa giàu nghèo của Max Weber. Phân tần xã hội là hệ quả
của phân chia tài sản, quyền lực trong xã hội do yếu tố sở hữu quyết định. Bản than
người có phương tiện kinh tế chưa hẳn có quyền lực và uy tín cho nên trình độ văn
hóa, giáo dục là nguồn lực quyết định để phân tầng xã hội. Nhấn mạnh khả năng
thị trường, xem đây là nhân tố đầu tiên của sự bất bình đẳng hơn là yếu tố tài sản.
2.2: Quan điểm của Đảng trong việc gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội:
Trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, từ nhận thức đúng đắn tính
thống nhất và mâu thuẫn trong quá trình tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước đề
ra những quan điểm, chủ trương đúng đắn để xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Tư tưởng đó
dần được hoàn thiện qua các kỳ Đại hội của Đảng:
Giai đoạn 1986-1990: Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới, được đánh dấu
bằng Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986). Đại hội VI, lần đầu tiên đặt vấn đề
về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với việc giải quyết các mục tiêu xã hội khi
xác định: “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách
xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế”.
Giai đoạn 1991-1995: định hướng gắn kết tăng trưởng với tiến bộ và công
bằng xã hội thể hiện trong nội dung Cương lĩnh năm 1991. Các định hướng chính
sách lớn trong giai đoạn 1991-1995 tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển
các thành phần kinh tế, hình thành các thị trường nhân tố sản xuất, xây dựng cơ
cấu kinh tế thị trường. Chính sách xã hội bắt đầu tập trung vào giải quyết những
vấn đề cơ bản nhất, đó là cải cách và đổi mới chính sách tiền lương cho phù hợp
khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường, xây dựng hệ thống an sinh xã hội, trong đó
có chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và chăm sóc sức
khỏe cho cả đối tượng ngoài khu vực nhà nước. Văn kiện Đại hội lần thứ VII của
Đảng khẳng định: “Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, xã
hội; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; giữa đời sống vật
chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề
để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc
đẩy phát triển kinh tế”. Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
(tháng 1/1994), mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội được Đảng xác định một cách rõ ràng hơn: “Tăng
trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và côngbằng xã hội ngay trong từng bước phát
triển” .
Giai đoạn 1996-2000, bên cạnh tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao với mục tiêu
tăng trưởng cao hơn giai đoạn trước (tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng từ 9%10% hàng năm), quan điểm về phát triển xã hội nhấn mạnh thêm vấn đề tạo việc
làm, giảm thất nghiệp và xóa đói giảm nghèo (XĐGN). Định hướng chính sách
nhằm tăng gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội đã cụ
thể hơn. Văn kiện Đại hội lần thứ VIII của Đảng nêu: “Kết hợp hài hòa giữa tăng
trưởng kinh tế và thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội, tạo bước chuyển biến mạnh
mẽ trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, đẩy lùi tiêu cực, bất công và
các t nạn xã hội” .
Giai đoạn 2001-2005, quan điểm của Đảng về tăng trưởng có sự thay đổi rõ
nét, đó là tăng trưởng nhanh, nhưng bền vững. Mục tiêu về tốc độ tăng GDP
khoảng 7,5% hàng năm, tức thấp hơn giai đoạn trước; đồng thời cần chuyển dịch
mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh
tranh của nền kinh tế. Việc tiếp tục thực hiện công bằng xã hội thể hiện qua quan
điểm chính là tạo chuyển biến mạnh về giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ,
phát huy nhân tố con người, tạo việc làm và cơ bản XĐGN. Văn kiện Đại hội lần
thứ IX của Đảng khẳng định: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng
kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” .
Giai đoạn 2006-2010: Đảng chủ trương thực hiện các định hướng chính sách
lớn trong giai đoạn này theo hướng kết hợp giải quyết các vấn đề xã hội thông qua
chính sách kinh tế. Đại hội lần thứ X, Đảng đã thể hiện sâu sắc hơn mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội khi coi đây là một trong những nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ
nghĩa. Văn kiện Đại hội Đảng nêu: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát
triển văn hóa, y tế, giáo dục... giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển
con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả
kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua
phúc lợi xã hội”.
Giai đoạn 2011-2016: Đảng khẳng định rằng, tiến bộ xã hội và công bằng xã
hội là hai mục tiêu song trùng của sự phát triển xã hội; mục đích tối cao của tăng
trưởng kinh tế là nhằm phát triển con người; mục tiêu của cách mạng xã hội chủ
nghĩa, xét cho cùng, là để giải phóng những giá trị văn hóa tích cực nhất cho loài
người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; mặt khác, tăng trưởng kinh tế đồng
thời giúp con người có nhiều cơ hội, khả năng tiếp nhận các giá trị văn hóa, đưa xã
hội tiến lên những nấc thang mới trong lịch sử nhân loại. Văn kiện Đại hội XI của
Đảng nhấn mạnh: “kết hợp chặt chẽ, hợp lý, phát triển kinh tế với phát triển văn
hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng
chính sách; phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời sống tinh thần”.Đại hội XII
của Đảng tiếp tục khẳng định: “Gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế
với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội,nâng cao đời sống
nhân dân”
Như vậy, trong thời kỳ đổi mới Đảng luôn chủ trương phát triển kinh tế phải
gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội; coi hai
mục tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó tăng trưởng kinh tế là cơ
sở, làm tiền đề và điều kiện cho nhau, ngược lại, thực hiện tiến bộ, công bằng xã
hội là điều kiện quan trọng thúc đẩy và bảo đảm kinh tăng trưởng kinh tế cao và
bền vững. Qua nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm nhiều nước và thực tiễn Việt Nam
qua 32 năm qua quan điểm tổng quát như sau: Tăng trưởng kinh tế gắn với thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và trong suốt quá
trình phát triển; phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm an
sinh xã hội, giảm bất bình đẳng; bảo đảm thống nhất chính sách phát triển kinh tế
và chính sách xã hội.
Quan điểm cụ thể là:
- Một là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất bảo đảm tiến bộ và công
bằng xã hội; tiến bộ, công bằng xã hội là động lực cho tăng trưởng kinh tế cao, ổn
định.
- Hai là, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là hai nhân tố chủ
lực của phát triển bền vững.
- Ba là, tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa, bảo đảm các quyền con
người và bảo vệ môi trường. -Bốn là, không có công bằng tuyệt đối và cần phải
xóa bỏ chủ nghĩa cào bằng, bình quân.o đảm tăng trưởng kinh tế cao và bền vững.
III.
Sự cần thiết của việc gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến
bộ , công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách
phát triển
3.1: Nền kinh tế chỉ tuyệt đối hóa vai trò của tăng trưởng và hậu quả của nó
Lịch sử phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia cho thấy, tuỳ theo quan niệm khác
nhau của các nhà lãnh đạo đã lựa chọn những mô hình tăng trưởng kinh tế khác
nhau. Lựa chọn mô hình tăng trưởng sao cho vừa thúc đẩy nền kinh tế phát triển,
tăng nhanh thu nhập, cải thiện đời sống dân cư mà không bị rơi vào bẫy thu nhập
trung bình, vừa giải quyết được vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Nhìn
một cách tổng thể, có thể hệ thống lại các mô hình tăng trưởng kinh tế sau:
+ Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng là dựa vào khai thác tài nguyên thiên
nhiên, thâm dụng lao động, phụ thuộc quá nhiều vào vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI), năng suất lao động thấp, hiệu quả đầu tư không cao, chất lượng tăng
trưởng thấp
+ Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu là dựa vào khoa học và công
nghệ hiện đại, nâng cao hiệu quả, chất lượng của tăng trưởng, như: nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn, tăng năng suất lao động, nâng cao sự đóng góp của nhân tố năng
suất tổng hợp (TFP), hướng hoạt động của nền kinh tế vào các ngành, lĩnh vực có
giá trị gia tăng cao, giảm chi phí sản xuất, chủ động sản xuất và xuất khẩu hàng
hóa có hàm lượng công nghệ cao, trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế của đất
nước. Tăng trưởng theo chiều sâu không chỉ nâng cao chất lượng, hiệu quả nền
kinh tế, mà còn gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện phúc lợi xã hội...
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế, khó có sự phân biệt rõ ràng
tăng trưởng theo chiều rộng và tăng trưởng theo chiều sâu, mà chúng thường xen
kẽ, kết hợp trong một chừng mực nhất định. Mô hình kết hợp giữa hai loại hình
tăng trưởng này chú ý tới tăng trưởng kinh tế cả về số lượng và chất lượng, nâng
cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh; kết hợp có hiệu quả hai loại tăng
trưởng trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh, chủ động hội nhập quốc tế.
Trước đây, các nước tư bản thường lựa chọn mục tiêu tăng trưởng mạnh,
tăng trưởng nhanh cho con đường phát triển kinh tế, lựa chọn này họ tập trung
phần lớn nguồn lực vào các chính sách đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng mà bỏ qua
các nội dung xã hội. Các vấn đề về bình đẳng, công bằng xã hội và nâng cao chất
lượng cuộc sống chỉ được đặt ra khi đạt được một mức tăng trưởng kinh tế/thu
nhập cao nhất định. Dưới góc độ thuần tuý về kinh tế, đây là mô hình thực nghiệm
hiệu quả cho sự khởi sắc kinh tế với tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân rất cao.
Tuy vậy, cũng từ những mô hình thực nghiệm này đã minh chứng cho những hệ
quả xấu, trở thành hệ luỵ cho sự phát triển các thế hệ sau như sự bất bình đẳng về
kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng gay gắt, các nội dung về nâng cao chất lượng
cuộc sống thường không được quan tâm, lãng phí và dẫn đến cạn kiệt tài nguyên,
vấy bẩn môi trường sinh thái. Đây là mô hình mà các một số nước như Brazil,
Mexico, Malaysia, Indonesia, Philipin…đã thực hiện.
Ngược lại, có một số quốc gia thực hiện mô hình nhấn mạnh vào bình đẳng
và công bằng xã hội trước. Theo đó, các nguồn lực phát triển, phân phối thu nhập
cũng như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, văn hoá được quan tâm và thực hiện theo
phương thức dàn đều, bình quân cho mọi ngành, mọi vùng và các tầng lớp dân cư
trong xã hội. Đây là mô hình mà các nước đi theo xã hội chủ nghĩa đã thực hiện,
trong đó có Việt Nam. Với việc thực hiện mô hình này, nền kinh tế thiếu các động
lực cần thiết cho sự tăng trưởng nhanh, mức thu nhập bình quân đầu người thấp,
nền kinh tế lâu khởi sắc và ngày càng trở nên tụt hậu so với mức chung của thế
giới.
*Hậu quả của nền kinh tế tuyệt đối hóa vai trò của tăng trưởng:
- Tăng trưởng quá nhanh sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát và gia tăng tình
trạng bất bình đẳng
Có sự đánh đổi giữa tăng trưởng và lạm phát, vì để tăng trưởng kinh tế thì
phải tăng đầu tư, mà để tăng đầu tư thì phải tăng tiền và tăng tín dụng. Nếu hệ số
ICOR tăng, tức là nền kinh tế vận hành kém hiệu quả, thì đây là một nguyên nhân
sâu xa gây nên lạm phát.
Có lạm phát tức là giá cả sẽ tăng lên. Giá cả tăng sẽ tác động đến mọi người
dân, nhưng tác động mạnh nhất là công chức nhà nước và người nghèo. Có thể nói,
lạm phát là một loại thuế hết sức dã man mà loại thuế này đánh mạnh vào nhóm
người nghèo khổ nhất đó là nông dân, sản xuất phi nông nghiệp.
Nói một cách đơn giản, giá cả tăng sẽ tác động đến mọi tầng lớp, nhưng với
những người giàu, có điều kiện sẽ ít bị tác động hơn vì trong tổng thu nhập, họ chỉ
phải sử dụng một phần cho chi tiêu hàng ngày. Còn những người nghèo thì hầu hết
thu nhập dùng cho chi tiêu hàng ngày, có bao nhiêu cũng phải chi hết, thậm chí
không đủ mà tiêu. Vì vậy, giá cả càng tăng càng tác động tiêu cực người nghèo và
quá trình đó sẽ làm phân hóa giàu nghèo một cách rõ rệt
- Tăng trưởng kinh tế làm kiệt quệ tài nguyên, hủy hoại môi trường sinh thái
Cách thức phát triển của loài người trong mấy chục năm qua đã tạo ra áp
lực, làm kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái, tổn hại đến môi
trường – cơ sở tồn tại của chính bản thân con người, trong khi loài người chiếm
lĩnh từ đỉnh cao khoa học thì cũng là lúc phải đối mặt với nhiều thách thức từ môi
trường, con người luôn đặt vào những tình huống bất ngờ không lường trước được
như thiên tai, hạn hán, lũ lụt…
- Tăng trưởng kinh tế hủy hoại truyền thống của quốc gia
Theo xu thế của thế giới, nhiều quốc gia thực hiện chính sách đa dạng hóa,
đa phương hóa các quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước,
các tổ chức quốc tế nhằm tạo môi trường quốc tế thuận lợi để đẩy nhanh quá trình
phát triển kinh tế xã hội, với xu thế ấy không ít quốc gia đã đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế mà không chú ý đến việc giữ gìn văn hóa dân tộc, dần hủy hoại
những giá trị của dân tộc, từ đó dẫn đến sự suy giảm về đạo đức, lối sống và những
giá trị nhân văn khác.
3.2: Lợi ích của việc gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã
hội trong từng bước và từng chính sách phát triển
Chủ trương thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội được
phát triển qua các kỳ Đại hội Đảng đã tạo nên tính năng động, sáng tạo của các
tầng lớp nhân dân, huy động được các nguồn lực để phát triển kinh tế, nhờ đó kinh
tế Việt Nam đã phát triển nhanh và liên tục. Việt Nam xác định giáo dục và đào tạo
cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, xác định văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội.
Đảng khẳng định chiến lược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm, tạo
điều kiện cho mọi người với tư cách từng cá nhân và cả cộng đồng đều có cơ hội
phát triển, sử dụng tốt năng lực của mình. Chủ trương đó của Đảng đã được Chính
phủ thể chế hóa thành các chính sách cụ thể. Nhờ vậy, sau hơn 30 năm đổi mới,
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội. Việt Nam đã thực hiện về cơ bản nguyên tắc phân phối chủ yếu
theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, phân phối theo mức đóng góp vốn và
các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Nhờ đó,
công bằng xã hội được bảo đảm.
Đảng và Nhà nước cũng đã có nhiều chính sách nhằm: phát triển giáo dục, khoa
học, y tế, văn hóa; thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, trong chăm sóc sức
khỏe nhân dân; trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo; mở rộng đối tượng thụ
hưởng, nâng mức hỗ trợ đối với người có công; hỗ trợ nhà ở, tạo việc làm, đào tạo
nghề, hỗ trợ tín dụng cho học sinh, sinh viên nghèo. Theo số liệu thống kê, “trong
5 năm đã tạo việc làm cho khoảng 7,8 triệu người, trong đó, đi lao động ở nước
ngoài khoảng 469 nghìn người” .
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng. Trong những năm
gần đây, việc chăm sóc sóc khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ đã góp phần hạ thấp
đáng kể tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi,
cơ bản thanh toán một số dịch bệnh có tính phổ biến trước đây, đặc biệt khống chế
thành công bệnh viêm đường hô hấp cấp (SARS), dịch bệnh truyền nhiễm cấp tính
(virut Zika), v.v.. Tuổi thọ trung bình tăng, đạt 73,3 tuổi vào năm 2015. Tỷ lệ tham
gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tăng2 . Diện tích nhà ở
bình quân đầu người tăng từ 17,5m2 năm 2010 lên 22m2 năm 2015. Nhiều người
dân có thu nhập thấp và tầng lớp yếu thế được hỗ trợ về nhà ở. Trong quá trình đẩy
mạnh phát triển kinh tế, Việt Nam đã rất chú trọng hướng vào con người, nhất là
những người nghèo. Tỷ lệ giảm nghèo từ khoảng 60% vào năm 1990 xuống còn
18,1% vào năm 2004, và kết thúc năm 2011, tỷ lệ nghèo cả nước giảm chỉ còn
14%. Tính bình quân trong giai đoạn từ năm 2010 - 2015, tỷ lệ hộ nghèo giảm
khoảng 2%/năm, từ 14,2% cuối năm 2010 xuống dưới 4,5% năm 2015. Năm 2008,
Việt Nam đã hoàn thành hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đặt ra cho
năm 2015. Số hộ nghèo giảm từ 29% năm 2002 xuống còn 9,5% năm 2011; chỉ số
HDI tăng từ mức 0,683 năm 2000 lên mức 0,728 năm 2011, xếp thứ 128/187 nước,
thuộc nhóm trung bình cao của thế giới.
Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người của Việt Nam xếp 129 trên tổng
số 182 nước. Điều này cho thấy sự phát triển kinh tế của Việt Nam có xu hướng
phục vụ sự phát triển con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội khá hơn so
với một số nước đang phát triển có GDP bình quân đầu người cao. Các cơ hội phát
triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư. Đời sống của
đại bộ phận nhân dânđược cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết
toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng
và an ninh được giữ vững. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng
nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực
mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng vững chắc.
3.3.Kết quả thực hiện quan điểm của Đảng về tăng trưởng kinh tế gắn với tiến
bộ và công bằng xã hội
Những thành tựu đạt được
Thực hiện đường lối đổi mới từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng
12-1986), quá trình đổi mới tư duy của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng. Ba
trụ cột chính của đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, là: Thừa nhận sự tồn tại
của nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa; thực hiện chính sách mở cửa, tích cực chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế. Những tư duy này được phát triển qua các đại hội Đảng tạo nên tính năng
động sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, huy động các nguồn lực phát triển kinh
tế. Hình thành cơ chế chính sách, huy động các thành phần kinh tế, các loại hình
doanh nghiệp và người lao động phát triển sản xuất kinh doanh, xem mọi hoạt
động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận; khẳng định
chủ trương khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp, đi đôi với tích cực xóa đói,
giảm nghèo. Chúng ta khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công
nghệ là quốc sách hàng đầu nhằm phát triển kinh tế xã hội nhanh, bền vững. Thực
hiện sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội trong các lĩnh vực giáo
dục, y tế, văn hóa. Xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục
tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đảng ta đã khẳng định
chiến lược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm tạo điều kiện cho mọi
người với tư cách từng cá nhân và cả cộng đồng đều có cơ hội phát triển, sử dụng
tốt năng lực của mình. Trong nhiệm kỳ Đại hội X, Trung ương Đảng đã xây dựng
và ban hành các nghị quyết về giai cấp công nhân, về tầng lớp trí thức, giải quyết
vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn, đồng thời xác định nhiệm vụ xây
dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp, xây dựng đội ngũ các doanh nhân Việt
Nam có trình độ, bản lĩnh thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Các chủ trương, quan điểm của Đảng đã được Chính phủ thể chế hóa thành các
chính sách, kế hoạch, chương trình dự án cụ thể để đưa vào cuộc sống. Nhờ vậy,
qua gần 25 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong
việc thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội.
Điểm quan trọng là đổi mới nhận thức về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
tiến bộ, công bằng xã hội. Từ tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể đã
chuyển sang tinh thần năng động, chủ động và tích cực xã hội của tất cả các tầng
lớp dân cư. Từ chỗ đề cao quá mức lợi ích của tập thể một cách chung chung, trừu
tượng; thi hành chế độ phân phối theo lao động trên danh nghĩa nhưng thực tế là
bình quân, cào bằng, đã từng bước thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các
nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Nhờ vậy,
công bằng xã hội được thể hiện ngày một rõ hơn. Từ chỗ không đặt đúng tầm quan
trọng của chính sách kinh tế đã đi đến thống nhất chính sách kinh tế với chính sách
xã hội, xem trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách
xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển
kinh tế, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước phát triển. Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết
việc làm đã dần dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các
thành phần kinh tế và người lao động tham gia tạo việc làm. Từ chỗ không chấp
nhận có sự phân hóa giàu - nghèo đã đi đến khuyến khích mọi người làm giàu hợp
pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo, coi việc một bộ phận dân cư giàu
trước là cần thiết cho sự phát triển. Từ chỗ muốn nhanh chóng xây dựng một cơ
cấu xã hội "thuần nhất" chỉ còn giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể và
tầng lớp trí thức đã đi đến quan niệm về việc xây dựng một cộng đồng xã hội đa
dạng, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính
đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh. Đã coi
phát triển giáo dục, đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Thực hiện công bằng
xã hội trong giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, tạo điều kiện để ai cũng được
học hành; có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo.
Nhờ đổi mới tư duy về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng
xã hội nên kinh tế tăng trưởng khá nhanh và liên tục trong nhiều năm. Trong điều
kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007 - 2008, Việt Nam vẫn là nước có tốc
độ tăng trưởng kinh tế khá và là một trong số ít nước có tăng trưởng kinh tế dương
trong năm 2009. Việt Nam sớm khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế và có nhiều
triển vọng tiếp tục tăng trưởng kinh tế khá cao trong những năm tiếp theo. Bảng
sau đây cho chúng ta thấy điều đó:
Bảng: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam
Năm
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Tốc độ 6,8
tăng
trưởng
GDP (%)
6,9 7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,48 6,18 5,32
Nguồn: Niên giám thống kê
Thế giới đánh giá rất cao những thành tựu gắn kết tăng trưởng kinh tế và tiến bộ,
công bằng xã hội ở Việt Nam. Việt Nam đã thực hiện sự phát triển kinh tế hướng
vào con người, nhất là những người nghèo. Thực thi chiến lược phát triển toàn
diện, cùng với việc đạt được chỉ tiêu tăng trưởng GDP cao, thì tất cả các chỉ tiêu về
xã hội, môi trường có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng và sử dụng kết quả của
tăng trưởng đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức. Các chỉ tiêu xã hội có xu
hướng được cải thiện rõ rệt. Chỉ số HDI đo sự tiến bộ trung bình của một nước về
phát triển con người bao gồm tuổi thọ, trình độ dân trí và thu nhập GDP tính theo
đầu người của Việt Nam năm 2007 đã lên tới 0,725, tăng hơn so với năm 2006 (đạt
0,709) và thứ hạng HDI của Việt Nam được cải thiện 4 bậc (từ thứ 109/177 lên
105). Chỉ số phát triển con người của Việt Nam cao hơn một số nước có thu nhập
bình quân đầu người cao hơn nước ta.
Nhìn chung, sau gần 25 năm đổi mới mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với
phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta đã được giải
quyết một cách khá hiệu quả. Các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thành
phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư. Đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải
thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và
tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị
thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của
quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với
triển vọng tốt đẹp. Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là
đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam.
Những mặt còn hạn chế
Một là, việc tổ chức triển khai thực hiện quan điểm gắn kết giữa tăng trưởng
kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn chưa đồng bộ và triệt để. Do
sức ép về tăng trưởng kinh tế nên nhiều ngành, nhiều địa phương ít quan tâm đến
phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong khi quy hoạch
và xây dựng các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, nhiều nơi mới chỉ
tập trung vào lợi ích kinh tế, chưa chú ý đúng mức thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội. Trên thực tế đã cho thấy, tăng trưởng nhanh (tăng trưởng GDP năm 2015 là
6,68%) nhưng tính ổn định chưa cao; tăng trưởng nhanh nhưng chưa bền vững;
tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, ít dựa vào nguồn nhân lực chất lượng cao. Do
vậy, tăng trưởng chưa đi đôi với giảm bất bình đẳng thu nhập và chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền
núi, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Tăng trưởng kéo theo những hệ lụy như: gây
ô nhiễm môi trường xã hội, hủy hoại môi trường tự nhiên, v.v..
Hai là, văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Đầu tư
cho phát triển văn hóa ít hiệu quả. Một số chính sách chưa phù hợp với thực tiễn
nhưng chậm được sửa đổi; hệ thống thiết chế văn hóa chưa đồng bộ, chưa hoàn
chỉnh, dẫn đến nhiều di sản văn hóa, cả vật thể và phi vật thể không được giữ gìn,
tôn tạo. Tình trạng mất dân chủ, cửa quyền, quan liêu, xuống cấp về tư tưởng, đạo
đức, lối sống chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Tệ nạn xã hội và tội phạm (nhất là
trong lớp trẻ) gia tăng đáng lo ngại. Chưa khắc phục được sự yếu kém trong quản
lý nhà nước về văn hóa. Cuộc đấu tranh ngăn ngừa văn hóa phẩm độc hại (nhất là
trên mạng internet) còn bất cập. Văn học, nghệ thuật còn ít tác phẩm có giá trị cao
về tư tưởng, nghệ thuật. Một số cơ quan báo chí chưa thực hiện đúng tôn chỉ, mục
đích.
Ba là, số người nghèo, thất nghiệp còn nhiều. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và
nhất là tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao. Xóa đói, giảm nghèo chưa bền
vững, tình trạng tái nghèo còn nhiều. Văn kiện Đại hội XII của Đảng nêu: “Nguy
cơ tái nghèo còn cao; khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn
lớn. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở vùng sâu, vùng xa, nhất là trong đồng bào dân
tộc thiểu số còn cao (một số huyện, xã lên đến 50%). Một số chính sách về an sinh
xã hội, giảm nghèo còn chồng chéo, chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao và chưa
khuyến khích người nghèo vươn lên thoát nghèo”]. Khoảng cách chênh lệch giữa
tầng lớp có thu nhập cao và tầng lớp có thu nhập thấp ngày càng gia tăng do cơ hội
và thành quả tăng trưởng kinh tế không được chia sẻ một cách đồng đều, mà lại có
lợi cho nhóm người vốn đã có cuộc sống khá giả hơn.
Bốn là, khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân còn hạn chế.
Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân, mạng lưới y tế tuy được mở rộng
nhưng phân bố chưa hợp lý, chưa thuận tiện cho người dân. Chất lượng khám,
chữa bệnh chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là tuyến cơ sở. Việc khắc phục tình trạng
quá tải bệnh viện còn chậm Cơ chế, chính sách bảo hiểm y tế, thu viện phí và
khám, chữa bệnh cho người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
thiểu số còn bất cập. Sự đầu tư và sự hưởng thụ về giáo dục, sức khỏe và các dịch
vụ khác ngày càng nghiêng về phía người có nhiều tiền sống ở thành thị. Tuổi thọ
bình quân tuy tăng cao, nhưng chất lượng sống của người dân chưa cao. Trong xã
hội, với khoảng 20% số hộ thu nhập cao nhất thì xuất hiện ngày càng nhiều những
biểu hiện làm giàu bất chính (như: tham nhũng, buôn lậu, làm ăn phi pháp), gây
ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội. Tham nhũng
xảy ra ở hầu hết các ngành, các cấp, thậm chí xảy ra ngay trong các cơ quan có
chức năng chống tham nhũng.
IV.
Giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn quan điểm của Đảng về
tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội
Quan điểm và định hướng giải pháp nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta giai
đoạn 2011 - 2020
Qua nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm nhiều nước và thực tiễn Việt Nam chúng
tôi đề nghị quan điểm tổng quát như sau: Tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và trong suốt quá trình
phát triển; phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh
xã hội, giảm bất bình đẳng; bảo đảm thống nhất chính sách phát triển kinh tế và
chính sách xã hội.
Quan điểm cụ thể:
Một là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất bảo đảm tiến bộ và công bằng
xã hội; tiến bộ, công bằng xã hội là động lực cho tăng trưởng kinh tế cao, ổn định.
Hai là, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là hai nhân tố chủ lực
của phát triển bền vững.
Ba là, tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa, bảo đảm các quyền con
người và bảo vệ môi trường.
Bốn là, không có công bằng tuyệt đối và cần phải xóa bỏ chủ nghĩa cào bằng,
bình quân.
Để giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ,
công bằng xã hội, cần tập trung vào những giải pháp về cơ chế, chính sách
chủ yếu sau:
Thứ nhất, hoàn thiện mô hình tổng quát giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn
đến 2030. Mô hình phát triển kinh tế Việt Nam lựa chọn trong giai đoạn tới tiếp
tục phải là mô hình “gắn kết hài hòa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa,
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; bảo vệ, cải
thiện môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an
ninh”. Nội dung chính của mô hình này là: thực hiện việc kết hợp tăng trưởng
kinh tế nhanh với công bằng xã hội ngay từ đầu khi xây dựng, thực thi chính
sách kinh tế - xã hội và trong toàn bộ tiến trình phát triển; kết hợp chặt chẽ, hợp
lý và hài hòa cả ba mặt là kinh tế, xã hội và môi trường.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa; chủ động hội nhập quốc tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường để phát triển
nhanh và bền vững. Cụ thể là: tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị
trường; phát triển đồng bộ và vận hành thông suốt các yếu tố, các loại thị
trường trong nước; mở rộng, đa dạng hóa thị trường ngoài nước; phát huy đồng
bộ các thành phần kinh tế; đề cao vai trò của kinh tế tư nhân là một động lực
quan trọng của nền kinh tế, nhằm huy động tốt nhất mọi nguồn lực trong dân.
Tập trung thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng; cơ cấu lại nền kinh tế, trọng
tâm là thực hiện thành công ba khâu đột phá chiến lược; thực hiện mô hình tăng
trưởng dựa trên năng suất, hiệu quả và lợi thế so sánh, hướng tới mục tiêu dài
hạn, bền vững, hiệu quả và vì con người; hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội; đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất
là ở các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh
hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm,
học nghề và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; thực hiện Chương trình
nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc, lồng ghép hiệu quả các mục tiêu phát triển
bền vững vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng ngành, từng
địa phương.
Thứ ba, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh. Nội
dung cụ thể của giải pháp này là: nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà
nước để tạo môi trường, điều kiện thuận lợi, an toàn để nền kinh tế vận hành
thông suốt, hiệu quả và hội nhập quốc tế; phát huy mạnh mẽ quyền dân chủ, tự
do sáng tạo của người dân trong phát triển kinh tế; thực thi chính sách phát triển
kinh tế đi đôi với phát triển y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, giải quyết tốt các
vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người; tạo điều kiện thuận lợi cho phát
triển y tế ngoài công lập, thí điểm hình thành cơ sở khám, chữa bệnh theo hình
thức hợp tác công - tư và mô hình quản lý bệnh viện như doanh nghiệp công
ích; đẩy nhanh tiến độ thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; khuyến khích, hỗ trợ
cho mọi ý tưởng sáng tạo, thúc đẩy đổi mới, phát triển, nhất là trong các lĩnh
vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, văn hóa, nghệ thuật, v.v..
Thứ tư, hoàn thiện chính sách phân phối. Chính sách phân phối và phân
phối lại phải bảo đảm lợi ích của Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp.
Chú trọng phân phối lại qua phúc lợi xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, giáo
dục. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh
tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua
phúc lợi xã hội. Nhà nước sử dụng thể chế, các nguồn lực, các công cụ điều tiết,
chính sách phân phối để phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ, tiến bộ, công
bằng xã hội để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Xây dựng
và hoàn thiện chính sách tiền lương, tiền công theo nguyên tắc thị trường, phù
hợp với tăng năng suất lao động. Thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở theo lộ
trình phù hợp, bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động đang làm việc,
cũng như người đã nghỉ hưu theo chế độ.
Thứ năm, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, con người Việt Nam phát triển
toàn diện. Nội dung cụ thể của giải pháp này là: xây dựng môi trường văn hóa,
đạo đức lành mạnh; khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam;
ngăn chặn sự xuống cấp về văn hóa, đạo đức; xây dựng các cơ chế, chính sách
để gắn kết chặt chẽ xây dựng văn hóa và phát triển con người; phát triển văn
hóa với phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo;
phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; phát huy vai trò của thông tin
truyền thông; phát triển, hoàn thiện, sử dụng hiệu quả các thiết chế văn hóa; thu
hẹp khoảng cách chênh lệch về hạ tầng văn hóa giữa thành thị và nông thôn,
đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa; giảm sự chênh lệch về mức hưởng
thụ văn hóa giữa các giai tầng, các nhóm xã hội.
Thứ sáu, phát triển và quản lý phát triển xã hội bền vững trên nền tảng dân
chủ, khoa học, thượng tôn pháp luật. Cùng với phát triển kinh tế, bảo vệ môi
trường, quản lý phát triển xã hội hợp thành khâu trung tâm của chiến lược phát
triển đất nước, hướng tới mục tiêu dân chủ, công bằng, văn minh. Quản lý phát
triển xã hội phải tập trung vào việc xây dựng mô hình phát triển xã hội hợp lý,
đặt trọng tâm vào việc mở rộng giai tầng xã hội có thu nhập thấp trên cơ sở
không ngừng nâng cao đời sống nhân dân.
V.
Kết luận
Ngay từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển đổi kinh tế từ kế hoạch tập
trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã lựa
chọn mô hình gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã
hội. Điều này thể hiện ngay trong các văn kiện của Đảng. Quan điểm đó của
Đảng được cụ thể hóa trong các chính sách của Nhà nước. Việt Nam là một
trong số quốc gia có thành tựu về kinh tế, xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo
dục chăm sóc sức khỏe cho người dân. Đó là những bằng chứng rõ nhất chứng
minh tính đúng đắn của mô hình kết hợp tiến bộ và công bằng xã hội gắn với
tăng trưởng kinh tế mà Việt Nam đã lựa chọn.
Như vậy, một lần nữa ta có thể khẳng định “xây dựng một xã hội phát triển bền
vững cần phải gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong
từng bước và từng chính sách phát triển”.
Tài liệu tham khảo
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng
kết lý luận (2005), Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20
năm đổi mới (1986-2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng
kết lý luận (2015), Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30
năm đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[10] Lê Thị Thanh Hà (2016), “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển văn
hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam,
số 2 (99).
[11] Lương Thị Huyền Trang (2013), “Quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa”, Tạp chí Triết học, số 2.
[12] Nguyễn Phú Trọng (2011), Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt
trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
[13] ngày 24/12. [14] />ngày 26/9.